Vàng tâm là một trong số những loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Hồ Ngọc Sơn Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, công trình được thực hiện trong thời gian từ tháng 8 tới tháng 12 năm 2014 Các kết quả và số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực
Thái nguyên, ngày tháng năm 2015
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
TS Hồ Ngọc Sơn
Người viết cam đoan
Nguyễn Văn Trung
Xác nhận của giáo viên phản biện
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong suốt 4 năm được học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên bản thân tôi cũng như bao bạn sinh viên khác được sự quan tâm dạy bảo của thầy cô giáo
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài Vàng tâm (Manglietia fordiana)
tại vường quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, nhất là thầy giáo hướng dẫn Hồ Ngọc Sơn, cán bộ hạt kiểm lâm huyện Tân Sơn, trạm kiểm lâm Xuân Sơn, người dân xã Xuân Sơn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Để hoàn thành đề tài này không thể không nói đến sự động viên, giúp
đỡ nhiều mặt của bạn bè và người thân trong gia đình
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhưng do kinh nghiệm cũng như trình độ của bản thân còn hạn chế Vì vậy đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Trung
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thành phần dân số và lao động 19
Bảng 4.1: Kích thước cây Vàng Tâm tại VQG Xuân Sơn 36
Bảng 4.2: Kết quả đo kích thước lá cây Vàng tâm 37
Bảng 4.3: Đặc điểm vật hậu của loài trong thời gian từ tháng 8 – 12 39
Bảng 4.4: Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa nơi có cây Vàng tâm phân bố 40
Bảng 4.5: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Vàng tâm 42
Bảng 4.6: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Vàng tâm phân bố theo IV% 43
Bảng 4.7: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Vàng tâm phân bố theo IV% 44
Bảng 4.8: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Vàng tâm phân bố theo IV% 45
Bảng 4.9: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Vàng tâm phân bố theo IV% 46
Bảng 4.10: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Vàng tâm phân bố theo IV% 47
Bảng 4.11: Chỉ số phong phú của loài 48
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1 Thân vàng tâm 35
Hình 4.2 Lá cây vàng tâm 36
Hình 4.3 Hoa Vàng tâm 37
Hình 4.4 Nụ hoa Vàng tâm 37
Hình 4.5 Quả vàng tâm 38
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VQG : Vườn quốc gia
OTC : Ô tiêu chuẩn
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Trên thế giới 4
2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây 4
2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học 5
2.1.3 Nghiên cứu về cây Vàng tâm 8
2.2 Ở Việt Nam 9
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây 9
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài cây 11
2.3 Nhận xét, đánh giá chung 13
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 14
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 14
2.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội 18
2.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Vàng Tâm 24
3.3.2 Đặc điểm sinh thái của loài Vàng Tâm 24
3.3.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Vàng Tâm phân bố 24
3.3.4 Đề xuất giải pháp bảo vệ và giải pháp phát triển loài cây 24
3.3 Phạm vi nghiên cứu 25
Trang 93.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 25
3.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể 25
3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 33
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của cây Vàng Tâm 35
4.1.1 Đặc điểm về phân loại của loài trong hệ thống phân loại 35
4.1.2 Đặc điểm hình thái cây 35
4.1.3 Đặc điểm vật hậu 38
4.2 Một số đặc điểm sinh thái của loài Vàng tâm 39
4.2.1 Đặc điểm địa hình 39
4.2.2 Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa khu vực nghiên cứu: 39
4.2.3 Đặc điểm đất đai nơi có Vàng tâm phân bố 40
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Vàng Tâm phân bố 41
4.3.1 Cấu trúc tổ thành rừng 41
4.3.2 Cấu trúc mật độ 48
4.4 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Vàng Tâm tại VQG Xuân Sơn 50
4.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 50
4.4.2 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 51
4.4.3 Giải pháp trong công tác bảo tồn 51
Phần 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 10và cuộc sống của con người
Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái điển hình của miền Bắc Việt Nam với kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài động, thực vật quí hiếm đặc trưng cho vùng núi Bắc bộ, rất có giá trị nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường Vườn quốc gia Xuân Sơn còn được coi là “lá phổi xanh” là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ các bon và các khí thải công nghiệp Đây còn là nơi phòng hộ đầu nguồn sông Bứa, nơi cung cấp nước sản xuất, sinh hoạt của người dân sinh sống quanh khu vực
Với những giá trị nổi bật trên, rừng Xuân Sơn được nằm trong danh sách khu rừng cấm tại Quyết định 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với diện tích 5.487 ha Ngày 28 tháng 11 năm
1992, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn được thành lập Ngày 17 tháng 4
Trang 11năm 2002, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn được chuyển hạng thành Vườn quốc gia Xuân Sơn tại Quyết định số 49/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 15.048 ha Vườn quốc gia Xuân Sơn hiện có 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 699 chi của 185 họ, trong 6 ngành thực vật, có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới
Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là họ nguyên thủy và đóng vai trò quan trọng đối với khoa học phân loại và tiến hóa trong việc hình thành khái niệm
về hoa đầu tiên của thực vật Hạt kín (Angiospermae) Trên thế giới họ này bao gồm khoảng 300 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới Ở Việt Nam
họ Ngọc lan có khoảng 55 loài phân bố rải rác từ Bắc vào Nam Họ mang những đặc điểm nguyên thủy như các thành phần hoa nhiều, chưa phân hóa và xếp trên đế hoa lồi Đa số các loài trong họ là cây gỗ và được dùng phổ biến trong đóng đồ gia dụng có giá trị vì gỗ có vân đẹp, mịn, thơm, không mối mọt; nhiều loài có hoa đẹp, hương thơm và được trồng làm cảnh, nhiều loài được dùng làm thuốc hay làm gia vị đặc biệt
Vàng tâm là một trong số những loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu và ứng dụng trong y học, nhưng từ khi phát hiện đến nay, ngoài việc mô tả và công bố mới cho khoa học thì loài Vàng tâm này chưa được mở rộng điều tra về phân bố của loài, cũng chưa có những nghiên cứu tiếp theo về các đặc điểm vật hậu, sinh thái,
tái sinh loài Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc
điểm lâm học loài Vàng tâm (Manglietia fordiana) tại vườn quốc gia Xuân
Sơn tỉnh Phú Thọ” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng
bảo tồn và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nhằm cung cấp thông tin về một số đặc điểm lâm học
cơ bản của loài Vàng tâm tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm cơ sở đề xuất
các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở tỉnh Phú Thọ và Việt Nam
- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái và vật hậu của loài Vàng tâm
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái và phân bố, đặc điểm tái sinh
của loài Vàng tâm tại khu vực nghiên cứu
- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở tỉnh
Phú Thọ và Việt Nam
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về mặt khoa học: Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học
cho các nhà quản lý bảo tồn
- Về mặt thực tiễn: Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Vàng tâm (Manglietia fordiana) làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn loài và giám sát đa
dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 13
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính
đa dạng của các vùng miền khác nhau
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ
nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể
Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố
ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa
Trang 14cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã phân chia
ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý
Lacher W (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang, 2009)
Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng,
đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố
Vansteenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt
Baur G.N (1962) cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng
đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây
Trang 15trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian
