1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La

86 1,2K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh kiểm tra tại cơ quan hành chính nhà nước nói chung và Cục Thuế tỉnh Sơn La nói riêng đã trở thành vấn đề cấp thiết không chỉ được thực hiện bởi tại Cục Thuế mà còn là đề tài của các bài báo, các cuộc khảo sát, các luận án và luận văn hay các công trình nghiên cứu khoa học khác ở trong và ngoài nước mà còn giúp ích phục vụ cho mục tiêu chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 20112020 của ngành Thuế đã được Bộ Tài chính phê duyệt tại Quyết định số 2162QĐBTC ngày 0892011. Nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Cục Thuế Sơn La trong đó có công chức thanh tra thuế là một việc làm hết sức khó khăn, gian nan, vất vả nhưng lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng và là cơ sở để thực hiện chiến lược phát triển lâu dài của ngành thuế Sơn La nói riêng và ngành thuế cả nước nói chung. Em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình để tiếp tục khẳng định những giá trị lý luận, thực tiễn về công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠNMỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH TỪ VIẾT TẮT vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THANH TRA THUẾ 6

1.1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản 6

1.1.1 Thuế và quản lý nhà nước về thuế 6

1.1.2 Thanh tra thuế & vị trí, mối quan hệ trong Quản lý thuế 9

1.1.3 Công chức Thanh tra thuế 11

1.1.4 Đội ngũ công chức thanh tra thuế 15

1.2 Phân định nội dung nghiên cứu chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương 16

1.2.1- Khái niệm: 17

1.2.2- Các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ CCTTT ở Cục Thuế địa phương 18

1.2.3 Về chất lượng kĩ năng, kinh nghiệm thanh tra thuế của đội ngũ: 24

1.2.4 Về chất lượng lãnh đạo và quản trị đội ngũ 27

1.2.5- Mô hình nghiên cứu và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương 28

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương 31

1.3.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài tổ chức Cục thuế địa phương 31

1.3.2 Các yếu tố nội tại Cục Thuế địa phương 34

Trang 2

1.4 Khái quát tình hình quản lý chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở một

số nước và bài học rút ra với ngành thuế việt nam: 36

1.4.1 Kinh nghiệm của các nước 36

1.4.2 Một số bài học tham khảo cho Việt Nam từ công tác quản lý chất lượng đội ngũ công chức thanh tra, kiểm tra thuế của các nước: 39

CHƯƠNG II 41

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THANH TRA TẠI CỤC THUẾ TỈNH SƠN LA 41

2.1 Khái quát tổ chức & hoạt động của Cục thuế tỉnh Sơn La 41

2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển 41

2.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ hiện tại 42

2.1.3 Tổng quan tổ chức và hoạt động thanh tra thuế của Cục Thuế tỉnh Sơn La 47

2.2- Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức thanh tra của Cục thuế tỉnh Sơn La qua điều tra xã hội học 49

2.2.1 Mô tả phương pháp điều tra thực trạng 49

2.2.2 Thực trạng đánh giá tổng hợp chất lượng đội ngũ 51

2.2.3- Thực trạng các yếu tố chất lượng thành phần của đội ngũ CCTTT 53

2.3 Đánh giá chung & nguyên nhân thực trạng 62

2.3.1 Ưu điểm, điểm mạnh chất lượng đội ngũ & nguyên nhân 62

2.3.2 Hạn chế của chất lượng đội ngũ 65

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69

CHƯƠNG III 71

QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THANH TRA CỦA CỤC THUẾ SƠN LA 71

3.1 Định hướng chiến lược ngành thuế đến năm 2020 và yêu cầu đặt ra với tăng cường công tách thanh tra của Cục Thuế 71

3.1.1 Những nhiệm vụ và yêu cầu tăng cường công tác thanh tra thuế tỉnh giai đoạn tới 76

3.1.2 Mục tiêu, quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ 76

3.2 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý và tác nghiệp đội ngũ 77

3.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 78

KẾT LUẬN 81

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU,SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: cơ cấu tổ chức và bộ máy Cục Thuế tỉnh Sơn La 44 Bảng 2.1 Bảng phản ánh số thu ngân sách hàng năm so với chỉ tiêu tổng sản phẩm

nội địa của địa phương (Regional Gross Domestic Product - RGDP) 45

Hình 2.1 Biểu đồ so sánh số thu ngân sách hàng năm với chỉ tiêu tổng sản phẩm nội

địa của địa phương (Regional Gross Domestic Product - RGDP) 46

Bảng 2.2 Bảng phản ánh kết quả thu ngân sách so với dự toán thu ngân sách được giao hàng năm 46 Hình 2.2 Biểu đồ so sánh kết quả thu ngân sách với dự toán thu ngân sách được giao hàng năm 47

Hình 2.3: Sơ đồ quản lý bộ phận thanh tra thuế Cục thuế Sơn La 49 Bảng 2.4 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng đội ngũ CCTTT tỉnh Sơn La 52 Bảng 2.3 THỐNG KÊ THỰC TRẠNG CÁN BỘ THANH TRA NGÀNH THUẾ

SƠN LA 54 Bảng 2.5 - Kết quả đánh giá phẩm chất chính trị, hành vi đội ngũ CCTTT Sơn La 57 Bảng 2.6- Kết quả đánh giá chất lượng tri thức nền cơ bản đội ngũ CCTTT Sơn La 58 Bảng 2.7- Kết quả đánh giá chất lượng tri thức chuyên môn, chuyên ngành đội ngũ CCTTT Sơn La 59 Bảng 2.8- Kết quả đánh giá chất lượng kĩ năng, kĩ xảo kinh nghiệm đội ngũ CCTTT Sơn La 61 Bảng 2.9- Kết quả đánh giá chất lượng lãnh đạo, quản trị CCTTT Sơn La 61

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã ý thức rõ việcdùng người là quốc sách Nó không phải là nguyên nhân duy nhất nhưng có tácdụng trực tiếp đến sự tồn vong của quốc gia, sự trường tồn và phát triển của dân tộc.Phát huy truyền thống và phương sách dùng người của ông cha ta để lại, từ khi rađời đến nay, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, coi cán bộ là nhân tốquyết định sự thành bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dàycông đào tạo, huấn luyện xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung thành với Tổquốc và dân tộc, tận tuỵ kiên cường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các thời kỳ

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm

năm thì phải trồng người” Tư tưởng của Người về cán bộ và sử dụng cán bộ là

những di sản vô giá Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khi đã có đường lối cách

mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định Người viết: “Muốn việc thành công hay

thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Cán

bộ là những người đem đường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thíchcho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáolại cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng

Là một tổ chức trong hệ thống tổ chức của thanh tra nhà nước, đồng thời là tổchức cấu thành trong bộ máy quản lý của ngành Tài chính, thanh tra thuế là mộtcông cụ quản lý tài chính có hiệu lực, đảm bảo cho pháp Luật, các chính sách chế

độ và kế hoạch ngân sách nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh Hiệu lực, hiệuquả của Thanh tra thuế phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ cán bộ làm côngtác thanh tra Thuế Vì vậy, có thể nói, phẩm chất, kỹ năng công tác của người cán

bộ thanh tra thuế là yếu tố quan trọng, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhànước

Như chúng ta đã biết cơ quan Thuế là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhànước có tư cách pháp nhân thay mặt Nhà nước đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý Thuế

Trang 6

bằng các hình thức và phương pháp hoạt động nhất định Hoạt động của cơ quanThuế mang tính quyền lực và được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước, hoạt động

đó được tuân theo thủ tục do Pháp Luật quy định Cơ quan Thuế bao gồm Tổng cụcThuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế, được tổ chức theo địa giới hành chính Vì thay mặtNhà nước đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý Thuế, do cơ quan thuế thường xuyên tiếp

xúc với nhân dân (người nộp thuế) do đó việc xây dựng nâng cao chất lượng nguồn

đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành thuế đặc biệt là nâng cao chất lượng của độingũ làm công tác thanh tra Thuế là việc làm hết sức có ý nghĩa mang tính cấp thiết

& liên tục, bởi vì: Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hộichủ nghĩa cán bộ, công chức ngành Thuế cả nước nói chung và Sơn La nói riêng đãluôn giữ vững và phát huy truyền thống của ngành, đoàn kết và hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước giao, thu đúng, thu đủ tiền thuế vào Ngânsách Nhà nước, đảm bảo an toàn tài sản, tiền bạc của Nhà nước Thời gian vừa qua,cùng với việc chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ, lãnh đạo cơ quanthuế các cấp đã gương mẫu chấp hành, đồng thời quan tâm chỉ đạo, kiểm tra cán bộ,công chức trong đơn vị chấp hành tốt 10 điều kỷ luật của ngành, những tiêu chuẩn

cần “xây” và những điều cần “chống”, Tiêu chuẩn văn hoá công sở và đạo đức

công chức, viên chức ngành Thuế Do vậy, ý thức tổ chức kỷ luật và phẩm chất đạođức của đội ngũ cán bộ, công chức thuế đã được nâng cao rõ rệt, góp phần đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý thuế, tạo dựng hình ảnh tốt của ngànhThuế với xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây do tác động của các yếu tốkhách quan, chủ quan đã phát sinh những hành vi tiêu cực trong cán bộ, công chức.Qua phản ánh dư luận xã hội, phản ánh của các cơ quan chức năng và qua công táckiểm tra nội bộ, trong ngành Thuế vẫn còn một số cán bộ, công chức chưa chấphành nghiêm quy định về Tiêu chuẩn văn hoá công sở và đạo đức công chức, viênchức ngành Thuế, vi phạm các quy định về kỷ cương, kỷ luật của ngành như viphạm kỷ luật giờ giấc làm việc, bị xử lý hình sự Một số trường hợp cán bộ, côngchức chưa có tác phong, thái độ đúng mực khi tiếp xúc với Người nộp thuế, có thái

độ cửa quyền, vòi vĩnh gây khó khăn, chậm giải quyết yêu cầu của Người nộp thuế,

Trang 7

nghiêm trọng hơn là cán bộ công chức trực tiếp làm công tác thanh, kiểm tra thôngđồng với NNT để trốn thuế gây thất thoát cho NSNN Những việc đó ảnh hưởngkhông tốt tới hình ảnh của ngành Thuế và cán bộ, công chức Thuế.

