trong những năm qua, kế toán TSCĐ ở các DN còn có nhiều tồn tại, việc áp dụng các phương pháp kế toán còn có sự khác biệt so với chế độ quy định. Đối với công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn, kế toán TSCĐ theo quan điểm kế toán tài chính còn có nhiều bất cập trong việc xác định nguyên giá, trong việc áp dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ, trong việc sử dụng tài khoản kế toán, các sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán... Mặt khác kế toán TSCĐ theo quan điểm kế toán quản trị tại công ty qua khảo sát đã có nhưng chưa hình thành rõ, chưa có tính hệ thống. Kế toán quản trị chưa trở thành một bộ phận kế toán độc lập, vai trò của kế toán quản trị còn mờ nhạt. Giá trị của TSCĐ trong công ty chiếm một phần lớn trong tổng chi phí SXKD. Đặc điểm của TSCĐ sử dụng trong công ty là những tài sản có giá trị lớn, được dùng nhiều, dễ bị hỏng hóc. Chính vì vậy, một yêu cầu tất yếu đặt ra là làm thế nào để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ trong công ty. Muốn vậy bên cạnh việc tổ chức hạch toán TSCĐ sao cho khoa học, hiệu quả đúng quy định của Nhà nước còn phải thu thập thông tin xung quanh vấn đề đầu tư TSCĐ, sử dụng TSCĐ như thế nào, khi chúng hư hỏng thì sửa chữa hay thanh lý đó là vấn đề rất quan trọng các nhà quản lý cấp cao trong công ty cũng rất quan tâm.Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Kế toán tài sản cố định tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn” cho luận văn thạc sĩ của mình nhằm góp phần giải quyết những bất cập còn tồn tại thuộc vấn đề nghiên cứu, để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ sao cho hiệu quả, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là quá trình lao động thực sự của tôi, sốliệu, tài liệu trong luận văn là trung thực và do đơn vị thực tế cung cấp Nếu sai sót,tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả thực hiện
DƯƠNG THU HƯỜNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Thanh Hải, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhhoàn thành luận văn
-Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, cùng các thầy
cô trường Đại học Thương mại đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúptôi hoàn thành khóa học
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ, nhân viên phòng
Kế toán – Tài chính cùng các cán bộ phòng, ban khác trong Công ty Cổ phần dulịch Đồ Sơn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra, khảo sát thực tế, thuthập số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu để viết luận văn này
Mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết mình nhưng do khả năng, kiến thức và thờigian nghiên cứu có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Tác giả rấtmong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa đề tài 7
7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1 TSCĐ, vai trò và nhiệm vụ kế toán TSCĐ 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ 9
1.1.2 Vai trò TSCĐ 16
1.1.3 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán TSCĐ 17
1.2 Kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp trên phương diện kế toán tài chính 18
1.2.1 Kế toán TSCĐ theo quy định của chuẩn mực kế toán 18
1.2.1.1 Chuẩn mực kế toán Việt Nam về kế toán TSCĐ 18
1.2.1.2 Sự hài hòa của chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế về kế toán TSCĐ 27
1.2.2 Kế toán TSCĐ theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam hiện hành 34
1.2.2.1 Thủ tục, chứng từ và kế toán chi tiết TSCĐ 34
1.2.2.2 Kế toán tổng hợp TSCĐ 35
1.2.2.3 Trình bày thông tin trên báo cáo tài chính 42
1.3 Kế toán TSCĐ trên phương diện kế toán quản trị 43
1.3.1 Xây dựng kế hoạch đầu tư, mua sắm, đổi mới TSCĐ 43
1.3.2 Thu thập thông tin kế toán quản trị TSCĐ 44
1.3.2.1 Thu thập thông tin quá khứ 45
Trang 41.3.2.2 Thu thập thông tin tương lai 45
1.3.3 Phân tích thông tin và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ 45
1.3.4 Thông tin kế toán quản trị TSCĐ phục vụ cho việc ra quyết định 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH ĐỒ SƠN 51
2.1 Đánh giá tổng quan về Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 51
2.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 51
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý 52
2.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán 55
2.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 57
2.3 Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 60
2.3.1 Đặc điểm và cơ chế quản lý TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 60
2.3.2 Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn trên phương diện kế toán tài chính 63
2.3.2.1 Thực trạng vận dụng quy định chuẩn mực kế toán trong kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 63
2.3.2.2 Thực trạng vận dụng quy định chế độ kế toán trong kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 65
2.3.3 Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn trên phương diện kế toán quản trị 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH ĐỒ SƠN 80
3.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 80
3.1.1 Các kết luận qua nghiên cứu kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 80
3.1.2 Các phát hiện qua nghiên cứu kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 83
3.2 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 86
3.3 Các nguyên tắc hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn 86 3.4 Các giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn89
Trang 53.4.1 Các giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ
Sơn trên phương diện kế toán tài chính 90
3.4.2 Các giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn trên phương diện kế toán quản trị 93
3.5 Điều kiện thực hiện giải pháp 99
3.6 Những hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
bq: bình quân
BCTC: Báo cáo tài chính
BTC: Bộ Tài chính
BVHTTDL: Bộ văn hóa thể thao du lịch
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1 Sơ đồ kế toán tổng hợp tình hình tăng, giảm TSCĐ
2 Sơ đồ kế toán khấu hao TSCĐ
3 Sơ đồ kế toán sửa chữa nhỏ TSCĐ
4 Sơ đồ kế toán sửa chữa lớn TSCĐ
5 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
6 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty
7 Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán của công ty
8 Bảng cơ cấu TSCĐ của công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
9 Danh mục TSCĐ không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ theo thông tư BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính
Trang 845/2013-PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
TSCĐ và kế toán TSCĐ luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển của doanh nghiệp Vì vậy, trong thời gian qua ở Việt Nam đã có không ít các côngtrình khoa học, bài viết của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này Hầu hết các tác giảđều tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán TSCĐ, phân tíchthực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện tại những đơn vị, những loại hình doanhnghiệp mà đề tài nghiên cứu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại Công ty điện lựcThừa Thiên Huế”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang - Học viện tài chính - năm 2012
