1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng mô hình arima và garch để dự báo về lợi suất và độ dao động để đo lường rủi ro trên thị trường chứng khoán việt nam

40 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 558,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu và hoạt động của thị trường chứngkhoán bao gồm : Thị trường sơ cấp, Thị trường thứ cấp, Sở giao dịch chứng khoán, Cáchình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán, Quản lý và điều hà

Trang 1

Sử dụng mô hình ARIMA và GARCH để dự báo về lợi suất và độ dao động

để đo lường rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU

Trong khi thị trường chứng khoán thế giới xuất hiện từ thế kỉ XV thì thị trườngchứng khoán Việt Nam mới chỉ đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2000 Tuy còn non trẻnhưng thị trường chứng khoán Việt đã có những phát triển đáng kể và bước đầu góp phầnhình thành một mô hình thị trường tương đối toàn diện, tạo lập và hình thành kênh huyđộng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Bằng chứng là ngày đầu khai trương thịtrường chính thức tại trung tâm giao dịch tại TP Hồ Chí Minh chỉ có hai công ty niêm yếtthì đến nay đã tăng lên rất nhiều lần Tổng giá trị của cổ phiếu niêm yết đến ngày13/12/2006 đạt khoảng 10.560 tỷ đồng,tăng 528 % so với cuối năm 2005 (đến năm 2005đạt 2.000 tỷ đồng) Tổng giá trị vốn hoá thị trường của cổ phiếu ngày 13/12/2006 là92.250 tỷ đồng tăng mạnh so với cuối năm 2005 ( đến năm 2005 là 7.390 tỷ đồng ) Đặcbiệt năm 2006 tại thị trưòng chứng khoán Việt Nam trôi qua với nhiều cảm xúc cho giớiđầu tư ,các nhà quản lý thị trường Nhưng một nhận định chung đó là ai chơi cũng trúng,

vì vậy thị trường chứng khoán Việt Nam “ngày thứ 3 đen tối” Song song với việc nângtầm với chất và lượng thì thị trường chứng khoán Việt Nam còn hàm chứa nhiều bất ngờ

và đột biến và tiềm ẩn nhiều rủi ro Để góp phần tạo ra môi trường kinh doanh công bằngcông khai có hiệu quả và bảo vệ những người đầu tư thì công tác thanh tra, giám sát việcthực thi pháp luật chứng khoán có vai trò bậc nhất của cơ quan quản lý nhà nước vềchứng khoán và thị trường chứng khoán Cơ cấu và hoạt động của thị trường chứngkhoán bao gồm : Thị trường sơ cấp, Thị trường thứ cấp, Sở giao dịch chứng khoán, Cáchình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán, Quản lý và điều hành sở giao dịch chứngkhoán, Thành viên sở giao dịch chứng khoán, Giám sát thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị trường tiềm năng,đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng đến Chính

Trang 2

phủ vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư chocông chúng, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Vớivai trò quan trọng đó thì một câu hỏi đặt ra là thị trường chứng khoán Việt Nam đã làmtốt vai trò của mình chưa? Hay nó còn nhiều hạn chế và chưa phát huy hết tính hiệu quảcủa nó Nên việc đưa ra những phân tích về xu hướng biến động giá cổ phiếu cho thịtrường là rất có ý nghĩa.

Qua một thời gian nghiên cứu các tài liệu về chứng khoán, về mô hình để phân tích

về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường và bằng sự hiểu biết của em trongsuốt quá trình học tập e đã mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng mô hình ARIMA và GARCH

để dự báo về lợi suất và độ dao động để đo lường rủi ro trên thị trường chứng khoán ViệtNam”

Số liệu để phân tích và ước lượng trong chuyên đề này dựa vào giá và tình hình cổphiếu của ngân hàng VCB, làm căn cứ để phân tích và định giá danh mục đầu tư

Dựa trên cơ sở là phương pháp duy vật biện chứng khoa học, áp dụng các mô hình tàichính tính toán trên cở sở toán học và được chứng minh trên lý thuyết và thực tế để phântích đánh giá rủi ro của cổ phiếu trên thị trường

Kết cấu của đề tài: Đề tài bao gồm các nội dung sau

- Lời mở đầu

- Chương I: Phương pháp luận

- Chương II Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

- Chương III Mô hình và kết quả ước lượng

- Lời kết luận

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Minh đã tận tìnhhướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này Mặc dù đã có sự cố gắng nỗ lực

Trang 3

nhưng do thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu cũng như thực tiễn còn hạn chế Vì vậybài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót kính mong được sự đóng góp ý kiến củaquý thầy, cô và các bạn thực tập sinh để chuyên đề được hoàn thiện hơn

