Việc nghiên cứu để có những giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ của thành phố Việt Trì theo hướng văn minh, hiện đại trong xu thế phát triển chung của ngành thương mại bán lẻ trong nước và trên thế giới là rất cần thiết. Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì với số lượng, quy mô, loại hình và công nghệ phù hợp với đặc điểm thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế về phía các nhà kinh doanh, đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng cao của dân cư, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước trước các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành thương mại dịch vụ đồng thời góp phần hiện đại hoá ngành thương mại bán lẻ trên địa bàn, thể hiện là “bộ mặt” của một thành phố năng động và văn minh.Với các lý do trên, trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh doanh thương mại, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của Thành phố Việt Trì” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và không trùng lặp với các luận văn khác mà tôi được biết
Hà Nội, tháng 3 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thu Thảo
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 2
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa của nghiên cứu 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 7
1.1 Các vấn đề chung về hoạt động bán lẻ 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ hàng hóa 7
1.1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ 8
1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình bán lẻ 9
1.1.4 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 10
1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 13
1.2.1 Số lượng điểm bán lẻ hiện đại 13
1.2.2 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại 13
1.2.3 Tỷ trọng giá trị hàng hóa bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại (siêu thị, cửa hàng tiện lợi ) trong tổng doanh thu bán lẻ 14
1.2.4 Lợi nhuận của hệ thống bán lẻ hiện đại 14
1.2.5 Khả năng phục vụ của nhân viên 14
Trang 31.2.6 Cách thức trưng bày hàng hóa 15
1.2.7 Thủ tục thanh toán nhanh gọn 15
1.2.8 Số lượng, quy mô phát triển các dịch vụ gia tăng cho khách hàng 15
1.3 Các công nghệ và mô hình bán lẻ hiện đại 15
1.3.1 Công nghệ bán lẻ hiện đại 15
1.3.2 Một số mô hình bán lẻ hiện đại 22
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 28
1.4.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô 28
1.4.2 Các yếu tố môi trường vi mô 34
1.4.3 Sự hỗ trợ của địa phương để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 37
1.5 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở một số nước trên thế giới và vận dụng kinh nghiệm cho Việt Nam 38
1.5.1 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Trung Quốc 38
1.5.2 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Thái Lan 42
1.5.3 Một số bài học có thể vận dụng cho Việt Nam, trong đó có thành phố Việt Trì 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 50
2.1 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì 50
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội thành phố Việt Trì 50
2.2.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Việt Trì 53
2.2 Thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì 58
2.2.1 Sự phát triển về số lượng của hệ thống bán lẻ hiện đại 58
2.2.2 Sự phát triển các nguồn lực của hệ thống bán lẻ hiện đại 61
2.2.3 Tổ chức kinh doanh của hệ thống bán lẻ hiện đại 64
2.2.4 Tình hình kinh doanh của hệ thống bán lẻ hiện đại 71
Trang 42.3 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của
thành phố Việt Trì 76
2.3.1 Kết quả đạt được của hệ thống bán lẻ hiện đại trên của phố Việt Trì 76
2.3.2 Xu hướng mua sắm của dân cư trên địa bàn thành phố Việt Trì 77
2.3.3 Những hạn chế 77
2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 80
3.1 Dự báo thị trường và định hướng chiến lược phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì 80
3.1.1 Dự báo thị trường bán lẻ thành phố Việt trì đến năm 2020 80
3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì đến năm 2020 82
3.2 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì 86
3.2.1 Một số giải pháp đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 86
3.2.2 Một số kiến nghị đối với các cơ quan chức năng 92
3.3 Những hạn chế nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 94
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Bảng phân hạng siêu thị theo quy chế siêu thị hiện hành 26
Bảng 2.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP Việt Trì (%) 52
Bảng 2.2: Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội TP Việt Trì 52
Bảng 2.3 Biến động số lượng siêu thị; CHTL năm 2009 - 2014 59
Bảng 2.4 Diện tích, vốn đầu tư, số lượng tên hàng của siêu thị; CHTL trên địa bàn thành phố Việt Trì 61
Bảng 2.5 Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở siêu thị; CHTL trên địa bàn TP.Việt Trì 64
Bảng 2.6 Các sản phẩm tiêu thụ chủ đạo tại siêu thị, CHTL trên địa bàn TP Việt Trì 66
Bảng 2.7 Đánh giá tiêu chí chất lượng hàng hóa tại siêu thị; CHTL trên địa bàn TP Việt Trì 66
Bảng 2.8: Bảng so sánh giá một số mặt hàng thời điểm tháng 3/2015 67
Bảng 2.9 Đánh giá tiêu chí giá cả hàng hóa tại hệ thống bán lẻ hiện đại 68
TP Việt Trì 68
Bảng 2.10 Đánh giá một số tiêu chí tại siêu thị; CHTL trên địa bàn TP Việt Trì 69
Bảng 2.11 Mức độ nảy sinh nhu cầu ngẫu hứng trong khi mua hàng tại siêu thị 70
Bảng 2.12 Khách hàng đã từng đến siêu thị, CHTL tại Việt Trì 71
Bảng 2.13 Khách hàng lựa chọn địa điểm đi mua hàng 72
Bảng 2.14 Vấn đề quan tâm nhất khi đi mua hàng 72
Bảng 2.15: Doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại TP Việt Trì 74
Bảng 2.16: Tỷ trọng doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại trên tổng mức bán lẻ, lợi nhuận và nộp ngân sách của hệ thống bán lẻ hiện đại TP Việt Trì 75
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống bán lẻ trong hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng 12
Sơ đồ 1.2: Hệ thống công nghệ bán lẻ kín - truyền thống 16
Sơ đồ 1.3: Hệ thống công nghệ bán lẻ mở - tiến bộ 17
Sơ đồ 1.4: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự phục vụ 18
Sơ đồ 1.5: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự chọn 20
Sơ đồ 1.6: Quy trình công nghệ bán hàng theo mẫu 21
Sơ đồ 1.7: Quy trình bán hàng theo đơn đặt hàng 22
Sơ đồ 1.8: Hệ thống bán lẻ hiện đại của Thái Lan 43
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế, cáchình thức kinh doanh, các mặt hàng trở nên đa dạng và phong phú Khi đời sống củangười dân ngày càng cải thiện thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ngày càng tăng Do
đó các hoạt động, các hình thức tổ chức thương mại diễn ra sôi động hơn và ngàycàng mở rộng Thời gian qua việc nghiên cứu phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ởViệt Nam được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương quan tâm và được đề cậpnhiều trong tất cả các dự án quy hoạch phát triển thương mại
Thành phố Việt Trì là là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế - xã hội củatỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía bắc Nằm cách thủ đô Hà Nội 70km vềphía Tây Bắc, Việt Trì được biết đến là thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc,khá năng động với ngành công nghiệp, thương mại và du lịch Hệ thống bán lẻ trên địabàn đa dạng, tốc độ phát triển mạng lưới bán lẻ khá nhanh nhưng chưa đồng bộ, cònmang nặng tính tự phát, đa số vẫn là bán lẻ theo phương thức truyền thống Thói quenkinh doanh nhỏ chưa thực sự chuyển biến kịp thời trong một bộ phận thương nhân trênđịa bàn, phần lớn các cơ sở bán lẻ hiện nay đều hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, thiếu tínhchuyên nghiệp Hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì tuy đã bước đầu pháttriển song vẫn chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng mức bán lẻ trên địa bàn
Trước sự phát triển nhanh về kinh tế và tốc độ đô thị hoá, người tiêu dùngthành phố Việt Trì đang bước đầu thay đổi thói quen mua sắm từ các kênh mua sắmtruyền thống sang các kênh mua sắm hiện đại, đặc biệt là nhóm khách hàng trẻ tuổi,
có thu nhập ổn định Trong khi đó số lượng các cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bànhiện nay không nhiều, chất lượng phục vụ chưa cao, hoạt động thiếu tính liên kết,chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua sắm của dân cư
Việc nghiên cứu để có những giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ của thànhphố Việt Trì theo hướng văn minh, hiện đại trong xu thế phát triển chung của ngànhthương mại bán lẻ trong nước và trên thế giới là rất cần thiết Phát triển hệ thốngbán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì với số lượng, quy mô, loại hình và công nghệ
Trang 9phù hợp với đặc điểm thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế về phía các nhà kinhdoanh, đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng cao của dân cư, tăng cường khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước trước các tập đoàn bán lẻ nướcngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ đồng thời góp phầnhiện đại hoá ngành thương mại bán lẻ trên địa bàn, thể hiện là “bộ mặt” của mộtthành phố năng động và văn minh.
Với các lý do trên, trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh
doanh thương mại, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của Thành phố Việt Trì” làm đề tài nghiên cứu.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Thời gian qua, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển hệ thốngbán lẻ hiện đại ở Việt Nam đã được Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương và nhiều
cá nhân quan tâm Bởi vậy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động phân phốibán lẻ, điển hình như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị ở nước ta trong giai đoạn hiên nay” được thực hiện năm 2006 do TS.
