1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây

63 542 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 422 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ưu điểm: - Một người giữ cổ phiếu thường có thể tham gia bầu ban giám đốc Công tytại cuộc họp các cổ đông hàng năm và có quyền phát biểu về những vấn đề khácnhư: Đạo đức Công ty, việc gi

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệpmuốn đứng vững thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều quantrọng, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bất kì một doanh nghiệp nàocũng cần phải có lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng Vốn chính làtiền đề của sản xuất kinh doanh và là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng củamỗi doanh nghiệp Xong, huy động vốn như thế nào để có hiệu quả tốt mới làvấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm

Thêm vào đó, việc chính thức gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế GiớiWTO (World Trade Organization) vào ngày 11/01/2007, đã mở ra cho cácdoanh nghiệp Việt Nam những cơ hội và thách thức to lớn trong việc hội nhậpvào nền kinh tế toàn cầu Trước tình hình này, các doanh nghiệp Việt Nam lạicàng cần có nhiều vốn hơn nữa, với một lượng vốn lớn như vậy doanh nghiệpkhông thể chỉ trông chờ hoàn toàn vào nguồn vốn từ Ngân hàng Do đó, cácdoanh nghiệp cần huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán để tăngnguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh

Xuất phát từ thực tế cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc huyđộng vốn, đặc biệt là hình thức huy động vốn thông qua thị trường chứng khoánsau thời gian học tập tại trường và thực tập tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà

Tây em lựa chọn đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây" làm chuyên đề báo

cáo thực tập

 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng

cổ phiếu thường của Công ty Cổ phần

- Đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn bằng hình thức phát hành cổphiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Trang 2

- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy độngvốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm

Hà Tây

 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp nâng cao hiệu quả huy độngvốn bằng cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hiệu quả huy động vốn bằng hìnhthức phát hành cổ phiếu thường và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốnbằng hình thức phát hành cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm HàTây

 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: Đề tài có sử dụng một số tài liệu

liên quan đến việc huy động vốn thông qua TTCK được thu thập từ sách báo,tạp chí, bài viết trên báo điện tử,…Bên cạnh đó, thông tin về tình hình huy độngvốn và hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dượcphẩm Hà Tây

- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin/số liệu: Các thông tin/số liệu

thu thập được tổng hợp sau đó được xử lý và phân tích thông qua các chỉ tiêuphù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp thống kê so sánh: Từ việc tổng hợp thông tin đưa ra đánh

giá, so sánh hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường của năm nay so vớicác năm trước hoặc so sánh với mức bình quân của ngành Trên cơ sở đó đưa racác giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại Công ty

Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

 Kết cấu của chuyên đề: Chuyên đề gồm có 3 chương Cụ thể:

Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn bằng cổ phiếu thường của

Công ty Cổ phần.

Trang 3

Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn bằng hình thức phát hành

cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng hình thức

phát hành cổ phiếu thường tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây.

Trang 4

Bộ máy các Công ty Cổ phần được cơ cấu theo pháp luật và điều lệ Công

ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạtđộng có hiệu quả Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồngQuản trị và Ban Điều hành Đối với Công ty Cổ phần có trên mười một cổ đông

là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của Công ty phải cóBan Kiểm soát

Khái niệm Công ty Cổ phần được xem đồng nghĩa với Công ty đại chúngbởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó Quy định trong một số bộ luật, trong

đó có Luật Việt Nam ghi rõ Công ty Cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể

đó là pháp nhân hay thể nhân Tuy nhiên, các quy định đối với một Công tyniêm yết thường yêu cầu Công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều Các quyđịnh cụ thể của cả 6 sàn chứng khoán Hoa Kỳ đều cho thấy điều này, từ các sàn

sơ khai như Pink Sheet, OTCBB, NASDAQ, NYSE; trong đó OTCBB yêu cầu

Trang 5

Công ty ít nhất có 40 cổ đông, còn NYSE lại yêu cầu Công ty phải có ít nhất2.000 cổ đông.

1.1.2.2 Các loại cổ phiếu

Trong các nghiên cứu về cổ phiếu thì loại hình chứng khoán này được phânchia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí về quyền lợi cổ đông, hình thức cổphiếu,… Tuy nhiên, khi xem xét cổ phiếu của Công ty Cổ phần người ta thườngphân chia theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đôngthông qua cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

 Cổ phiếu thường

Khái niệm: Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là nền tảng

của Công ty Cổ phần Cổ phiếu thường tạo cho người sở hữu những quyền vàlợi ích cơ bản khi đầu tư vào Công ty Cổ phần Đặc trưng cơ bản nhất của cổphiếu thường là gắn với quyền bỏ phiếu và được xác lập theo nguyên tắc “mỗi

cổ phần một lá phiếu”

Đặc điểm:

- Đây là loại chứng khoán vốn, tức là Công ty huy động vốn chủ sở hữu

- Cổ phiếu thường không có thời gian đáo hạn hoàn trả vốn gốc

- Cổ tức chi trả cho cổ đông phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và chínhsách cổ tức của Công ty

- Cổ đông thường (chủ sở hữu) có các quyền đối với Công ty như:

Trang 6

+ Quyền trong quản lý: Cổ đông thường được tham gia bỏ phiếu và ứng cửvào Hội đồng quản trị, cũng như quyền được tham gia quyết định các vấn đềquan trọng đối với hoạt động của Công ty.

+ Quyền đối với tài sản của Công ty: Quyền được nhận cổ tức và phần giátrị còn lại của Công ty khi thanh lý sau chủ nợ và cổ đông ưu đãi

+ Quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần: Cổ đông thường có thể chuyểnnhượng quyền sở hữu cổ phần của mình cho người khác để thu hồi hoặc chuyểndịch vốn đầu tư

+ Ngoài ra cổ đông thường có thể được hưởng các quyền khác: Quyềnđược ưu tiên mua trước các cổ phần mới do Công ty phát hành,… tùy theo quyđịnh cụ thể trong điều lệ của Công ty

- Trách nhiệm của cổ đông thường: Bên cạnh việc được hưởng các quyềnlợi, cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà Công ty gặp phảitương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong giớihạn phần vốn góp của mình vào Công ty

Ưu điểm:

- Một người giữ cổ phiếu thường có thể tham gia bầu ban giám đốc Công tytại cuộc họp các cổ đông hàng năm và có quyền phát biểu về những vấn đề khácnhư: Đạo đức Công ty, việc giám sát, việc mua lại và nắm quyền kiểm soátCông ty khác (tiếp quản một Công ty bằng cách mua lại đa số cổ phần của nó)

- Những người chủ cổ phiếu thường có thể kiếm được nhiều tiền, nếu nhưgiá cổ phiếu tăng lên và có thu nhập từ cổ tức

- Có quyền ủy thác cho người khác đại diện cho mình khi họp Đại hội đồng

Trang 7

những người giữ cổ phiếu thường nhận tài sản cuối cùng so với các thành phầnkhác.