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế yếu kém đó là: Công tác quản lý cán bộ,quản lý thời gian, chất lượng hiệu quả công việc có lúc có nơi còn lỏng lẻo Ý thức

tự học tập chưa cao, năng lực trình độ của nhiều cán bộ làm công tác thanh kiểm tranói riêng còn yếu, thực thi công vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, khó bốtrí công việc Ý thức chấp hành kỷ cương, kỷ luật của một số cán bộ, Công chứcthanh tra Thuế (CCTTT) có lúc, có nơi chưa nghiêm túc

Nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh kiểmtra tại cơ quan hành chính nhà nước nói chung và Cục Thuế tỉnh Sơn La nói riêng

đã trở thành vấn đề cấp thiết không chỉ được thực hiện bởi tại Cục Thuế mà còn là

đề tài của các bài báo, các cuộc khảo sát, các luận án và luận văn hay các công trìnhnghiên cứu khoa học khác ở trong và ngoài nước mà còn giúp ích phục vụ cho mụctiêu chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 của ngành Thuế đã được

Bộ Tài chính phê duyệt tại Quyết định số 2162/QĐ-BTC ngày 08/9/2011 Nhậnthức được rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức tại Cục Thuế Sơn La trong đó có công chức thanh tra thuế là một việc làm hếtsức khó khăn, gian nan, vất vả nhưng lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng và là cơ

sở để thực hiện chiến lược phát triển lâu dài của ngành thuế Sơn La nói riêng và

ngành thuế cả nước nói chung Em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng

cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La”

làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình để tiếp tục khẳng định những giá trị lýluận, thực tiễn về công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra trong các cơ quan hành chính nhànước hiện nay

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích sau:

2.1 Hệ thống hóa lý luận về đội ngũ cán bộ, công chức và chất lượng đội ngũcán bộ, công chức làm công tác thanh tra Thuế

2.2 Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tạiCục Thuế Sơn La trong thời gian qua (giai đoạn 2009-2013)

2.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, CCTTT tạiCục Thuế tỉnh Sơn La trong thời gian tới (2014-2020)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng cán bộ, công chức thanh tra Cục Thuế tỉnhSơn La

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: Các số liệu thống kê được thu thập thôngqua các tài liệu thống kê, báo cáo đã được công bố của Cục Thuế tỉnh Sơn La

- Điều tra mẫu bằng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp: Các số liệu khảo sát đượcthu thập thông qua điều tra chọn mẫu bằng phương pháp câu hỏi và phỏng vấn đối

với một số cán bộ, công chức thanh tra và khách hàng (người nộp thuế) và cán bộ

quản lý đối với chất lượng đào tạo, chất lượng công việc được giao, chất lượngphục vụ của cơ quan thuế

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua các số liệu thu thập được từcông chức thuế và điều tra phỏng vấn tổng hợp để phân tích đánh giá thực trạngchất lượng cán bộ, công chức thanh tra của Cục Thuế tỉnh Sơn La

Trang 9

- Phương pháp phân tích so sách định tính và định lượng: Trên cơ sở các sốliệu đã phân tích để so sánh đánh giá và đưa ra các nhận xét Trong đó có sử dụngcác công cụ phần mền tính toán thống kê, các sơ đồ mô hình thống kê học để môphỏng.

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03chương:

- CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ công chức thanh

tra thuế

- CHƯƠNG 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Thanh tra tại

Cục Thuế tỉnh Sơn La

- CHƯƠNG 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức Thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI

NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THANH TRA THUẾ

1.1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản

1.1.1 Thuế và quản lý nhà nước về thuế.

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụphải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhànước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượngnộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội

do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật

Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giaicấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nókhông chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh

tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định

Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi chohoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồntại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Trong điềukiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhànước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân

cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa Ðể có được lượngcủa cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấnđịnh bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần củacải mà họ làm ra và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu nhữngcủa cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế đượcchuyển sang hình thức tiền tệ Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cảivật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộmáy cuỡng chế của Nhà nước

Trang 11

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế tồn tại

và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu kháchquan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồntại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước

Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành

Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũyngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hộinên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp.Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ởnước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùngvào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận ở Pháp, Quốchội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuậnthì không được áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy địnhQuốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội cónhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, doyêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Ủy banThường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hìnhthức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế

Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhânđối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp

Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấu hiệu

và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đối với Nhànước và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hìnhthức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội

Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các thểnhân và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệ phân phối này là của cải vậtchất được biểu hiện dưới hình thức giá trị

Trang 12

Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểmcủa phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đếnvai trò, nội dung, đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thốngpháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến vàđổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn Ðồngthời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật

về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ

Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiếndiện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là động viêntài chính vào ngân sách Nhà nước mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặtchẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi

và khả năng đóng góp của nhân dân

Theo quy định tại Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28 tháng 9 năm

2009 của Thủ tướng Chính phủ thì nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lí nhà nước vềThuế như sau:

* Cơ cấu tổ chức Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất.

1 Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương:

a) Vụ Chính sách;

b) Vụ Pháp chế;

c) Vụ Dự toán thu thuế;

d) Vụ Kê khai và Kế toán thuế;

đ) Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;

e) Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân;

g) Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn;

h) Vụ Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế;

i) Vụ Hợp tác quốc tế;

k) Vụ Kiểm tra nội bộ;

Trang 13

l) Vụ Tổ chức cán bộ;

m) Vụ Tài vụ - Quản trị;

n) Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh);

o) Thanh tra;

p) Cục Công nghệ thông tin;

q) Trường Nghiệp vụ thuế;

r) Tạp chí Thuế

Các tổ chức quy định từ điểm a đến điểm p, khoản 1, Điều này là các tổ chứchành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổchức quy định tại điểm q và điểm r là tổ chức sự nghiệp

2 Cơ quan Thuế ở địa phương:

a) Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là CụcThuế cấp tỉnh) trực thuộc Tổng cục Thuế;

b) Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làChi cục Thuế cấp huyện) trực thuộc Cục Thuế cấp tỉnh

Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấuriêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật

Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế

1.1.2 Thanh tra thuế & vị trí, mối quan hệ trong Quản lý thuế.

Thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động,giao dịch liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT, tình hình áp dụng, thực hiện cácthủ tục hành chánh thuế, việc chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT, nhằm bảo đảmluật thuế được thi hành một cách nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội

Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare)

có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với

hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh

tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.Từ điển Luật học

(tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và

Trang 14

đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định -sự tác động có tính trực thuộc” Theo Từ điển tiếng Việt “ thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra bao

hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “ xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy

định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “ người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra Thuế” và “đặt trong phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định”

Như vậy Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạtđộng kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thườngđược thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luậtquy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tíchcực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [23] –

Từ phân tích trên ta có khái niệm thanh tra thuế: là một chức năng thiết yếutrong quản lý thuế, kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộpthuế được cơ quan thuế thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằmkết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòngngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế,chính sách thuế, pháp luật thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

Trong cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành thuế bao gồm thanh tra người nộp

thuế (thanh tra chuyên ngành) và thanh tra (Kiểm tra) nội bộ ngành Thuế (thanh tra

hành chính) Hoạt động thanh tra thuế làm cho NNT và cho cả cán bộ thuế luôn ý

thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuânthủ pháp luật thuế

Trong công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện ở nước ta hiện nay, đòi hỏichúng ta phải đẩy mạnh việc chuyển đổi nền kinh tế và hoàn thiện cơ chế quản lýNhà nước Trong đó thanh tra thuế với tư cách là một phương thức bảo đảm pháp

Trang 15

chế, tăng cường kỷ luật Nhà nước về thuế, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nướccần phải được xác định như một nhân tố tất yếu của công tác quản lý

Khi tiến hành thanh tra thuế, cơ quan thuế phải tiến hành nhiều hoạt độngkiểm tra, ngược lại đôi khi tiến hành kiểm tra là để làm rõ vụ việc và từ đó chọn lựanội dung thanh tra

Trong hoạt động quản lý nói chung & quản lý thuế nói riêng muốn đảm bảocho những mục tiêu đề ra đạt được hiệu quả tốt nhất, thì nhất thiết phải tiến hànhcông tác kiểm tra, thanh tra và nó là một trong những chức năng hoạt động quản lý.Nếu không có kiểm tra, thanh tra thì không có quản lý tốt, hay nói một cách khácquản lý sẽ mất đi một chức năng thiết yếu và không thể mang lại hiệu quả Kiểmtra, thanh tra là sự xem xét để làm rõ những hiện tượng, những vụ việc đúng, saitrong quá trình quản lý, trong những vụ việc, hành vi của người thừa hành nhiệm vụtrong công tác quản lý

Thanh tra là một hoạt động không thể thiếu, nhằm phản hồi nhu cầu thông tincủa công tác quản lý, đồng thời uốn nắn kịp thời và điều chỉnh chính sách, pháp luậtchưa hợp lý, tránh xơ cứng rập khuôn, máy móc, dẫn đến sự quản lý trì trệ, gópphần làm bộ máy trong sạch, đơn vị vững mạnh và phát triển