Chương I: PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Trang 4

1.1.1 Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán

- Chứng khoán: Là hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao gồm : Cổ phiếu, tráiphiếu và một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồngquyền lựa chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư

- Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức là nơi mà các chứng khoán đượcmua bán theo các quy tắc đã được ấn định

Cơ cấu và hoạt động của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán chính thức được thể hiện bằng sở giao dịch chứng khoán.Thông thường một thị trường chứng khoán bao gồm hai thị trường cùng tham gia (cấutrúc thị trường chứng khoán) là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

 Thị trường sơ cấp

Là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt động giaodịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm qui môđầu tư vốn Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trường này là nguồn tiết kiệm của dânchúng như của một số tổ chức phi tài chính Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn chođơn vị phát hành

 Thị trường thứ cấp

Còn gọi là thị trường cấp 2 hay thị trường lưu thông, là nơi diễn ra hoạt động muabán giao dịch đến tay thứ 2, tức là việc mua bán tiếp thu sau lần bán đầu tiên Nói cáchkhác, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được pháthành qua thị trường sơ cấp

Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không phải là

sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của từng loại thịtrường Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hútmọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế Còn ở thị trường thứcấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô lachứng khoán được mua đi bán lại, nhưng không làm tăng them quy mô vốn đầu tư, khôngthu hút thêm được các nguồn tài chính mới Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sởhữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứngkhoán

Trang 5

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng khoán.Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như hai bánh xe của mộtchiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trường thứ cấp là động lực.Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán lưu thông trên thị trườngthứ cấp và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứngkhoán thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khảnăng huy động vốn trong nền kinh tế.

Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lýthuyết Trong thực tế tổ chức chứng thị trường khoán không có sự phân biệt đâu là thịtrường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp Nghĩa là, trong một thị trường chứng khoánvừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp Vừa cóviệc mua bán chứng khoán theo tính chất mua đi bán lại

Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phái coi trọng thị trường sơ cấp vì đây là thị trườngphát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thịtrường thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trường để đảm bảo thị trườngchứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế

 Sở giao dịch chứng khoán

Thị trường chứng khoán chính thức được tổ chức theo hình thức Sở giao dịch chứngkhoán

 Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán

Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán

Thứ nhất Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức theo hình thức "Câu lạc bộ" tựnguyện của các thành viên Trong hình thức này, các thành viên của sở giao dịch (hộiviên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp luật không có sự canthiệp của nhà nước Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồngquản trị bầu ra ban điều hành

Thứ hai: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần

có các cổ đông là các công ty thành viên Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay Sởgiao dịch chứng khoán tổ chức dưới hình thức này được hoạt động theo luật công ty cổphần, phải nộp thuế cho nhà nước và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn do

Trang 6

chính phủ lập ra Cơ quan chuyên môn này là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán

và thị trường chứng khoán Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán là Hội đồngquản trị do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra và ban điều hành sở giao dịchchứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử

Thứ ba: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phầnnhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nước Đây là hình thức phổ biến ởhầu hết các nước Châu á Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành cũng tương tự như hìnhthức trên nhưng trong thành phần Hội đồng quản trị có một số thành viên do uỷ banchứng khoán quốc gia đưa vào, giám sát điều hành Sở giao dịch chứng khoán quốc gia

bổ nhiệm

 Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán

Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứngkhoán do chính phủ thành lập Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm vụ xác định loạidoanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại chứng khoán nào được muabán Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động của các công ty môi giới và thựchiện các công việc quản lý nhà nước khác

Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và điều hành

sở giao dịch chứng khoán Tất cả các quyết định đều được Hội đồng quản trị đưa ra Hộiđồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành viên của sở giao dịch chứng khoán,các thành viên liên doanh thậm chí có một số không phải là thành viên của sở giao dịchchứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào Hội đồng quản trị có quyềnquyết định nhưng thành viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứngkhoán nào đủ tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch Hội đồng này có quyềnđình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó Hội đồng quản trị có quyềnkiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch Nếu phát hiện vi phạm,Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong mộtthời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch Nếu pháthiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thànhviên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giaodịch chứng khoán nữa

 Thành viên sở giao dịch chứng khoán

Trang 7

Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty chứngkhoán Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trước hết công ty phải đượccông ty có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động Phải có số vốn tối thiểutheo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích và kinh doanhchứng khoán Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịchchứng khoán cụ thể Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịchchứng khoán khác nhau nhưng không được là thành viên của thị trường chứng khoán phitập trung và ngược lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụkhác nhau trên thị trường chứng khoán.