Đề tài đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản và chỉ ra thực trạng cũng như đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện về phương pháp khấu hao TSCĐ, hoàn thiện đánh giá TSCĐ,hoàn thiện kế toán quản trị TSCĐ… Các giải pháp đưa ra dựa trên những bất cập trong
kế toán TSCĐ tại đơn vị khảo sát nhưng chưa bám sát vào thực trạng một số vấn đềcòn tồn tại để đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại đơn vị
- Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựngThành Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Cúc - Trường đại học Thương mại - năm 2012
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp hoàn thiện về hạch toánkhấu hao TSCĐ, hạch toán nâng cấp, sửa chữa TSCĐ, đề xuất áp dụng kế toán quản trịvào công tác kế toán TSCĐ … Có thể thấy tác giả đã rất cố gắng đưa ra các giải pháphoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tuy nhiên các giải pháp đó còn mang tính lý thuyết,chưa giải quyết triệt để, khó áp dụng trong điều kiện thực tế tại đơn vị
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại Công ty liên doanhkhách sạn Kinh Thành”, của tác giả Dương Thị Lệ Thủy - Học viện tài chính - năm
2012 Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản, thực trạng và một số giải pháphoàn thiện như về hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán, trình tự hạch toán, lập kếhoạch nâng cấp sửa chữa lớn TSCĐ hàng năm… Có thể thấy các giải pháp luận vănđưa ra đều rất chung chung, không thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện cụ thể phùhợp với thực trạng công tác kế toán TSCĐ tại công ty
Trang 9- Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng
đô thị - UDIC”, của tác giả Tạ Văn Hưng - Trường đại học Thương mại - năm 2012
Đề tài đi sâu vào thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện về chế độ kế toánnhư: theo dõi hao mòn và phương pháp tính khấu hao TSCĐ, kiểm kê tài sản, đánhgiá lại tài sản, sửa chữa TSCĐ… Tác giả cơ bản đã đề xuất được những giải pháphoàn thiện dựa trên thực tế tại đơn vị mặc dù những giải pháp đó còn chưa đầy đủ,thiếu sức thuyết phục, chưa mang tính khả thi để có thể áp dụng tại đơn vị
Hầu hết các luận văn đều đã cơ bản giải quyết được những vấn đề tồn tạitrong kế toán TSCĐ theo phạm vi nghiên cứu, nhưng chưa thật cụ thể, sát với thực
tế kế toán tại đơn vị, nhiều giải pháp chưa đầy đủ, chưa hệ thống giúp người đọc dễhiểu và vận dụng phù hợp Các luận văn đều tương tự nhau và chủ yếu nghiên cứutrên phương diện kế toán tài chính TSCĐ, trong đó có kết hợp một số nội dung của kếtoán quản trị TSCĐ nhưng chưa có luận văn nào đi theo hướng hoàn thiện kế toán quảntrị TSCĐ một cách đầy đủ, đồng bộ
Mặc dù đây là một đề tài mang tính truyền thống nhưng ở Công ty cổ phần
du lịch Đồ Sơn vẫn chưa có ai nghiên cứu, đây là một cơ hội cũng là một thách thứccho tác giả để có thể mở ra hướng nghiên cứu vấn đề này cho Công ty
2 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự can thiệp của nhànước là con đường phát triển đúng đắn Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi tích cực.Theo đó nền kinh tế ngày một phát triển, cùng với đó là sự phát triển tất yếu của cácthành phần kinh tế mà cụ thể là từng doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển, lợinhuận trở thành mục tiêu hàng đầu và mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp.Song song với sự thay đổi về kinh tế, các doanh nghiệp cũng đã tích luỹ được nhiềukinh nghiệm hơn trong việc quản lý tài chính nhằm đạt hiệu quả kinh doanh ngàycàng cao, đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt của thị trường Vì vậy, sự đổi mới của chế
độ kế toán mang lại thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc áp dụng một
cơ chế quản lý khoa học và hiệu quả, đồng thời là một bước tiến quan trọng trong
Trang 10công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Trong các khâu quản lý tại doanh nghiệp thì có thể nói công tác quản lý hạchtoán TSCĐ là một trong những mắt xích quan trọng nhất của doanh nghiệp TSCĐkhông chỉ là điều kiện cơ bản, là nền tảng của quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh mà còn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tài sản, vốn của doanh nghiệp.Giá trị tài sản ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trongđiều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, giá trị TSCĐ ngày càng lớn thìyêu cầu quản lý sử dụng ngày càng chặt chẽ, khoa học và hiệu quả hơn
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp là vấn đề
cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quản lý và sử dụng tốt TSCĐ không chỉ cótác dụng nâng cao chất lượng năng lực hoạt động, tiết kiệm vốn mà còn là một biệnpháp quan trọng khắc phục những tổn thất do hao mòn TSCĐ gây ra
Mặt khác, trong doanh nghiệp TSCĐ còn là thước đo trình độ quản lý củadoanh nghiệp, khẳng định uy thế, quy mô và tiềm lực vốn của doanh nghiệp Vìvậy, công tác kế toán TSCĐ càng thể hiện rõ vai trò của nó, đặc biệt khi gắn côngtác kế toán TSCĐ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trongviệc tiếp thu chuẩn mực kế toán quốc tế vào hoàn thiện chế độ kế toán nói chung và
kế toán TSCĐ nói riêng để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế Hiệnnay, Bộ Tài chính đã ban hành các chuẩn mực và chế độ về kế toán TSCĐ nhưngvẫn trong giai đoạn hoàn thiện, do đó việc vận dụng vào các doanh nghiệp vẫn cònnhững bất cập, hạn chế nhất định
Về mặt thực tiễn trong những năm qua, kế toán TSCĐ ở các DN còn cónhiều tồn tại, việc áp dụng các phương pháp kế toán còn có sự khác biệt so với chế
độ quy định Đối với công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn, kế toán TSCĐ theo quanđiểm kế toán tài chính còn có nhiều bất cập trong việc xác định nguyên giá, trongviệc áp dụng các phương pháp tính khấu hao TSCĐ, trong việc sử dụng tài khoản kếtoán, các sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán Mặt khác kế toán TSCĐ theo quanđiểm kế toán quản trị tại công ty qua khảo sát đã có nhưng chưa hình thành rõ, chưa
Trang 11có tính hệ thống Kế toán quản trị chưa trở thành một bộ phận kế toán độc lập, vaitrò của kế toán quản trị còn mờ nhạt Giá trị của TSCĐ trong công ty chiếm mộtphần lớn trong tổng chi phí SXKD Đặc điểm của TSCĐ sử dụng trong công ty lànhững tài sản có giá trị lớn, được dùng nhiều, dễ bị hỏng hóc Chính vì vậy, mộtyêu cầu tất yếu đặt ra là làm thế nào để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ trongcông ty Muốn vậy bên cạnh việc tổ chức hạch toán TSCĐ sao cho khoa học, hiệuquả đúng quy định của Nhà nước còn phải thu thập thông tin xung quanh vấn đềđầu tư TSCĐ, sử dụng TSCĐ như thế nào, khi chúng hư hỏng thì sửa chữa haythanh lý đó là vấn đề rất quan trọng các nhà quản lý cấp cao trong công ty cũng rấtquan tâm.