1.1.3 Công chức Thanh tra thuế.

Theo điều 4, Luật công chức năm 2008 quy định “Công chức là công dân Việt

Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là

sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương

Trang 16

được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” {28, Tr 2}- Luật CBCC

Để làm rõ và hiểu được CCTTT trước hết phải hiểu rõ khái niệm “công chức

thanh tra” Hiện nay, đang có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này Có

quan niệm cho rằng, công chức thanh tra phải là công chức theo quy định của Luậtcán bộ, công chức và đang làm việc trong các cơ quan thanh tra nhà nước hay trongcác cơ quan có các phòng ban thanh tra Có quan điểm lại cho rằng cán bộ thanh traphải là công chức ngạch thanh tra…

Theo quy định của pháp luật và thực tế hoạt động thanh tra cho thấy, trong các

cơ quan thanh tra nhà nước có nhiều cán bộ, công chức thực hiện những nhiệm vụ

không liên quan trực tiếp đến công tác thanh tra (ví dụ như cán bộ văn thư, lưu trữ,

kế toán…) Mặt khác , có những người không là công chức ngạch thanh tra nhà

nước nhưng vẫn thường xuyên tham gia các đoàn thanh tra (ví dụ như chuyên viên ở

các bộ, các sở được cử vào đoàn thanh tra liên ngành) Trong Đoàn thanh tra,

quyền, trách nhiệm, yêu cầu về phẩm chất, kỹ năng công tác của những cán bộ nàycũng tương đương với công chức ngạch thanh tra

Bên cạnh đó, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng tổ chức thanh tra của mình

(không phải là thanh tra nhà nước) Cán bộ trong các tổ chức thanh tra đó cũng

được giao những nhiệm vụ, quyền hạn và đòi hỏi phải có những phẩm chất, kỹ năngtương tự như công chức thanh tra trong các cơ quan thanh tra nhà nước

Như vậy, xét trên phương diện quản lý nói chung thì có thể hiểu “cán bộ

thanh tra” theo nghĩa rộng là những người thực hiện chức năng thanh tra trong chu

trình quản lý một tổ chức nào đó Còn xét trên phương diện của quản lý nhà nước

thì “cán bộ thanh tra” là những người thực hiện chức năng thanh tra trong hoạt

động quản lý nhà nước

Hiện nay, chưa có tài liệu nào có khái niệm chuẩn về công chức thanh tra thuế

Tuy nhiên, từ quan điểm & nhận thức trên có thể khái quát “Công chức thanh tra

thuế” là những công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ

Trang 17

quan thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyênngành thuộc phạm vi ngành thuế quản lý.

Chức danh cán bộ, công chức là thuật ngữ để chỉ tên chức vụ hoặc chức tráchcủa những người do bầu cử, bổ nhiệm hay được tuyển dụng, có vị trí công tácthường xuyên, ổn định trong bộ máy các cơ quan thuộc hệ thống chính trị nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm chức danh gốc (chung cho nhiều

chức danh cùng loại) và chức danh đầy đủ.

Cán bộ, công chức được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo tínhchất công việc mà họ đảm nhận, theo ngạch bậc, công chức, cụ thể:

- Phân loại cán bộ công chức theo tính chất công việc được chia thành 4 nhóm:+ Công chức lãnh đạo

+ Công chức chuyên gia

+ Công chức thi hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước

+ Nhân viên hành chính

- Phân loại cán bộ công chức theo ngạch bậc, công chức:

+ Ngạch cán bộ công chức: Ngạch là một khái niệm chỉ trình độ năng lực,năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của cán bộ công chức Bất cứ mộtngười CBCC nào sau khi được chính thức tuyển dụng, đều được xét vào một ngạchnhất định Cơ quan tuyển dụng sẽ căn cứ vào quá trình đào tạo, khả năng chuyênmôn nghiệp vụ để phân loại CBCC theo các ngạch khác nhau và có chức danh tiêuchuẩn riêng

+ Bậc: mỗi ngạch lại chia làm nhiều bậc Bậc là các thứ hạng trong một ngạch,nếu chuyển ngạch phải được đào tạo, phải qua thi tuyển thì việc nâng bậc trongphạm vi ngạch chỉ phụ thuộc vào thâm niên công tác, chất lượng công tác và kỷ luậtcủa CBCC

Ngày 11 tháng 9 năm 2010 Bộ nội vụ đã ban hành thông tư sốSố: 09/2010/TT-BNV Ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyênngành trong đó có chuyên ngành thuế cụ thể:

Trang 18

* Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước (bao gồm

cả CBCC thanh tra thuế):

Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia Tôn trọng nhân dân,tận tụy phục vụ nhân dân Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu

sự giám sát của nhân dân Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu tráchnhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơquan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạmpháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước Chủ động và phốihợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn

vị Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao

Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó làtrái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trườnghợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và ngườithi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thihành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyếtđịnh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình Thực hiện cácnghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài việc thựchiện tốt các yêu cầu trên còn phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quảhoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thựchành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, thamnhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Trang 19

Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công

sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chứcthuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu,hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan

+ Không xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn đối với cán bộ, công chức trongthời gian xem xét, xử lý kỷ luật hoặc trong thời gian thi hành kỷ luật

Bổ nhiệm đối các chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Thanh, kiểmtra và chức vụ tương đương thuộc cơ quan Cục Thuế phải có 3 năm công tác trở lêntrong ngành tài chính, trong đó có ít nhất 2 năm công tác thuộc lĩnh vực chuyênmôn quản lý

+ Bổ nhiệm đối các chức danh Đội trưởng, Phó Đội trưởng thanh kiểm tra tạiChi cục Thuế phải có 2 năm công tác trở lên trong ngành tài chính, trong đó có ítnhất 1 năm công tác thuộc lĩnh vực chuyên môn quản lý

1.1.4 Đội ngũ công chức thanh tra thuế

Trên cơ sở chức năng của ngành thuế đã được xác định, hoạt động công tácthanh tra nhằm phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo ngành, góp phần bảo đảmchấp hành chủ chương, chính sách của đảng pháp luật của nhà nước với phương

Trang 20

hướng, nhiệm vụ công tác của ngành đề ra Những kết quả trong hoạt động thanh tratoàn ngành đạt được trong thời gian vừa qua càng khẳng định công tác thanh tra cóvai trò hết sức quan trọng không thể thiếu được trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp;lực lượng cán bộ công chức thanh tra thuế cũng đang ngày càng trưởng thành và lớnmạnh cả về chất lượng và số lượng, góp phần không nhỏ trong việc thực hiện cóhiệu quả hoạt động quản lý nhà nước công tác thuế trong phạm vi cả nước Tuynhiên, trước những đòi hỏi ngày càng nặng lề về chức năng, nhiệm vụ của ngànhthuế hiện nay, thực trạng về đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra thuế cũng cònnhiều tồn tại và bất cập.

Trong đề tài này đội ngũ công chức thanh tra thuế của địa phương được hiểu làtập hợp các công chức được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm các chức danh từthanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp chuyên trách công tácthanh tra Thuế tại một đơn vị tổ chức quản lí nhà nước Ngành Thuế địa phương xácđịnh (các Cục và Chi cục thuế địa phương) Với khái niệm trên, đội ngũ công chứcthanh tra Thuế tương đồng với khái niệm nguồn nhân lực (NNL) công chức thanhtra Thuế

Để đánh giá đội ngũ Công chức thanh tra Thuế của một địa phương xác địnhtheo tiếp cận quản lí nhân lực, thường được xác lập qua 3 thông số:

- Quy mô (số lượng) đội ngũ: Phản ánh số lượng Công chức thanh tra Thuếcủa tổ chức

- Cơ cấu đội ngũ: Phản ánh cấu trúc bậc công chức, Cục – Chi cục, trình độchuyên môn, tuổi…

- Chất lượng đội ngũ: Phản ánh mức độ đáp ứng nhiệm vụ của các bộ phậnthanh tra góp phần cùng cán bộ thu thuế, người nộp thuế thực hiện đúng, đủ, kịpthời nghĩa vụ nộp thuế theo pháp luật thuế quy định

1.2 Phân định nội dung nghiên cứu chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương.

Công tác xây dựng đội ngũ CCTTT của ngành thuế từ ngày thành lập(10/9/1945) đến nay đã có những chuyển biến quan trọng về nhận thức, quan điểm

Trang 21

tư tưởng, được thể hiện trong cơ chế, chính sách, pháp luật từ khâu tuyển dụng, đàotạo và quản lý sử dụng đã từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng được yêucầu đặt ra trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay

1.2.1- Khái niệm:

Như trên đã nêu, chất lượng đội ngũ công chức thanh tra Thuế của một địaphương được xác lập qua mức độ đáp ứng (thỏa mãn) các nhiệm vụ đặt ra với bộphận thanh tra thuế của một Cục/Chi cục thuế địa phương và cách hiểu chung nàytương đồng với khái niệm hiệu suất năng lực nguồn nhân lực công chức thanh trathuế của địa phương và được hiểu là tổng hợp các kiến thức (ngầm và lộ), các kỹnăng (skills), các kĩ xảo (knowhows), và các trải nghiệm mà khi tích hợp chúng vớicác quá trình hoạt động thanh tra thuế và sử dụng các nguồn nhân lực cho phép đạtđược tối đa hiệu quả mục tiêu thực hiện các quá trình/nhiệm vụ đó Từ đây có thểrút ra một số kết luận sau:

- Chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế là một thông số đánh giá tổnghợp của đội ngũ - của một tập hợp các công chức thanh tra thuế Như vậy nó đượccấu thành từ chất lượng/năng lực của từng công chức thanh tra thuế nhưng khôngphải là một phép cộng số học của chúng ta mà là chất lượng bình quân và độ lệchchuẩn quanh vị trí số bình quân này của tập hợp đó

- Giữa chất lượng đội ngũ với số lượng và cơ cấu đội ngũ có mối quan hệ biệnchứng với nhau, bản thân số lượng và cơ cấu đội ngũ không phải là yếu tố chấtlượng nhưng tỉ lệ số lượng đội ngũ/quy mô và phạm vi thanh tra và kiểm tra thuế;

Số lượng đội ngũ kế cận và thay thế đủ và phù hợp là yếu tố có tính chất lượng độingũ Tương tự cơ cấu bậc công chức thanh tra, cơ cấu thâm niên công tác thanh tra,

cơ cấu tuổi/thế hệ, cơ cấu thành phần và công chức nòng cốt các nhóm thanh tra, cơcấu tổ chức lao động khoa học đội ngũ công chức thanh tra thuế cũng là những yếu

Trang 22

cũng là yếu tố có tác động lớn đến mục tiêu cuối cùng cao nhất là thực thi đúng,hiện thực và sáng tạo pháp luật thuế của nhà nước.