 Giám sát thị trường chứng khoán

Để đảm bảo cho các giao dịch được công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, sởgiao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các giao dịch chứngkhoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng khoán Nhiệm vụ chủ yếucủa các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêucực như gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếptrước

Vai trò của thị trường chứng khoán

 Đối với chính phủ

Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụngcác nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Chính phủ huy động vốnbằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết củamình.Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá Chính thịtrường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứngkhoán một cách tốt nhất Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanhnghiệp quốc doanh.Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ Lãisuất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán tráiphiếu.Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từnước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán

 Đối với các doanh nghiệp

Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay kh có chi phí

Trang 8

tiền vay cao ở các ngân hàng Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc tráiphiếu Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thểbán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền Như vậy, thị trường chứng khoán giúp cácdoanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư.

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh

tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giáchứng khoán trên thị trường Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.Thịtrường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng Thị trường chứngkhoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp

 Đối với nhà đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hộiđầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư

1.1.2 Khái niệm về lợi suất, rủi ro, đo lường rủi ro và mối quan hệ lợi suất với rủi ro

Khái niệm lợi suất.

 Là phần trăm (%) chênh lệch giữa thu nhập từ chứng khoán có được sau mộtkhoảng thời gian ( thường là 1 năm) và khoản vốn đầu tư ban đầu lợi suất thường đượctính bằng cách chia số tiền bạn nhận được hàng năm trong cổ tức hoặc lợi ích của số tiềnbạn bỏ ra để mua đầu tư

Trong trường hợp cổ phiếu, lợi suất cổ tức là bạn nhận được mỗi cổ phần chia chogiá cổ phiếu cho mỗi cổ phiếu Với trái phiếu, nó là sự quan tâm chia cho giá bạn trả tiền.lợi suất hiện tại, ngược lại, là lãi hoặc cổ tức chia cho giá thị trường hiện tại

Trong trường hợp của trái phiếu, lãi suất trái phiếu đầu tư của bạn và mức lãi suấtđầu tư của bạn trả tiền đôi khi, nhưng không có nghĩa là luôn luôn, như nhau Nếu giábạn phải trả cho một trái phiếu là cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá, sản lượng sẽ khác vớilãi suất

 Ví dụ, nếu bạn phải trả $ 950 cho một trái phiếu với mệnh giá là 1.000 đô la đểtrả 6% lãi suất, hoặc $ 60 một năm, năng suất của bạn là 6,3% ($ 60 ÷ 950 $ = 0,0631).Nhưng nếu bạn trả tiền $ 1,100 cho các trái phiếu đó, năng suất của bạn sẽ chỉ có 5,5% ($

Trang 9

60 ÷ 1100 $ = 0,0545).

 Lợi suất của chứng khoán bắt nguồn từ hai nguồn thu nhập:

- Lãi định kỳ ( cổ tức , trái tức )

- Lãi vốn ( chênh lệch giá bán và giá mua )

 Lợi suất dự tính được tính toán dựa trên cơ sở dữ liệu thống kê trong quá khứ

Khái niệm rủi ro

 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng xảy ra ngoài dự kiến làm lãi suấtthực tế khác lãi suất dự kiến

 Khả năng sai biệt càng cao và giá trị chênh lệch càng lớn thì rủi ro càng cao

- Quan niệm cũ : Rủi ro là khả năng làm lãi suất giảm so với lãi suất dự tính

- Quan niệm mới: Rủi ro là khả năng làm lãi suất lệch so với lãi suất dự tính

Đo lường rủi ro

 Độ lệch chuẩn phản ánh mức độ chênh lệch trung bình giữa lãi suất kỳ vọng vàlãi suất thực tế

 Nếu độ lệch chuẩn càng cao thì độ chênh lệch trung bình càng cao và rủi ro cànglớn

 Độ lệch chuẩn STDEV dùng công thức sau đây:

2 1

1

n i i

X X S

1.1.3 Đường thị trường vốn CML ( Capital market line)

 CML là đường nối tài sản phi rủi ro với danh mục thị trường

 Vì danh mục tiếp xúc T chính là danh mục thị trường, nên đường CAL

trở thành đường CML

Trang 10

 Các nhà đầu tư sẽ chọn danh mục đầu tư tối ưu (P) trên đường CML

bằng cách kết hợp danh mục thị trường M với tài sản phi rủi ro

Đị

n

h

lý quỹ đầu tư chung (mutual fund theorem): bài toán lựa chọn

danh mục đầu tư là sự tách biệt của hai hoạt động

– Hoạt động mang tính kỹ thuật: thiết lập quỹ đầu tư chung để chọn một

danh mục các tài sản rủi ro để đa dạng hóa, và đó chính là danh mục thị

trường

– Hoạt động mang tính cá nhân: tùy theo mức độ ghét rủi ro, nhà đầu tư sẽ

tự quyết định phân bổ tiền đầu tư giữa danh mục thị trường và tài sản phi

rủi ro theo một tỷ lệ nhất định

1.1.4 Đường thị trường chứng khoán SML ( Security market line)