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Kế toán tài sản
cố định tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn” cho luận văn thạc sĩ của mình nhằm
góp phần giải quyết những bất cập còn tồn tại thuộc vấn đề nghiên cứu, để kế toánthực sự trở thành công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu của các doanh nghiệp trong việcquản lý và sử dụng TSCĐ sao cho hiệu quả, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong điềukiện hội nhập
3 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Đề tài tập trung nghiên cứu về kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch ĐồSơn với các mục tiêu cụ thể sau:
b Mục tiêu cụ thể
Về mặt lý luận: luận văn sẽ phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận
cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp
Về mặt thực tế: luận văn tập trung tổng hợp, phân tích những kết quả thuđược từ quá trình khảo sát thực tế kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần du lịch ĐồSơn Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá ưu, nhược điểm, những tồn tại và nguyênnhân để đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm hoàn thiện và nâng caochất lượng kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ và thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổphần du lịch Đồ Sơn
b Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Đề tài nghiên cứu 2 loại TSCĐ là TSCĐ hữu hình và TSCĐ vôhình dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị
- Không gian: tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
- Thời gian: số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập trong 2 năm: 2013
- Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp điều tra:
Hình thức điều tra là phát các phiếu khảo sát tới các nhà quản lý và nhữngngười trực tiếp thực hiện công tác kế toán TSCĐ tại công ty
Mục đích của các phiếu điều tra là khảo sát thực trạng kế toán TSCĐ tại công
ty cổ phần du lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người liên quan trongcông ty đó
Nội dung các phiếu điều tra là đặt ra các câu hỏi trắc nghiệm để người đượckhảo sát trả lời theo tình hình thực tế của công ty mình Nội dung các câu hỏi theosát các vấn đề nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các câu hỏi liên quan đến quá trìnhthực hiện kế toán TSCĐ tại doanh nghiệp Các câu hỏi tập trung khảo sát về kế toánTSCĐ theo cả hai phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị Về phươngdiện kế toán tài chính TSCĐ có các câu hỏi về các loại chứng từ, tài khoản, sổ sách
kế toán TSCĐ, các phương pháp trích khấu hao TSCĐ, kế hoạch sửa chữa nâng cấp
Trang 13TSCĐ, kiểm kê TSCĐ Về phương diện kế toán quản trị TSCĐ có các câu hỏi tậptrung nghiên cứu về tình trạng sử dụng TSCĐ, công tác đánh giá hiệu quả sử dụngTSCĐ, kế hoạch đầu tư TSCĐ hàng năm Các phiếu khảo sát được thiết kế dạngcâu hỏi với các phương án trả lời có sẵn, câu hỏi dạng có/không hoặc sắp xếp mức
độ quan trọng của vấn đề
Sau khi phát phiếu điều tra cho các đối tượng người được điều tra và thu lạiphiếu điều tra từ những người này, tôi tiến hành tổng hợp thông tin thu thập được từphiếu điều tra Đây chính là cơ sở để phản ánh đúng thực trạng của công ty, từ đó cóthể đánh giá được ưu điểm cũng như những tồn tại cần khắc phục của công tác kếtoán TSCĐ
Tác giả biên soạn phiếu điều tra và gửi trực tiếp đến các đối tượng cầnkhảo sát và thu về các phiếu khảo sát sau khi được hoàn thành bằng đường bưuđiện Tổng số phiếu phát ra là 11 phiếu, thu về được 10 phiếu Mẫu phiếu điều
tra được trình bày ở Phụ lục số 01; Bảng tổng hợp kết quả từ các phiếu điều tra được trình bày ở Phụ lục số 02
Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp hoặcphỏng vấn qua điện thoại một số nhà quản lý cũng như những người trực tiếp thựchiện công tác kế toán TSCĐ tại công ty và một số bộ phận liên quan
Mục đích của các cuộc phỏng vấn là tìm hiểu những vấn đề liên quan màphương pháp điều tra chưa đề cập hết về thực trạng kế toán TSCĐ tại công ty cổ phần
du lịch Đồ Sơn qua nhận xét của chính những người liên quan trong công ty đó
Để thực hiện phương pháp này, tác giả đã thiết lập các câu hỏi phỏng vấn vàtiến hành phỏng vấn các đối tượng đã định rồi ghi lại các câu trả lời của người đượcphỏng vấn Nội dung các cuộc phỏng vấn được tác giả chuẩn bị trước và nội dụngkhông hoàn toàn giống nhau giữa những người được phỏng vấn và xoay quanhnhững nội dung chính của kế toán TSCĐ Ngoài ra trong quá trình thực hiện luậnvăn, nếu phát sinh những thắc mắc ngoài các nội dung đã được phỏng vấn tác giảthực hiện phỏng vấn bổ sung qua điện thoại Nội dung phỏng vấn tác giả tập trung
Trang 14phỏng vấn các vấn đề về kế toán TSCĐ như: phương pháp hạch toán về tăng giảmTSCĐ, khấu hao TSCĐ, sửa chữa nâng cấp và xây dựng cơ bản TSCĐ, tình hìnhquản lý và sử dụng TSCĐ trong công ty.
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong suốt quá trình lựa chọn và thựchiện đề tài Tác giả đã phỏng vấn 10 người, trong đó có cấp quản lý công ty, cán bộ
kế toán công ty
Qua các cuộc phỏng vấn tác giả có cái nhìn tổng quan, đầy đủ hơn về nhậnthức của các đối tượng được phỏng vấn và thực trạng kế toán TSCĐ tại công ty cổphần du lịch Đồ Sơn
Bảng câu hỏi phỏng vấn được trình bày ở Phụ lục số 03.
Phương pháp quan sát: quan sát tác phong làm việc, cách mà những ngườinhân viên phòng kế toán xử lý công việc của họ
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: để nắm vững và hiểu một cách chuyênsâu, đầy đủ về những vấn đề lý luận chung của kế toán TSCĐ qua việc nghiên cứu,tham khảo các giáo trình chuyên ngành kế toán, chuẩn mực kế toán Việt Nam vàquốc tế, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành, các công trình nghiên cứu khoahọc và các bài báo, tạp chí có liên quan
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin:
Từ những kết quả nghiên cứu thu thập được qua các phương pháp trên, tiếnhành hệ thống hóa, phân tích dữ liệu để hiểu và chọn lọc được những thông tinchính xác, cần thiết sử dụng cho bài luận văn
Trang 15phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán TSCĐ từ đó cung cấpthông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ cho nhà quản lý trong việc ra quyết định đầu
tư, mua sắm, đổi mới, sửa chữa, nâng cấp TSCĐ sử dụng tại đơn vị
Về bản thân tác giả
Trong quá trình thực hiện, tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài “Kế toán TSCĐ tạiCông ty cổ phần du lịch Đồ Sơn”, tác giả có điều kiện hệ thống hóa và hoàn thiệnhơn các kiến thức đã tiếp thu được trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại Nhàtrường, kiến thức chuyên môn về kế toán doanh nghiệp nói chung và kế toán TSCĐnói riêng Bên cạnh đó, tác giả còn có cơ hội tiếp cận với các nhà quản lý, cácchuyên gia kế toán giàu kinh nghiệm, có điều kiện học hỏi chuyên môn vững vàngcủa cô giáo hướng dẫn khoa học Từ đó, tích lũy cho bản thân những kinh nghiệmhọc tập và nghiên cứu quý báu để có thể hoàn thành tốt công việc được giao, tạonền tàng vững chắc cho quá trình nghiên cứu tiếp theo của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, ký hiệu viếttắt, phụ lục, bài luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công
ty cổ phần du lịch Đồ Sơn
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TSCĐ, vai trò và nhiệm vụ kế toán TSCĐ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ
a Một số khái niệm cơ bản về TSCĐ
Bất kể một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanhđều phải có một số nguồn lực nhất định Nguồn lực của doanh nghiệp có thể đượchình thành từ chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ các nguồn tài trợ bên ngoài và được
sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Trong số tài sản đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp không thể không kể đến TSCĐ
Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản phải thỏa mãn đồng thời haitiêu chuẩn: Chắc chắn doanh nghiệp sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do
sử dụng tài sản đó và giá trị của tài sản đối với doanh nghiệp có thể được xác địnhmột cách đáng tin cậy TSCĐ là một bộ phận chính trong tổng tài sản của doanhnghiệp, có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanhnghiệp Việc xác định một khoản chi phí là tài sản hay chi phí có ảnh hưởng đáng