3 chiều
Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng
ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp Richards P.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6-
12 m, 12- 18 m, 18- 24 m, 24- 30 m, 30- 36 m, 36- 42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả
Richards P.W (1968) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới
về mặt hình thái Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông
nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"
Trang 16Như vậy, nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang được chuyển từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học Rollet B.L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất
Balley (1972) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết được những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài
Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình
thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về
đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)
Tian - XiaoRui ( ) trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa
của một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối thuốc (S wallichii), Castanopsis hystrix và Myrica rubra có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số
12 loài cây nghiên cứu
Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân
bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều
Trang 17vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn
Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi
và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)
Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (dẫn theo Trần Hợp, 2002)
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn
2.1.3 Nghiên cứu về cây Vàng tâm
* Tên gọi, phân loại
Vàng tâm có tên khoa học là Manglietia fordiana là cây gỗ nhỡ thuộc chi Mỡ (Manglietia Blume), họ Ngọc lan (Magnoliaceae) Đặc điểm chung
của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là gồm những loài cây thân gỗ hoặc cây bụi, thường xanh hoặc rụng lá, hoa thường lưỡng tính cùng gốc ít khi hoa
Trang 18đơn tính khác gốc hoặc đơn tính cùng gốc Cây thường có lá kèm bao chồi búp, sớm rụng và để lại sẹo hình khuyên trên cành Lá đơn, mọc cách hiếm khi mọc đối, đôi khi lá mọc tập trung ở đầu cành Hệ gân lông chim, mép lá nguyên, hiếm khi xẻ thùy Hoa đơn độc, ở nách lá, hoa lớn; các thành phần của hoa nhiều, chưa phân hóa và được xếp trên một đế hoa lồi; hoa thụ phấn nhờ côn trùng Lá noãn và nhị hoa rất nhiều, xếp xoắn hình xuyến Hoa thường có 2-14 lá noãn xếp xoắn lại, sau khi được thụ phấn sẽ tạo thành quả đại kép Họ Ngọc Lan có khoảng 17 chi với 300 loài chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á và Trung Mỹ
* Đặc điểm hình thái, sinh thái
Cây gỗ thường xanh, cao 25-30 m, đường kính thân cây 70-80 cm Vỏ màu xám trắng, thịt vàng nhạt, dày 1cm Cành non, lá non có lông tơ màu nâu Lá chất
da, dày, hình mác - bầu dục dài, dày 5-17 cm, rộng 1,5-6,5 cm, đầu nhọn, gốc hình nêm, mép lá nguyên, cuống lá 1,4 cm, màu nâu đỏ Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc
ở đầu cành Cuống hoa dài 1-2 cm; bao hoa màu trắng; nhị nhiều; lá noãn nhiều, xếp xoắn ốc Mỗi lá noãn chứa 5 noãn Quả hình trứng hay tròn - trứng, dài 4-5,5
cm, gồm nhiều đại Phân quả đại chất thịt, màu đỏ thẫm; lúc chín hóa gỗ, màu tím, ngoài có nhiều mụn lồi, đấu tròn hay có mũi nhọn nhỏ rất ngắn Mùa hoa tháng 3-
5, mùa quả tháng 9-10 Tái sinh bằng hạt tốc độ tăng trưởng trung bình
* Nơi sống và sinh thái
Mọc rải rác trong rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới, ở độ cao 100
- 700m Cây trung tính, lúc nhỏ ưa bóng, ưa đất hơi chua, ẩm, màu mỡ và sinh trưởng tốc độ trung bình
2.2 Ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879-
Trang 191907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng,
là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) Trong công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ
Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974), trong đó tác giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập
do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam”
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990), Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs, 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002), v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam
Trang 202.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa
Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì
- Hà Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này
Vũ Văn Cần (1997) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân
bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi
Nguyễn Thanh Bình (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm
về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và
D1,3 có dạng phương trình Logarit
Trang 21Lê Phương Triều (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3
Vương Hữu Nhị (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này
Ly Meng Seang (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi khác nhau: Phân bố N-D1,3 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn, phân bố N-H thường có đỉnh lệch phải và nhọn, phân bố N-Dt đều có đỉnh lệch trái và tù Giữa D1,3 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần
Nguyễn Toàn Thắng (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã có những
kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế
là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Hoàng Văn Chúc (2009) trong công trình “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc Giang” đã mô tả một cách chi tiết về
đặc điểm hình thái, vật hậu, tái sinh, phân bố,… của loài cây này ở khu vực
Trang 22tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhân rộng loài cây bản địa có giá trị này
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên,
là cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng
trong đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Vàng Tâm
đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể, đặc biệt là những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên để có biện pháp bảo tồn vẫn đang là hướng nghiên cứu hết sức cần thiết và cấp bách
Ở Việt Nam, mặc dù các nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh rừng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể,… được thực hiện tương đối chậm so với thế giới nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể Chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu cung cấp những hiểu biết về vấn đề diễn thế, tái sinh, cấu trúc của hầu hết các hệ sinh thái rừng trong cả nước Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể cũng rất được quan tâm nghiên cứu, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn nhiều loài cây gỗ quý như Lim xanh, Lát hoa, Pơ mu,… Tuy nhiên hiện nay, tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự khai thác quá mức của con người dẫn tới nhiều loài cây gỗ quý
Trang 23hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, số lượng loài bổ sung vào sách đỏ Việt Nam ngày càng nhiều Do đó, nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn cấp bách thì tương lai không xa nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất ngoài tự nhiên
Vàng tâm có tên khoa học là Manglietia fordiana là loài cây có gỗ tốt,
thơm, khó mối mọt, có thể dùng làm nhà, dùng đóng đồ dùng gia đình, làm đồ
mỹ nghệ, chạm khắc Tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, vàng tâm có phân bố tự nhiên tương đối hẹp nên việc bảo tồn và phát triển loài cây này đang là nhiệm
vụ hết sức cấp bách của Vườn Quốc Xuân Sơn nói riêng và của Việt Nam nói chung Tuy nhiên, cho tới nay những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái đối với loài cây này còn rất ít, thiếu thông tin, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu được đặt ra là cần thiết và cấp bách
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Xuân Sơn với tọa độ địa lý: Từ 21°03' đến 21°12' vĩ bắc
và từ 104°51' đến 105°01' kinh đông, nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80km, Hà Nội 120km, có phạm vi ranh giới được xác định như sau:
- Phía Đông: Giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn
- Phía Tây: Giáp huyện Phù Yên( tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình)
- Phía Nam: Giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình)
- Phía Bắc: Giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn
Trang 242.4.1.2 Địa hình
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Vùng đồi núi thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông Đà bao gồm cả huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều nhánh gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh, các dãy đồi núi chỉ cao chõng 600 - 700m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Trong đó cao nhất là đỉnh núi Voi 1386m tiếp đến là núi Ten, núi Cẩn đều cao trên 1200 - 1300m Dạng địa hình núi này tạo ra cái nền tảng cơ bản mà sự sống về sau tận dụng và chịu ảnh hưởng sâu sắc, đồng thời