Trang 11

Theo mô hình chỉ số đơn ta có:

Trang 12

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý thuyết mô hình toán

Khi xây dựng một mô hình toán kinh tế thì ta sẽ mô hình hóa các yếu tố phân tíchthành các biến số Như vậy bước tiếp theo là cần phải xác định xem biến số nào là biến sốphân tích và nhận định xem biến số nào tác động đến biến phân tích hoặc những biến nàothu nhập được số liệu đầy đủ có thể xem như là không đổi trong giai đoạn phân tích.Thông thường mô hình được biểu diễn dưới dạng hàm số nên từ những nhận định trên ta

có thể xây dựng được hàm số sau:

Y=f (x1,x2,…,xn)

Y: là biến được phân tích hay còn gọi là biến phụ thuộc

X1 ,x2 ,…xn là các biến có tác động đến biến phân tích hay được gọi là biến giảithích ( Còn gọi là các biến độc lập )

1.2.2 Cơ sở lý thuyết thống kê toán

Thống kê thực hành đã có mặt trong mọi lĩnh vực đơqì sống kinh tế xã hội

Trong cả cách tiếp cận vi mô và vĩ mô đối với mỗi quá trình, mỗi đối tượng bằng cáccông cụ toán học người ta có thể thực hiện tốt hơn, hoàn thiện hơn phương pháp và quátrình phát hiện xu thế vận động trong tương lai cũng như trong quá khứ đối với mỗi đốitượng nghiên cứu

- Thống kê mô tả có hai mục đích chính đó là nêu bức tranh khái quát về đối tượngnghiên cứu và tạo cơ sở mô hình hóa thống kê đối tượng nghiên cứu

+ Mô tả thống kê nhờ các biểu đồ và đồ thị: với các biểu đồ chúng ta có thể mô tảthống kê cho nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau Với tính trực giác cao biểu đồ chophép những người ít kiến thưc về thống kê và thống kê toán có thể hiểu được đại cương

Trang 13

về đối tượng mà mình quan tâm

+ Trung bình và trung bình mẫu :

Trung bình của một biến ngẫu nhiên (X) hay của tổng thể thông thường là mootjgiastrị thực (nếu nó tồn tại) Trung bình mẫu là một ước lượng của trung bình tổng thể, đó làmột biến ngẫu nhiên thường được tính theo công thức:

+ Trung vị ( Median):

Trung vị là giá trị nằm giữa các gia trị có thể có của biến ngẫu nhiên, đặc trưng nàythường chỉ có ý nghĩa khi các giá trị có thể rời rạc, hữu hạn hay ít nhất là thuộc mộtkhoảng nào đó Với mỗi mẫu trung vị là giá trị nằm giữa dãy giá trị quan sát theo thứ tựtăng hoặc giảm dần Một cách đơn giản có thể thấy rằng giá trị này có nghĩa trung tâmnếu tần số các giá trị quan sát là gần đều

Nếu dãy quan sát có 2n+1 quan sát xếp theo thứ tự tăng dần thì giá trị thứ n+1 làtrung vị , nếu có 2n quan sát thì trung vị là giá trị trung bình của giá trị thứ (2n-1)/2 và(2n+1)/2

+ Mode: Mode của biến ngẫu nhiên X là giá trị có thể có tương ứng với xác xuất lớnnhất hoặc giá trị hàm mật độ lớn nhất Một biến có thể có nhiều mode và như vậy số giátrị mode càng ít thì ý nghĩa của mode càng lớn

+ Phương sai vả số chênh lệch tiêu chuẩn bao gồm:

 Phương sai của tổng thể

 Độ lệch tiêu chuẩn

 Phương sai mẫu

 Độ lệch chuẩn của mẫu

 Hệ số bất đối xứng( Skewness)

 Hệ số nhọn ( Kotursi)

1.2.3 Chuỗi thời gian: dừng và không dừng

Chuỗi được gọi là dừng nếu kỳ vọng, phương sai và hiệp phương sai không đổi theothời gian Về mặt toán học chuỗi được goị là dừng nếu:

Trang 14

+ Kỳ vọng không đổi:E (x )t  

+ Phương sai không đổi: v ar(x )t  2

+Hiệp phương sai không phụ thuộc vào thời điểm tính toán: cov( ,x x t t s )s,t

Chuỗi được gọi là không dừng nếu nó vi phạm bất cứ điều nào ở trên

1.2.4 Kiểm định tính dừng

 Tính dừng

Nếu mỗi chuỗi thời gian gọi là dừng thì trung bình, phương sai, đồng phương sai (tạicác độ trễ khác nhau) sẽ giữ nguyên không đổi dù cho chúng được xác định vào thờiđiểm nào đi nữa

+ Kỳ vọng không đổi:E (x )t  

+ Phương sai không đổi: v ar(x )t  2

+Hiệp phương sai không phụ thuộc vào thời điểm tính toán: cov( ,x x t t s )s,t

Để xem một chuỗi thời gian có dừng hay không, ta có thể sử dụng Đồ thị của Yt theothời gian, Đồ thị tự tương quan mẫu (Sample Auto Correlation), hay kiểm định bướcngẫu nhiên (kiểm định Dickey-Fuller)

Nếu chuỗi Y t không dừng, ta có thể lấy sai phân bậc 1 Khi đó chuỗi sai phân bậc 1

(W t ) sẽ có thể dừng Sai phân bậc 1: W t =Y t -Y t -1

Nếu chuỗi sai phân bậc 1 (W t) không dừng, ta có thể lấy sai phân bậc 2 Khi đó chuỗi

sai phân bậc 2 có thể dừng Sai phân bậc 2: V t =W t -W t-1

1.3 Mô hình ARIMA & GARCH

1.3.1 Mô hình ARIMA

 Là phương pháp dự báo yếu tố nghiên cứu một cách độc lập ( dự báo theo chuỗi

Trang 15

thời gian) Bằng các thuật toán sử dụng độ trễ sẽ đưa ra mô hình dự báo thích hợp.

George Box và Gwilym Jenkins (1976) đã nghiên cứu mô hình ARIMA(Autoregressive Integrated Moving Average – Tự hồi qui tích hợp Trung bình truợt), vàtên của họ thuờng đuợc dùng dể gọi tên các quá trình ARIMA tổng quát, áp dụng vàoviệc phân tích và dự báo các chuỗi thời gian Phương pháp Box-Jenkins với bốn buớc:nhận dạng mô hình thử nghiệm, uớc luợng, kiểm dịnh bằng chẩn doán, và dự báo

Có nhiều phương pháp dự báo, ví dụ PP sử dụng hồi quy bội (yêu cầu nhiều biến,nhiều dữ liệu và người nghiên cứu phải có lý thuyết tốt) Nhưng mô hình ARIMA sẽ giúp

dự báo với độ tin cậy cao hơn từ các PP lập mô hình kinh tế lượng truyền thống, đặc biệtđối với dự báo ngắn hạn: Số quan sát tối thiểu để dùng được ARIMA là 50, môi trường

dự báo trong tương lai ít có sự biến động ARIMA đuợc sử dụng khá phổ biến trong dựbáo ngắn hạn, từ ARIMA có thể mở rộng PP dự báo ARCH và GARCH (các mô hìnhARCH, mô hình GARCH, GARCH-M, GJR-GARCH và một số mô hình biến thể kháckhi có xét tới các yếu tố rủi ro hay các cú sốc trong thị tường)

 Quy trình dự báo bằng PP ARIMA

- Bước 1: Nhận dạng mô hình ARIMA (p, d, q)

D: chính là bậc tích hợp, bậc sai phân

P, q : xác định bằng đồ thị correlogram (SAC,SPAC)

- Bước 2: Ước lượng các tham số cho mô hình ARIMA

TH1: ARIMA (p, 0, q)  trường hợp đơn giản

LS Y C AR(1) AR(2) … AR(p) MA(1)MA(2)… MA(q)

TH2: ARIMA(p,d,q)

LS D(Y) C AR(1) AR(2) … AR(p) MA(1) MA(2)… MA(q)

- Bước 3: Kiểm tra và chuẩn đoán

Xem xét sai số ( phần dư) có phải là nhiều trắng ( ngẫu nhiên thuần túy) không?Nếu có thì đó là mô hình được chọn, nếu không thì chọn mô hình khác hoặc bắt đầulại

- Bước 4: Dự báo

Trang 16

Tìm kiếm mô hình ARIMA là một quá trình thử và sai.