- Cổ phiếu thường không ổn định nên có tính rủi ro cao

 Cổ phiếu ưu đãi

Ngoài cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu bắt buộc, Công ty Cổ phần có quyềnlựa chọn và phát hành các cổ phiếu ưu đãi tùy thuộc điều kiện cụ thể của mỗiCông ty nhằm thiết lập cơ cấu vốn linh hoạt phù hợp với yêu cầu phát triển củamình

Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một Công ty,đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyềnlợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đượcgọi là cổ đông ưu đãi của Công ty

Ưu điểm:

- Cổ phiếu ưu đãi được ưu đãi về lợi tức cổ phần Lợi tức cổ phần củanhững cổ phiếu ưu đãi phải được trả trước bất kì cổ tức nào được trả cho các cổphiếu phổ thông

- Cổ phiếu ưu đãi được ưu đãi về tài sản Nếu một Công ty thất bại, các cổđông có cổ phiếu ưu đãi được quyền nhận phần của họ về bất cứ tài sản gì cònlại (sau khi nợ của Công ty đã thanh toán), trước khi các cổ đông giữ cổ phiếuthường nhận được phần bồi thường nào đó

- Một số Công ty phát hành những cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi được, nó cho

cổ đông quyền chọn để chuyển cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường

- Phần lớn cổ phiếu ưu đãi tích lũy cổ tức nếu Công ty không trả cho chúngmột giai đoạn xác định Công ty phải trả số tiền tích lũy này trước khi họ trả bất

kì lợi tức cổ phần nào cho cổ phiếu thường

- Cổ phiếu ưu đãi có tính tin cậy và ổn định Chủ sở hữu có thể tính đượclợi tức cổ phần của mình

Trang 8

- Tuy cổ tức cổ phiếu ưu đãi là cố định nhưng cổ đông ưu đãi cũng chỉđược nhận cổ tức khi Công ty làm ăn có lợi nhuận.

1.1.3 Huy động vốn bằng cổ phiếu thường

Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanhnghiệp Cổ phiếu thường là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng đối với

doanh nghiệp trong việc huy động vốn Vậy, huy động vốn bằng cổ phiếu thường là hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhằm gia tăng nguồn vốn

chủ sở hữu của doanh nghiệp

Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới để huy động tăng vốn có thểđược thực hiện theo các hình thức sau:

- Phát hành cổ phiếu mới với việc dành quyền ưu tiên mua cho các cổ đông hiện hành

Đây là hình thức phổ biến được các Công ty Cổ phần ở nhiều nước áp dụngkhi quyết định tăng thêm vốn chủ sở hữu để mở rộng hoạt động kinh doanh.Thông thường trong điều lệ của Công ty Cổ phần ở nhiều nước đều ghi rõ quyềnnày của các cổ đông thường Việc áp dụng quyền ưu tiên mua cho cổ đông lànhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hành

- Phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng

Để huy động tăng thêm vốn đầu tư, Công ty Cổ phần có thể lựa chọn conđường phát hành cổ phiếu mới ra công chúng với việc chào bán công khai Việcthực hiện chào bán công khai cổ phiếu mới có thể thực hiện theo các phươngpháp: Phát hành trực tiếp, chào bán qua người bảo lãnh (hay ủy thác phát hành)

Trang 9

và chào bán qua đấu thầu; trong đó, hai phương pháp chủ yếu thường được thựchiện là phát hành qua người bảo lãnh và phương pháp đấu thầu.

- Phát hành cổ phiếu thường mới bằng việc chào bán cho người thứ ba

Luật pháp của nhiều nước, hoặc trong điều lệ của nhiều Công ty Cổ phầncho phép, nếu được sự tán thành của Đại hội đồng cổ đông, Công ty có thể pháthành thêm cổ phiếu mới với việc dành quyền mua cổ phiếu cho người thứ ba lànhững người có quan hệ mật thiết với Công ty như người lao động trong Công

ty, các đối tác kinh doanh, các định chế tài chính,… Việc phát hành cổ phiếutheo phương pháp này vừa giúp Công ty tăng được vốn kinh doanh, vừa tạo ra

sự gắn bó chặt chẽ hơn giữa Công ty và những người thường xuyên có quan hệvới Công ty

1.2 Đặc điểm của hình thức huy động vốn bằng cổ phiếu thường

Huy động vốn bằng cổ phiếu thường là một hoạt động nhằm gia tăng vốnchủ sở hữu cho doanh nghiệp Với đặc trưng cơ bản nhất của cổ phiếu thường làgắn với quyền bỏ phiếu và xác lập theo nguyên tắc “mỗi cổ phần là một láphiếu” Huy động vốn bằng cổ phiếu thường có các đặc điểm sau:

- Giảm bớt nguy cơ phải tổ chức lại hoặc phá sản Công ty: Do cổ phiếuthường làm tăng vốn đầu tư dài hạn nhưng Công ty không có nghĩa vụ bắt buộcphải trả lợi tức cố định như sử dụng vốn vay

- Công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải trả lợi tức cố định, đúng hạn: Vì

cổ phiếu thường không quy định mức cổ tức cố định, mà cổ phiếu thường phụthuộc vào kết quả kinh doanh

- Giúp Công ty chủ động sử dụng vốn linh hoạt trong kinh doanh khôngphải lo “gánh nặng” nợ nần: Do cổ phiếu thường không có thời gian đáo hạnvốn, nên Công ty không phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định

- Làm tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng tỷ lệ đảm bảo nợ của Công ty, tăngthêm khả năng vay nợ và tăng mức độ tín nhiệm, giảm rủi ro tài chính

Trang 10

- Trong trường hợp Công ty làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao, cổ phiếuthường dễ bán hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu nên nhanh chóng hoànthành đợt phát hành huy động vốn.