kể đến thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp Với tiêuchuẩn thứ nhất, để xác định một yếu tố có được ghi nhận là tài sản hay không doanhnghiệp phải đánh giá mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh tế trongtương lai trên cơ sở các bằng chứng hiện có tại thời điểm hạch toán ban đầu Lợi íchkinh tế thu được từ việc sử dụng tài sản chính là các lợi ích nhận được hoặc rủi ro
mà doanh nghiệp phải gánh chịu liên quan đến tài sản Tiêu chuẩn thứ hai đề cậpđến bằng chứng chứng minh cho việc xác định nguyên giá của TSCĐ
Các nhà nghiên cứu, xây dựng chế độ kế toán cho rằng: TSCĐ là biểu hiệncủa một nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, được phát sinh từ các sự kiện trongquá khứ và doanh nghiệp chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từviệc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Theo quan điểm này, TSCĐ bao gồmnhững nguồn lực hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp đã đầu tư nhằm tạo ra lợiích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp
Trang 17Theo các nhà nghiên cứu kế toán ở Mỹ: TSCĐ là những tài sản có thời gian
sử dụng lâu dài, được đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, không phải đầu tư để bán cho khách hàng Khái niệm về TSCĐ này nhấnmạnh đến thời gian phát huy tác dụng của TSCĐ đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, đồng thời TSCĐ đã đầu tư sẽ hình thành nên cơ sở vậtchất kỹ thuật cho doanh nghiệp và TSCĐ hoàn toàn khác biệt với hàng hóa
Các nhà nghiên cứu kế toán tại Anh cho rằng: Một tài sản được ghi nhận làTSCĐ khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện: Có thời gian sử dụng lâu dài; Được sửdụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và không phục vụ mục đích kinhdoanh thương mại Khái niệm này tương đồng với quan điểm của các nhà nghiêncứu kế toán Mỹ
Ở Việt Nam, khái niệm về kế toán nói chung, TSCĐ nói riêng khác nhau tùyvào mục đích nghiên cứu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở các thời kỳ khácnhau và sự thay đổi tương ứng phù hợp của chế độ tài chính và kế toán
Theo Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam:
“TSCĐ là bộ phận tài sản của doanh nghiệp, phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài,tham gia nhiều lần vào sản xuất sản phẩm theo mức độ hao mòn TSCĐ bao gồm:nhà cửa, công trình kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng
cụ, đường ống …”.Quan điểm này nhấn mạnh đến thời gian sử dụng lâu dài và tínhdịch chuyển dần giá trị vào sản phẩm, dịch vụ của TSCĐ
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 03; VAS 04): “Các tài sản đượcghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành
Tiêu chuẩn thứ nhất đề cập đến việc phát huy tác dụng của TSCĐ đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là lợi ích kinh tế thu được hoặcrủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu gắn liền với việc sử dụng tài sản Tiêu chuẩn
Trang 18thứ hai nhấn mạnh việc xác định giá trị ban đầu của TSCĐ phải trên cơ sở các bằngchứng pháp lý gắn với các giao dịch kinh tế cụ thể như mua sắm, trao đổi hoặc tựxây dựng Thời gian sử dụng TSCĐ có thể là thời gian mà doanh nghiệp dự tính sửdụng TSCĐ hoặc là số lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp dự tính thu được
từ việc sử dụng tài sản, thời gian sử dụng TSCĐ là một trong những căn cứ cho việctính khấu hao TSCĐ Giá trị tối thiểu của TSCĐ được quy định cụ thể trong chế độtài chính gắn với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định nhằm đơn giảnhóa trong quản lý và hạch toán Khái niệm về TSCĐ theo chuẩn mực kế toán ViệtNam đề cập toàn diện đến lợi ích thu được từ tài sản đầu tư, tính tin cậy của việcxác định nguyên giá tài sản, độ dài thời gian sử dụng và giá trị của tài sản
Như vậy, các khái niệm về TSCĐ phần lớn cho rằng TSCĐ là những tài sản
có giá trị đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lạilợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp Mỗi một quốc gia, tùy vào trình độphát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời điểmkhác nhau có thể quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ Giá trị tối thiểu để ghinhận là TSCĐ còn phụ thuộc vào quy mô hoạt động, đặc điểm về lĩnh vực, ngànhnghề kinh doanh và năng lực tài chính của mỗi doanh nghiệp Thời gian sử dụngcủa TSCĐ phụ thuộc vào mức độ hao mòn, trình độ khai thác, quản lý của doanhnghiệp và những tiến bộ khoa học kỹ thuật chi phối Thông thường, thời gian sửdụng của TSCĐ là một năm trở lên
Từ những phân tích trên đây, có thể kết luận rằng: TSCĐ là những tài sản có
hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, được đầu tư sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không phải để bán.
Trang 19cần lựa chọn hình thức đầu tư TSCĐ cho phù hợp với nhu cầu, đặc điểm hoạt động sảnxuất kinh doanh cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.
- TSCĐ được đầu tư sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặcnhiều năm hoạt động của doanh nghiệp Không phải TSCĐ đầu tư sử dụng cho sảnxuất sản phẩm một lần là hư hỏng và giá trị được chuyển toàn bộ vào giá thành sảnphẩm Chính vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc bảo vệ, sửa chữa TSCĐ
và lựa chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp nhằm đánh giá sát nhấtmức độ hao mòn để thu hồi giá trị đã đầu tư của TSCĐ
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến khi bị
hư hỏng, TSCĐ giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, đồng thời bị giảm dần
về mặt giá trị và giá trị sử dụng (hiện tượng hao mòn TSCĐ) Doanh nghiệp thựchiện thu hồi giá trị TSCĐ đã đầu tư để tái sản xuất thông qua việc tính trích khấuhao TSCĐ
- TSCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sảncủa doanh nghiệp TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tàichính của doanh nghiệp và ảnh hưởng đáng kể đến thông tin được trình bày trênbảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, doanhnghiệp cần quan tâm quản lý tốt và tổ chức hạch toán TSCĐ phù hợp nhằm nângcao hiệu năng công tác quản lý và hiệu quả hoạt động kinh doanh
c Phân loại TSCĐ
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo phương pháp phân loại này TSCĐ của doanh nghiệp bao gồm 02 loại,
đó là:
- TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình – TK211)
- TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình – TK213)
+ TSCĐ hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chấtthỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanhnhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máymóc, thiết bị, phương tiện vận tải…
Trang 20+ TSCĐ vô hình : Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện mộtlượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gianhiều vào chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng,chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
Với cách phân loại này giúp cho nhà quản lý có được cái nhìn tổng quát về
cơ cấu đầu tư vào TSCĐ của doanh nghiệp Đây là căn cứ quan trọng để xây dựnghoặc tư điều chỉnh phương hướng đầu tư cho phù hợp với thực tế.Đồng thời các nhàquản lý có thể căn cứ vào tiêu thức phân loại này để đưa ra biện pháp quản lý tàisản, quản lý vốn và tính khấu hao chính xác và hợp lý
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này TSCĐ được phân loại thành:
- TSCĐ được mua sắm do vốn nhà nước cấp
- TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay
- TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung
- TSCĐ nhận góp vốn, vốn liên doanh bằng hiện vật
Với cách phân loại này giúp cho người sử dụng phân biệt được quyền –nghĩa vụ của đơn vị trong quản lý TSCĐ, giúp doanh nghiệp ra quyết định sử dụngnguồn vốn khấu hao một cách hợp lý
Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:
Theo phương pháp này TSCĐ được chia thành 02 loại, đó là :
- TSCĐ tự có : Là những TSCĐ được mua sắm và đầu tư bằng nguồn vốn tự
có (ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng hoặc trích quỹ đầu tư phát triển củadoanh nghiệp) để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- TSCĐ thuê ngoài: Là những TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do việc doanh nghiệp đithuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ TSCĐ thuêngoài có 02 loại:
+ TSCĐ thuê tài chính: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công tythuê tài chính, theo đó bên cho thuê có quyền chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích
Trang 21gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, quyền sở hữu tài sản có thể chuyểngiao vào cuối thời hạn thuê.