1.3.2 Mô hình GARCH

Mô hình ARCH đặc biệt được xây dựng để lập mô hình và dự báo về phương saicóđiều kiện Mô hình ARCH được Engle giới thiệu vào năm 1982 và mô hình GARCHđược giới thiệu bởi Bollerslev vào năm 1986 Những mô hình này được sửdụng rộng rãitrong các mô hình toán kinh tế, đặc biệt là trong phân tích chuỗi thờigian tài chính giốngnhư Bollerslev, Chou, Kroner đã thực hiện vào năm1992 vàBolleslev, Engle, Nelson đãtiến hành vào năm 1994.Mô hình GARCH (Generalised Autoregressive ConditionalHeteroskedasticity) làmô hình tổng quát hóa cao hơn mô hình ARCH Mô hìnhGARCH(p,q) có dạng sau đây:

(*)Trong đó: p: là bậc của mô hình GARCH.q: là bậc của mô hình ARCH

Dạng đơn giản nhất của mô hình GARCH là GARCH(1,1), được biểu diễn như sau: hMột ích lợi rõ ràng nhất mô hình GARCH mang lại so với mô hình ARCH là ARCH(q)

vô tận = GARCH(1,1) Nếu ARCH có quá nhiều độ trễ (q lớn) thì có thể sẽ ảnh hưởngđến kết quả ước lượng do giảm đáng kể số bậc tự do trong mô hình.Một chuỗi dữ liệucàng nhiều độ trễ sẽ có nhiều biến bị mất

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam là một nước đang phát triển với rất nhiều thay đổi trong những năm gầnđây Có nhiều cơ hội mở ra cho cả công ty nhỏ và lớn Trong sự họi nhập với nền kinh tếtoàn cầu, từ năm 2000 thị trường chứng khoán Việt Nam đã được mở ra Từ đó, nó đãđược phát triển và có sự tăng trưởng vững chắc thông qua sự nhìn nhận bên trong và bênngoài thị trường theo từng năm

Có một thời điểm chúng ta đã có nền kinh tế bong bóng không thể tin được với với tỷ

lệ lạm phát tăng từ 10 tới 20% trong 2 năm, tất nhiên, sự cảnh báo về kết quả đó là do yếukém của thói quen lưu hành tiền tệ và sự mất giá của đồng tiền đang diễn ra Trong năm

2011, Chính phủ đã bắt đầu kiểm soát vấn đề trên bằng cách sử dụng các chính sách tàichính và tiền tệ khá nghiêm ngặt, và bây giờ lạm phát đã được kiểm soát ở mức cân bằng

Trang 17

lịch sử của nó Chúng tasẽ thấy lạm phát 2 năm tới ở mức 6-6,5% - khác xa với nhữngngày khi chúng ta ở mức hơn 20%.

Giám đốc điều hành của Dragon Capital nói rằng các nỗ lực để đạt được mục tiêu ổnđịnh thị trường tài chính tiền tệ của chính phủ Việt Nam và Ngân hàng nhà nước đã thànhcông Tỷ giá đồng Việt Nam đã được giữ ổn định trong những năm cuối sau cuộc khủnghoảng từ 2008 tới 2010 Lạm phát trước kia vượt 25% đã được hạ xuống một con số vàchính phủ cam kết giữ ở mức đó

Chỉ là bản năng tự nhiên để tồn tại, ĐCS Việt Nam tại một vài điểm đã nhận ra rằngphải ổn định nền kinh tế hoặc mất đi vị trí lãnh đạo cho một đảng duy nhất Vì vậy họ đã

có những chính sách mạnh đối với nền tài chính tiền tệ bởi vì họ hiểu họ phải làm vậy và

đã có rất nhiều sự đồng thuận

Bất chấp các điều kiện thị trường, đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (FDI) đãphục hồi mạnh Pháp luật ổn định và trật tự, tỷ lệ tiết kiệm cao và các yếu tố văn hóa kháclàm cho Việt Nam là một nơi tốt cho các công ty kinh doanh Với khoảng 75% dân sốvẫn còn làm việc trong ngành nông nghiệp, có rất nhiều khả năng để phát triển hơn nữa.FDI vẫn còn rất lớn trong suốt tất cả những khó khăn trong nền kinh tế FDI chưa baogiờ rớt xuống mức 7,5 tới 8 tỷ USD, đó là một sự cân đối rất lớn với GDP Nếu như tanhìn vào các quốc gia khác, thậm chí không có một nước nào có được mức độ đó Xuấtkhẩu vẫn còn rất mạnh trong suốt những vấn đề của nền kinh tế và tăng trưởng xuất khẩuViệt Nam là dẫn đầu trong khu vực, và đó cũng là yếu tố khác giúp cho sự ổn định thịtrường