1.3 Vai trò của hình thức huy động vốn bằng cổ phiếu thường

Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huyđộng vốn cho Công ty Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạncho doanh nghiệp Một trong các loại cổ phiếu không thể thiếu trong việc huyđộng vốn thông qua TTCK của doanh nghiệp là huy động vốn thông qua việcphát hành cổ phiếu thường

Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu thếtrong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trong TTCK Cổphiếu thường là mặt hàng quan trọng nhất trên TTCK, điều đó cũng đủ để chứngminh tầm quan trọng của nó với các công cụ tài chính khác

1.3.1 Đối với Công ty phát hành

Một trong những ưu thế cơ bản của Công ty Cổ phần là có khả năng sửdụng công cụ cổ phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong công chúng đáp ứng nhucầu to lớn về vốn đầu tư mở rộng kinh doanh Việc huy động tăng vốn đầu tưbằng cách phát hành rộng rãi cổ phiếu thường ra công chúng là vấn đề hết sứcquan trọng đối với sự phát triển của một Công ty Cổ phần, huy động vốn theohình thức này có những lợi thế chủ yếu sau:

Thứ nhất, việc phát hành cổ phiếu thường sẽ giúp cho Công ty có thể huy

động vốn khi thành lập hoặc mở rộng kinh doanh Nguồn vốn huy động nàykhông cấu thành một khoản nợ mà Công ty có trách nhiệm hoàn trả cũng như áplực về khả năng cân đối thanh khoản của Công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sửdụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu Công ty, vay nợ từ các tổchức tín dụng khác,… thì hoàn toàn ngược lại

Thứ hai, việc phát hành thêm cổ phiếu thường làm tăng thêm vốn chủ sở

hữu của Công ty, từ đó làm giảm hệ số nợ và tăng thêm mức độ vững chắc về tài

Trang 11

chính của Công ty, làm tăng mức độ tín nhiệm và khả năng vay vốn cho Côngty.

Thứ ba, phát hành cổ phiếu thường giúp Công ty tăng được vốn đầu tư dài

hạn nhưng Công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sửdụng vốn vay Nếu Công ty không may chỉ thu được ít lợi nhuận hoặc bị lỗ thìCông ty có thể quyết định không phân chia lợi tức cổ phần cho các cổ đôngthường đến khi tình hình hoạt động của Công ty tốt hơn Hơn nữa, đây là hìnhthức huy động vốn từ bên ngoài nhưng Công ty không phải hoàn trả vốn gốctheo kỳ hạn cố định Điều này giúp Công ty chủ động sử dụng vốn linh hoạttrong kinh doanh mà không phải gánh nặng nợ nần như sử dụng vốn vay

1.3.2 Đối với nhà đầu tư cổ phiếu

Trong tình hình kinh tế hiện nay, có rất nhiều hình thức kinh doanh đượcquan tâm và phát triển mạnh mẽ, một trong số những hình thức kinh doanh đượcrất nhiều nhà đầu tư chú ý chính là cổ phiếu Tại sao lại có nhiều người quantâm và đầu tư vào cổ phiếu?

- Khi mua cổ phiếu các nhà đầu tư cùng hướng tới những mục tiêu giốngnhư những người bỏ tiền ra để mua hoặc khởi sự doanh nghiệp:

+ Họ tìm kiếm cổ tức, có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tạo ra lợinhuận để có thể phân phối cho các chủ sở hữu;

+ Họ tìm kiếm lãi vốn, có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tăng trưởng

về giá trị và do đó họ có thể bán phần sở hữu của mình với mức giá cao hơnmức giá mà họ đã mua;

+ Họ tìm kiếm những lợi ích về thuế mà luật thuế dành cho các chủ sở hữudoanh nghiệp

- Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua cổ phiếu được Công ty pháthành Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư cógiá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên TTCKgiữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ Mặt khác, người mua cổ phiếunghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý Công ty sử dụng có hiệu

Trang 12

quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng pháttriển, sinh lợi của Công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ đượchưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức chocác cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại

và triển vọng phát triển của Công ty mình đã chọn Thông thường, khả năng sinhlợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thịtrường

- Thông thường thì cổ phiếu thường được bán ra dễ dàng hơn so với cổphiếu ưu đãi và trái phiếu do có mức lợi tức cao và không bị giới hạn Mặt khác,đối với nhà đầu tư thì cổ phiếu thường còn tạo ra rào chắn chống tác hại của lạmphát tốt hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu Bởi cổ phiếu thường đại biểucho quyền sở hữu Công ty, đầu tư vào cổ phiếu thường là đầu tư vào tài sảntrong Công ty chứ không dưới dạng tiền như trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi Khilạm phát, trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi sẽ bị mất giá một cách tương đối trên thịtrường

1.3.3 Đối với các nhà đầu tư khác

Đối với các nhà đầu tư khác nhau thì tầm quan trọng của mỗi yếu tố trêncũng khác nhau bởi vì họ không có cùng một mục đích đầu tư

Ví dụ, những người về hưu vốn phải sống dựa chủ yếu vào thu nhập từ cáckhoản đầu tư sẽ đề cao vai trò của cổ tức trong khi một số người khác lại chú ýhơn đến khả năng thu lãi vốn

1.4 Nội dung của hình thức huy động vốn bằng cổ phiếu thường

1.4.1 Các loại cổ phiếu thường

Khi nói đến hàng hóa trên TTCK, người ta thường nghĩ ngay đến cổ phiếuphổ thông Thực tế tại nhiều nước trên thế giới, TTCK đã rất quen thuộc đối vớimọi người dân

Ví dụ, ở Mỹ trung bình cứ 4 người trên 25 tuổi thì có một người sở hữu cổphiếu phổ thông, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các quỹ tương hỗ.Vậy bản chất của cổ phiếu phổ thông là gì?