là yếu tố tạo nên nét khác biệt giữa khu hệ động thực vật ở Xuân Sơn với các vườn quốc gia và khu bảo tồn khác ở Miền Bắc
Ngoài địa hình núi, trong vùng còn có các thung lũng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi dốc, bình quân 200 Đây là nơi cư trú của đồng bào dân tộc với những dấu ấn văn hoá bản địa đặc sắc còn đọng lại trong các nếp sinh hoạt cổ truyền
2.4.1.3 Diện tích
Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha, phân khu phục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử: 3.000 ha phân khu hành chính, dịch vụ: 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha) Xuân Sơn được đánh giá là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan
Diện tích vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn là 18.639 ha, bao gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài và một phần các xã: Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, đều cùng huyện
Trang 252.4.1.4 Khí hậu
Cùng với địa hình, khí hậu cũng góp phần tạo nên nền tảng cơ bản của
sự sống, quy định sắc thái cảnh quan khu vực Đất, thực vật, động vật đều là những thành phần tự nhiên của cảnh quan nhưng là của tự nhiên sống Đây là những đối tượng mà con người từ rất xa xưa đã tìm cách sử dụng để đảm bảo cuộc sống của chính mình ”Các thể tổng hợp" khí hậu - đất - đá mẹ" từ xa xưa
đã thúc đẩy sự hình thành các quần hệ thực vật tự nhiên quen được gọi là "các quần
hệ cao đỉnh_ Quần hệ nằm trong trạng thái cân bằng với thể tổng hợp” Như vậy, có thể coi khí hậu là 1 thành tố quan trọng của cảnh quan
- Chế độ nhiệt: tại khu vực vườn quốc gia Xuân Sơn, nhiệt độ trung
bình năm biến động từ 220 - 230, tương đương với tổng nhiệt năng từ 83000C -
85000C (nằm trong vành đai nhiệt đới) Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trong các tháng này xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 Mùa nóng,
do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất là vào tháng 7 (280C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6
- Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1660mm ở Tân
Sơn đến 1826 mm ở Minh Đài, tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8, 9 hàng năm Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn chiếm đưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra do có mưa phùn làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô Tháng 12 và tháng 1 là những tháng hanh khô nhất và lượng bốc hơi cũng thường lớn hơn lượng nước rơi Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng có mưa phùn thường độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất Lượng bốc hơi không cao (653mm/n), điều đó đánh giá khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì
Trang 26còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực
2.4.1.5 Thủy Văn
Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng khắp các vùng không chỉ đơn thuần giữ vai trò cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của địa phương mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy nội tỉnh và mở rộng giao lưu giữa Phú Thọ và các địa phương khác, đồng thời góp phần tạo nên nét "hồn" với những đường chyển linh hoạt của núi rừng Tân Sơn Hơn nữa, lưu vực sông Bứa khá rộng, địa hình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất
Sông Bứa có 2 chi lưu lớn, đó là sông Mua bắt nguồn từ các vùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên tỉnh Sơn La và sông Gian bắt nguồn từ các dãy núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp nhau tại Làng Kệ Sơn rồi đổ vào Sông Hồng tại Phong vực Tổng chiều dài của sông là 120km, chiều rộng trung bình 200m có khả năng vận chuyển lâm thổ sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi
Vườn quốc gia chỉ nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Mua với nhiều nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong vườn
2.4.1.6 Địa chất, thổ nhưỡng
- Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết: Khu vực vườn quốc gia có các quá trình phát triển địa chất phức tạp, các nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp Phía Tây và Tây Nam có các dãy núi thấp và trung bình được cấu tạo bằng các lọai đá trầm tích và biến chất mầu đỏ có kết cấu hạt mịn, tuổi Jura - creta Từ trung tâm xã Xuân Sơn theo hướng Tây Bắc, có những dãy núi đá vôi khá cao (1200m) Đá vôi có mầu trắng xám, cấu tạo khối, tuổi Triat