+ TSCĐ thuê hoạt động: Là tất cả tài sản thuê không thỏa mãn các quy định
về thuê tài chính đều được coi là tài sản cố định thuê hoạt động
Với cách phân loại này giúp cho việc tổ chức và hạch toán TSCĐ được chặtchẽ, chính xác và sử dụng TSCĐ có hiệu quả nhất
Phân loại TSCĐ theo công dụng:
* TSCĐ hữu hình
Căn cứ vào công dụng kinh tế của TSCĐ, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
có thể được chia thành các loại như sau:
- Nhà cửa, vật kiến trúc (TK2111): Là những TSCĐ của doanh nghiệp đượchình thành sau quá trình thi công xây dựng như: Trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào,tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống,đườngsắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà
- Máy móc, thiết bị (TK2112): Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:máy móc chuyên dùng,thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ,những máy móc đơn lẻ
- Phương tiện vận tải, truyền dẫn (TK2113): Là các loại phương tiện vận tảinhư phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đườngống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ốngnước, băng tải
- Thiết bị dụng cụ quản lý (TK2114): Là những thiết bị, dụng cụ dùng trongcông tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy tínhphục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng,máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm (TK2115): Làcác loại vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su,vườn cây ănquả, thảm cỏ, thảm cây xanh ; Súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm đàn voi, đàn
Trang 22ngựa, đàn trâu, đàn bò
- Các loại TSCĐ khác (TK2118): Là toàn bộ các loại TSCĐ khác chưa liệt
kê vào 5 loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật,
Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia TSCĐ trong doanh nghiệp
ra thành 3 loại Đó là :
- TSCĐ đang được sử dụng: Đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đangdược sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi,
sự nghiệp an ninh quốc phòng của doanh nghiệp
- TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuấtkinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùngtới, đang được dự trữ chờ sử dụng sau này
- TSCĐ không dùng chờ thanh lý, nhượng bán:
+ Là những TSCĐ không cần dùng đến
+ Tài sản sử dụng không có hiệu quả cần bán đi để tái đầu tư
+ Tài sản bán có lãi nên doanh nghiệp bán để kiếm lời
+ Tài sản bị hư hỏng không thể sử dụng được
+ Tài sản sử dụng không có hiệu quả do lạc hậu về kỹ thuật, không còn phù
Trang 23hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Tài sản không còn phù hợp với nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp màkhông thể nhượng bán thì doanh nghiệp tiến hành thanh lý
Với cách phân loại này nhằm thấy được mức độ sử dụng hiệu quả các TSCĐcủa doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ củadoanh nghiệp trong tương lai
sử dụng Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp được thể hiện trên những khía cạnhchủ yếu sau:
Một là, TSCĐ thể hiện trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp, trực tiếpảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm Số lượng, chủng loại TSCĐ cũngnhư mức độ hiện đại hay lạc hậu của TSCĐ quyết định tính ổn định của sản xuất vàhình thức, chất lượng của sản phẩm
Hai là, TSCĐ góp phần giải phóng lao động chân tay của con người, tăngtính chuyên môn hóa của quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động Đồng thời, vớitính đồng bộ và hiện đại của TSCĐ, doanh nghiệp có thể giảm chi phí đầu vào, hạgiá thành sản phẩm, dịch vụ, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của mìnhtrên thị trường
Ba là, TSCĐ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao trình độ quản lý,tạo động lực khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn
và tay nghề làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại Cơ cấu, số lượng, chủng loại vàchức năng TSCĐ chi phối tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức bộ máy
Trang 24quản lý của doanh nghiệp Đồng thời, để thích ứng với TSCĐ đã được đầu tư vàtrang bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi người lao động phải học tập,nâng cao tay nghề chuyên môn, tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập và triểnvọng phát triển nghề nghiệp.
1.1.3 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
a Yêu cầu quản lý TSCĐ
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn đầu
tư nói riêng và vốn sản xuất nói chung TSCĐ thường chiếm một tỷ trọng lớn so vớitổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, chúng được coi là cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa quá trình sản xuất kinh doanh
TSCĐ là một bộ phận của tư liệu sản xuất, giữ vai trò là công cụ lao độngchủ yếu trong quá trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất, kỹ thuật, trình độ côngnghệ, thế mạnh của doanh nghiệp
Trong sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, với trình độ khoa học luôn luôn đổi mới không ngừng việc tạo ra cácsản phẩm có chất lượng tốt và giá cả hợp lý thì vấn đề đổi mới cơ sở vật chất kỹthuật cho quá trình sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy việc quản lý TSCĐ phải đápứng được những yêu cầu sau:
- Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng.TSCĐ phải đượcphân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết cho từng đốitượng ghi TSCĐ và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ
- Giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ
- Quản lý chặt chẽ tình hình hao mòn, việc trích và phân bổ khấu hao mộtcách khoa học và hợp lý để thu hồi vốn đầu tư phục vụ cho việc tái đầu tư TSCĐ,xác định giá trị còn lại của TSCĐ một cách chính xác giúp doanh nghiệp kịp thờiđổi mới trang thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Thường xuyên theo dõi và quản lý TSCĐ để phát hiện sai hỏng kịp thời tiếnhành sửa chữa, nâng cấp TSCĐ phục vụ kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanhđảm bảo cung cấp đầy đủ sản phẩm về chất lượng cũng như số lượng
Trang 25b Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
Kế toán TSCĐ phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời về tình hình hiện có và tìnhhình biến động tăng, giảm các loại TSCĐ của toàn doanh nghiệp trên các mặt: Sốlượng, chất lượng, giá trị, cơ cấu đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc bảo quản, bảodưỡng, nâng cấp và sử dụng TSCĐ ở các bộ phận khác nhau nhằm nâng cao hiệusuất sử dụng TSCĐ
- Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo kế toánphù hợp phục vụ cho việc thu nhận, hệ thống hóa, tổng hợp và cung cấp thông tin
về tình hình hiện có và sự biến động của TSCĐ trong doanh nghiệp
- Tính toán chính xác kịp thời số khấu hao TSCĐ đồng thời phân bổ đúngđắn chi phí khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh
- Phản ánh, kiểm tra chặt chẽ TSCĐ, cũng như các khoản chi phí sửa chữaTSCĐ, tham gia lập và tổ chức thực hiện dự toán đầu tư XDCB, dự toán sửa chữalớn TSCĐ
- Theo dõi, ghi chép, kiểm tra chặt chẽ quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐnhằm đảm bảo việc quản lý sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả
- Lập các báo cáo về TSCĐ, tham gia phân tích tình hình trang bị, sử dụng vàbảo quản các loại TSCĐ
1.2 Kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp trên phương diện kế toán tài chính
1.2.1 Kế toán TSCĐ theo quy định của chuẩn mực kế toán
1.2.1.1 Chuẩn mực kế toán Việt Nam về kế toán TSCĐ
Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩnmực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ những năm 2000 đến năm 2005 theo nguyêntắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế vàtrình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực
Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán.Việc được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế là nhằm đảm bảo hệthống chuẩn mực kế toán Việt Nam góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch
Trang 26trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, phản ánh được các giao dịch của nềnkinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nằm trong hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam có các chuẩn mựcVAS 03 và chuẩn mực VAS 04 ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTCliên quan đến TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
a Chuẩn mực số 03 - “Tài sản cố định hữu hình”
Định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình :
Theo VAS 03 thì “TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất dodoanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp vớitiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.”