Nguyễn Thị Nhiễu làm chủ nhiệm đề tài;
Công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh:
“Hệ thống kênh phân phối bán lẻ hàng hoá tiêu dùng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp” được thực hiện năm 2008 do TS Đinh
Tiến Sơn làm chủ nhiệm đề tài, có đề cập đến các kênh phân phối bán lẻ hiện đại;Các đề tài về hoàn thiện công nghệ marketing bán lẻ tại các siêu thị, chuỗi
siêu thị, công ty… như: Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công nghệ marketing bán lẻ của chuỗi siêu thị Hapro – Mart” của Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Trường đại học
Thương mại, thực hiện năm 2009 và một số đề tài nghiên cứu khác tương tự
Các đề án quy hoạch phát triển thương mại của tất cả các tỉnh, thành phố trên
cả nước cũng đều đề cập đến việc quy hoạch phát triển các kênh phân phối hiện đại,
trong đó có Đề án “Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
Trang 10Tuy nhiên, những nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến thực trạng và giải phápphát triển hệ thống bán lẻ nói chung hoặc hệ thống siêu thị mà chưa đi sâu vàonghiên cứu, phân tích hệ thống bán lẻ hiện đại Do vậy tác giả đã kế thừa các kếtquả nghiên cứu về hệ thống bán lẻ hàng hóa, đồng thời đi sâu tích và làm rõ về
“Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì” với ý nghĩa xem xét
toàn diện các đặc trưng của hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Việt Trì
Đề tài có sử dụng một số số liệu, lý luận của các nghiên cứu và bài viết khác làm tàiliệu tham khảo
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá hệ thống bán lẻ hiện đại, đề xuất các giải
pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì
Mục tiêu cụ thể: Đề tài hướng tới các mục tiêu sau:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống bán lẻ và pháttriển hệ thống bán lẻ hiện đại
- Đánh giá thực trạng hệ thống bán lẻ hiện đại ở thành phố Việt trì
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bản lẻ hiện đại ởthành phố Việt Trì;
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phốViệt Trì
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Thu thập số liệu về doanh thu tại các địa điểm nghiên cứu cụ thể thông quabáo cáo tài chính, báo cáo thuế các năm 2012, 2013, 2014;
- Thu thập số liệu về tổng mức bán lẻ hàng hoá trên địa bàn nghiên cứu cácnăm 2012, 2013, 2014 thông qua niên giám thống kê, Báo cáo tình hình KTXH tỉnhPhú Thọ của chi cục thống kê tỉnh Phú Thọ và phòng thống kê thành phố Việt Trì;Mục đích của việc thu thập các dữ liệu thứ cấp này nhằm đánh giá tình hìnhtăng trưởng doanh thu của một số cơ sở bán lẻ, so sánh doanh thu của hệ thống bán
lẻ hiện đại với tổng doanh thu bán lẻ trên địa bàn
Trang 11* Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp điều tra xã hội học đối với người tiêu dùng bằng bảng hỏiMục đích: Nhằm tìm hiểu thói quen mua sắm của người tiêu dùng, đánh giácủa họ về chất lượng phục vụ của các cơ sở bán lẻ hiện đại và xu hướng mua sắmcủa dân cư trên địa bàn nghiên cứu
Nội dung: Dự tính Phiếu điều tra gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm với các phương
án trả lời cho trước
Đối tượng điều tra: người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Việt Trì, lấy mẫukhảo sát là ngẫu nhiên,
Số lượng phiếu điều tra phát ra: Dự kiến 156 phiếu
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu
Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu một số cán bộ quản lý các siêu thị, cửa hàngtiện lợi đang hoạt động trên địa bàn nhằm tìm hiểu về thực trạng hoạt động của các
cơ sở trên, mức đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, dự báo nhu cầu thị trường và kếhoạch kinh doanh trong thời gian tới
Người được phỏng vấn có trình độ đại học trở lên, chức vụ trưởng phòng hoặcgiám đốc cơ sở bán lẻ Dự kiến số người được phỏng vấn là 3 người thuộc siêu thịPhú Cường, siêu thị Prime, cửa hàng tiện lợi G7 Mart 1108 – Đại Lộ Hùng Vương
- Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế tình hình kinh doanh tại các địa điểm nghiên cứu cụ thể vớivai trò một khách mua hàng nhằm thu được các thông tin như giá cả, chủng loại,cách sắp xếp trưng bày hàng, phương thức phục vụ, số lượng khách hàng…
Phương pháp tổng hợp số liệu
- Phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu theo cáctiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu
- Xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy
tính bằng các phần mềm Excel và phần mềm tin học của Cục thống kê; Cục Thuế tỉnh Phương pháp phân tích dữ liệu
* Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội dựa vào việc mô tả
sự biến động, cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội thông
Trang 12qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quảnghiên cứu từ các phiếu điều tra ở các siêu thị; CHTL thuộc hệ thống bán lẻ hiệnđại trên địa bàn thành phố Việt Trì.
* Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh số lượng, quy mô, thị phần, hiệuquả hoạt động của các siêu thị; CHTL biến động qua kỳ phân tích
* Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Dự kiến phỏng vấn trực tiếp các chủ cơ sở bán lẻ theo phương thức hiện đại,trưởng phòng kinh doanh và một số nhà quản lý liên quan đến phát triển hệ thống bán
lẻ hiện đại trên địa bàn nghiên cứu Thông qua phương pháp này sẽ thu thập các ýkiến đánh giá nhận xét của các chuyên gia, những người am hiểu vấn đề nghiên cứu
5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Việt Trì– Tỉnh Phú Thọ
Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian thực hiện đề tài không nhiều nên tác giả xin được giới hạn phạm
vi nghiên cứu cho đề tài như sau:
- Về không gian: Thành phố Việt Trì thuộc Tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 4 năm 2015, sửdụng số liệu về tình hình chung của thành phố Việt Trì tại niên giám thống kêPhú Thọ năm 2012, 2013 và các số liệu thứ cấp về doanh số, lượng khách hàngnăm 2014, so sánh với năm 2013 tại các địa điểm nghiên cứu cụ thể
- Về nội dung: Hệ thống bán lẻ hiện đại bao gồm nhiều mô hình kinh doanh bán
lẻ, song luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề tổ chức kinh doanh tại các siêu thị tổnghợp, cửa hàng tiện lợi thuộc hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn nghiên cứu, gồm:+ Siêu thị Prime
+ Siêu thị Phú Cường
+ Hệ thống các cửa hàng G7 – Mart,
+ Một số cửa hàng tiện dụng khác mới được thành lập tại các khu vực Chợtrung tâm Việt Trì, Chợ Nông Trang và dọc đường Hùng Vương
Trang 13Nhóm hàng nghiên cứu chủ yếu là hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt thiếtyếu của người tiêu dùng (hàng thực phẩm, hóa mỹ phẩm, hàng may mặc, đồ gia dụng)Ngoài ra luận văn nghiên cứu về số lượng, quy mô và sự phân bố của hệ thốngbán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì thời điểm hiện tại.