Trang 13

Một cổ phiếu phổ thông đại diện cho quyền sở hữu một phần Công ty Nếumột Công ty có 100 cổ phiếu đang lưu hành và bạn sở hữu một trong số đó cónghĩa là bạn sở hữu 1/100 Công ty Nếu Công ty có 1.000 cổ phiếu đang lưuhành và bạn nắm giữ 1.000 cổ phiếu thì bạn sở hữu 1.000/1.000.000 hay 1/1.000Công ty Thông thường, một Công ty có thể thay đổi số lượng cổ phiếu đang lưuhành bằng cách bán các cổ phiếu bổ sung hay mua lại và hủy bỏ một phần các

cổ phiếu đã phát hành trước đó Trong cả hai trường hợp trên, tỷ lệ sở hữu củacác cổ đông cũ trong Công ty đều thay đổi

Ví dụ, một Công ty phát hành 100 cổ phiếu ra công chúng và bạn mua mộttrong số này Như vậy bạn sở hữu 1/100 Công ty Sau đó, Công ty phát hànhthêm 100 cổ phiếu nữa thì tỷ lệ sở hữu của bạn giảm xuống còn 1/200 Công ty.Nói cách khác, tỷ lệ sở hữu của bạn trong Công ty đã bị “pha loãng” do việcphát hành cổ phiếu mới

Một ví dụ khác, giả sử một Công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành

và bạn mua một cổ phiếu của Công ty Sau đó, Công ty mua lại và hủy bỏ250.000 cổ phiếu Vậy tỷ lệ sở hữu của bạn trong Công ty từ 1/1.000.000 Công

ty tăng lên 1/750.000 Công ty

Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ cổ phiếu đang lưu hành, cổ phiếu đượcphép phát hành và cổ phiếu ngân quỹ

1.4.1.1 Cổ phiếu được phép phát hành

Số lượng cổ phiếu được phép phát hành, như tên của nó đã chỉ ra là sốlượng cổ phiếu tối đa mà Công ty có thể phát hành Quy định này đặt ra nhằmtránh tình trạng pha loãng quá mức tỷ lệ sở hữu trong Công ty của các cổ đônghiện hữu Trong thực tiễn, có nhiều Công ty không phát hành hết số lượng cổphiếu mà nó được phép

1.4.1.2 Cổ phiếu đang lưu hành

Cổ phiếu đang lưu hành là những cổ phiếu mà Công ty đã bán cho các nhàđầu tư và chưa mua lại để hủy bỏ hay cầm giữ Số lượng cổ phiếu đang lưu hànhđược sử dụng để tính toán tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ nợ trên vốn

Trang 14

1.4.1.3 Cổ phiếu ngân quỹ

Vì nhiều lý do khác nhau, một Công ty có thể mua lại cổ phiếu của chínhmình và nắm giữ như các nhà đầu tư bình thường khác Các cổ phiếu này đượcgọi là cổ phiếu ngân quỹ và không được tính vào cổ phiếu đang lưu hành

1.4.2 Các hình thức giá trị của cổ phiếu

1.4.2.1 Giới hạn phát hành

Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có ưu thế hơn so với các phương thức huyđộng vốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các rằng buộc cần được cânnhắc kĩ lưỡng Giới hạn phát hành là một quy định rằng buộc có tính pháp lý.Lượng cổ phiếu tối đa mà Công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếuđược cấp phép Đây là một trong những quy định của UBCKNN nhằm quản lý

và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán Tạinhiều nước, số cổ phiếu được phát hành được ghi trong điều lệ của Công ty,nhưng tại một số nước lại không quy định số lượng đó trong điều lệ Công ty.Muốn tăng vốn cổ phần thì trước hết phải được Đại hội đồng cổ đông cho phép,sau đó phải hoàn tất các thủ tục quy định khác

Hầu hết các nước sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quan trọng

để kiểm soát và hạn chế rủi ro cho công chúng

Thông thường một Công ty có thể phát hành một lần hoặc một số lần tronggiới hạn số cổ phiếu đã được phát hành Tuy nhiên, thì việc quản lý và kiểm soátquá trình phát hành chứng khoán tùy thuộc vào chính sách cụ thể của từng nước.Sau khi phát hành ra thị trường thứ cấp, phần lớn các cổ phiếu nằm trong tay cácnhà đầu tư được gọi là cổ đông, những cổ phiếu này được gọi là đang lưu hànhtrên thị trường Nhưng có thể chính Công ty phát hành mua lại một số cổ phiếucủa mình và giữ nó nhằm mục đích nào đó và những cổ phiếu được Công tymua lại như vậy được gọi là cổ phiếu ngân quỹ, những cổ phiếu này được coinhư tạm thời không lưu hành Việc mua lại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụthuộc vào một số yếu tố như:

- Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư

Trang 15

- Tình hình biến động giá chứng khoán trên thị trường

- Chính sách đối với việc sát nhập hoặc thôn tính Công ty (chống thôn tính)

- Tình hình trên TTCK và quy định của UBCKNN

1.4.2.2 Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu

Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên thịtrường được gọi là thị giá Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với

cổ phiếu, phản ánh lòng tin của nhà đầu tư đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty

Trị giá của cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách kế toán của Công ty đượcgọi là giá trị ghi sổ, đó cũng chính là mệnh giá của các cổ phiếu đã phát hành.Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trên giấyphép phát hành và trên sổ sách kế toán của Công ty Tuy nhiên, mệnh giá chỉ có

ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi cổphiếu được phát hành

1.4.2.3 Giá trị thị trường

Giá trị thị trường là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu thường, được thểhiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận, giá trị thị trường hay còn đượcgọi là giá thị trường Thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải do Công ty

ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổphiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá caonhất mà người mua sẵn sàng để trả mua nó

Như vậy, giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầutrên thị trường Giá trị thị trường cổ phiếu của một Công ty phụ thuộc rất nhiềuyếu tố, do vậy nó thường xuyên biến động

1.4.2.4 Chủ sở hữu Công ty Cổ phần

Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu Công

ty, họ có quyền trước hết đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhậpcủa Công ty

Trang 16

Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc củaCông ty Tuy nhiên thông thường có một số lượng lớn cổ đông của Công ty, nênmỗi cổ đông chỉ có một quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ phiếu hoặcchỉ định thành viên của Ban giám đốc, một số công việc hay những vấn đề đặcbiệt cần có sự nhất trí của đa số cổ đông Tùy theo việc quy định trong điều lệCông ty, có thể hình thành các phương thức bỏ phiếu khác nhau, trong đó có haiphương thức được sử dụng rộng rãi là bỏ phiếu theo đa số và bỏ phiếu gộp.