VAS 03 cũng nêu tiêu chuẩn để ghi nhận TSCĐ hữu hình như sau:
“Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời cảbốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau :
(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sảnđó;
(b) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
(c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
(d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.”
Đối với điều kiện thứ nhất, mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai từ tài sản phải dựa trên những bằng chứng sẵn có tại thời điểm ghinhận ban đầu Doanh nghiệp cần đảm bảo rằng mọi lợi ích và rủi ro đã được thực sựchuyển giao cho doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp ghi nhận tài sản là TSCĐhữu hình của doanh nghiệp
Đối với điều kiện thứ hai, việc xác định giá trị của tài sản thường là dựa trêngiá trị chuyển giao (transfer amount) khi mua sắm tài sản hoặc nếu tài sản đượchình thành trong nội bộ doanh nghiệp thì nguyên giá của tài sản là toàn bộ chi phí
mà doanh nghiệp phải trả ra bên ngoài để tạo nên tài sản đó (chi phí nguyên vật liệu,chi phí lao động, chi phí sản xuất chung,…) Việc xác định giá trị sẽ khó khăn hơntài sản được hình thành từ việc trao đổi tài sản và doanh nghiệp phải xác định giá trị
Trang 27thị trường của tài sản tham gia vào trao đổi Việc xác định giá trị của tài sản sẽ đượcphân tích kỹ hơn ở phần xác định giá trị ban đầu.
Điều kiện thứ ba “thời gian sử dụng hữu ích lớn hơn một kỳ kế toán” là tiêuchuẩn chung cho bất kỳ tài sản nào được phân loại vào lớp tài sản dài hạn
Còn điều kiện thứ tư “có hình thái vật chất cụ thể ” được nêu rõ trong địnhnghĩa của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Xác định giá trị ban đầu:
Nguyên tắc ghi nhận: “TSCĐ hữu hình phải được xác định giá trị ban đầutheo nguyên giá.” Các trường hợp xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình:
-TSCĐ hữu hình mua sắm: nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồmgiá mua (trừ (-) các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoảnthuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trựctiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: Chi phí chuẩn bị mặtbằng; Chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu; Chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) cáckhoản thu hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử); Chi phí chuyên gia và các chi phíliên quan trực tiếp khác
Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng theo phương thứcgiao thầu, nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các chi phí liênquan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có)
-TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế: nguyên giá TSCĐ hữu hình tựxây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng(+) chi phí lắp đặt, chạy thử Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sảnxuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng(+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sửdụng Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyêngiá của các tài sản đó Các chi phí không hợp lý, như nguyên liệu, vật liệu lãng phí,lao động hoặc các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quátrình tự xây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình
Trang 28-TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: nguyên giá TSCĐ hữu hìnhmua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sảnkhác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp
lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiềntrả thêm hoặc thu về
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữuhình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tàisản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng lĩnh vựckinh doanh và có giá trị tương đương) Trong hai trường hợp không có bất kỳ khoảnlãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi Nguyên giá TSCĐ nhận vềđược tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi
-TSCĐ hữu hình tăng từ các nguồn khác: nguyên giá TSCĐ hữu hình đượctài trợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý ban đầu Trườnghợp không ghi nhận theo giá trị hợp lý ban đầu thì doanh nghiệp ghi nhận theo giátrị danh nghĩa cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạngthái sẵn sàng sử dụng
Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu:
“Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ hữu hình đượcxác định theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại Trường hợp TSCĐ hữuhình được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá, khấu hao lũy kế
và giá trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá lại Chênh lệch do đánhgiá lại TSCĐ hữu hình được xử lý và kế toán theo quy định của Nhà nước”
Khấu hao:
“Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệthống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phùhợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng
kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng đượctính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho cáchoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá
Trang 29TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấuhao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác”.
Thời gian sử dụng hữu ích:
“Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do doanh nghiệp xác địnhchủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản Tuy nhiên, do chính sáchquản lý tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản
có thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó Vì vậy, việc ước tính thờigian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm củadoanh nghiệp đối với các tài sản cùng loại”
Phương pháp khấu hao:
“Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo định kỳ,thường là cuối năm tài chính, nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụngtài sản để đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thì được thay đổi phương pháp khấu hao
và mức khấu hao tính cho năm hiện hành và các năm tiếp theo”
Nhượng bán và thanh lý TSCĐ hữu hình:
“TSCĐ hữu hình được ghi giảm khi thanh lý, nhượng bán Lãi hay lỗ phátsinh do thanh lý, nhượng bán TSCĐ hữu hình được xác định bằng số chênh lệchgiữa thu nhập với chi phí thanh lý, nhượng bán cộng (+) giá trị còn lại của TSCĐhữu hình Số lãi, lỗ này được ghi nhận là một khoản thu nhập hay chi phí trên báocáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ”
Trình bày báo cáo tài chính:
“Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày theo từng loại TSCĐhữu hình về những thông tin sau:
(a) Phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình;
(b) Phương pháp khấu hao, Thời gian sử dụng hữu ích hoặc tỷ lệ khấu hao;(c) Nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại vào đầu năm và cuối kỳ;(d) Bản thuyết minh báo cáo tài chính …”
b Chuẩn mực số 04 – “Tài sản cố định vô hình”
Ghi nhận TSCĐ vô hình:
Trang 30- Định nghĩa TSCĐ vô hình: “Là tài sản không có hình thái vật chất nhưngxác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinhdoanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩnghi nhận TSCĐ vô hình”.