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
-Về mặt lý luận: Đề tài xác lập một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinhdoanh bán lẻ, đặc điểm của bán lẻ, các công nghệ bán lẻ hiện đại, hệ thống bán lẻhiện đại, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
-Về mặt thực tiễn:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Phân tích các khía cạnh quản lý như: làm
cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, tham mưu các chính sách khuyến khích, hỗ trợphát triển chợ, trung tâm thương mại…, công tác kiểm tra, giám sát đối với các hoạtđộng bán lẻ nói chung và bán lẻ hiện đại nói riềng trên địa bàn thành phố Việt Trì Đối với doanh nghiệp: Đề xuất các giải pháp thiết thực để tư vấn các doanhnghiệp bán lẻ trong nước hoạt động trên địa bàn thành phố Việt Trì có định hướngkinh doanh tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, nângcao hiệu quả kinh doanh và góp phần nâng cao tính văn minh trong ngành bán lẻ;tạo khả năng cạnh tranh lành mạnh đối với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài; đồngthời đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan chức năng hỗ trợ phát triển hệ thốngbán lẻ hiện đại trên địa bàn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngànhKinh doanh thương mại trong quá trình học tập và nghiên cứu các vấn đề liên quanđến hệ thống bán lẻ hiện đại
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3 chương:
Chương 1 Một số lý luận cơ bản về phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Chương 2 Thực trạng hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Việt Trì
Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại củathành phố Việt trì
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 1.1 Các vấn đề chung về hoạt động bán lẻ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ hàng hóa
1.1.1.1 Khái niệm
Theo thông tư 09/2007/TT-BTM ngày 17/7/2007, bán lẻ là hoạt động bánhàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Hiểu một cách cụ thể, bán lẻ làmột hoạt động kinh doanh thương mại, trong đó hàng hoá và dịch vụ được bán trựctiếp đến người tiêu dùng cuối cùng để thoả mãn một nhu cầu nào đó (về mặt vậtchất hay tinh thần) của họ, chứ không phải để kinh doanh
Cơ sở bán lẻ là một địa điểm thuần túy hoặc riêng rẽ của doanh nghiệp để thựchiện một cách cơ bản các chức năng của marketing trong đó việc bán hàng đượctiến hành chủ yếu là bán cho người tiêu dùng cuối cùng
1.1.1.2 Đặc điểm của bán lẻ hàng hóa
Đặc điểm lớn nhất của bán lẻ hàng hoá là sau quá trình bán, hàng hóa đi vàolĩnh vực tiêu dùng Nhu cầu mua hàng của người tiêu dùng thường đa dạng, phức tạp
và thường xuyên biến động; qui mô giao dịch không lớn, nhưng với tần số cao
Hàng hóa bán ra với khối lượng nhỏ, lẻ, thường phong phú đa dạng cả vềchủng loại và mẫu mã
Phạm vi không gian thị trường của các điểm bán lẻ không rộng, song số lượngcác mối quan hệ giao dịch (số lượng khách hàng) lại lớn và tính ổn định không cao
Tỷ lệ lao động sống tham gia vào hoạt động bán lẻ rất cao, trong đó có laođộng của lực lượng bán hàng và lao động của khách hàng khi mua hàng
Trong quá trình bán lẻ hàng hóa, đòi hỏi phải giải quyết tối ưu các mối quan
hệ kinh tế, quan hệ giữa con người với con người, quan hệ vật chất trên cơ sở cácquy luật tự nhiên và công nghệ
Từ những đặc điểm trên có thể thấy, bán lẻ có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp thực hiện bán lẻ sẽ không sợ khủng hoảng thừa vì saukhi bán được hàng hóa tức là xã hội đã thừa nhận thì doanh nghiệp mới bắt đầu chu
kỳ kinh doanh mới
Trang 15Thứ hai, thông qua bán lẻ, doanh nghiệp bán lẻ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp vớingười tiêu dùng nên nắm bắt nhanh nhạy sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu của kháchhàng từ đó có những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho hoạt động kinh doanh của mình.Thứ ba, về phía người tiêu dùng, bán lẻ sẽ khiến cho họ dễ dàng mua đượchàng hóa với số lượng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng Hơn nữa, hiện nay việc đimua sắm ngoài mục đích mua hàng còn là một thú tiêu khiển của người dân và cũng
từ đó nhu cầu đối với một số mặt hàng có thể xuất hiện tức thời theo cảm hứng của
họ, nhờ vậy mà các nhà bán lẻ có thể bán được nhiều hàng hơn so với nhu cầu thực
tế đã được xác định trước
Tuy nhiên, do bán với khối lượng nhỏ lẻ nên thời gian thu hồi vốn thường chậmchạp Đối với một số mặt hàng có quy định thời gian sử dụng và các mặt hàng mangtính thời vụ thì nếu không được lập kế hoạch kinh doanh một cách chính xác sẽ rất dễdẫn đến tình trạng hàng quá hạn sử dụng hay lỗi mốt, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.Hoạt động bán lẻ có thể thực hiện ở khắp mọi nơi có dân cư sinh sống Nơinào càng đông dân, thu nhập của dân cư càng cao thì hoạt động bán lẻ càng pháttriển Việc lựa chọn địa điểm bán lẻ của mỗi loại mặt hàng đặc trưng là rất quan
trọng, hình thành nên các “phố mua sắm” hay trung tâm mua sắm sầm uất có nơi là
tổng hợp, có nơi là dành riêng cho một số chủng loại hàng nhất định
Để việc kinh doanh bán lẻ đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các nhà bán lẻ phải nghiêncứu rất kỹ về địa điểm đặt cửa hàng, vị trí đặt cửa hàng cũng như tìm hiểu về đặc điểmcủa vùng thị trường như số dân, thu nhập, tập quán, thị hiếu… của dân cư trong vùng
1.1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ
Hoạt động bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi vùng,mỗi quốc gia Mặc dù hoạt động này không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nềnkinh tế nhưng nó giúp cho hàng hóa đã được sản xuất ra lưu thông thuận lợi hơn.Hoạt động bán lẻ có phát triển thì mới kích thích tiêu dùng, làm tăng tổng cầu chonền kinh tế từ đó dẫn tới tăng tổng cung, đây là một trong những nhân tố thúc đẩyphát triển kinh tế Sự phát triển của hoạt động bán lẻ thể hiện là việc mua sắm diễn
ra thuận tiện hơn, người tiêu dùng dễ dàng mua được những thứ họ cần với giá rẻnhất, với các dịch vụ tốt nhất
Trang 16Bán lẻ là cầu nối hữu hiệu giữa các nhà kinh doanh với nhau, giữa các nhàkinh doanh với người tiêu dùng, khiến cho các nhà sản xuất hiểu được sự thay đổithường xuyên về nhu cầu của người tiêu dùng từ đó có phương án điều chỉnh hoạtđộng sản xuất kinh doanh của họ nhằm phục vụ thị trường tốt hơn, mang lại cho cácnhà kinh doanh nhiều giá trị gia tăng hơn.
Bán lẻ có những đóng góp đáng kể trong GDP, thu hút được một lượng laođộng lớn Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương), hiệnngành bán lẻ Việt Nam đã đóng góp trên 15% vào GDP hàng năm và giải quyết việclàm cho hơn 5,7 triệu lao động
Để phát huy vai trò của mình, hoạt động bán lẻ thực hiện các chức năng sau:
- Hình thành danh mục mặt hàng phù hợp với đặc tính của tập khách hàngtrọng điểm trên thị trường mục tiêu
- Hình thành danh mục các dịch vụ bổ sung cung cấp cho khách hàng (dịch vụtrước, trong và sau quá trình mua hàng)
- Phân chia hàng hoá thành các lô nhỏ phù hợp với qui cách mua và tiêu dùng củakhách hàng, đảm bảo trạng thái sẵn sàng của lô hàng cho việc mua và sử dụng củakhách hàng
- Tổ chức dự trữ hàng hoá nhằm đảm bảo tính liên tục và ổn định của hoạtđộng bán hàng, đảm bảo hàng hoá có đủ ở các vị trí không gian phù hợp với tậpquán mua hàng của khách hàng
1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình bán lẻ
Quá trình bán lẻ hàng hóa là quá trình mà các nhân viên của cửa hàng bánhàng trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua các thiết bị, công nghệ bán Cấu thànhcủa quá trình bán lẻ bao gồm các yếu tố sau:
- Khách hàng, là những người tiêu dùng cuối cùng trực tiếp mua hàng tại các
cơ sở bán lẻ Có khách hàng thì hoạt động mua bán mới được diễn ra
- Lực lượng bán hàng: Bao gồm nhân viên phụ trách gian hàng trực tiếp bánhàng, nhân viên tính tiền và thu tiền, các nhân viên phục vụ khác Tuỳ theo từngphương thức bán hàng mà lực lượng bán hàng có thể cần đến số lượng khác nhau
Trang 17- Hàng hóa và dịch vụ: Tạo thành mặt hàng kinh doanh, là tiền đề vật chất củaquá trình mua và bán, không có hàng hóa cũng đồng nghĩa với việc không tồn tạihành vi mua bán Trong kinh doanh bán lẻ thì mặt hàng kinh doanh cần rất phong phú
và đa dạng với nhiều cấp chất lượng khác nhau để bán cho khách hàng
- Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho bán hàng: Bao gồm diện tích nơi trưngbày hàng hoá, dự trữ hàng, diện tích nơi giao dịch và các diện tích khác; thiết bịtrưng bày, quảng cáo, bảo quản hàng, thiết bị đo lường, thiết bị thu tính tiền…
- Phương thức bán hàng: là cách thức mà người mua có thể xem hàng, chọn vàmua được loại hàng mà họ cần mua (phương thức bán hàng qua quầy, phương thức bánhàng tự chọn, phương thức bán hàng tự phục vụ, bán hàng theo mẫu, bán hàng theođơn đặt hàng)
1.1.4 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại hai kênh phân phối bán lẻ đó là bán lẻ hiện đại
và bán lẻ truyền thống Phương thức bán lẻ hiện đại đang thay thế dần phương thứcbán lẻ truyền thống bởi nó hấp dẫn người tiêu dùng hơn nhờ tính tiện dụng và cáclợi ích thiết thực, đặc biệt là tại các vùng đô thị Theo các chuyên gia thuộc Hiệp hộicác nhà bán lẻ Việt Nam, phương thức bán lẻ hiện đại hiện chiếm tỷ trọng khoảng20% ngành thương mại bán lẻ và đang tiếp tục tăng trưởng
Vậy “bán lẻ hiện đại” là gì? Một cơ sở được coi là bán lẻ hiện đại cần thoảmãn các tiêu chí gì?