Trang 27trung Trong dãy núi đá vôi này thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặt như thung làng Lạng, làng Dù, làng Lấp Các thung được lấp đầy các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm Những thung biến thành cánh đồng dạng này khá rộng và trở thành các cánh đồng phù xa màu mỡ
- Vườn quốc gia Xuân Sơn đựơc hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau), cùng với sự phân hoá khí hậu, thủy văn đa dạng và phong phú nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này với những gía trị riêng biệt
+Đất feralit có mùn trên núi trung bình: được hình thành trong điều kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dầy, tỷ
lệ mùn cao (8 - 10%), phân bố ở độ cao từ 700 - 1386m, tập trung ở phía Tây của khu vực, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), Phù Yên (Sơn La)
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp: đây là loại đất có quá trình feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ và
độ ẩm của đất Phân bố dưới 700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ýt
đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rừng phát triển
+ Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi là loại đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó Do vậy, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
+ Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng: Là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù xa mới khá màu mỡ
2.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Vườn quốc gia Xuân Sơn bao bọc trong nó đời sống của 10 xóm gồm : Cái, Lấp, Dù, Lạng, Lùng Mằng(xã Xuân Sơn ), Thân ( xã Đồng Sơn), Nước Thang ( xã Xuân Đài) , Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng ( xã Kim Thượng) Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ
Trang 28200-400m so với mực nước biển , tập trung ở phía Đông , một phần phía Bắc
và Nam của vườn quốc gia Dân cư của các xóm này chủ yếu là hai dân tộc chính : Dao(Mán) chiếm 65,42 %và Mường chiếm 34,43% dân số , chỉ có 4 khẩu người Kinh sinh sống tại đây.Những thích ứng trong đời sống và sáng tạo văn hoá của đồng bào dân tộc Mường - Dao ở nước ta, đặc biệt ở Xuân Sơn-Phú Thọ là những tài sản có giá trị đặc sắc đang được bảo tồn, khai thác làm giàu thêm vốn văn hoá nước ta
( Nguồn : Báo cáo tổng hợp Ban Quản Lý vườn Quốc Gia Xuân Sơn)
* Trồng trọt: Tạo ra sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa
nương khoa sắn và một số sản phẩm từ chăn nuôi ở Xuân Sơn, ngành kinh tế quan trọng nhất là làm ruộng nước ở những vùng ruộng trong thung lũng chân núi, được hỗ trợ bởi hệ thống thủy lợi: nương, phai, các hệ thống tre, bương, vận chuyển nước từ xa đến gần, từ ruộng cao đến ruộng thấp với những khâu
kỹ thuật liên hoàn: Cầy bừa, bón phân, làm mạ, gieo trồng và thu hoạch
Trang 29Ngoài ra, người dân còn biết cách làm nương theo cách đốt nương, tia hạt, trồng lúa nếp, lúa lốc, sắn, ngô, bông hay lập một số những trang trại vừa canh tác lúa nước, vừa chăn nuôi ở trong các khu rừng theo cách đốt nương, tra hạt, trồng lúa nếp, lúa lốc, sắn, ngô, bông hay lập một số những trang trại vừa canh tác lúa nước, vừa chăn nuôi ở trong các khu rừng già cách xa thôn xóm Lúa nương đựơc canh tác ở các vùng đồi, lúa dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, sản lượng rất bấp bênh Diện tích lúa nương không ổn định hàng năm mà thường đựơc du canh qua nhiều vùng khác nhau xung quanh các điểm dân cư Các loại hoa màu thường chỉ có sắn, khoai, ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng, không chỉ đủ điều kiện để làm ruộng nước
* Thủy lợi: ở Xuân Sơn, có một số thung lũng thụân lợi cho việc làm
thuỷ lợi cung cấp nước cho đất trồng trọt Tuy nhiên, do chưa được đầu tư nên người dân xón thường tự phát đắp các đập nhỏ không cố định, hoặc mương nước, ống nước tự chảy để làm ruộng Những loại đập và mương nước này chỉ tồn tại được trong mùa khô Đến mùa mưa, chúng nhanh chóng bị nước cuốn trôi Chính vì vậy, hầu hết ruộng nước trong khu vực chỉ làm đựơc một
vụ những khu vực cao hơn có thể làm đựơc ruộng nước, nhưng người dân không chỉ đủ khả năng đưa nước tới Sản xuất nông nghiệp của các xóm thực