- Trong khái niệm trên, chất lượng tri thức có vai trò quan trọng nhất tới hiệusuất thực hiện nhiệm vụ Ở đây tri thức được hiểu là tổng hợp kiến thức, kĩ năng, bíquyết nghề nghiệp hay còn gọi là kĩ xảo (knowhows) và các trải nghiệm thực tế,thực hành, được CCTTT vận dụng để thực thi nhiệm vụ có hiệu suất cao Nếu kiếnthức tạo nên phần cứng của chất lượng tri thức thì các kĩ năng, bí quyết và kinhnghiệm nghề nghiệp tạo nên phần mềm của chất lượng tri thức, tạo nên những sắc

xử sự của người cán bộ, công chức thanh tra thuế trong quan hệ công tác, quan hệ

xã hội Còn kỹ năng của CCTTTchính là khả năng vận dụng những kinh nghiệm,kiến thức của bản thân vào thực tiễn công tác thanh, kiểm tra trong ngành thuế Nhìn chung, yêu cầu về phẩm chất của người cán bộ, CCTTT không có sựkhác biệt lớn giữa các vị trí công tác thanh tra nhưng yêu cầu về kỹ năng lại có thể

có sự khác biệt tùy theo tính chất công việc Ví dụ như những cán bộ thanh trathường xuyên phải tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp thì đòi hỏi phải có kỹ nănggiao tiếp, ứng xử tốt; những cán bộ thanh tra thuế tham gia các đoàn thanh tra thìphải có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá sâu sắc…

Có thể đề cập, phân tích phẩm chất của người cán bộ thanh tra trên nhiều khíacạnh nhưng trong hoạt động quản lý thuế nói chung thì có những nội dung sau đây

có tính bao quát toàn bộ:

Trang 23

Một là: CCTTT phải thấm nhuần và luôn trung thành với mục tiêu của tổchức, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn đặt lợi ích tổ chức, của tập thể lêntrên hết

Thanh tra thuế chủ yếu nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện mục tiêu quản

lý thuế, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai lệch để hướng việc thực hiện đếnđạt mục tiêu đó Do đó CCTTT phải thấm nhuần và phải luôn trung thành với mụctiêu để ra Thấm nhuần mục tiêu quản lý, giúp người cán bộ, CCTTT thấy đượcnhững biểu hiện sai lệch để có những nhận xét, đánh giá, kiến nghị chấn chỉnh kịpthời Mặt khác, thấm nhuần mục tiêu quản lý cũng giúp CCTTT có thể phát hiện,kiến nghị được những nhân tố, hướng đi mới có hiệu quả hướng đến mục tiêu Trong quản lý nhà nước, đặc biệt là quản lý nhà nước về lĩnh vực thuế ngườicán bộ CCTTT phải luôn đối mặt với rất nhiều khó khăn Có sự khó khăn do nộidung, tính chất công việc cụ thể mà mình phải tiến hành thanh tra, đòi hỏi CCTTTphải nỗ lực, không quản ngại, tìm mọi biện pháp để vượt qua khó khăn, tranh tìnhtrạng dễ thì làm, khó thì bỏ Có những khó khăn đến từ các đối tượng liên quan nhưđối tượng thanh tra mua chuộc, dụ dỗ, dọa nạt, đòi hỏi người CBCC thanh tra thuếphải có bản lĩnh, dũng cảm vượt qua Lại cũng có sự khó khăn xuất phát từ chínhbản thân người CCTTT như những tác động từ cuộc sống hằng ngày, gia đình, bạn

bè, khiến sự xuất hiện những tư tưởng về lợi ích cá nhân, có sự suy bì với nhữngngười khác trong cùng điều kiện làm việc

Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp CBCC thanh tra thuế đã không giữ vữngđược bản lĩnh chính trị, bị mua chuộc hoặc vì lợi ích cá nhân mà đánh mất đi phẩmchất của mình Chính vì vậy mà bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn đặt lợi ích tổchức, tập thể lên trên hết là những phẩm chất không thể thiếu của những người làmcông tác thanh tra

Hai là: Người CBCC thanh tra thuế phải có phong cách làm việc tốt, phải coitrọng và luôn ứng xử theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức củanghề thanh tra Phong cách làm việc tốt của người cán bộ thanh tra trước hết là tinh

Trang 24

thần trách nhiệm cao trong công việc Có trách nhiệm cao thì mới có khả năng tạo

ra hiệu quả công tác tốt

CCTTT luôn là những người có chức vụ, quyền hạn, do đó phong cách làmviệc tốt của người cán bộ thanh tra trước hết là phải biết dựa vào quần chúng, gầngũi quần chúng Mặt khác, người cán bộ thanh tra phải biết phòng, chống các biểuhiện chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái, phô trương, quan cách; phải biết sắpxếp công việc một cách khoa học, phải tỉ mỉ, sâu sát; luôn có ý thức học tập nângcao trình độ, thường xuyên tổng kết công tác, đúc rút kinh nghiệm, sáng kiến để đổimới phong cách làm việc ngày càng hiệu quả

Người cán bộ, CCTTT nhất thiết phải coi trọng và ứng xử theo những tiêuchuẩn, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của mình Trong thực hiệnnhiệm vụ, nếu người cán bộ thanh tra dễ dàng bỏ qua thậm chí ứng xử trái vớinhững tiêu chuẩn, nguyên tắc, chuẩn mức đạo đức nghề nghiệp thì bên cạnh việclàm ảnh hưởng đến hình ảnh của người cán bộ thanh tra, làm giảm hiệu lực củathanh tra còn có thể dẫn đến tình trang xê xoa, dễ dãi trong xem xét, đánh giá, kếtluận, thậm chí không dám nhắc nhở, phê bình, yêu cầu chấn chỉnh những biểu hiệnsai trái vì chính bản thân mình cũng là người vi phạm…

Ba là: CCTTT phải có lối sống lành mạnh, tư tưởng trong sáng, thực sự là tấmgương trong công tác và trong cuộc sống

Hồ Chủ tịch đã dạy rằng “Cán bộ thanh tra như cái gương cho người ta soi

mặt, gương mờ thì không thể soi được” Nếu người cán bộ thanh tra không có lối

sống lành mạnh, tư cách đạo đức trong sáng thì không thể vận động thuyết phụcđược quần chúng Khi xem xét, đánh giá người khác và nhất là hướng dẫn cho họthực hiện chính sách, pháp luật, các quy định của tổ chức mà bản thân người cán bộthanh tra lại là người vi phạm hoặc có vấn đề về tư cách đạo đức thì tính thuyếtphục không cao, công tác quản lý không thể đạt được hiệu lực, hiệu quả

Tóm lại, phẩm chất chính trị và hành vi của người CCTTT không tự nhiên mà

có Mỗi người CCTTT lại không dễ để có thể hội tụ đầy đủ những phẩm chất đó.Cho dù các chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, giáo

Trang 25

dục tư cách đạo đức có chất lượng và được thực hiện thường xuyên; các quy định vềtiêu chuẩn ngạch, bậc, cơ chế thi cử có được đề ra và thực thi một cách chặt chẽ thìquan trọng nhất, để trở thành người CCTTT hoặc làm tốt vai trò, trách nhiệm củangười công chức thanh tra thuế, chúng ta phải không ngừng học tập, tu dưỡng, giữgìn phẩm chất, rèn luyện kỹ năng công tác, vừa nghiên cứu tài liệu, sách vở, học ởtrường, ở lớp, vừa phải học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp và nhất là phải tự rút

ra cho mình những bài học, kinh nghiệm qua thực tiễn để có thể ứng dụng tri thứccủa mình vào công tác thanh tra thuế ngày càng hiệu quả chuyên nghiệp hơn

ii Về chất lượng tri thức (nền cơ bản và chuyên ngành):

Chất lượng tri thức của đội ngũ là mức độ năng lực vận dụng những kiến thức

kĩ năng, kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trong thực tiễn hoạt động thanh trathuế