* Khái niệm bán lẻ hiện đại
Có thể hiểu, bán lẻ hiện đại là việc áp dụng các công nghệ bán lẻ tiến bộ kếthợp với các yếu tố về hàng hoá và dịch vụ làm thoả mãn toàn diện nhu cầu củakhách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm
* Tiêu chí đánh giá một cơ sở được coi là bán lẻ hiện đại
Một cơ sở bán lẻ được coi là bán lẻ hiện đại phải thoả mãn các tiêu chí sau:
- Áp dụng công nghệ bán lẻ hiện đại, điển hình của công nghệ bán lẻ hiện đạihiện nay là công nghệ bán hàng tự chọn, bán hàng tự phục vụ, thương mại điện tử
- Sử dụng trang thiết bị hiện đại trong bảo quản, trưng bày hàng và tính tiền
Trang 18- Hàng hoá phải đa dạng, phong phú, đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất
sứ rõ ràng, ưu tiên hàng có thương hiệu Mọi mặt hàng được gắn mã vạch, mã số và
có niêm yết giá
- Giá bán hợp lý trong quan hệ với chất lượng hàng hoá và giá bán so sánh
- Trưng bày hàng một cách khoa học, vừa có tính “tự quảng cáo”, vừa thuậntiện trong quá trình chọn hàng của khách
- Khu vực đi lại, chọn hàng của khách phải được bố trí hợp lý tạo sự thoải máicho khách hàng, có bãi đỗ xe thuận tiện
- Nhân viên phục vụ phải am hiểu sâu về hàng hoá để có thể tư vấn và giúpkhách chọn hàng, thái độ phục vụ nhiệt tình, cởi mở
- Quá trình tính tiền và thanh toán tiền hàng nhanh, chính xác
- Tiến tới thanh toán không dùng tiền mặt
- Có nhiều dịch vụ đi kèm trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra giá trị gia tăng chokhách khi đến mua hàng
Hiện nay các trung tâm thương mại, siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng tiện dụng ởViệt Nam được coi là cơ sở bán lẻ hiện đại vì các cơ sở này về cơ bản đã đáp ứngđược các yêu cầu trên
* Khái niệm hệ thống bán lẻ hiện đại và phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường dùng để chỉ mạng lưới các cửa hàng bán lẻ văn minh, hiện đại áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ hay phương thức bán hàng tự chọn bán các loại hàng tiêu dùng phổ biến cho người dân trên vùng thị trường đó Xét ở phạm vi hẹp, hệ thống bán lẻ hiện đại được cấu thành
bởi các siêu thị, cửa hàng tiện dụng, trung tâm thương mại, cửa hàng bách hoá, có
áp dụng phương thức bán hàng tự chọn hoặc tự phục vụ, bán các mặt hàng tiêu dùngphục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng
Trang 19Sơ đồ 1.1 Hệ thống bán lẻ trong hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng
(Nguồn: Nguyễn Thị Nhiễu (2006)“ Thực trạng và giải pháp phát triển
hệ thống siêu thị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”)
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường là phát triển vềloại hình, quy mô, số lượng của từng loại, quy hoạch về địa lý một cách hợp lý vàcông tác tổ chức hoạt động kinh doanh của các loại hình như thế nào để vừa đápứng yêu cầu phát triển sản xuất, vừa đảm bảo phù hợp các điều kiện kinh tế - xã hội,thói quen mua sắm, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trên vùngthị trường đó
Việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường cần đảm bảomột số yêu cầu sau:
Có sự phối hợp giữa các loại hình bán lẻ hiện đại trong toàn hệ thống, sự phân
bố của hệ thống cần đồng đều trên toàn vùng thị trường, tránh chồng chéo hoặc bỏtrống thị trường;
Người sản xuất
Người bán buôn Người bán buôn
Đại lý, môi giới
Người bán lẻCH
tiện
lợi Siêu thị
Đại siêu thị TTTM
CH chuyên doanh
CH bách hoá
Loại hình khác
Người tiêu dùng
Trang 20Số lượng, quy mô của từng loại hình phù hợp với dân số, sức mua và thóiquen mua sắm của dân cư;
Địa điểm xây dựng các cơ sở bán lẻ hiện đại được đặt ở các vị trí thuận lợi vềgiao thông, về khoảng cách địa lý đối với từng khu vực khách hàng;
Từng cơ sở kinh doanh bán lẻ trong mạng lưới cần tổ chức quản lý và hoạtđộng thoả mãn các yêu cầu của kinh doanh bán lẻ hiện đại;
Hoạt động của hệ thống cần đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho các doanhnghiệp bán lẻ, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường
Tỷ trọng doanh thu bán lẻ hiện đại liên tục tăng trưởng, tiến tới thay thế dầnbán lẻ truyền thống
1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại được thể hiện thông qua sự mở rộng
về qui mô, sự nâng cao về hiệu quả hoạt động và chất lượng phục vụ của dịch vụbán lẻ theo phương thức hiện đại Vì vậy, để đánh giá sự phát triển của hệ thống bán
lẻ hiện đại, người ta thường dựa vào các chỉ tiêu sau:
1.2.1 Số lượng điểm bán lẻ hiện đại
Cho thấy qui mô của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại trong nền kinh tế,không gian bao phủ và mật độ bao phủ của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thị trường
Số lượng địa điểm bán lẻ hiện đại càng tăng cao thì qui mô của hệ thống phân phốibán lẻ hiện đại càng lớn, độ bao phủ thị trường càng rộng, qua đó thể hiện tiềm lựccủa doanh nghiệp, nhất là về tài chính, cũng như về khả năng tổ chức, quản lý và vậnhành hệ thống
1.2.2 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại
Cho thấy hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Bên cạnh
đó, để đánh giá được chính xác mức độ phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiệnđại so với tình hình thực tế của thị trường, người ta còn phải dựa vào tốc độ tăngtrưởng doanh thu hệ thống bán lẻ hiện đại để từ đó có đánh giá xác thực Trong đó:
Doanh thu bán lẻ qua hệ thống bán lẻ hiện đại là tổng cộng doanh thu bán lẻ của các
cơ sở bán lẻ theo phương thức hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm muasắm, cửa hàng tiện lợi…)
Trang 21Doanh thu hệ thống bán lẻ hiện đại kỳ phân tích
- Doanh thu hệ thống bán lẻ hiện đại kỳ gốc x 100Doanh thu hệ thống bán lẻ hiện đại kỳ gốc
1.2.3 Tỷ trọng giá trị hàng hóa bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại (siêu thị, cửa hàng tiện lợi ) trong tổng doanh thu bán lẻ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hiện đại hóa phương thức bán lẻ, phương thứcphục vụ khách hàng của dịch vụ bán lẻ trong nền kinh tế Chẳng hạn chỉ tiêu nàycủa nước ta hiện nay là khoảng 20%, trong khi của Thái Lan là khoảng 60%, phảnánh trình độ phát triển DVPPBL của Thái Lan cao hơn Việt Nam rất nhiều
1.2.4 Lợi nhuận của hệ thống bán lẻ hiện đại
Lợi nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổngdoanh thu và tổng chi phí Chỉ tiêu lợi nhuận là một thước đo hiệu quả kinh doanhcủa hệ thống bán lẻ hiện đại
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện để tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường các doanh nghiệp phải bỏtiền vốn trong quá trình kinh doanh, họ muốn cho chi phí đầu vào ít nhất và bánhàng hóa với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉkinh doanh giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích lũy phát triểnsản xuất kinh doanh, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường để nângcao khả năng phát triển của doanh nghiệp
Để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của hệ thống bán lẻ hiện đại, chỉtiêu lợi nhuận là một công cụ khá hiệu quả
1.2.5 Khả năng phục vụ của nhân viên
Đội ngũ nhân viên phục vụ có thái độ cư xử lịch sự, nhã nhặn; có một số vốnhiểu biết nhất định về sản phẩm và các dịch vụ cung cấp, có khả năng đáp ứngnhanh chóng các yêu cầu của khách hàng: Việc mua sắm của người dân không chỉ
Trang 22vì mục đích tiêu dùng, mà còn là một cách thư giãn Sự phục vụ tốt của đội ngũnhân viên sẽ tạo ấn tượng tốt và tâm lý thoải mái cho khách hàng và họ sẽ là nhữngkhách hàng trung thành của hệ thống bán lẻ hiện đại
1.2.6 Cách thức trưng bày hàng hóa
Hàng hóa được bố trí theo các gian hàng thích hợp tùy chủng loại, gọn gàng
sẽ giúp cho việc mua sắm được tiện lợi hơn và gây được sự chú ý của khách hàng
1.2.7 Thủ tục thanh toán nhanh gọn
Trong quá trình mua sắm, nếu việc thanh toán buộc khách hàng phải chờ quálâu gây tâm lý khó chịu, do đó cần phải đủ số lượng quấy thanh toán phục vụ trongmọi tình huống, đội ngũ nhân viên có trình độ, thao tác phục vụ nhanh chóng sẽgiúp khách hàng tiết kiệm thời gian
1.2.8 Số lượng, quy mô phát triển các dịch vụ gia tăng cho khách hàng
Thể hiện qua tỷ lệ doanh thu các dịch vụ bổ sung trong quá trình kinh doanhbán lẻ hiện đại so với doanh thu bán lẻ thuần túy của các cơ sở bán lẻ theo phươngthức hiện đại trong nền kinh tế Tỷ lệ càng cao thì ý nghĩa kinh tế của dịch vụ bán lẻhiện đại và mức độ thỏa mãn khách hàng của các nhà cung ứng dịch vụ bán lẻ theophương thức hiện đại càng lớn Thông thường ở các nền kinh tế có hệ thống bán lẻhiện đại phát triển thì tỷ lệ này thường cao hơn ở các nền kinh tế có hệ thống bán lẻhiện đại kém phát triển thấp hơn Các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng haycác dịch vụ bổ sung trong quá trình kinh doanh bán lẻ hiện đại chủ yếu gồm: dịch
vụ phân loại đóng gói, dán nhãn hàng hóa, chế biến phục vụ khách hàng, dịch vụgiao hàng, dịch vụ kho hàng, bảo quản lạnh và bãi đỗ xe, trông giữ xe
1.3 Các công nghệ và mô hình bán lẻ hiện đại
1.3.1 Công nghệ bán lẻ hiện đại
1.3.1.1 Hệ thống công nghệ bán lẻ
Hệ thống công nghệ bán lẻ là tổng hợp các yếu tố về quá trình bán hàng,phương pháp bán hàng, máy móc thiết bị và tổ chức lao động nhằm tạo ra môitrường tương tác thuận lợi để cung ứng dịch vụ khách hàng tốt nhất
Các yếu tố cấu thành hệ thống công nghệ bán lẻ gồm có quy trình công nghệbán lẻ, phương pháp bán lẻ, tổ chức lao động bán lẻ và điều kiện cơ sở vật chất phục
vụ cho bán lẻ
Trang 23Sự tương tác theo các phương thức khác nhau giữa các yếu tố trên tạo ra cácdạng hệ thống công nghệ bán lẻ khác nhau, gồm có hệ thống công nghệ kín và hệthống công nghệ mở.