Một mối quan tâm lớn đối với các nhà đầu tư là khả năng phục hồi của hệ thống ngânhàng Việt Nam từ cuộc khủng hoảng kinh tế bong bóng của nó Chính phủ đã nhận ragiải pháp cho cuộc khủng hoảng này là rất quan trọng Trọng tâm là phục hồi một cáchbền vững trong khi làm sạch hệ thống Nợ xấu được ước tính một cách không chính thức

là khá cao 18% Chính phủ đang giúp đỡ các ngân hàng xử lý nợ xấu của họ bằng cách:mua lại những khoản nợ xấu từ ngân hàng để đổi lấy trái phiếu không lãi suất và sẽ hếthạn sau 5 năm, và sau đó ngân hàng được phép vay lại 50% giá trị trái phiếu từ chínhphủ

2.2 Những chính sách xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Trang 18

Để củng cố và phát triển TTCK Việt Nam, theo em, trước hết cần những biện pháp cơbản sau :

Một là, phát triển thị trường tiền tệ một cách đồng bộ ( tiền đề của sự củng cố và pháttriển TTCK ) bao gồm TTCK ngắn hạn, thị trường lien ngân hàng và thị trường ngoại tệ

Do các CK ngắn hạn cho phép hạn chế rủi ro bởi các nhân tố như lạm phát, thiên tai,chiến tranh, các nhân tố chính trị… đồng thời sự phát triển của thị trường tiền tệ tạo điềukiện cho công chứng và các nhà đầu tư làm quen và tạo ra thói quen giao dịch, đầu tưkinh doanh chứng khoán Vì vậy TTCK Việt Nam chỉ có thể phát triển trên cơ sở sự pháttriển mạnh mẽ của thị trường tiền tệ , nghĩa là trước mắt cần tăng cường việc phát hành

và lưu thông chứng khoán ngắn hạn

Hai là củng cố và phát triển thị triển thị trường chứng khoán sơ cấp- nguồn duy nhấtcung cấp các sản phẩm tài chính ( các chứng khoán) cho thị trường thứ cấp và TTCK nóichung Vì vậy phất triển thị trường CK sơ cấp đủ mạnh sẽ đảm bảo đủ lượng chứngkhoán trên thị trường và đạt tới mức đòi hỏi phải phát sinh một lĩnh vực đầu tu và kinhdoanh độc lập Để củng cố và phát triển TTCK sơ cấp, trước hết cần phải kích thích bằnglợi ích vật chất đối với các công ty cổ phần, các công ty lien doanh tham gia niêm yết trênTTCK ( như ưu đãi về thuế), đổi mới chế độ tín dụng trên cơ sở thay thế dần nguồn vốnvay ngân hàng bằng nguồn vốn phát hành chứng khoán

Ba là: Tiến hành cổ phần hóa đại bộ phận các doanh nghiệp nhà nước ( một trongnhững con đường chủ yếu cung cấp các sản phẩm tài chính cho TTCK trong bước quá độsang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam )

Bốn là: tăng cung hàng hóa cho thịt rường về số lượng, chất lượng và chủng loại, đẩymạnh cầu chứng khoán

Nghiên cứu ban hành các chính sách khuyến khích đưa them các loại cổ phiếu của cácngân hàng thương mại, cổ phiếu các công ty lớn, cổ phiếu ưu đãi , quyền mua cổ phiếu,trái phiếu công trình, trái phiếu doanh nghiệp, chuyển đổi chứng chỉ quỹ đầu tư vào niêmyết Hỗ trợ các cty niêm yết trong việc quản trị DN theo thông lệ quốc tế, áp dụng nhiềubiện pháp thu hút nhà đầu tư các nhân tham gia thị trường, phát triển các nhà đầu tư có tổchức tham gia thị trường như quỹ đầu tư , bảo hiểm, tổ chức tài chính, khuyến khích cácnhà đầu tư nước ngoài Nới lỏng các quy định hạn chế với cacsc tổ chức tín dụng, tàihcinhs, thúc đẩy thành lập các công ty tư vấn đầu tư của người nước ngoài, ban hành cácchính sách ưu đãi về thuế Hóa các

Trang 19

Năm là: Đa dạng hóa các loại hinh chứng khoán.Hiện nay chứng khoán trên thị trươngViệt nam chủng loại còn rất đơn điệu Việc đa dạng hóa các loại hình chứng khoán khôngchỉ tạo ra sự phong phú, đa dạng của sản phẩm tài chính, tạo điêù kiện tăng them dunglượng thị trường… bên cạnh đó vấn đề hết sức quan trọng là cho phép tăng them khảnăng lựa chọn các phương án trong danh mục đầu tư – một trong những tiền đề thúc đẩy

sự phất triển, sự vận động của thị trường chứng khoán Bởi vậy đối với hệ thống chứngkhoán, chính phủ cần phát hành các loại hình trái phiếu có thời hạn khác nhau, với lãisuất thay đổi