- Bỏ phiếu theo đa số là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để bầu mộtngười quản lý, các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ Điều này rõ ràng là có lợicho những người đang nắm đa số cổ phiếu của Công ty vì họ có thể tạo áp lựcmạnh hơn bằng số cổ phiếu đang nắm giữ

- Cơ chế bỏ phiếu gộp cho phép cùng bỏ phiếu cho một ứng cử viên nào đótức là một số cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu có trong tay cho một ứng cửviên được ưa chuộng Đây là lý do tại sao một số các cổ đông thiếu ủng hộ cơchế bỏ phiếu gộp

Trong điều lệ Công ty, quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần được đa số(trên 50%) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được tuyệt đại đa số (75% trởlên) cổ đông nhất trí

Vấn đề chống thôn tính và bảo vệ công ty trước sự xâm lấn bằng cổ phiếucủa các Công ty khác là một khía cạnh đặc biệt Huy động vốn thông qua việcphát hành cổ phiếu phải xem xét đến nguy cơ thôn tính Do đó, phải tính đến tỷ

lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của Công ty

1.4.3 Quy trình huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu thường ra công chúng

1.4.3.1 Quy trình phát hành cổ phiếu thường ra công chúng

Công ty phát hành

Trang 17

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình phát hành cổ phiếu thường ra công chúng

(1) Công ty phát hành cổ phiếu nộp hồ sơ đăng ký (bao gồm Bản cáo bạch)cho nhà bảo lãnh phát hành

(2) Nhà bảo lãnh phát hành soát xét, thẩm định hồ sơ (Bản cáo bạch) củaCông ty phát hành, sau đó nộp lên UBCKNN

(3) UBCKNN xem xét và đưa ra các nhận xét/ câu hỏi Nếu nhận thấy hồ

sơ đã đầy đủ và phù hợp thì công bố Bản cáo bạch có hiệu lực

(4) Công ty phát hành sau khi nhận được sự chấp thuận của UBCKNN thìcùng với nhà bảo lãnh phát hành định giá cho cổ phiếu được phát hành

1.4.3.2 Các vấn đề liên quan đến quy trình phát hành cổ phiếu thường ra công chúng

 Các nội dung cần thương thảo

Doanh nghiệp phát hành có thể thương thảo với nhà bảo lãnh phát hành về:Giá, phí, khoản tiền giữ lại, lượng chào bán các lần tiếp theo, các thành viêntrong nhóm đầu tư, nỗ lực giới thiệu/ chào bán, hỗ trợ hậu phát hành, quy môphát hành, tính toán thời điểm, điều khoản tăng số lượng cổ phiếu phát hành

 Quan điểm của nhà bảo lãnh về giá:

- Mong muốn giá sẽ tăng khoảng xấp xỉ 10% sau khi chào bán nhằm:

+ Tạo cho người mua cảm giác thỏa mãn

+ Giảm thiểu rủi ro không bán được cổ phiếu

+ Giảm lượng vốn chịu rủi ro

- Giá thấp hơn hoặc bằng, ít rủi ro hơn

 Quan điểm Công ty phát hành

- Phần giá tăng lên sẽ là phần được hưởng thêm

Trang 18

- Giá giảm mạnh đột ngột có nghĩa là bán được cao hơn giá trị thực, nhưngđiều này sẽ khiến các nhà đầu tư không hài lòng.

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn bằng cổ phiếu thường

1.5.1 Nhân tố khách quan

* Khó khăn từ nền kinh tế ảm đạm

Nền kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm đang gặp khó khăn, những nguy cơgây bất ổn đang lớn dần lên như sự biến động về tỷ giá, lãi suất cao, áp lực lạmphát, thâm hụt thương mại,… ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Qua đó, gây tâm lý bi quan, hoài nghi tính khả thi củaphương án sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp đề xuất

(Doanh nghiệp đồng loạt xin giải thể, phá sản: chỉ riêng từ đầu năm 2012đến nay đã có khoảng 49.000 doanh nghiệp phá sản (giải thể), chờ giải thể trongkhi các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăngkhông đáng kể)

* Yếu tố nội tại trong mô hình tổ chức và vận hành của thị trường chứng khoán

Thứ nhất, dù thời gian qua UBCKNN đã có những giải pháp và kiến nghị

phát triển thị trường song hầu hết chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất Việc chậmtriển khai đã tác động không thuận lợi đến thị trường và nhà đầu tư Sự phối hợpgiữa các ngành tài chính – ngân hàng để hỗ trợ cho TTCK không được nhưmong đợi

Thứ hai, việc cho phép ra đời quá nhiều Công ty chứng khoán, Công ty

quản lý quỹ trong lúc TTCK Việt Nam còn nhỏ bé đã dẫn đến tình trạng nhiềuCông ty lôi kéo khách hàng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Thứ ba, TTCK là một thị trường hết sức nhạy cảm và là thị trường của

niềm tin, song thời gian qua nhiều luồng thông tin một chiều đã làm cho tâm lýnhà đầu tư bị hoang mang, dao động,… làm thị trường thêm khó khăn hơn (điểnhình mới đây nhất là vụ bầu Kiên và ông Lý Xuân Hải bị bắt tạm giam đã khiếnthị trường lao dốc, bốc hơi mất 5,6 tỷ đôla)

Trang 19

Thứ tư, TTCK Việt Nam còn thiếu minh bạch và khó lường xét về việc dự

báo chính sách tiền tệ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà (TheoTiến sĩ Quách Mạnh Hào, Tổng Giám Đốc Công ty Chứng khoán Thăng Longcho biết, có tới 90% tổ chức đầu tư lớn nước ngoài chưa quan tâm đến TTCKViệt Nam)

* TTCK liên tục rớt đáy khiến nhà đầu tư thờ ơ

Sau vụ ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt, TTCK Việt Nam đã bị giảm mạnh.Các cổ phiếu liên tục bị rớt giá và bị bán không “ thương tiếc” với nhiều mứcgiá rẻ bất ngờ, khiến hầu hết các cổ phiếu trên sàn trượt dốc tự do Nhiều nhàđầu tư đã có những tâm lý hoang mang, lo sợ, thậm chí là tháo chạy

* Khó khăn về điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng chặt chẽ, gây khó khăn cho các hoạt động của Công ty niêm yết

Để được phát hành cổ phiếu ra công chúng, Công ty phải có vốn điều lệ đãgóp tại thời điểm đăng kí chào bán từ 10 triệu đồng trở lên tính theo giá trị ghitrên sổ sách kế toán

Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm chào bán của doanh nghiệpphải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán

Doanh nghiệp phải có phương án pháp hành và phương án sử dụng thuđược từ đợt chào bán được được đại hội đồng cổ đông thông qua

Thủ tục liên quan đến quá trình tăng vốn thường mất ít nhất là từ 3-4 tháng,

có khi là nửa năm Trong thời gian đó giá cổ phiếu có thể thay đỏi theo chiềuhướng bất lợi, thậm chí có những doanh nghiệp đến thời điểm huy động vốn giáphát hành đã cao hơn thị giá

* Do đặc trưng ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp

Ví dụ, hoạt động ngân hàng đang khá nhạy cảm cũng là rào cản các nhàđầu tư đến với ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ Bên cạnh đó, các quy địnhpháp lý cũng phần nào cản trở hoạt động tăng vốn của ngân hàng Hay như một

số quy định như người mua cổ phần trong đợt phát hành riêng lẻ bị hạn chế

Trang 20

chuyển nhượng một năm, các đợt phát hành riêng lẻ phải cách nhau tối thiểu 6tháng có thể làm các đợt phát hành riêng lẻ kém hấp dẫn hơn với các đối tác.