sự chưa thấy cái lợi của thuỷ Sản phẩm canh tác của họ còn trông chờ nhiều vào thời tiết Nếu năm nào mưa thuận gió hoà thì cuộc sống sung tóc, Êm no, còn thời tiết không thuận lợi thì đói kém Làm tốt công tác thủy lợi có thể mở rộng ruộng nước, thâm canh ruộng hiện có sẽ đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực từ đó góp phần bảo tồn và làm giàu thêm sắc thái văn hoá của khu vực
* Chăn nuôi: Đối với cư dân ở Xuân Sơn nói riêng, con trâu, con bò là
được coi trọng nhất, thậm chí họ còn coi đó là thước đo sự giàu nghèo, nhà
Trang 30nào có việc đều phải mổ trâu làm lễ Song vẫn cần thấy rằng, chăn nuôi trong khu vực chưa đựơc chú trọng đầu tư, thành phần đàn gia sóc, gia cầm còn tương đối đơn giản giống chăn nuôi lại chủ yếu là các loại giống cũ cổ truyền, chậm lớn Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán,
gà ri, vịt, ngan Khi cải tạo vật nuôi tăng năng xuất cần chú ý giữ lại những đặc sản hấp dẫn khách du lịch
Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia đình chú ý xây dựng ao để phát triển chăn nuôi cá Tuy nhiên, số hộ này không nhiều Ao cá chỉ đựơc làm tạm bợ, chưa có kỹ thụât chăn nuôi phát triển cá
Điều kiện tự nhiên trong khu vực cho phép phát triển chăn nuôi gia sóc, gia cầm, đào ao thả cá Có nhiều vùng có thể trở thành đồng cỏ, có nhiều nguồn cung cấp thức ăn, có đủ nguồn nước để phát triển nuôi cá Song khi phát triển trăn nuôi cần phải có đủ nguồn nước để phát triển nuôi cá Song khi phát triển chăn nuôi cần phải có quy hoạch rõ ràng và rào cẩn thận để không ảnh hưởng tới công tác bảo tồn của vườn quốc gia, giữ gìn nguyên trạng những giá trị hiện có
* Lâm nghiệp: Núi rừng là nơi cung cấp cho đời sống của đồng bào
nhiều nguồn lợi thức ăn hàng ngày Bởi vậy, sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự phát của nhân dân Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loài động vật để phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, hiện tượng săn bắt và khai thác gỗ đã giảm Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các loài cây thuốc Tuy nhiên, trong quá trình thu hái do không có định mức nên nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn còn tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng bằng cây bản địa do ban quản lý vườn quốc gia triển khai Hiện nay, mỗi xã
Trang 31kể cả vùng lõi và vùng đệm đều có một cán bộ Lâm nghiệp xã hợp đồng với Ban quản lý thực thi công tác theo dõi, quản lý bảo vệ rừng Trong năm 2001, một số hộ gia đình đã nhận đất rừng giao nhưng đã nhượng lại cho lâm trường trồng rừng keo lai làm gỗ nhiên liệu Diện tích rừng này tuy không lớn nhưng cần có giải pháp thu hồi và đền bù cho lâm trường hoặc sau 7 năm lâm trường
sẽ khai thác rồi tiếp tục tiến hành trồng rừng cây bản địa
Ngòai hai nghề nông và lâm, dân cư bản địa còn bảo lưu đựơc khá nhiều nghề thủ công đặc sắc với những sản phẩm đạt dung lượng thẩm mỹ cao như: vỏ chăn, vỏ gối, rổ, giá, đồ đánh bắt cá, đồ điện, quần áo Đặc biệt, người Mường với chiếc cạp váy đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thụât, còn người Dao lại thổi hồn vào thứ bạc lạnh lẽo làm nên đồ trang sức mang cái hồn rất riêng của núi rừng và con người Xuân Sơn
* Đời sống sinh hoạt: Theo các chỉ tiêu phân loại hộ gia đình quốc gia,
toàn bộ các gia đình trong vườn quốc gia được xếp vào diện tích nghèo đói Thu nhập bình quân các hộ gia đình chưa đạt 700.000đ/năm Điều kiện sinh hoạt trong các hộ gia đình hết sức đơn giản Hiện nay chỉ có khoảng 30% hộ
có thủy điện nhỏ thắp sáng 5% hé gia đình có ti vi Tuy sống gần rừng có nhiều loại gỗ quý, nhưng đồ đạc trong nhà người dân như bàn ghế, giường, tủ rất tạm bợ Theo người dân thì do cuộc sống còn thiếu thốn nên họ chỉ lo tìm
đủ nguồn lương thực, thực phẩm Hầu hết các hộ gia đình thiếu lương thực từ
1 tháng trở lên, nhiều hộ thiếu tới 4 - 5 tháng và thường xuyên bị "đứt bữa"
2.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương
* Thuận lợi:
- Vườn quốc gia Xuân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có diện tích
đất đai rộng lớn và tính chất đất còn tốt do vậy đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng về thành phần loài và hệ sinh thái của địa phương
Trang 32- Địa hình phức tạp hiểm trở do vậy việc khai thác trái phép và các hoạt động làm suy giảm giá trị đa dạng sinh học ít
* Khó khăn
- Vườn quốc gia có hệ động thực vật phong phú là nơi nhòm ngó của các đối tượng khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên, địa hình hiểm trở khiến cho công tác quản lý và bảo vệ còn gặp khó khăn