Bảy là: Củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng của TTCK bao gồm: Sở giao dịchchứng khoán ( trung tâm giao dịch chứng khoán), hệ thống các công ty chứng khoán, cáccông ty đầu tư, tư vấn về nghiệp vụ đầu tư kinh doanh chứng khoán Đồng thời phải đàotạo được đội ngũ cán bộ nghiệp vụ , các nhà đầu tư đủ mạnh để cung ứng cho TTCK Sắpxếp, hoàn thiện bộ máy của UBGDCK, TTGDCK theo tinh thần của nghị định 30/20003/NĐ-CP ngày 1/4/2003 của chính phủ nhắm nâng cao khả năng điều hành, giám sát thịtrường một cách có linh hoạt và hiệu quả Tăng cường quản lý giám sát thị trường thôngqua việc tổ chức hoàn thiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra, thanh tra các hoạt động thịtrường để kịp thời ban hành chính sách nhằm điều chỉnh phù hợp và xử lý các hành vi, viphạm pháp luật Có như vậy mới bảo vệ được lợi ích cho các nhà đầu tư, một trongnhững nguyên tắc tối cao của thị trường chứng khoán( là động lực thúc đẩy sự tham giacủa công chúng và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

TTGDCK Hà Nội sẽ tạo ra một sân chơi mới công khai và mình bạch cho các doanhnghiệp nhưng năng động, mong muốn huy động vốn với chi phí thấp để tăng trưởng.TTGDCK Hà Nội cũng sẽ góp phần tạo nên một TTCK Việt Nam hoàn thiện hơn

Xây dựng quỹ đầu tư chứng khoán

Qũy đầu tư chứng khoán có cơ chế hoạt động mà trong đó một số đông các nhà đầu tư

Trang 20

riên lẻ góp vốn để hình thành một quỹ chung, rồi sau đó ủy thác cho các nhà đầu tưchuyên nghiệp tiến hành đầu tư nhằm thu lợi nhuận cao và số lợi nhuận thu được từ hoạtđộng của quỹ được phân chia cho các nhà đầu tư riêng theo tỉ lệ số vốn đã đóng góp Thị trường chứng khoán này rất cần đươc thành lập và phát triển để góp phần huyđộng vốn cho nền kinh tế nói chung và phát triển thị trường chứng khoán ( TTCK) mộtcách ổn định.

Thành lập Hiệp hội các nhà đầu tư – kinh doanh chứng khoán Việt nam

Để khắc phục những hiện tượng tiêu cực như sự cạnh tranh không lành mạnh, thaotúng lũng loạn trên thị trường nhằm mục tiêu giảm bớt các chi phí giao dịch, tăng cường

sự lien minh liên kết, lien doanh trong quá trình đầu tư – kinh doanh chứng khoán – đặcbiệt là do khuynh hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ của thị trường “OTC” việc thànhlập tổ chức tự quản, phi chính phủ của các nhà đầu tư – kinh doanh chứng khoán là tấtyếu khách quan và hiện thực ở hầu hết các TTCK trên thế giới Hiệp hội các nhà đầu tưkinh doanh chứng khoán Việt Nam thành lập sẽ là một bước quan trọng tiến tới xây dựngTTCK “OTC” tại Việt Nam

2.3 Một số cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

CTG – Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam

Mức giá hiện tại: 14,100

Tín hiệu kỹ thuật: Giá đang về lại vùng đáy cũ 13,800 – 14,200 trong thời gian gầnđây Đây được coi là một trong những vùng hỗ trợ mạnh nhất của CTG trong ngắn hạncũng như dài hạn Vùng này trùng với đáy cũ tháng 05/2014, tháng 10/2014 và có khốilượng tích lũy nhiều nên khả năng hồi phục sau khi test vùng này là khá cao

Khối lượng khớp lệnh duy trì dưới mức mức trung bình 20 phiên (tương đương250,000 đơn vị) Tuy nhiên, nếu khối lượng tăng trưởng trong các phiên tới thì khả nănghồi phục mạnh sẽ tăng lên

Giá của CTG đang duy trì ngay bên dưới đường SMA100 (vùng 14,500 – 14,600).Đường này sẽ là kháng cự gần nhất trong thời gian tới

Khuyến nghị: Nhà đầu tư có thê mua vào trong vùng 13,800 – 14,200

DRC – CTCP Cao Su Đà Nẵng

Mức giá hiện tại: 59,000

Ngày đăng: 11/03/2016, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w