- Hệ thống công nghệ kín - truyền thống: có đặc điểm là các yếu tố thuộc về
phía người bán có sự tách biệt tương đối với khách hàng (sơ đồ 1.2) Sự tương tác
chủ yếu trong quá trình mua bán là giữa nhân viên bán hàng với khách hàng Việc
tổ chức hàng hóa, không gian, trang thiết bị chủ yếu hướng về yêu cầu quản lý vàđáp ứng yêu cầu của người bán chứ chưa có sự chú ý đến các nhu cầu toàn diệntrong quá trình mua hàng của khách hàng
Sơ đồ 1.2: Hệ thống công nghệ bán lẻ kín - truyền thống
Nguồn: An Thị Thanh Nhàn - “Quản trị bán lẻ”
- Hệ thống công nghệ mở với những thay đổi trong kết cấu các yếu tố tham giaquá trình bán lẻ và sự tương tác của khách hàng với các yếu tố này đã đánh giá đúngvai trò của khách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm, tạo những điều kiện thuận tiện
Sức lao động của NVBH
Trang thiết bị
g hoáCường độ + chi phí Không gian
Khác
h hàng
Quan hệ tương tác trực tiếpQuan hệ tương tác gián tiếp
Trang 24nhất cho quá trình mua hàng của khách hàng (sơ đồ 1.3) Đặc điểm của hệ thống này
là khách hàng được tiếp cận trực tiếp với các yếu tố cấu thành hệ thống công nghệ,tạo được sự chủ động, thuận tiện cho quá trình mua của họ.Việc tổ chức các yếu tốcấu thành hệ thống công nghệ mở hướng đến thoả mãn không chỉ nhu cầu về hànghoá, mà là nhu cầu toàn diện khi khách hàng đi mua hàng, khách hàng sẽ có cảm giácđược thư giãn khi mua hàng theo phương thức này Nhu cầu mua thêm hàng củakhách có thể được nảy sinh ngay trong quá trình xem và chọn hàng, ngoài dự địnhban đầu, làm gia tăng doanh thu cho cửa hàng
Sơ đồ 1.3: Hệ thống công nghệ bán lẻ mở - tiến bộ
Nguồn: An Thị Thanh Nhàn - “Quản trị bán lẻ”
Hệ thống công nghệ mở được xem là hệ thống công nghệ tiến bộ và đang dầnđược phát triển rộng rãi nhằm tạo ra các mô hình bán lẻ hiện đại, thu hút được ngàycàng nhiều khách hàng như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng bởicác tiện ích thiết thực mà các loại hình bán lẻ này mang đến cho khách hàng
Sức lao động của NVBH
Trang thiết bị bán hàng
Khách hàng
Quan hệ tương tác trực tiếp
Hàng hoá
Trang 251.3.1.2 Một số công nghệ bán lẻ hiện đại
* Công nghệ bán hàng tự phục vụ
Là công nghệ bán hàng trong đó, người mua tự do tiếp cận hàng hoá để ngỏtrong gian hàng, tự mình xem xét và lựa chọn hàng hoá mà không cần sự giúp đỡcủa người bán, trả tiền mua hàng ở nơi thu tiền đặt ở lối ra của gian hàng còn ngườibán chỉ thực hiện chức năng là tư vấn cho khách hàng, bày hàng, và kiểm tra sự antoàn của hàng hoá trong gian hàng
Sơ đồ 1.4: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự phục vụ
Điểm khác biệt cơ bản của công nghệ bán hàng tự phục vụ với công nghệ bánhàng truyền thống (bán hàng qua quầy) là tạo ra không gian mở của gian bán hàng,không còn sự ngăn cách giữa khu vực hoạt động của người bán với khu vực hoạtđộng của khách hàng (trừ khu vực thanh toán - giao hàng); qua đó tạo được sự tự
do, thuận tiện tối đa trong việc tiếp cận với hàng hoá để tìm hiểu về hàng hoá, lựachọn và quyết định mua ở khách hàng
Ngoài ra do việc thanh toán - giao hàng được tiến hành tập trung nên đượcthực hiện bởi các máy thu tính tiền hiện đại (máy tính, máy đọc thẻ tín dụng )Tính tiên tiến của công nghệ này là ở chỗ:
- Phân định hợp lý nhất chức năng giữa các nhân viên gian hàng và kháchhàng khi thực hiện các thao tác phục vụ
Tiếp và hướng dẫn khách vào cửa hàng
Tư vấn cho khách hàng
Thanh toán tiền, giao hàng cho khách hàng
Kết thúc lần bán
Trang 26- Sử dụng tối đa khả năng độc lập của khách hàng khi xem xét và lựa chọnhàng hoá, trên cơ sở đó tăng nhanh quá trình bán hàng, nâng cao trình độ văn minh
và hiệu quả thương mại
- Tiết kiệm thời gian mua hàng của khách hàng do tăng diện tích trưng bày,giới thiệu hàng Khách hàng không bị hạn chế về xem xét và lựa chọn hàng hoá
- Tăng diện tích trưng bày hàng hoá, cho phép mở rộng mặt hàng kinh doanh,tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu mua hàng đồng bộ của khách hàng Do đó giảmtổng quĩ thời gian mua hàng, giảm tần số mua hàng của khách hàng
- Công nghệ bán hàng này đem lại hiệu quả kinh tế: tạo tiền đề khách quanphát triển lưu chuyển hàng hoá, tận dụng diện tích doanh nghiệp, giảm lực lượnglao động, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí lưu thông, nâng cao lợi nhuận
Từ những hiệu quả dịch vụ và kinh tế kể trên, phương pháp bán hàng tự phục vụlàm tăng cường hiệu lực marketing, tạo lợi thế cạnh tranh
Trong công nghệ bán hàng tự phục vụ cần chuẩn bị tốt hàng hoá để kháchhàng lựa chọn và thanh toán tiền hàng, hàng hoá cần có mã số-mã vạch để tạo điềukiện cho việc cơ giới hoá, tự động hoá quá trình công nghệ trong cửa hàng, nângcao năng suất lao động, công suất thiết bị; đồng thời, tăng dự trữ trong gian hàng vàgiảm dự trữ ở phòng bảo quản
* Công nghệ bán hàng tự chọn
Đây là công nghệ bán hàng mà trong đó khách hàng tự do tiếp cận và tìm hiểuhàng hoá tại các nơi công tác bán hàng Người bán hướng dẫn khách, chuẩn bị hànghoá mà khách hàng lựa chọn, thanh toán tiền hàng trực tiếp ở nơi bán (đối với cửahàng thực phẩm), ở bàn bao gói (đối với cửa hàng công nghệ ), hoặc ở nơi thu tiềntập trung trong gian hàng
Công nghệ này có ưu điểm:
- Khách hàng được trực tiếp tìm hiểu hàng hoá tại nơi trưng bày;
- Người bán hàng vẫn phải thực hiện một số thao tác như giới thiệu hàng hoá
và cung cấp các thông tin cho khách hàng về hàng hoá, giúp đỡ khách hàng trongviệc bao gói, vận chuyển;
Trang 27- Giảm thời gian khách hàng tìm hiểu về hàng hoá, do đó tăng tốc độ chuchuyển và lưu chuyển hàng hoá, nâng cao hiệu quả lao động, giảm chi phí lưuthông Phương pháp này kết hợp một số yếu tố của phương pháp bán hàng truyềnthống và phương pháp tự phục vụ.