- Tính có thể xác định được: “TSCĐ vô hình phải là tài sản có thể xác địnhđược để có thể phân biệt một cách rõ ràng tài sản đó với lợi thế thương mại Lợi thếthương mại phát sinh từ việc sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại được thểhiện bằng một khoản thanh toán do bên đi mua tài sản thực hiện để có thể thu đượclợi ích kinh tế trong tương lai”…
- Khả năng kiểm soát: “Doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát một tài sản nếudoanh nghiệp có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại,đồng thời cũng có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợiích đó Khả năng kiểm soát của doanh nghiệp đối với lợi ích kinh tế trong tương lai
từ TSCĐ vô hình, thông thường có nguồn gốc từ quyền pháp lý”
- Lợi ích kinh tế trong tương lai: “Lợi ích kinh tế trong tương lai mà TSCĐ
vô hình đem lại cho doanh nghiệp có thể bao gồm: Tăng doanh thu, tiết kiệm chiphí, hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng TSCĐ vô hình”
Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình:
Theo VAS 04 thì ngoài việc thỏa mãn định nghĩa về TSCĐ vô hình, thì mộttài sản cũng phải đồng thời thỏa mãn bốn tiêu chuẩn sau thì mới được ghi nhận làTSCĐ vô hình
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang lại;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên 1năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành
Xác định nguyên giá TSCĐ vô hình trong từng trường hợp:
Mua TSCĐ vô hình riêng biệt: Theo VAS 04 thì “nguyên giá TSCĐ vôhình mua riêng biệt, bao gồm giá mua (trừ (-) các khoản được chiết khấu thươngmại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại)
Trang 31và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính”.
“ Trường hợp TSCĐ vô hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trảchậm, nguyên giá của TSCĐ vô hình được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thờiđiểm mua Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngayđược hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi sốchênh lệch đó được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình (vốn hóa) theo quy định củachuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay”
Mua TSCĐ vô hình từ việc sáp nhập doanh nghiệp: “Nguyên giá TSCĐ vôhình hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại là giá trịhợp lý của tài sản đó vào ngày mua (ngày sáp nhập doanh nghiệp)”
“Doanh nghiệp phải xác định nguyên giá TSCĐ vô hình một cách đáng tincậy để ghi nhận tài sản đó một cách riêng biệt
Giá trị hợp lý có thể là:
- Giá niêm yết tại thị trường hoạt động;
- Giá của nghiệp vụ mua bán TSCĐ vô hình tương tự”
TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn: “Nguyên giá TSCĐ vôhình là quyền sử dụng đất có thời hạn khi được giao đất hoặc số tiền trả khi nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác, hoặc giá trị quyền sửdụng đất nhận góp vốn liên doanh”
Nguyên giá của quyền sử dụng đất có thể xác định bằng cách sau :
- Số tiền trả cho người chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Giá trị thị trường của quyền sử dụng đất;
- Khi góp vốn liên doanh sẽ là giá trị quyền sử dụng đất theo đánh giá củaHội đồng góp vốn liên doanh
“Trường hợp quyền sử dụng đất được chuyển nhượng cùng với mua nhà cửa,vật kiến trúc trên đất thì giá trị của nhà cửa, vật kiến trúc phải được xác định riêngbiệt và ghi nhận là TSCĐ hữu hình”
Tức là khi nhà cửa và vật kiến trúc cùng được chuyển nhượng với đất đai thìbắt buộc phải tách riêng các tài sản này vì nhà cửa, vật kiến trúc sẽ được ghi nhận là
Trang 32TSCĐ hữu hình còn quyền sử dụng đất được ghi nhận là TSCĐ vô hình.
TSCĐ vô hình được Nhà nước cấp hoặc được tặng, biếu: “Nguyên giáTSCĐ vô hình được nhà nước cấp hoặc được tặng, biếu, được xác định theo giá trịhợp lý ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sửdụng theo dự tính”
TSCĐ vô hình mua dưới hình thức trao đổi: “Nguyên giá TSCĐ vô hìnhmua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình không tương tự hoặc tài sảnkhác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ vô hình nhận về hoặc bằng với giátrị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tươngđương tiền trả thêm hoặc thu về”
Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp: “Lợi thế thươngmại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản”
TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp: “Để đánh giá một tàisản vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp được ghi nhận vào ngày phát sinhnghiệp vụ đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình, doanhnghiệp phải phân chia quá trình hình thành tài sản theo:
(a) Giai đoạn nghiên cứu; và
(b) Giai đoạn triển khai”…
Trang 33Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu:
“Chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầuphải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi thỏa mãn đồngthời 2 điều kiện sau thì được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình:
(a) Chi phí này có khả năng làm cho TSCĐ vô hình tạo ra lợi ích kinh tếtrong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu;
(b) Chi phí được đánh giá một cách chắc chắn và gắn liền với một TSCĐ vôhình cụ thể”
Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu:
“Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ vô hình được xácđịnh theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại”
Khấu hao TSCĐ vô hình:
Thời gian tính khấu hao:
“Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệthống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tínhkhấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc trích khấu hao được bắt đầu từkhi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng”
Phương pháp khấu hao:
“Phương pháp khấu hao TSCĐ vô hình được sử dụng phải phản ánh cáchthức thu hồi lợi ích kinh tế từ tài sản đó của doanh nghiệp Phương pháp khấu haođược sử dụng cho từng TSCĐ vô hình được áp dụng thống nhất qua nhiều thời kỳ
và có thể được thay đổi khi có sự thay đổi đáng kể cách thức thu hồi lợi ích kinh tếcủa doanh nghiệp Chi phí khấu hao cho từng thời kỳ phải được ghi nhận là chi phíhoạt động sản xuất, kinh doanh, trừ khi chi phí đó được tính vào giá trị của tài sảnkhác”
Giá trị thanh lý:
“TSCĐ vô hình có giá trị thanh lý khi:
(a) Có bên thứ ba thỏa thuận mua lại tài sản đó vào cuối thời gian sử dụnghữu ích của tài sản; hoặc
Trang 34(b) Có thị trường hoạt động vào cuối thời gian sử dụng hữu ích của tài sản vàgiá trị thanh lý có thể được xác định thông qua giá thị trường.
Khi không có một trong hai điều kiện nói trên thì giá trị thanh lý của TSCĐ
vô hình được xác định bằng không (0)”
Nhượng bán và thanh lý TSCĐ vô hình:
“TSCĐ vô hình được ghi giảm khi thanh lý, nhượng bán hoặc khi xét thấykhông thu được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tiếp sau”
Trình bày báo cáo tài chính:
“Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày theo từng loại TSCĐ
vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp và TSCĐ vô hình được hình thành từcác nguồn khác, về những thông tin sau:
(a) Phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ vô hình;
(b) Phương pháp khấu hao; Thời gian sử dụng hữu ích hoặc tỷ lệ khấu hao;(c) Nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại vào đầu năm và cuối kỳ;(d) Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Phần TSCĐ vô hình) …”
1.2.1.2 Sự hài hòa của chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế
về kế toán TSCĐ
Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi kế toán doanh nghiệpmột mặt phải thừa nhận các nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời,phải có mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế củaViệt Nam Vì vậy, đòi hỏi những người soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Namphải có nhận thức về sự khác biệt của kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế để tiếntới sự hài hòa, hợp lý
Mặc dù không thuộc nhóm các quốc gia vận dụng 100% chuẩn mực kế toánquốc tế nhưng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt nam ban hành trong những thờigian qua đã có sự tương đồng rất cao so với chuẩn mực kế toán quốc tế Điều nàyđược thể hiện khá rõ khi so sánh hai chuẩn mực kế toán của Việt nam và quốc tế
Trang 35* VAS 03 và IAS 16 - Tài sản cố định hữu hình
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai từ việc sử dụngtài sản đó;
- Nguyên giá tài sản phải đượcxác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên
Tương tự như qui định của chuẩnmực kế toán quốc tế, trừ khoảnmục chi phí ước tính cho việctháo dỡ, di chuyển các tài sản vàkhôi phục mặt bằng thì khôngđược tính vào nguyên giá TSCĐ
Giá trị của nhà cửa, vật kiến trúc
và quyền sử dụng đất cần đượctrình bày riêng, trong đó giá trịquyền sử dụng đất cần phải đượcxác định là TSCĐ vô hình
Các tài sản đủ tiêu chuẩn ghi nhận
là TSCĐ cần được xác định giá trịban đầu theo nguyên giá Nguyêngiá TSCĐ hữu hình bao gồm:
- Giá mua;
- Các chi phí liên quan trực tiếpđến việc đưa tài sản vào vị trí vàtrạng thái sẵn sàng sử dụng theođúng dự định của Ban Giám đốc;
- Các chi phí ước tính cho việctháo dỡ, di chuyển các tài sản vàkhôi phục mặt bằng;
Chi phí lãi vay liên quan trực tiếpđến việc mua sắm, xây dựng hoặcsản xuất các tài sản đủ tiêu chuẩn
Trang 36Đơn vị có thể lựa chọn sử dụngphương pháp giá gốc hoặcphương pháp đánh giá lại và ápdụng chính sách kế toán này chomột nhóm tài sản Giá đánh giá lạiphải là giá trị hợp lý tại ngày đánhgiá lại trừ đi khấu hao luỹ kế vàcác khoản lỗ do giá trị tài sản bị
Không đề cập vấn đề này Khi việc đánh giá lại làm tăng giá
trị tài sản, thì số chênh lệch giánày cần được ghi tăng khoản mụcthặng dư đánh giá lại (phần nguồnvốn), trừ trường hợp chính tài sảnnày trước đó đã được đánh giágiảm mà số chênh lệch giảm đó
đã được ghi vào chi phí thì sốđánh giá tăng lần này cần đượcghi nhận là thu nhập
Khi đánh giá lại làm giảm giátrị tài sản thì số chênh lệch giávượt quá số có thể ghi giảm vàokhoản mục thặng dư đánh giá lại(là số hiện đang ghi nhận là thặng
dư đánh giá lại của cùng tài sản)cần được ghi nhận là chi phí
Sự giảm
giá trị tài
Không đề cập vấn đề này - Khi giá trị có thể thu hồi được
giảm xuống thấp hơn giá trị còn
Trang 37sản lại, thì giá trị còn lại cần được
điều chỉnh giảm xuống mức giátrị có thể thu hồi được Phần điềuchỉnh giảm vượt quá số hiện đangghi trên khoản mục thặng dư đánhgiá lại của chính tài sản đó, cầnđược ghi nhận là chi phí
- Khi tình huống dẫn đến việc ghigiảm giá trị tài sản không cònhiện hữu và chắc chắn sẽ xuấthiện các điều kiện mới, cần ghinhận một khoản dự phòng tănggiá tài sản Tuy nhiên, khoản dựphòng ghi tăng này cần đượcgiảm trừ số khấu hao đáng lẽ đãđược trích nếu trước đó không ghigiảm giá trị tài sản
- Việc ghi nhận các khoản giảmgiá trị tài sản được tuân thủ theoIAS 36 - Giảm giá trị tài sản
Khi phát sinh chênh lệch đánh giálại tài sản thực hiện, khoản chênhlệch này được kết chuyển trựctiếp vào lợi nhuận chưa phânphối Chênh lệch đánh giá lại tàisản có thể được thực hiện toàn bộkhi có nghiệp vụ ngừng hoạtđộng, thanh lý một tài sản hoặcđược thực hiện một phần trong
Trang 38quá trình sử dụng tài sản (chênhlệch giữa khấu hao trên giá trị cònlại của tài sản và khấu hao trênnguyên giá ban đầu)
Chuẩn mực đưa ra các yêu cầu chitiết về việc trình bày phương phápđánh giá lại
* VAS 04 và IAS 38 - Tài sản cố định vô hình
- Thời gian sử dụng ước tính trên
1 năm
- Thoả mãn tiêu chuẩn về giá trị
Ghi nhận:
Một tài sản vô hình được ghi nhận
là TSCĐ vô hình phải thoả mãnđịnh nghĩa của TSCĐ vô hình, vàchỉ khi:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai do tài sản đómang lại và
- Nguyên giá của tài sản đó đượcxác định một cách đáng tin cậy
Xác định giá trị:
Tài sản cố định vô hình phải đượcxác định giá trị ban đầu theonguyên giá
Tài sản được Nhà nước cấp:
Nguyên giá của TSCĐ vô hìnhđược xác định theo giá trị thịtrường hoặc xác định theo giá trịban đầu cộng các chi phí liên
Trang 39cụ thể quan trực tiếp đến việc đưa tài sản
- Chuẩn mực kế toán Việt Nam
chỉ cho phép sử dụng phươngpháp giá gốc Phương pháp đánhgiá lại không được chấp nhận trừmột số trường hợp đặc biệt Giátrị tổn thất không được đề cập đếntrong Chuẩn mực kế toán ViệtNam
Phương pháp chuẩn (phương pháp giá gốc): Sau ghi nhận banđầu, TSCĐ vô hình được theo dõitheo giá trị còn lại xác định bằngnguyên giá trừ đi giá trị khấu haoluỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế
Phương pháp thay thế (phương pháp đánh giá lại): Sau ghi nhận
ban đầu, tài sản cố định vô hìnhđược theo dõi theo giá trị đánh giálại bằng giá trị thị trường của tàisản tại thời điểm đánh giá lại trừ
đi giá trị khấu hao luỹ kế và giá trịtổn thất luỹ kế
Được tính toàn bộ vào chi phítheo IFRS
Trang 40gian tối đa không quá 3 năm.
có biểu hiện giảm giá trị:
- TSCĐ vô hình không trongtrạng thái sẵn sàng đưa vào sửdụng;
- TSCĐ vô hình đã khấu hao quá
20 năm tính từ ngày sẵn sàng đưavào sử dụng
vô hình trên 20 năm
- Yêu cầu doanh nghiệp phải trìnhbày giá trị còn lại của TSCĐ vôhình tạm thời không sử dụng vàgiá trị còn lại của TSCĐ vô hìnhchờ thanh lý
- IAS 38 không quy định điều này
vì IAS 38 không đưa ra một thờigian sử dụng hữu ích tối đa choTSCĐ vô hình
- IAS 38 không yêu cầu doanhnghiệp phải trình bày vấn đề này.IAS 38 còn yêu cầu doanh nghiệpphải trình bày bản chất và địnhlượng những thay đổi trong ướctính kế toán mà ảnh hưởng trọngyếu đến kỳ kế toán hiện tại và các
kỳ kế toán sau
- Đối với một TSCĐ vô hình mà
có thời gian sử dụng hữu ích vôthời hạn, IAS 38 yêu cầu trình bàygiá trị của tài sản đó và lý do đểdoanh nghiệp đánh giá rằng tài