1.5.2 Nhân tố chủ quan

* Không có kế hoạch sử dụng vốn huy động được

Thời gian qua có nhiều đợt phát hành huy động vốn theo nhu cầu củadoanh nghiệp, đây là biểu hiện tích cực về hiệu lực hoạt động của TTCK, nhưngđồng thời cũng có không ít đợt phát hành tiềm ẩn khả năng là để tranh thủ, tậndụng nguồn vốn khá vô tư trước các cơn khát đầu tư trên thị trường, điều nàydẫn đến tình trạng sử dụng vốn không đúng theo phát triển, không theo dự án cụthể hay kế hoạch sử dụng vốn được xác lập, gây tổn hại đến niềm tin của nhàđầu tư Một đợt phát hành thành công cần có sự thống nhất về hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp và kỳ vọng của nhà đầu tư Công việc này được chútrọng trên thế giới nhưng ở Việt Nam thì gần như ít doanh nghiệp quan tâmđúng mức

* Thời điểm phát hành để huy động vốn không thích hợp

Việc tập trung quá nhiều doanh nghiệp phát hành cổ phiếu và tiến hànhphát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) vào một thời điểm nhất địnhtrong năm có thế ảnh hưởng đến khối lượng huy động vốn hiệu quả của doanhnghiệp và quyền lợi của cổ đông

Đối với Công ty muốn phát hành chứng khoán ra công chúng thì lựa chọnthời điểm phát hành là rất quan trọng, thị trường đang phát triển tốt, sôi động,giá các cổ phiếu đang tăng trưởng và ở mức độ cao là điều kiện thuận lợi chođợt phát hành của Công ty Nếu thị trường ảm đạm, nhà đầu tư đang bi quan vàothị trường và cổ phiếu thị trường sẽ làm cản trở, khó khăn cho đợt phát hànhnày Ngoài ra cũng cần nắm bắt thị trường một cách cụ thể để lựa chọn chínhxác

* Sự yếu kém trong khâu chuẩn bị hồ sơ phát hành chứng khoán

Việc chuẩn bị hồ sơ, thủ tục xin cấp phép phát hành chứng khoán của cácCông ty ở Việt Nam còn yếu kém Điều này một mặt gây khó khăn cho

Trang 21

UBCKNN trong việc đánh giá tính chính xác và cấp phép cho phát hành chứngkhoán, mặt khác nó làm mất thời gian, công sức và làm gia tăng chi phí của đợtphát hành chứng khoán của Công ty.

* Không xác định được cổ đông chiến lược trong đợt phát hành

Nếu như trước đây việc tìm cổ đông chiến lược, nhất là nhà dầu tư nướcngoài đối với các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa có mục tiêu đầu tiên làthu hút nguồn vốn để nâng cao năng lực tài chính thì hiện nay việc hợp tác vàtìm kiếm cổ đông chiến lược đang có sự thay đổi thực chất hơn Doanh nghiệp

cổ phần hóa và nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đang tìm đến với nhau vìnhững mục đích dài hạn như trao đổi kinh nghiệm quản lý, kiện toàn bộ máynhân sự cấp cao,…

* Xảy ra tình trạng loãng giá chứng khoán khi phát hành thêm chứng khoán ra công chúng

Trong thời gian hiện nay thì việc “loãng” giá chứng khoán là một trongnhững điều cân nhắc kĩ lưỡng trước khi phát hành chứng khoán bổ sung ra côngchúng đối với những Công ty đã có cổ phiếu lưu hành

Phương pháp phát hành sai do đơn vị tư vấn thiếu kinh nghiệm hoặc không

sử dụng tư vấn Nếu những Công ty tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúnglần đầu (IPO) hoặc phát hành chứng khoán bổ sung mà không nắm chắc nhữngviệc phải làm, trình tự các công việc, thủ tục pháp lý,… đã quy định thì rất dễdẫn đến những sai sót trong khi tiến hành

* Mối quan hệ giữa cổ đông và Công ty

Khi mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư tốt, lợi ích đầu tiên làdành cho doanh nghiệp phát hành Việc phát triển mối quan hệ giữa doanhnghiệp và cổ đông góp phần quan trọng trong bảo vệ và gắn bó nhà đầu tư vớidoanh nghiệp Khi nhà đầu tư hiểu rõ doanh nghiệp, những quyết định đầu tư sẽđúng đắn hơn, sự gắn bó lâu dài hơn và họ sẽ thực sự thể hiện được vai trò của

cổ đông

Trang 22

1.6 Rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải trong việc huy động vốn bằng cổ phiếu thường

Mặc dù, huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu thường manglại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

mà doanh nghiệp khó tránh khỏi, như:

Một là, việc phát hành cổ phiếu thường sẽ làm tăng thêm cổ đông mới, từ

đó làm phân chia quyền biểu quyết và kiểm soát của Công ty, dẫn tới quyềnphân phối thu nhập cao cho các cổ đông mới và làm bất lợi cho cổ đông hiệnhành Vì vậy, các Công ty nhỏ hoặc mới thành lập thường né tránh việc pháthành thêm cổ phiếu ra bên ngoài để không phải chia sẻ quyền kiểm soát Công tycho người khác Những Công ty đang làm ăn phát đạt, có khả năng thu lợi nhuậncao, nếu sử dụng trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tăng vốn sẽ có lợi hơn cho các

cổ đông hiện hành so với việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới

Hai là, chi phí cho việc phát hành cổ phiếu thường: Chi phí hoa hồng,

quảng cáo, bảo hiểm, bảo lãnh,… nói chung cao hơn so với chi phí phát hành cổphiếu ưu đãi và trái phiếu Nguyên nhân là do đầu tư vào cổ phiếu thường cómức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào các loại chứng khoán khác Để thựchiện trọn vẹn đợt phát hành cổ phiếu phải thu hút được người đầu tư trên diệnrộng hơn; từ đó, các chi phí quảng cáo, chi phí phân phối cổ phiếu thường phảicao hơn