Sơ đồ 1.5: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự chọn
* Công nghệ bán hàng theo mẫu
Theo công nghệ này, khách hàng có khả năng tự mình hoặc nhờ có sự giúp đỡcủa người bán chọn hàng theo mẫu được trưng bày ở gian hàng, trả tiền mua hàng ởnơi thu tiền và nhận hàng theo mẫu trực tiếp trong cửa hàng hoặc theo hình thứcgiao tận nhà, khách hàng phải trả thêm tiền phục vụ
Đặc điểm khác biệt của công nghệ này là: Trong gian hàng chỉ trưng bày các mẫuhàng bán, còn công tác dự trữ được tách riêng Do đó với diện tích nhỏ, có thể trưng bàynhiều mặt hàng, đồng thời khách hàng tự mình và nhanh chóng hiểu biết về hàng hoá.Yêu cầu về chuẩn bị hàng hoá: Việc bao gói phải chỉ rõ tên sản phẩm, loại và
ký hiệu người sản xuất, giá và một số thông tin khác Ngoài ra tuỳ theo mẫu hàng
mà người bán cố vấn thêm cho khách hàng
Đón tiếp khách
Tư vấn, giúp đỡ khách chọn hàng và lấy hàng
Thanh toán tiền, giao hàng cho khách hàng
Tiễn khách, tạo ấn tượng sau bán
Kết thúc lần bán
Trang 28Sơ đồ 1.6: Quy trình công nghệ bán hàng theo mẫu
Tác dụng của phương pháp bán hàng này là: Sử dụng hợp lý diện tích kinhdoanh, giảm chi phí nhân viên bán hàng và giảm thời gian mua hàng của khách.Công nghệ này thường áp dụng trong bán hàng điện tử-điện lạnh, phương tiện đi lại(ô tô, xe máy ), hàng có kích thước lớn (giường tủ, bàn ghế )
* Bán hàng theo đơn đặt hàng - thương mại điện tử
Đây là công nghệ bán hàng trong đó, cửa hàng nhận đơn hàng qua điện thoại,qua mạng internet hoặc ở những điểm tiếp nhận, tiến hành chuẩn bị hàng hoá theođơn và giao hàng cho khách hàng tại những vị trí yêu cầu trong đơn hàng
Theo công nghệ này, khách hàng có thể mua được trọn bộ hàng hoá mà không cầnđến cửa hàng, giảm đến mức thấp nhất thời gian mua hàng Cửa hàng tăng thêm lựclượng hàng hoá bổ sung, sử dụng hợp lý lao động do biến đổi cường độ dòng khách.Các điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyềnthống là tính linh hoạt cao độ về mặt cung ứng và giảm thiểu phí tổn vận tải với cácđối tác kinh doanh Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại và đi lại để thuthập khách hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống Mặc dầuvậy, tại các điểm dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phảiđược khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp cận phù hợp nhất định
Đón tiếp, tìm hiểu nhu cầu khách hàng
Hướng dẫn khách chọn hàng theo mẫu
Thanh toán tiền hàng
Chuẩn bị hàng để giao cho khách
Giao hàng và kết thúc lần bán
Trang 29Sơ đồ 1.7: Quy trình bán hàng theo đơn đặt hàng
Yêu cầu khi triển khai công nghệ bán này là: Phải tổ chức hệ thống tiếp nhậnđơn hàng thật thuận tiện, công tác chuẩn bị đơn hàng phải khẩn trương, và thôngthường, phương pháp này áp dụng đối với những hàng hoá đồng nhất về tiêuchuẩn, ít phải lựa chọn
1.3.2 Một số mô hình bán lẻ hiện đại
1.3.2.1 Siêu thị
Trên thế giới, hiện có nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị
Theo Phillips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mứcchi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảmbảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chấttẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ theophương thức tự phục vụ có diện tích kinh doanh từ 400m2 đến 2500m2, chủ yếu bánhàng thực phẩm"
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z: "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụbày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùngnhư thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác"
Tiếp nhận đơn đặt hàng
Tập hợp và phân loại đơn đặt hàng
Chuẩn bị hàng theo đơn
Giao hàng cho khách hàng
Tính và thu tiền hàng
Trang 30Theo từ điển thương mại của Nhà xuất bản Long Man (Vương quốc Anh):
“Siêu thị là loại hình kinh doanh hàng ngày theo phương pháp tự phục vụ, diện mặthàng phong phú, đa dạng trong đó chủ yếu là hàng thực phẩm, đồ gia dụng phổthông nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu nhật dụng của người tiêu dùng”
Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa, “Siêu thị là một cơ sở bán lẻ có phổ mặthàng tương đối rộng và tương đối sâu, chủ yếu là các hàng hiệu của mặt hàng thựcphẩm, tạp phẩm và một số mặt hàng công nghệ phẩm”
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam
(nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004: Siêu thị
là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng.
Tổng hợp từ các khái niệm trên, có thể hiểu siêu thị là cơ sở bán lẻ theo côngnghệ tự phục vụ với chủng loại mặt hàng đa dạng, phong phú, chủ yếu là hàng thựcphẩm, đồ gia dụng, chất tẩy rửa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của ngườitiêu dùng
Theo Viện nghiên cứu Thương mại Việt Nam, siêu thị có các đặc trưng sau:
- Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán hànghóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bánlại Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy hoạch và tổ chứckinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có trang thiết bị và cơ sở vậtchất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấpphép hoạt động
- Áp dụng phương thức tự phục vụ: Đây là phương thức bán hàng do siêu thịsáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thứckinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh
- Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được đem
ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự
Trang 31động in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt của siêu thị, đem lại sự thỏa mãncho người mua sắm Đặc điểm này được đánh giá là cuộc đại "cách mạng" tronglĩnh vực thương mại bán lẻ
- Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức vận độngcủa người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có cách bố trí hàng hóathích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu quả của không gian bán hàng Dongười bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng "tự quảngcáo", lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắpxếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật Chẳng hạn,hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưngbày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàngkhuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày gây ấn tượng; hàng cótrọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn
để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy
- Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần áo,
bột giặt, đồ gia dụng, điện tử với chủng loại rất phong phú, đa dạng Siêu thị thuộc
hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng chuyên doanhchỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định Theo quan niệm của nhiềunước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ cần và với mộtmức giá "ngày nào cũng thấp" (everyday-low-price) Chủng loại hàng hóa của siêuthị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng Thông thường,một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về
ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa
Trong các đặc trưng trên, phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuậttrưng bày hàng hoá của siêu thị là 2 đặc trưng đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán
lẻ văn minh hiện đại
Trong hệ thống các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trí cao hơncác cửa hàng tự phục vụ nhỏ, cửa hàng tiện dụng và thấp hơn so với đại siêu thị, cửahàng bách hoá, trung tâm thương mại xét về mặt quy mô, diện tích và phương thứckinh doanh Loại hình cửa hàng bán lẻ này đã trải qua một quá trình phát triển lâudài, có suy thoái và có diệt vong tùy theo từng thời kỳ
Trang 32Kinh doanh siêu thị là một trong những loại hình kinh doanh hiện đại, ra đời
và phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoángày càng cao ở quy mô thế giới Loại hình kinh doanh này ra đời vào năm 1930 ở
Mỹ sau đó mở rộng sang châu Âu, được coi là một trong những cuộc “cách mạng”hữu ích nhất đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối hàng hoá
Siêu thị thực sự ở Việt nam được hình thành đầu tiên tại Thành phố Hồ ChíMinh với sự ra đời của siêu thị Minimart do công ty Vũng Tàu Sinhanco khaitrương tháng 10 năm 1993 với một quy mô khiêm tốn và đối tượng phục vụ chủ yếu
là khách nước ngoài Tiếp theo đó một số siêu thị ở Thành phố Hồ Chí Minh lầnlượt ra đời
Đến nay ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, nhiềunhà phân phối đã xây dựng các chuỗi siêu thị như chuỗi siêu thị Co.op Mart của liênhiệp hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh Chuỗi siêu thị Hapro Mart củatổng công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Intimex của công ty xuất nhập khẩuIntimex… Ngoài ra còn có sự góp mặt của các siêu thị nước ngoài hoặc liên doanhvới nước ngoài như Big C, Lotte Mart…