Hoạt động thanh tra nói chung & thanh tra thuế nói riêng rất đa dạng nênnhững kinh nghiệm, kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ có thể ứng dụng trongcông tác thanh tra cũng rất đa dạng Ví dụ như một cuộc thanh tra hành chính vềquản lý tài chính nội bộ, hay cuộc thanh tra đối với đối tượng nộp thuế phức tạp cóhoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vực & phạm vi rộng không những trên địabàn một tỉnh, huyện mà trên toàn quốc… thì ngoài những kỹ năng chung về thanhtra thuế, đòi hỏi người công chức thanh tra thuế phải có kinh nghiệm, kiến thứcchuyên sâu về tài chính và các lĩnh vực mà đối tượng thanh tra có hoạt động Sảnxuất kinh doanh Hay là tham gia đoàn thanh tra liên ngành đối với lĩnh vực đất đaithì ngoài nghiệp vụ chuyên môn về thuế cán bộ CCTTT còn phải biết và nắm vữngđược kiến thức về quản lý tài chính, đất đai…

Từ những yêu cầu về kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ và tính chất công việc

mà người quản lý có thể đặt ra những tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ đối vớiCCTTT theo từng cấp, từng chuyên ngành hoặc từng vị trí công tác nhất định Ví dụnhư để có thể trở thành Thanh tra viên thuế thì người cán bộ thanh tra phải được bồidưỡng về nghiệp vụ chuyên sâu về thuế và thanh tra cơ bản Điều đó có nghĩa là khithực hiện nhiệm vụ, người thanh tra viên đó sẽ có khả năng ứng dụng những kinh

Trang 26

nghiệm, kiến thức được trang bị về thanh tra, giải quyết khiếu nại, giải quyết tốcáo…vào thực tiễn công tác

Từ những nội dung nêu trên, có thể rút ra những yêu cầu về kỹ năng chuyênmôn, nghiệp vụ của người CCTTT như sau:

Một là: Người CCTTT phải được đào tạo và có những kiến thức, kỹ năng cơbản để tham gia vào hoạt động quản lý, đồng thời phải có kỹ năng chuyên sâu vềchuyên ngành thuế & lĩnh vực phù hợp với vị trí công tác CCTTT đặc biệt phải amhiểu chính sách pháp luật thuế, về kế toán, tài chính, kinh tế Phải là người được đàotạo chuyên ngành tài chính, kế toán, kinh tế quản trị kinh doanh hoặc luật kinh tế.Ngoài ra đối với cán bộ, công chức liên quan đến công nghệ thông tin, văn thư lưutrữ thì cần được đào tạo quan các lĩnh vực liên quan, bằng cấp phải được đào tạo từtrung cấp đến đại học trên đại học trở lên

- Đối với CCTTT phải có được những kiến thức về thế giới quan, nhân sinhquan, phương pháp luận…; phải có trình độ lý luận, tư duy logic, am hiểu kinh tế,chính trị, lịch sử đặc biệt bắt buộc phải sử dụng thành thạo máy vi tính và các trangthiết bị văn phòng để phục vụ cho công tác và yêu cầu hiện đại hoá của ngành; phải

có khả năng phân tích báo cáo tài chính, hồ sơ khai thuế, kỹ năng tổng hợp, quan hệphối hợp chia sẻ, thu hút động viên … do đó, nhất thiết phải được đào tạo cơ bản ởtrình độ đại học trở lên về một chuyên ngành nào đó Chuyên ngành đào tạo đó phảiphù hợp với yêu cầu, vị trí công tác của người công chức thanh tra thuế Trườnghợp do khách quan mà việc bố trí của tổ chức không phù hợp với chuyên ngànhđược đào tạo, thì người CCTTT phải có biện pháp bổ túc, tăng cường những kỹnăng chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu công việc

Hai là: Người CCTTT phải có kiến thức và kỹ năng pháp lý, am hiểu pháp luật

về thuế nói riêng, pháp luật nói chung và biết khai thác, sử dụng pháp luật trongcông tác

Pháp luật thuế là một trong những công cụ quan trọng để quản lý nhà nước,quản lý xã hội Bất kỳ một tổ chức nào cũng phải có những nguyên tắc, quy định,quy chế làm cơ sở hoạt động của tổ chức đó Vì vậy, để có thể xem xét, đánh giá

Trang 27

việc thực hiện của một đối tượng nào đó thì người CCTTT nhất thiết phải có kỹnăng về pháp lý văn bản pháp luật liên quan đến thuế để không những thấy đượcviệc thực hiện đó là đúng hay sai so với quy định mà còn phải vượt lên, thấy được

sự hợp lý hay bất hợp lý của quy định đó trong thực tiễn để từ đó có thể chấn chỉnhviệc thực hiện theo đúng quy định đã đề ra hoặc đưa ra những căn cứ kiến nghị sửađổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp

Do vậy về trình độ chuyên môn đối với đội ngũ cán bộ, công chức thanh trathuế được quy định các tiêu chí chuyên môn, lý luận và quản lý nhà nước như sau:

* Tiêu chí chung: Cán bộ, công chức lãnh đạo ở các cấp đơn vị của Tổng cụcThuế phải có bằng tốt nghiệp đại học; đối với cán bộ dưới 45 tuổi khi bổ nhiệm vàocác chức danh quản lý phải có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy hoặc có bằngthạc sỹ, tiến sỹ phù hợp với yêu cầu chuyên ngành của vị trí công tác, có trình độ lýluận từ cao cấp trở lên, trình độ quản lý Nhà nước được đào tạo từ chuyên viênchính trở lên

* Tiêu chí cụ thể đối với một số loại chức danh và địa bàn:

- Các vị trí sau đây: CBCC thanh tra thuế phải có bằng tốt nghiệp đại học hệchính quy hoặc có bằng thạc sỹ, tiến sỹ phù hợp với yêu cầu chuyên ngành của vị trí

công tác (không phân biệt về độ tuổi); có trình độ lý luận từ cao cấp trở lên, trình độ

quản lý Nhà nước được đào tạo từ chuyên viên chính trở lên; Có trình độ B trở lêntheo tiêu chuẩn trong nước hoặc trình độ tương đương theo tiêu chuẩn quốc tế củamột trong các ngoại ngữ: Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc

+ Lãnh đạo từ cấp Phó Trưởng phòng thanh tra, kiểm tra nội bộ và tương

đương trở lên của Vụ, Cục và tương đương thuộc cơ quan Tổng cục Thuế (bao gồm

cả cấp Trưởng, cấp Phó của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục và tương đương).

- Ở các địa phương miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dântộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể xem xéttừng trường hợp cụ thể để bổ nhiệm vào chức danh quản lý

- Đối với cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, trường hợp không đủ tiêuchuẩn về trình độ chuyên môn đào tạo nhưng có năng lực nổi trội trong chỉ đạo thực

Trang 28

tiễn, được cán bộ trong đơn vị tín nhiệm thì có thể xem xét từng trường hợp cụ thể

để bổ nhiệm chức danh lãnh đạo

- Đối với chức danh đội trưởng đội thanh tra, kiểm tra thuế: Tiêu chuẩn chung

là phải có bằng đại học tốt nghiệp cao đẳng trở lên phù hợp với yêu cầu chuyênngành của vị trí công tác, ưu tiên là cán bộ có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên, cán

bộ đào tạo hệ chính quy

+ Ở các Chi cục Thuế thuộc địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trường hợp có thể xem xét bổ nhiệmcán bộ tốt nghiệp trung cấp phù hợp với yêu cầu chuyên ngành của vị trí công tác.+ Đối với cán bộ nữ, cán bộ dân tốc thiểu số trường hợp chỉ có trình độ trung

cấp (phù hợp với yêu cầu chuyển ngành của vị trí công tác).

1.2.3 Về chất lượng kĩ năng, kinh nghiệm thanh tra thuế của đội ngũ:

Công chức thanh tra thuế phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp, bao quát vấnđề; có khả năng tìm tòi, giải quyết công việc từ những vấn đề cơ bản, gốc rễ Đứngtrước một vấn đề phải giải quyết, CCTTT phải phân tích được vấn đề một cách sâusắc, thấy được biểu hiện, bản chất của vấn đề đó, xem xét vấn đề trong những điềukiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, từ đó tổng hợp các yếu tố, phân tích làm rõ nguyênnhân, để có những nhận định, đánh giá cuối cùng Ví dụ như để giải quyết một hành

vi làm trái pháp luật thuế, nếu như cán bộ công chức thanh tra thuế chỉ biết làm rõnhững biểu hiện khách quan bên ngoài của hành vi vi phạm thủ tục hành chính thuế,xác định những đối tượng liên quan, xác định hậu quả để áp dụng quy định củapháp luật để xử lý thì nhiều khi chưa đầy đủ và chặt chẽ Để giải quyết thấu đáo tậngốc rễ của vi phạm đó thì CCTTT phải đi sâu tìm hiểu căn nguyên của việc làm trái

do thiếu trách nhiệm hay là cố ý, cố tình biết trái mà vẫn làm Hoặc trong điều kiện,hoàn cảnh đó các đối tượng thực sự không còn sự lựa chọn nào khác do bó buộc củanhững cơ chế bất hợp lý nên đã làm trái… CCTTT cũng phải xem xét kỹ hậu quảxảy ra, nhiều khi khi hành vi làm trái đó lại gây hậu quả thấp hơn nếu như đối tượnglàm đúng những quy định không còn phù hợp

Trang 29

Mặt khác, CCTTT phải luôn chủ động, linh hoạt trong công việc, có kỹ năng

tổ chức công việc, tác nghiệp độc lập và làm việc theo nhóm một cách hiệu quả.Hoạt động thanh tra thuế đòi hỏi việc tổ chức công việc khoa học, hợp lý, có kếhoạch, chương trình, phân công, phân nhiệm cụ thể, tỉ mỉ Tuy nhiên trong quá trìnhtriển khai thực hiện, cũng đòi hỏi CBCC thanh tra thuế phải luôn chủ động, linhhoạt trước những tình huống phát sinh CCTTT vừa phải chủ động trong phần việccủa mình lại vừa phải có sự phối hợp chặt chẽ với đồng nghiệp để vừa nâng caohiệu quả công tác của bản thân, vừa phục vụ tích cực cho hoạt động, mục tiêu chungcủa đoàn thanh tra hoặc nhóm công tác

Ngoài các yếu tố trên thì còn có yếu tố kỹ năng giao tiếp, ứng xử: Đây lànhóm kỹ năng quan trọng mặc dù không phải là kỹ năng đặc trưng của người công

chức thanh tra thuế Là một trong những yếu tố cơ bản để hình thành “văn hóa

thanh tra thuế”

Nhìn chung, để hoạt động thanh tra thuế có hiệu quả thì thái độ, ứng xử củangười CCTTT phải luôn chuẩn mực, luôn thể hiện sự bình tĩnh, tự chủ trong mọitình huống, nhất là không được thể hiện thái độ trịnh thượng, quan cách hay nóngnảy, cáu giận Khi giao tiếp với NNT hoặc đối tượng thanh tra, đòi hỏi ngườiCCTTT luôn phải biết tự kiềm chế, vừa thể hiện sự cởi mở, chân thành, thông cảmnhưng lại nghiêm túc, đúng mực Đặc biệt, người cán bộ thanh tra phải luôn cảmgiác được sự cân bằng Đối với những trường hợp đối tượng NNT có thái độ quákhích, không hợp tác thì phải cương quyết nhưng cũng phải khôn khéo kiểu nhưchiến thuật “ bàn tay sắt bọc nhung” không để bị kích động mà làm mất đi trạng tháicân bằng trong giao tiếp, ứng xử Kỹ năng giao tiếp, ứng xử cũng có thể lồng ghépvới kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ Thông qua phương pháp giao tiếp, ứng xử hợp

lý người CCTTTcó thể thu thập thông tin một cách hiệu quả, làm rõ vấn đề theohướng mình mong muốn mà không nhất thiết phải sử dụng các biện pháp, công cụ

có tính chất hành chính

- CBCC thanh tra thuế phải sử dụng thành thạo máy vi tính và các trang thiết

bị văn phòng để phục vụ cho công tác và yêu cầu hiện đại hoá ngành; phải có khả

Trang 30

năng phân tích báo cáo tài chính, hồ sơ khai thuế, kỹ năng tổng hợp, quan hệ phốihợp chia sẻ, thu hút động viên …để linh hoạt trong giao tiếp với khách hàng, nhanhchóng hiệu quả khi giải quyết công việc.

- Kỹ năng nghề nghiệp của CCTTT là khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm

vụ được giao bao hàm kiến thức, hiểu, biết về cái đúng, hướng tới cái đúng và làmtheo cái đúng, các kỹ năng và nhân cách Là tổng hợp các yếu tố chuyên môn đượcđào tạo, những kinh nghiệm làm việc năng khiếu cá nhân trong làm việc Như vậy,khi đề cập đến kĩ năng CCTTT thường bao gồm hai yếu tố đó là:

- Khả năng thực hiện nhiệm vụ (đây là yếu tố mang tính tiềm năng, tiềm ẩn

trong con người CBCC).

- Kĩ năng thực hiện nhiệm vụ (đây là yếu tố thực hiện tạo ra sản phẩm cụ thể

có thể đánh giá được về số lượng, chất lượng và hiệu quả).

- Kĩ năng CBCC không phải tự nhiên mà có, nó phải được rèn luyện, đào tạo ở

trong nhà trường và trong thực tế công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Năng

lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có phần lớn do công tác giáo dục rèn luyện tạo nên” Vì vậy, để xây dựng đội ngũ CBCC thanh tra thuế có

kĩ năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao, cơ quan thuế cần phảithực hiện

- Cơ quan thuế đòi hỏi CCTTT cần có kĩ năng sáng tạo và đề xuất phươngthức thực thi công việc Căn cứ vào vị trí công việc được giao công chức thanh trathuế phải thường xuyên phân tích đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm trong tổ chứccông việc để có sáng kiến, cải tiến và áp dụng sáng kiến, cải tiến vào công việc.Đồng thời phải biết ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, khoa học quản lýtrong tổ chức công việc nhằm đạt được hiệu suất và hiệu quả cao

- Cơ quan thuế yêu cầu CCTTT khi thi hành công vụ phải có kĩ năng giải

quyết các mối quan hệ giữa CBCC với nhà nước (theo văn bản pháp luật) với nhân

dân, với CBCC trong các cơ quan nhà nước Giải quyết đúng và giải quyết tốt cácmối quan hệ yêu cầu cán bộ phải có năng lực, trí tuệ Điều đó đòi hỏi CBCC thanhtra thuế phải học tập rèn luyện và phát huy yếu tố ý thức vượt trội trong con người

Trang 31

để cải tiến, sáng kiến quy trình công việc nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

(Trong ý thức của con người có ý thức vượt trội và ý thức trì trệ, nếu biết động não làm cho ý thức vượt trội tăng lên sẽ thắng ý thức trì trệ nhờ đó sẽ có cải tiến, sáng tạo.v.v.)

- Ngoài các yêu cầu trên đối với cán bộ, công chức làm công tác thanh trakiểm tra NNT & thanh kiểm tra nội bộ ngành thuế phải có các kĩ năng phân tíchkinh tế và kinh doanh bao gồm kĩ năng tổ chức, thu thập thông tin, xử lý thông tin

và phối hợp, thực hiện các chủ trương, pháp luật chính sách chế độ của Đảng, Nhànước về quản lý thuế Có kĩ năng tổng hợp, phân tích, đánh giá, đề xuất sáng kiến,cải tiến, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý thuế Có năng lực thuyết trình, tuyêntruyền vận động nhân dân thực hiện pháp luật quản lý thuế Có kĩ năng tư duy đổimới phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước Có kĩ năng quan hệ, tập hợpquần chúng; được công chức, người lao động trong đơn vị tín nhiệm Có kĩ năngphối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị tại địa phương và các đơn vị thuộc ngành thuếtrong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao

1.2.4 Về chất lượng lãnh đạo và quản trị đội ngũ

Yếu tố về quản trị đội ngũ mà trong đó Quản trị nguồn nhân lực là một trongnhững yếu tố đặc biệt quan trọng, khó khăn và phức tạp vì con người là một thựcthể rất phức tạp Mỗi con người là một thế giới riêng biệt họ khác nhau về năng lựclàm việc, sở thích nguyện vọng về hoàn cảnh cá nhân… Trong mỗi con người luônvận động và thay đổi, thậm chí đôi khi trong mỗi con người có những mâu thẫutrong suy nghĩ, lời nói và hành động Vì vậy hiểu và đánh giá đúng về mỗi conngười là không dễ dàng Có lẽ vì vậy mà ông bà đã nói: “Dò sông dò bể dễ dò, nào

ai lấy thước mà đo lòng người” Quản trị nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chứcbất kể cơ quan tổ chức đó có bộ phận quản trị nhân sự hay không Bởi vì không một

tổ chức thiếu yếu tố con người Mà đã có yếu tố con người thì cần phải quản trị conngười Cần thiết quản trị nguồn vốn quan trọng của tổ chức

Quản trị nguồn nhân lực đối với cấp Cục thuế ngày nay trải rộng từ hầu khắpcác phòng ban, tổ đội thuế chứ không chỉ tập trung vào chức năng nhiệm vụ của

Trang 32

phòng tổ chức nhân sự Điều này cho thấy mọi cấp mọi bộ phận đều phải có tráchnhiệm trong việc quản lý nguồn nhân lực của mình Quản lý nguồn nhân lực khôngchỉ là quản lý đội ngũ CBCC thuế mà ngay cả cấp lãnh đạo cũng cần thiết quản lý

để có thể tối ưu hóa hiệu suất làm việc của họ

1.2.5- Mô hình nghiên cứu và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương.

i Mô hình nghiên cứu

Từ phân tích trên cho phép xác lập mô hình nghiên cứu chất lượng thực tế độingũ CCTTT như sau (xem hình 1.1)

Hình 1.1- Mô hình nghiên cứu chất lượng đội ngũ CCTTT địa phương

Trang 33

ii- các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CCTTT địa phương:

Có 2 tiếp cận đánh giá chất lượng đội ngũ CCTTT: Một là đánh giá chất lượngtiềm năng của đội ngũ CCTTT thông qua các tiêu chí mức độ đáp ứng tiêu chuẩnCCTTT, trình độ học vấn (bằngcấp) của đội ngũ, độ tuổi và thâm niên công táctrong ngành TTT, thành tựu (khen thưởng, kỉ luật) của đội ngũ các kì đã qua và hiệntại, số vụ việc (theo đó số thu thuế) phát hiện và xử lí…(kể cả năm sau cao hơn nămtrước) Mặc dù đây là những tiêu chí quan trọng nhưng chúng mang nặng tính mô

tả, tính kết quả và chỉ phản ánh chất lượng tiềm năng chứ chưa thể đảm bảo chấtlượng thực tế của đội ngũ Vì vậy tiếp cận thứ 2 là cần thiết phải xây dựng các tiêuchí đánh giá chất lượng thực tế của đội ngũ Phương pháp này dựa trên đánh giá cácyếu tố chất lượng thành phần với trọng số tương ứng phản ánh mức độ quan trọngđóng góp vào mức chất lượng (theo thang Likirt) 5 điểm (1 điểm - Hầu như không

có chất lượng; 5 điểm - Chất lượng cao, tuyệt hảo) để đánh giá mức chất lượngthành phần cvà tổng thể của đội ngũ gọi là đanh giá trong thực tế bởi người đánhzgiá không phải là tự các CCTTT mà chủ yếu dựa trên đánh giá của đối tượng thanhtra, kiểm tra – coi như là “khách hàng” của đội ngũ, bao gồm: đại diện các tổ chức,doanh nghiệp và các cán bộ thu thuế thuộc Cục thuế địa phương được chọn ngẫunhiên, điển hình theo phương pháp điều tra xã hội học Theo mô hình nghiên cứunêu trong hình 1.1 trên, để tọa thành chất lượng tổng thể đội ngũ, có 5 yếu tố chấtlượng thành phần và ứng với nó là các trọng số Để xác định mỗi yếu tố cần pháttriển thang đo dựa trên sự cảm nhận của khách hàng, cụ thể:

X1 - Phẩm chất chính trị và hành vi (k1 = 0,25) Bao gồm

X11 - nắm vững chủ trương, đường lối của đảng; Pháp luật nhà nước; Đồnghành cvà tôn trọng nghĩa vụ, trách nhiệm của các đối tượng nộp thuế

X12 - Bản lĩnh chính trị vững vàng trước các cám dỗ tiêu cực

X13 – Tinh thần trách nhiệm cao, bám sát cơ sở, thực tế và thực tiễn

X14 – Ý thức kỉ luật, khách quan, trung thực và dũng cảm

X15 – Tác phong chuyên nghiệp, là tấm gương đạo đức, lối sống trong sạch

X2 - Chất lượng tri thức nền cơ bản (k2 = 0, 15) – Bao gồm:

Trang 34

X21 – Tri thức môi trường KT-XH, ngành kinh doanh và môi trường ngànhthuế

X22 – Tri thức kinh tế và QTKD, kế toán tài chính DN

X23 – Tri thứ pháp luật kinh tế, hành chính và dân sự, nắm vững và cập nhậtpháp luật thuế

X24 – Tri thức thực tế tổ chức và hoạt động các tổ chức và doanh nghiệp tại địaphương

X25 – Tri thức phân tích kinh tế, kinh doanh và tài chính DN

X3 - Chất lượng tri thức chuyên môn, chuyên ngành TTT (k3 = 0,20)

X31 - Nhạy cảm phát hiện và xây dựng tầm nhìn tri thức vấn đề TTT

X32 - Mức độ chuyên nghiệp trong thực hiện quy trình TTT

X33 – Năng suất thực hiện nhiệm vụ TTT

X34 - Mức hài lòng “tâm phục, khẩu phục” của đối tượng TTT

X35 - MJức hiệu quả mục tiêu TTT của đội ngũ

X4 - Chất lượng kĩ năng, kĩ xảo và trải nghiệm thực hành TTT (k4 = 0,20)

X41 – Kĩ năng điều tra, thu thập thông tin TTT

X42 – Bí quyết nghề nghiệp xử lí thông tin, phát hiện nhanh thực chất vấn đề TT

X43 – Kĩ năng làm việc nhóm trong đội, đoàn TTT

X44 – Kĩ năng vận dụng “đường cong kinh nghiệm”

X45 – kĩ năng công cụ (Tin học, ngoại nghữ)

X5 - Chất lượng lãnh đạo, quản trị đội ngũ (k5 = 0,20)

X51 – Xây dựng quy mô, cơ cấu đội ngũ hợp lý, ổn định và phát triển

X52 - Định hướng tầm nhìn tri thức, phát triển kế hoạch, chương trình TTT phùhợp, hiệu quả

X53 - Đối thoại và thực hành tổ chức lao động khoa học đội ngũ

X54 – Kích khởi sáng tạo tri thức TTT mới, bồi dưỡng nâng cấp tri thức độingũ

X55 – Xây dựng văn hóa TTT và hình ảnh chuyên nghiệp tín nhiệm tin cậy củađội ngũ

Trang 35

Trên cơ sở 5 yếu tố với 25 tham số trên, phương pháp đánh giá được xác lậpnhư sau:

Xi = ij (1)

Ở đây: Xi - Chỉ số chất lượng thành phần yếu tố thứ i

Xi j - Trị số điểm đánh giá các tham số j của yếu tố i

n- Số tham số của yếu tố i

X= Ki Xi (2)

Ở đây:

X - Chỉ số chất lượng thực tế bình quân của đội ngũ

Xi - Chỉ số chất lượng bình quân yếu tố i

Ki - Hệ số độ quan trọng của yếu tố i

( Ki = 1)Ngoài ra khi tính toán Xi và X còn kèm theo trị số độ lệch chuẩn (ĐLC) củamỗi chỉ số phản ánh mức độ phân tán của tệp trị số điều tra quanh trị trung bình củanó

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở Cục thuế địa phương

1.3.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài tổ chức Cục thuế địa phương

i Thực trạng kinh tế - Xã hội đất nước và địa phương

Những năm đổi mới vừa qua cho thấy, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thịtrường đã mang lại cho đất nước ta những thành công to lớn trên hầu hết các lĩnhvực của đời sống xã hội Cùng với những thành công đó thu ngân sách Nhà nướccũng tăng lên, ngành thuế liên tục được cải cách, đổi mới và hiện đại hóa … Bêncạnh những thành tựu đó, ngành thuế cũng đối mặt với những thách thức như phải

Trang 36

quản lý số người nộp thuế tăng nhanh trong các thành phần kinh tế, nền kinh tế tăngmạnh về quy mô khiến khối lượng công việc ngành thuế phải đảm nhận tăng nhanhhơn biên chế, buộc ngành thuế phải đổi mới và hiện đại hóa hơn nữa, trong khinguồn tài chính được cung cấp hạn chế

Nằm trong xu hướng chung của toàn ngành thuế, Thanh tra Thuế cũng buộcphải đổi mới, hiện đại hóa về cơ cấu tổ chức, nhân lực, trang thiết bị tin học, phầnmềm tin học hỗ trợ thanh tra và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo

Hơn nữa, các tệ nạn tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng tấn công vào cán

bộ ngành thuế khiến công việc thanh tra tăng nhanh hơn nữa Đặc biệt, các tệ nạntiêu cực của xã hội đã có tác động không nhỏ tới tư tưởng, tình cảm, kết quả côngtác của công chức thuế nói chung và công chức làm thanh tra thuế nói riêng Một bộphận công chức thuế do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đã không chống lại được sức cám

dỗ của tệ nạn tiêu cực trong kinh tế thị trường khiến nảy sinh nhiều hành vi nhũngnhiễu, thông đồng đối với người nộp thuế để vụ lợi, gây thất thu ngân sách nhànước

Nói cách khác, trong điều kiện kinh tế thị trường khối lượng công việc củathanh tra thuế có xu hướng tăng nhanh, các vụ việc thanh tra ngày càng phức tạphơn, thủ đoạn vi phạm tinh vi hơn, nhất là khi kinh tế thị trường không được chếđịnh hợp lý bằng hệ thống luật pháp đầy đủ

ii Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tiến trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện cho thanh traThuế tiếp cận một số mô hình thanh tra của các nước trên thế giới, qua đó đã họchỏi được nhiều, kế thừa được những tri thức về mô hình, phương pháp, kỹ năngthanh tra tiên tiến, được hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế để áp dụng phù hợpvới mô hình, điều kiện cụ thể của Việt Nam

Tiến trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tưnước ngoài vào Việt Nam và kèm theo nó là những thách thức, trong đó có nhiềuvấn đề liên quan đến thanh tra thuế, như trốn, lậu thuế, chuyển giá … của một bộphận các nhà đầu tư nước ngoài Những thủ đoạn của các nhà đầu tư nước ngoài đòi

Trang 37

hỏi cán bộ thanh tra thuế phải có kiến thức sâu rộng để khi thực hiện thanh tra cókhả năng chỉ ra được những những hành vi phạm pháp của họ nhằm xử phạt mangtính răn đe Đồng thời cán bộ thông qua thanh tra thuế cũng qua đó mà phát hiệncác ưu điểm, hạn chế của cơ chế, chính sách, của cơ quan thuế trong việc quản lýthuế đối với các nhà đầu tư nước ngoài để điều chỉnh, bổ sung, xử lý kịp thời nhằmvừa khuyến khích đầu tư, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam.

iii Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách của Nhà nước với thanh tra thuế

Nguyên tắc hoạt động thanh tra là “Tuân theo pháp luật” [2] Do đó thanh trathuế chịu sự chi phối rất lớn của hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách của Nhànước về thanh tra nói chung và thanh tra thuế nói riêng Mặt khác, thanh tra thuế

chịu sự chi phối của nhiều chính sách, chế độ khác nhau (như chính sách thuế,

khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, chính sách cán bộ ) Như vậy, thanh

tra Thuế khi thực hiện phải căn cứ vào các quy định của pháp luật chế định đối vớihoạt động thanh tra và các cơ chế chính sách có liên quan như: chính sách thuế,khiếu nại, tố cáo Khi những cơ sở pháp lý quan trọng này không đầy đủ, khôngnhất quán, không đồng bộ sẽ có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng thanh traThuế

Nước ta đang trong quá trình vừa xây dựng, vừa hoàn thiện hệ thống phápluật, hệ thống luật pháp nước ta khó tránh khỏi những hạn chế như sự thiếu đồng

bộ, thiếu thống nhất, thiếu chế tài đủ hiệu lực trong nhiều lĩnh vực Điều này đãảnh hưởng tới công tác thanh tra nói chung và thanh tra thuế nói riêng trong việcthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Ví dụ, Luật Thanh tra số 56/2010/QH12thay thế Luật Thanh tra số 22/2004/QH11 quy định thủ trưởng cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính Nhưng Nghị định số86/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanhtra năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2011, quy định những người cóthẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính, trong đó không có Tổng cục trưởng.Như vậy, theo quy định của Nghị định số 86/2011/NĐ-CP thì thủ trưởng cơ quan

Trang 38

thuế sẽ không có thẩm quyền ký quyết định thanh tra để thực hiện kế hoạch thanhtra nội bộ năm 2012 của Tổng cục Thuế Để giải quyết việc này, Thanh tra Bộ Tàichính đã ủy quyền cho Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ra quyết định thanh tra nội

bộ Nếu không có giải pháp phù hợp, kịp thời về thẩm quyền ra quyết định thanh trahành chính ở cấp Tổng cục, thì hoạt động thanh tra nội bộ của Tổng cục Thuế trongthời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn

iv Quy chế, quy trình thu thuế và vị trí thanh tra Thuế

* Ảnh hưởng của các quy chế, quy trình thu thuế

Các quy chế, quy trình quy định, hướng dẫn cho các nhiệm vụ, các nội dungcông việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thuế ảnh hưởng đến thanh trathuế trên rất nhiều khía cạnh Nếu các quy trình, hướng dẫn được quy định rõ ràng,khoa học, thống nhất trong từng khâu, từng bước thực hiện cho các nhiệm vụ, cácnội dung công việc của cơ quan Thuế, thì thanh tra thuế có căn cứ và điều kiệnthuận lợi để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Ngược lại, các quy địnhkhông rõ ràng sẽ khiến thanh tra thuế mất phương hướng, các kết luận đưa ra khó cótính thuyết phục

* Ảnh hưởng của vị trí thanh tra Thuế: vị trí của thanh tra thuế trong cơ quanThuế có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động thanh tra, vì chỉkhi nào tổ chức thanh tra thuế có sức mạnh, được đặt đúng vị trí mới phát huy đượcvai trò, sức mạnh của mình Ngược lại, nếu không được quan tâm và đánh giá đúngtầm thì thanh tra thuế sẽ không phát huy được vai trò và làm hạn chế hiệu lực, hiệuquả của thanh tra

1.3.2 Các yếu tố nội tại Cục Thuế địa phương

i Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực công chức Cục Thuế

Hệ thống tổ chức bộ máy và năng lực, nhận thức, đạo đức công chức của CụcThuế là những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng tới thanh tra thuế của Cục Thuế Hiệnnay Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phươngtheo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất Ở Trung ương có

cơ quan Tổng cục Thuế Ở địa phương có Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc

Trang 39

Trung ương và Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quản

lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước về thuế mà Tổng cục Thuế là đại diện.Thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy của mình Tổng cục Thuế thực hiện hệthống chính sách pháp luật thuế và hệ thống các qui trình quản lý trong lĩnh vựcthuế Công tác thanh tra ngành thuế là thanh tra, kiểm tra việc thực hiện tuân thủ cácquy định của pháp luật thuế đối với người nộp thuế và cán bộ thuế, do đó mô hình

tổ chức bộ máy của ngành thuế có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của thanh tra thuế

Vì một bộ máy quản lý tiên tiến và khoa học sẽ hạn chế tối đa các sai phạm và rủi

ro, phát huy cao hiệu quả quản lý, từ đó sẽ giảm bớt áp lực và là cơ sở cho thanh trathuế hoạt động dễ dàng hơn

Năng lực, nhận thức, đạo đức của đội ngũ công chức thuế là những nhân tốquan trọng ảnh hưởng tới hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động thanh tra,kiểm tra thuế nói riêng Con người luôn là một nhân tố mang tính quyết định, ảnhhưởng đến chất lượng và kết quả của công việc Vì vậy xây dựng đội ngũ công chứcthuế giỏi chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, có ý thức cách mạng không nhữngmang lại hiệu quả cao trong quản lý thuế mà còn triệt tiêu các sai phạm, tạo thuậnlợi cho thanh tra thuế

ii Quan hệ phối hợp giữa thanh tra thuế với các hoạt động quản lý trong

và ngoài Cục thuế

Thanh tra thuế là một khâu trong hệ thống quản lý của Cục thuế, do đó hiệulực, hiệu quả của thanh tra thuế cũng phụ thuộc vào sự phối hợp với các hoạt độngquản lý trong và ngoài Cục thuế Ngay từ khâu lập kế hoạch thanh tra thuế hàngnăm, sự phối hợp, cung cấp thông tin của các cơ quan, đơn vị trong Cục thuế sẽ cho

ra những kế hoạch thanh tra đúng trọng tâm, trọng điểm và tránh chồng chéo, trùnglắp trong thực hiện thanh tra Đối với một cuộc thanh tra thuế để đạt kết quả cao thì

từ khâu chuẩn bị thanh tra, trong quá trình thực hiện thanh tra, ra kết luận thanh tracũng cần có sự phối hợp của các Phòng, các Chi cục Thuế nhằm đưa ra những kếtluận, kiến nghị chính xác Để thực hiện kết luận thanh tra thuế cũng cần có sự phốihợp của các Phòng, các Chi cục Thuế có liên quan để thực hiện kết luận, kiến nghị

Trang 40

xử lý sau thanh tra đồng thời cũng cần có sự phối hợp giữa thanh tra thuế với cácđơn vị, bộ phận để tổng kết, nghiên cứu, đề xuất những cơ chế, chính sách quản lýthuế phù hợp Nói cách khác, chất lượng quản lý thuế nói chung, sự phối hợp củacác cơ quan liên quan trong thanh tra thuế nói riêng quyết định chất lượng thanh tra.

Sự phối hợp tốt, quản lý thuế hiệu quả sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động thanh tra thuế của Cục Thuế

Sự phối hợp giữa thanh tra thuế và thanh tra của các cơ quan thanh tra ngoàingành thuế cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả thanh tra thuế của CụcThuế Nếu không có sự phối hợp này, hoạt động thanh tra, nội dung thanh tra thuế

có thể chồng chéo, trùng lắp với hoạt động thanh tra, nội dung thanh tra của đơn vịkhác gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của đối tượng thanh tra, khiến đốitượng thanh tra phản ứng tiêu cực, cản trở hoạt động thanh tra Sự phối hợp tốtkhông những giảm tải công việc cho thanh tra thuế của Cục Thuế, mà còn giảm chiphí thanh tra, giảm phiền hà cho đối tượng bị thanh tra

1.4 Khái quát tình hình quản lý chất lượng đội ngũ công chức thanh tra thuế ở một số nước và bài học rút ra với ngành thuế việt nam:

1.4.1 Kinh nghiệm của các nước

Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo công chức trong nền công vụ được coi làmột yếu tố then chốt trong chiến lược quản lý nền công vụ Đào tạo không chỉ nhằmđạt hiệu quả cao nhất đối với các nhiệm vụ hiện tại, mà còn chuẩn bị nguồn lực chocác yêu cầu trong tương lai Nhận thức được tầm quan trọng này các quốc gia thànhviên ASEAN đều coi trọng tới vấn đề phát triển đội ngũ công chức cho nền công

vụ, và coi đây là một nhân tố quyết định thúc đẩy sự đổi mới bộ máy nhà nước vàphát triển đất nước

Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy mô hình hiện đại hoá công tácquản lý thuế bao gồm 4 thành phần chủ yếu: chiến lược, tổ chức nhân sự, quy trìnhtác nghiệp và công nghệ

Bốn thành phần này đều thống nhất và xuyên xuốt trong các chương trình cảicách và hiện đại hóa cụ thể như: Chương trình cải cách thể chế, chương trình công

Ngày đăng: 11/03/2016, 21:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1- Mô hình nghiên cứu chất lượng đội ngũ CCTTT địa phương. - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu chất lượng đội ngũ CCTTT địa phương (Trang 30)
Sơ đồ 2.1: cơ cấu tổ chức và bộ máy Cục Thuế tỉnh Sơn La - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Sơ đồ 2.1 cơ cấu tổ chức và bộ máy Cục Thuế tỉnh Sơn La (Trang 46)
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh số thu ngân sách hàng năm với chỉ tiêu tổng sản phẩm nội địa của địa phương (Regional Gross Domestic Product - RGDP) - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh số thu ngân sách hàng năm với chỉ tiêu tổng sản phẩm nội địa của địa phương (Regional Gross Domestic Product - RGDP) (Trang 48)
Bảng 2.2. Bảng phản ánh kết quả thu ngân sách so với dự toán thu ngân - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Bảng 2.2. Bảng phản ánh kết quả thu ngân sách so với dự toán thu ngân (Trang 48)
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh kết quả thu ngân sách với dự toán thu ngân - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh kết quả thu ngân sách với dự toán thu ngân (Trang 49)
Hình 2.3: Sơ đồ quản lý bộ phận thanh tra thuế Cục thuế Sơn La - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Hình 2.3 Sơ đồ quản lý bộ phận thanh tra thuế Cục thuế Sơn La (Trang 51)
Bảng 2.5 - Kết quả đánh giá phẩm chất chính trị, hành vi đội ngũ CCTTT Sơn La. - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Bảng 2.5 Kết quả đánh giá phẩm chất chính trị, hành vi đội ngũ CCTTT Sơn La (Trang 59)
Bảng 2.7- Kết quả đánh giá chất lượng tri thức chuyên môn, chuyên ngành đội ngũ - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá chất lượng tri thức chuyên môn, chuyên ngành đội ngũ (Trang 60)
Bảng 2.8- Kết quả đánh giá chất lượng kĩ năng, kĩ xảo kinh nghiệm đội ngũ - Luận văn thạc sỹ Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Sơn La
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá chất lượng kĩ năng, kĩ xảo kinh nghiệm đội ngũ (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w