Ba là, theo cách đánh thuế thu nhập doanh nghiệp ở nhiều nước, lợi tức cổ

phần không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, trong khi đó, lợi tức trái phiếuhay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Điềunày làm cho chi phí sử dụng cổ phiếu thường cao hơn nhiều so với chi phí sửdụng trái phiếu

Bốn là, việc phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng làm tăng số cổ phiếu

đang lưu hành Nếu hoạt động kinh doanh của Công ty không tốt thì sẽ có nguy

cơ làm sụt giảm thu nhập trên một cổ phần Điều này tác động bất lợi tới giá cổphiếu trên thị trường

Trang 23

Ngoài ra, để đi đến quyết định phát hành thêm cổ phiếu thường đáp ứngnhu cầu tăng vốn dài hạn kinh doanh, doanh nghiệp cần phải cân nhắc các yếu tốmang tính chất điều kiện như sau:

Thứ nhất, sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận trong tương lai Nếu tình

hình kinh doanh của Công ty chưa ổn định thể hiện qua sự thay đổi bất thường

về doanh thu và lợi nhuận; trong trường hợp này, việc tăng vốn bằng cách pháthành cổ phiếu thường là hợp lý hơn so với vay vốn Bởi nếu vay vốn thì mức độrủi ro của việc huy động vốn do phải trả lợi tức cố định là rất cao

Thứ hai, tình hình tài chính hiện tại của Công ty, đặc biệt kết cấu nguồn

vốn là vấn đề hết sức quan trọng Nếu hệ số mắc nợ của Công ty đã ở mức cao

so với các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng ngành, thì việc huy độngvốn bằng phát hành cổ phiếu thường là có thể chấp nhận được

Thứ ba, yêu cầu giữ nguyên quyền quản lý và kiểm soát Công ty của cổ

đông thường Nếu các cổ đông coi trọng vấn đề giữ nguyên quyền kiểm soátCông ty, thì việc huy động vốn bằng phát hành thêm cổ phiếu thường khôngđược tính đến

Thứ tư, chi phí phát hành cổ phiếu mới Mặc dù chi phí phát hành cổ phiếu

thường cao hơn so với các loại chứng khoán khác, tuy nhiên trong nhiều trườnghợp với những bối cảnh nhất định, việc huy động vốn bằng cổ phiếu thường cónhững ưu thế nổi trội hơn so với các công cụ khác thì việc chấp nhận phát hành

cổ phiếu thường với chi phí phát hành khá cao vẫn là quyết định đúng đắn

Trang 24

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG HÌNH THỨC PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU THƯỜNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC

PHẨM HÀ TÂY

2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM HÀ TÂY

Tên giao dịch quốc tế: HA TAY PHARMACEUTICAL JOINT STOCK

COMPANY

Trụ sở chính : 10A, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

Trang 25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Dược phẩm

Hà Tây

Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây tiền thân là Xí nghiệp Dược phẩm HàTây được thành lập năm 1965 Năm 1985 Xí nghiệp Dược phẩm Hà Tây hợpnhất với Công ty Dược phẩm Hà Tây và Công ty Dược liệu Hòa Bình thành Xínghiệp liên hợp Dược phẩm Hà Sơn Bình

Ngày 16/07/1991 theo Quyết định số 246/QĐ-UB của UBND tỉnh Hà SơnBình, Xí nghiệp liên hợp Dược phẩm Hà Sơn Bình chia thành Công ty Dượcphẩm Hà Tây và Công ty Dược phẩm Hòa Bình

Ngày 29/03/1993 theo quyết định số 114/QĐ-UB của UBND tỉnh Hà Tây,

Xí nghiệp liên hiệp Dược Hà Tây đổi tên thành Công ty Dược phẩm Hà Tây.Đến ngày 11/05/2000 theo Quyết định số 223/QĐ-UB của UBND tỉnh Hà Tây

đã tiến hành cổ phần hóa và thành lập ban quản trị mới quản lý doanh nghiệpDược phẩm Hà Tây để phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế

Ngày 21/12/2000 theo Quyết định số 1911/QĐ-UB của UBND tỉnh HàTây, Công ty Dược phẩm Hà Tây được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Dượcphẩm Hà Tây trực thuộc Sở y tế với Vốn điều lệ 8,4 tỷ đồng, trong đó Vốn Nhànước chiếm 25%

Trải qua 40 năm hoạt động, Công ty đã đạt được những bước tiến đáng kểtrong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có tốc độ tăng trưởng cao trong

10 năm trở lại đây Ngày nay, Công ty mở rộng sản xuất sang các mặt hàng tândược như: Các thuốc kháng sinh, thuốc cảm cúm, thuốc ho,… đồng thời pháttriển cả hoạt động thương mại (xuất nhập khẩu thuốc tân dược)

Với những thành tích đạt được trong quá trình phát triển Công ty, cán bộcông nhân viên chức Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây đã vinh dự được Nhànước tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại và nhiều bằng khen của cácngành, các cấp:

- “Giải thưởng chất lượng Việt nam” năm 2001 của Bộ khoa học côngnghệ

Trang 26

- “Giải thưởng chất lượng Việt Nam” năm 2004 Bộ khoa học công nghệ.

- “Quả cầu vàng” năm 2004 của Bộ Công nghiệp

- “Cúp sen vàng” năm 2004 của Bộ khoa học và công nghệ

- Cúp vàng “Vì sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển bền vững” năm 2005của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Trung tâm doanh nhân văn hóa

- Biểu tượng “Doanh nhân văn hóa” do Tổng Liên đoàn lao động Việt Namcùng Trung tâm doanh nhân văn hóa trao tặng Giám đốc Lê Văn Lớ, chứngnhận danh hiệu Nhà doanh nghiệp giỏi

- “Siêu cúp thương hiệu mạnh và phát triển bền vững” năm 2005 của TổngLiên đoàn lao động Việt Nam và Bộ khoa học và công nghệ

- Cúp vàng “Thương hiệu và nhãn hiệu” năm 2005

- Giải thưởng “Cúp vàng ISO” năm 2005

- Danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” năm 2006

Ngoài ra, Công ty còn được tặng nhiều Huy chương vàng và Bằng khen vềchất lượng sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Căn cứ theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0303000015 đăng kýlần đầu ngày 10/01/2001, đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 15/12/2010 đăng kýkinh doanh số 0500391400, ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Dượcphẩm Hà Tây bao gồm:

- Sản xuất, kinh doanh dược phẩm, dược liệu, mỹ phẩm, thực phẩm thuốc

và trang thiết bị y tế;

- Xuất nhập khẩu dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm thuốc và trang bị y tế;

- Mua bán hóa chất, hóa chất xét nghiệm (Trừ loại hóa chất Nhà nước cấm)

- Kinh doanh vacxin, sinh phẩm y tế;

- Kinh doanh bất động sản, dịch vụ nhà đất;

- Kinh doanh siêu thị, dịch vụ nhà ở, văn phòng

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt giữacác đơn vị cùng ngành và các sản phẩm ngày một nhiều, Công ty nhận thấy rõ

Trang 27

tầm quan trọng của việc định hướng đúng đắn đối với sự tồn tại và phát triển củamình Công ty là một trong số ít đơn vị đã đầu tư và đáp ứng đủ các tiêu chuẩnchất lượng GMP (Good Manufacturing Practices) – WHO, phòng thí nghiệm đạtchuẩn GLP, hệ thống kho theo tiêu chuẩn GSP.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Từ khi được thành lập Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây đã khôngngừng củng cố và phát triển ngày một tốt hơn, hoàn thiện hơn Bộ máy quản lýcủa mình để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của Công ty

Là một đơn vị sản xuất kinh doanh, Công ty đã và đang xây dựng cho mìnhmột cơ cấu tổ chức điều hành theo mô hình trực tuyến, người lãnh đạo Công tyđược sự trợ giúp của các trưởng phòng, chuyên viên để chuẩn bị các quyết định,hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định

Trang 28

Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị

Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc

Ban kiểm soát

Phó Giám đốc

kinh doanh

Kế toán trưởng

Phó Giám đốc kỹ thuật

Phò

ng kế toán- thống kê

Phòn

g kỹ thuật- kiểm nghiệm

K ho

PX thuốc viên

Phò

ng tổ chức- hành chính

Phòn

g kế hoạch- nghiệp vụ

Trang 29

2.1.3.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty có thể chia thành ba bộ phận lớngồm: Bộ phận quản lý, Bộ phận sản xuất và Bộ phận bán hàng

Bộ phận quản lý Công ty

Đại Hội đồng cổ đông

Đại Hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quanquyền lực cao nhất của Công ty ĐHĐCĐ họp mỗi năm ít nhất 01 lần, quyếtđịnh những vấn đề thuộc quyền và nhiệm vụ được Luật pháp và Điều lệ Công tyquy định như thông qua Báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và Ngân sáchtài chính cho năm tiếp theo, bầu hoặc bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị vàBan kiểm soát của Công ty, xây dựng điều lệ Công ty,…

Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công

ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộcthẩm quyền của ĐHĐCĐ

HĐQT Công ty có 5 thành viên và có nhiệm kỳ là 5 năm Chủ tịch HĐQT

có thể kiêm nhiệm chức Tổng Giám đốc

Ban kiểm soát

Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc của ĐHĐCĐ, do ĐHĐCĐ bầu ra.Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực vàmức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành và hoạt động sản xuất kinh doanh,trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập Báo cáo tài chính của Công ty

Ban kiểm soát của Công ty có 3 thành viên, có nhiệm kỳ 5 năm Ban kiểmsoát hoạt động độc lập với HĐQT và Ban Giám đốc

Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc

Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc thay mặt Hội đồng quản trị, làngười đại diện trước pháp luật, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh với sự trợ giúp của 2 Phó Giám đốc và Kế toán trưởng trong công

Trang 30

tác điều hành và quản lý, các phòng ban làm chức năng tham mưu thực hiệntheo lĩnh vực được phân công.

Phó Giám đốc kinh doanh

Phó Giám đốc kinh doanh có nhiệm vụ xây dựng và đề xuất với Giám đốc

kế hoạch kinh doanh, xuất - nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, điều chỉnh giá thànhsản phẩm Quản lý và điều hành tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, báo cáothường xuyên, định kỳ về tiến độ kinh doanh với Giám đốc (Hiện nay đangtrống)

Phó Giám đốc kỹ thuật

Phó Giám đốc kỹ thuật có nhiệm vụ phụ trách về sản xuất, kỹ thuật,nghiên cứu khoa học và an toàn vệ sinh lao động Phó Giám đốc kỹ thuật làngười xây dựng, đề xuất với Giám đốc kế hoạch sản xuất đổi mới trang thiết bịcông nghệ, giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất, nhu cầu về vật tư hànghóa cho sản xuất, báo cáo thường xuyên và định kỳ với Giám đốc về tiến độ sảnxuất

Phòng kỹ thuật kiểm nghiệm

Phòng kỹ thuật kiểm nghiệm (có 15 người) quản lý đổi mới nâng cao chấtlượng mẫu mã sản phẩm, nghiên cứu sản phẩm mới

Các phân xưởng

Các phân xưởng (có 255 người) bao gồm hai phân xưởng chính là phânxưởng sản xuất thuốc viên và phân xưởng sản xuất thuốc ống, thực hiện sản xuấtcác sản phẩm theo kế hoạch đã giao, đảm bảo chất lượng đúng thời gian giao

Trang 31

nhập kho Ngoài ra còn có phân xưởng phụ (phân xưởng cơ khí) làm nhiệm vụsửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị cho các phân xưởng chính.

Bộ phận bán hàng

Phòng kế hoạch nghiệp vụ

Phòng kế hoạch nghiệp vụ (có 21 người) giúp lãnh đạo Công ty đôn đốcthực hiện những kế hoạch sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường tiêu thụtrong tỉnh cũng như ngoài tỉnh

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2011 – 2013

của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây

Ngày đăng: 11/03/2016, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty (Trang 28)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2011 – 2013 - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2011 – 2013 (Trang 31)
Bảng 2.2: Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Bảng 2.2 Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần (Trang 40)
Bảng 2.3: Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Bảng 2.3 Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần (Trang 41)
Bảng 2.4: Chỉ tiêu Nợ phải trả trong Quý I – Quý II năm 2011 của Công - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Bảng 2.4 Chỉ tiêu Nợ phải trả trong Quý I – Quý II năm 2011 của Công (Trang 42)
Bảng 2.6: Chỉ tiêu nguồn vốn năm 2012 – 2013 của Công ty Cổ phần - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn bằng cổ phiếu thường tại công ty dược phẩm hà tây
Bảng 2.6 Chỉ tiêu nguồn vốn năm 2012 – 2013 của Công ty Cổ phần (Trang 43)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w