Để có thể kinh doanh dưới hình thức siêu thị, đòi hỏi nhà kinh doanh cần có một
số vốn đủ lớn để đáp ứng được yêu cầu về mặt bằng, không gian và chủng loại hànghóa Với quy mô lớn, hàng hóa nhiều, khách hàng đông đòi hỏi đội ngũ nhân viênbán hàng phải chuyên nghiệp, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm Siêu thị thườngđược bố trí tại nơi đông dân cư, nơi có nhu cầu mua sắm lớn và giao thông thuận lợi.Siêu thị thường là các cơ sở kinh doanh tổng hợp với nhiều ngành hàng khácnhau, tuy nhiên hiện nay từ “siêu thị” còn được chỉ những cơ sở chuyên doanh mộtmặt hàng (siêu thị chuyên doanh) như “siêu thị máy tính”, “siêu thị thời trang”,
“siêu thị điện thoại”…
Về tiêu chuẩn siêu thị, theo Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của BộCông thương Việt Nam, siêu thị được chia là 3 hạng (siêu thị hạng I, hạng II vàhạng III) mà căn cứ chủ yếu để phân loại siêu thị là dựa vào diện tích và số lượngdanh mục hàng hóa kinh doanh (bảng 1.1)
Trang 33Bảng 1.1: Bảng phân hạng siêu thị theo quy chế siêu thị hiện hành
1.3.2.2 Cửa hàng tiện lợi (CHTL)
Giống như quan niệm về “siêu thị”, trên thế giới, cũng có nhiều cách hiểu vềcửa hàng tiện lợi (hay còn được gọi là cửa hàng tiện dụng), như:
Quan niệm của Pháp: CHTL là cửa hàng bán lẻ có diện tích nhỏ hơn 120 m2,
có thể áp dụng phương thức bán hàng truyền thống hoặc cũng có thể theo phươngthức tự phục vụ
Quan niệm của Mỹ: CHTL là cửa hàng bán lẻ có diện tích nhỏ, bố trí ở rất gầnngười tiêu dùng, bán những mặt hàng rẻ tiền tiêu dùng hàng ngày hay thường xuyên.Quan niệm của Nhật: CHTL là cửa hàng cung cấp tính thuận tiện cho ngườitiêu dùng với chủ yếu là các hàng hoá gần gũi, thiết yếu nhất cho cuộc sống sinhhoạt hàng ngày của nhân dân
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu, CHTL là cửa hàng cung cấp sự tiện lợi chokhách hàng Tính tiện lợi thể hiện là tiện lợi về khoảng cách, tiện lợi về thời gian,tiện lợi về hàng hoá, tiện lợi về dịch vụ
Căn cứ đặc điểm của CHTL ở một số nước trên thế giới như Pháp, Mỹ, NhậtBản, Đài Loan cho thấy CHTL có các đặc điểm là:
- Địa điểm thuận tiện cho người mua (khu dân cư, bến tàu xe, ngã tư…)
- Mở cửa liên tục, 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần
Trang 34- Mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng
- Có nhiều dịch vụ kèm theo (báo chí, bưu điện, ăn nhanh…)
- Giá bán thường cao hơn những nơi khác
- So với các siêu thị thì số lượng mặt hàng trong các cửa hàng tiện lợi vẫnhạn chế hơn nhiều, trong một số cửa hàng chỉ có 1 đến 2 sự lựa chọn Giá trongcác cửa hàng tiện lợi tuy không phải lúc nào cũng vậy, song thường cao hơn ở siêuthị như là một đặc trưng
Cửa hàng tiện lợi là một hình thức bán lẻ của kênh bán lẻ hiện đại Với quy
mô nhỏ, đầu tư không lớn nhưng mô hình cửa hàng tiện lợi có lợi thế là phục vụnhanh và chu đáo hơn so với các siêu thị hay đại siêu thị vì nhiều doanh nghiệp ápdụng những “chiêu” hút khách khác nhau như: giao hàng tận nhà, mở cửa liên tụctrong ngày, chuyên môn hóa sản phẩm được bày bán Hầu hết những cửa hàng nàyhướng tới thị trường phân phối nhỏ lẻ nhằm làm thay đổi dần thói quen mua sắmcủa những người có thu nhập trung bình trở lên
Hình thức cửa hàng tiện lợi rất phổ biến ở Mỹ, Canada, Nhật Bản và một sốnước châu Á khác như Singapo, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc…, trong đó ĐàiLoan là nơi có nhiều cửa hàng tiện lợi nhất tính theo đầu người (hơn 9.100 cửa hàngcho 23 triệu dân) Phổ biến nhất ở vùng thị trường này là chuỗi cửa hàng 7- Eleven
và Family Mart của Nhật
Người Việt Nam đã biết đến hình thức cửa hàng tiện lợi qua các thương hiệu nhưG7 - Mart hay Shop & Go Tuy nhiên, do đặc trưng riêng của thị trường bán lẻ ViệtNam, phương thức hoạt động của các chuỗi cửa hàng mang các thương hiệu trên chưathể hiện đầy đủ các đặc điểm của mô hình cửa hàng tiện lợi điển hình trên thế giới màchủ yếu được nâng cấp lên từ các cửa hàng tạp hoá truyền thống trước đây, có mangphong cách của công nghệ bán lẻ hiện đại, áp dụng phương thức bán hàng tự chọn hoặc
tự phục vụ, bán kính phục vụ hẹp Tính tiện lợi của các cửa hàng này chủ yếu thể hiện
ở khoảng cách địa lý, thời gian mua sắm, chủng loại và chất lượng hàng hoá
Tháng 6/2009, cửa hàng tiện lợi mang thương hiệu Cricle K đã có mặt tại TP
Hồ Chí Minh với kế hoạch dài hạn phát triển thương hiệu thông qua hàng trăm cửa
Trang 35hàng tại nước ta Đến đầu năm 2010, Family - Mart của Nhật cũng đã khai trươngcửa hàng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh Các cửa hàng này mở cửa 24/24 giờcác ngày trong tuần, phục vụ đa dạng nhu cầu của người tiêu dùng với các sản phẩmthiết yếu Đây là bước đánh dấu cho sự phát triển của loại hình cửa hàng tiện lợi tạiViệt Nam với sự góp mặt của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
1.4.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động thương mại bán
lẻ nói chung và việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại nói riêng bao gồm có 5nhóm yếu tố sau:
- Nhóm yếu tố kinh tế
- Nhóm yếu tố văn hóa - xã hội
- Nhóm yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, tình trạng của nền kinh tế: Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ baogồm 3 giai đoạn: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Ở giai đoạn suy thoái của nềnkinh tế, tăng trưởng GDP đạt được ở mức thấp, thu nhập của dân cư giảm làm cho chitiêu giảm Người tiêu dùng sẽ giảm dần cường độ mua sắm tại các siêu thị và cắtgiảm chi tiêu cho một số mặt hàng Thời kỳ này, hoạt động kinh doanh bán lẻ nhất làbán lẻ hiện đại sẽ gặp nhiều khó khăn do sức mua giảm dẫn tới doanh số thấp Bảnthân các nhà kinh doanh bán lẻ cũng gặp khó khăn về vốn trong quá trình đầu tư, nênviệc xây dựng mới các siêu thị hay trung tâm thương mại có thể bị ngưng trệ
Trang 36Khi nền kinh tế ở vào giai đoạn hưng thịnh, tăng trưởng kinh tế ở mức cao làmcho tiêu dùng tăng mạnh, đây là thời điểm thích hợp để các nhà kinh doanh trongngành bán lẻ theo hình thức hiện đại tăng cường hoạt động đầu tư bởi hai lý do cơbản: một là nguồn vốn đầu tư dễ huy động, hai là khả năng gia tăng doanh thu cao
do mức chi tiêu của dân cư tăng lên dẫn tới việc lựa chọn địa điểm mua sắm củangười tiêu dùng cũng sẽ thiên về các cơ sở bán lẻ hiện đại Tuy nhiên, khi xem xéttình trạng của nền kinh tế chỉ là xét trong ngắn hạn bởi các giai đoạn này có thểnhanh chóng bị thay thế bởi giai đoạn kế tiếp Vì thế, có thể ngay trong giai đoạnsuy thoái hoặc giai đoạn phục hồi của nền kinh tế, các nhà kinh doanh bán lẻ vẫn cóthể duy trì và phát triển hệ thống phân phối của họ chứ họ không rút lui khỏi thịtrường hoặc thu hẹp quy mô
Thứ hai, yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống bán
lẻ Nếu lạm phát quá cao và thời gian kéo dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức muacủa thị trường, đặc biệt là đối với nhóm người tiêu dùng có thu nhập thấp và trungbình Nhóm dân cư này sẽ thay đổi cách mua sắm, mặt hàng và thói quen trong muasắm Trước hết là hạn chế số lượng và chủng loại hàng mua Thứ hai là thay vì muasắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại với các mặt hàng có phẩm cấp cao, họ sẽchuyển sang mua hàng ở các chợ, nơi hàng hóa thường có phẩm cấp thấp hơn khiếncho giá cả cũng rẻ hơn nhằm giảm bớt lượng chi tiêu của họ Do đó, trong thời điểmlạm phát cao và kéo dài, việc phát triển mạng lưới bán lẻ hiện đại sẽ gặp trở ngại hơn
so với thời điểm giá cả hàng hóa ổn định
Thứ ba, mức thu nhập trung bình của dân cư và vấn đề phân phối trong thu nhập
có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển mạng lưới bán lẻ hiện đại Ở một thời điểm nào
đó, một vùng thị trường nào đó nếu mức thu nhập trung bình của dân cư ở mức cao
và có tốc độ tăng nhanh thì mạng lưới bán lẻ hiện đại sẽ phát triển tốt tại vùng thìtrường đó Việt Nam là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người không cao nhưngtốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người lại rất cao (cuối năm 2010 GDP bình quânđầu người là 1.160 USD, đến cuối năm 2014 con số này là 2.028 USD, gần gấp hailần trong vòng 4 năm), người dân sử dụng trung bình đến 70% thu nhập của họ cho
Trang 37chi tiêu nên thương mại bán lẻ Việt Nam được coi là lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn đốivới các nhà đầu tư nước ngoài đồng thời thị trường bán lẻ Việt Nam được xếp vàonhóm các thị trường bán lẻ tiềm năng và hấp dẫn bậc nhất thế giới Một thực tế dễnhận thấy là đối với tập khách hàng có thu nhập khá hoặc cao thì họ thường chọn địađiểm mua sắm tại các siêu thị hay trung tâm thương mại nhiều hơn là đối với tậpkhách hàng có thu nhập thấp Như vậy, nếu thu nhập trung bình của dân cư cao vàngày càng tăng thì cơ hội cho các cơ sở bán lẻ hiện đại phát triển cũng cao.
Ngoài ra, triển vọng kinh tế trong tương lai như tốc độ tăng trưởng kinh tế,mức tăng GDP, tỷ suất GDP trên vốn đầu tư… cũng là các vấn đề đáng quan tâmtrong việc phát triển mạng lưới bán lẻ hiện đại
1.4.1.2 Nhóm các yếu tố văn hóa - xã hội
Do bán lẻ là bán hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng, đó là các cá nhân và
hộ gia đình, vì thế những tác động từ phía dân cư (quy mô, mật độ, cơ cấu dân số),thu nhập bình quân đầu người, mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với triểnvọng của nền kinh tế, tập quán dân cư có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng củangành thương mại bán lẻ trong đó có bán lẻ hiện đại
Trước hết, quy mô dân số, mật độ dân số và cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớnđến ngành bán lẻ Tại một vùng thị trường có mật độ dân số đông, cơ cấu dân số trẻ(số người trong độ tuổi lao động chiếm đa số - đây là lực lượng khách hàng chủ yếucủa ngành bán lẻ) thì lĩnh vực bán lẻ tại vùng thị trường này có tiềm năng phát triểncao Hơn thế nữa, nhóm đối tượng khách hàng trong độ tuổi lao động lại thường cólối sống năng động, hiện đại, tiếp thu nhanh văn hoá tiêu dùng, ưa thích các tiện ích
mà thương mại hiện đại mang lại, họ có xu hướng mua sắm nhiều hơn tại các siêuthị, cửa hàng tiện lợi hoặc các trung tâm thương mại thay vì mua sắm tại chợ haycác cửa hàng tạp hoá truyền thống
Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (chỉ số đo lường mức độ lạc quan hay biquan của người tiêu dùng đối với bối cảnh nền kinh tế hiện tại và triển vọng kinh tếtrong tương lai của quốc gia họ đang sống, hoặc xa hơn nữa là nền kinh tế toàn cầu)cũng là vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ Chi
Trang 38tiêu của người tiêu dùng chiếm hơn 2/3 chi tiêu của nền kinh tế chính vì thế thái độ
và phản ứng của người tiêu dùng đối với các biến động của nền kinh tế tác độngtrực tiếp lên giá cả, hàng hoá, nó có ảnh hưởng rất lớn đối với thị trường đặc biệt làthị trường bán lẻ Chi tiêu tiêu dùng được phản ánh lên niềm tin tiêu dùng Nếu nhưngười tiêu dùng tỏ ra lạc quan hơn đối với thực trạng nền kinh tế và thu nhập cánhân, thì họ sẽ mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn
Bên cạnh đó, việc người tiêu dùng lựa chọn hình thức mua sắm nào, địa điểmmua sắm ở đâu là do tập quán hay thói quen mua sắm của dân cư các vùng thịtrường khác nhau Tại các vùng đô thị lớn hiện nay, người tiêu dùng đã chú ý nhiềuhơn đến các kênh phân phối hiện đại vì các tiện ích thiết thực của các loại hình cửahàng này như chất lượng và nguồn gốc xuất xứ của hàng, sự thoải mái trong lựachọn hàng, sự đa dạng của hàng hóa hoặc các dịch vụ kèm theo…Về cơ bản, ngườitiêu dùng ở khu vực nông thôn vẫn quen mua sắm tại các chợ truyền thống với các
lý do như: gần nhà, giá rẻ, được sự tư vấn trực tiếp của người bán…Một số khác thìlại thích mua sắm theo kiểu “vỉa hè” nhất là đối với hàng thực phẩm vì sự thuận tiện
đi lại, thời gian, giá rẻ; mặc dù họ không xác định được chất lượng, nguồn gốc và sự
an toàn của các sản phẩm họ đã mua Do vậy, việc phát triển mạng lưới bán lẻ hiệnđại cũng chịu ảnh hưởng bởi thói quen mua sắm của dân cư trên từng vùng thịtrường khác nhau Tuy nhiên, thói quen mua sắm cũng có thể thay đổi, người tiêudùng có thể chuyển dần từ mua sắm tại các chợ truyền thống sang các siêu thị hoặctrung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi khi họ nhận thấy việc mua sắm tại cácđịa điểm này thực sự mang lại lợi ích cho họ Đương nhiên, các nhà kinh doanh bán
lẻ cũng luôn phải đặt hoạt động kinh doanh của mình trong môi trường cạnh tranhnhằm mang lại cho khách hàng những lợi ích ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là sựthuận tiện và giá cả để thu hút khách hàng, tác động vào thói quen mua sắm của họ.Hình thức bán lẻ hiện đại mới chỉ phát triển tại Việt Nam từ hơn chục năm trở lạiđây, nhưng đến nay phần lớn người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh đã lựa chọn kênh mua sắm này, không phải thói quen đó có từ lâu đời
mà họ cũng đều chuyển từ kênh mua sắm truyền thống sang
Trang 391.4.1.3 Nhóm yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
Tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại điển hình là công nghệthông tin với mạng Internet toàn cầu, mạng liên lạc viễn thông là công cụ hữu hiệu nhất
để kết nối tất cả các nền kinh tế, tạo tiền đề cho phát triển các liên kết thương mại, pháttriển các hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại rộng khắp tại mọi quốc gia trên thế giới.Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gắn với tự do hoá thươngmại, kéo theo xu thế tập trung hoá dẫn đến sự phát triển của các tập đoàn đa quốcgia và xuyên quốc gia trong lĩnh vực bán lẻ Thị trường bán lẻ Việt nam được coi làhấp dẫn hàng đầu thế giới nên sẽ có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều tập đoàn bán lẻlớn trên thế giới Sự xuất hiện của các tập đoàn này tại Việt Nam, trước hết là cácthành phố lớn sau đó đến các đô thị nhỏ và vùng nông thôn (trong đó có TP ViệtTrì) không chỉ tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà kinh doanh bán lẻ trong
và ngoài nước mà còn làm cho các hình thức bán lẻ ngày càng phong phú, đa dạng,hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng
Xu hướng phát triển của ngành phân phối bán lẻ thế giới có đặc trưng là nhấtthể hoá sản xuất - bán buôn - bán lẻ để tạo ra mạng lưới phân phối rộng rãi Các cửahàng nhỏ, truyền thống được thay bằng những cửa hàng bách hoá lớn hơn, quy mô
cả về doanh thu và lao động đều tăng lên, mật độ phân bố của cửa hàng bán lẻ giảmxuống, hình thành hệ thống kinh doanh chuỗi hoặc nhượng quyền thương mại, tạonên hệ thống siêu thị, đại siêu thị, trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại
Đứng trước thách thức bị áp lực cạnh tranh bởi các tập đoàn bán lẻ nướcngoài, các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nói chung, địa bàn thành phố Vĩnh Yênnói riêng phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình từ nhỏ lẻ, truyền thốngsang chuyên nghiệp và hiện đại hơn
Việc quốc tế hoá ngành thương mại bán lẻ của các quốc gia và sự phát triểnnhanh chóng của khoa học công nghệ trên thế giới bên cạnh tạo ra những thách thức
to lớn cho hệ thống bán lẻ trong nước thì những cơ hội mà hội nhập kinh tế mangđến là không nhỏ Đó là những bài học kinh nghiệm về quản lý kinh doanh bán lẻhiện đại cho các nhà kinh doanh Việt Nam; đó là sự cọ sát để nâng cao năng lực
Trang 40cạnh tranh, tạo cho doanh nghiệp thương mại sự tự chủ và sáng tạo, đạt được trình
độ chuyên môn hoá cao để phát triển lâu dài; đó cũng là những cơ hội để giảm chiphí, tiếp thu công nghệ, thông tin và tri thức về các công nghệ bán lẻ trên thế giới.Nền kinh tế đất nước tăng trưởng, thu nhập của người dân được nâng cao là cơ
sở kinh tế để phát triển ngành thương mại bán lẻ cả về quy mô và chất lượng
Hội nhập kinh tế của Việt nam vào khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng,một mặt tạo sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, mặt kháctạo khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các loại hình thương mại bán
lẻ tạo ra một thị trường bán lẻ chuyên nghiệp, hiện đại
Thể chế thị trường đang được xây dựng và hoàn thiện tạo thuận lợi cho sựphát triển các hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại
1.4.1.4 Yếu tố thể chế - luật pháp
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnhthổ Các yếu tố thể chế, luật pháp có vai trò, tác động rất lớn đến khả năng tồn tại vàphát triển của bất cứ ngành nào dù ít hay nhiều Khi kinh doanh trên một đơn vịhành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luậtpháp tại khu vực đó Bởi vậy, việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại cũng chịu mộtphần ảnh hưởng bởi yếu nhân tố này
Chính sách thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng ảnh hưởngtới doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp Nếu các loại thuế liên quan đếnngành dịch vụ bán lẻ có các mức thuế suất thấp sẽ tạo điều kiện khuyến khích đầu tưtrong ngành này Các đạo luật liên quan như luật đầu tư, luật doanh nghiệp, các chínhsách ưu đãi của chính phủ và của từng địa phương đối với việc phát triển ngànhthương mại, vấn đề quy hoạch đất đai, cho thuê đất, cơ sở hạ tầng đối với lĩnh vựcthương mại bán lẻ có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho các nhà đầu tưtrong lĩnh vực thương mại bán lẻ, đặc biệt là đối với các dự án cần có mặt bằng rộng vàđịa điểm kinh doanh thuận lợi để hình thành hệ thống bán lẻ hiện đại như các dự ánthành lập siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm Một thực tế
là, ngành bán lẻ nước ta hiện nay đang thiếu mặt bằng kinh doanh, giá thuê mặt bằngkinh doanh khá cao đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh