Mục tiêu nghiên cứu: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững; - Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý du lịch di sản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu
là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2015
Học viên
Phạm Thị Thanh Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, học viên xin gửi lời cảm ơn đến tất
cả các quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Quản lý kinh tế khóa 2013 - 2015, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích nói chung và về Quản lý kinh tế nói riêng làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Hà Văn Hội đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Với sự quan tâm chỉ bảo và sự góp ý chân thành của thầy đã cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài này
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để học viên tiếp tục hoàn thiện công tác nghiên cứu trong thời gian tới
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2015
Học viên
Phạm Thị Thanh Hoa
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DU LỊCH THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2 Những vấn đề chung về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Vai trò của quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới 19
1.2.3 Các nhân tố tác động đến quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững 21
1.3 Nội dung quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững 24
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý du lịch thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững 28
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam 28
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Bình 31
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ninh 34
CHƯƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36 2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 36
2.2 Khung phân tích 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 37
2.3.2 Phương pháp thống kê 39
2.3.3 Phương pháp so sánh 40
Trang 62.3.4 Phương pháp kế thừa 41
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 42
3.1 Khái quát chung về Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long 42
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 42
3.1.2 Những giá trị nổi bật của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 44
3.2 Thực trạng các hoạt động du lịch ở Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long hiện nay 51
3.2.1 Những loại hình du lịch chính đang khai thác ở vịnh Hạ Long 51
3.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 52
3.2.3 Kết quả kinh doanh du lịch 57
3.3 Thư ̣c trạng quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long theo các tiêu chí phát triển bền vững giai đoạn 2011- 2014 58
3.3.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long trên cơ sở phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường 59
3.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới 63
3.3.3 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, kết hợp với đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 67
3.3.4 Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 71
3.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 74 3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 78
3.4.1 Những thành công 78
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 80
Trang 73.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 84
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG 86
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 86
4.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động tới hoạt động quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững 86
4.2 Định hướng quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững 87
4.2.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển du lịch bền vững Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 87
4.2.2 Định hướng, mục tiêu quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vinh Hạ Long 89
4.3 Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững thời gian tới 91
4.3.1 Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 91
4.3.2 Đẩy mạnh tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục, pháp luật và các chính sách quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới 92
4.3.3 Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 93
4.3.4 Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế nhằm bảo tồn, giữ gìn, phát huy giá trị của DSTNTG VHL 94
4.3.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động kinh doanh du lịch DSTNTG VHL 95
4.4 Kiến nghị 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quảng Ninh là vùng đất địa đầu Tổ quốc đã từ lâu được nhiều du khách trong
và ngoài nước biết đến với các địa danh nổi tiếng như khu di tích lịch sử văn hóa Yên Tử, chùa Quỳnh Lâm, đền Cửa Ông, bãi tắm Trà Cổ, trong đó, Vịnh Hạ Long
là tiêu biểu nhất Vịnh Hạ Long là một kỳ quan thiên nhiên vô giá mà tạo hóa đã ban tặng cho Quảng Ninh Khi đến với Vịnh Hạ Long du khách sẽ được cảm nhận, hòa mình vào trong những cảnh sắc của tài nguyên thiên nhiên hùng vĩ với những đảo đá tuyệt đẹp, hang động lộng lẫy nhiều nhũ đá, măng đá, những bãi tắm trong xanh,…và tài nguyên văn hóa phong phú như những kho tàng cổ vật của con người, những kiến tạo kỳ vĩ và rất đặc biệt của hệ thống đảo đá… Trên dải đất Việt Nam tươi đẹp, Vịnh Hạ Long luôn nổi bật lên như một hình ảnh độc đáo và hấp dẫn vào bậc nhất: Hạ Long - hang động kỳ ảo; Hạ Long - bảo tàng địa chất khổng lồ; Hạ Long - đa dạng sinh thái và Hạ Long - cái nôi của nền văn hóa cổ
Với những giá trị đặc trưng độc đáo của mình, Vịnh Hạ Long đã được UNESCO hai lần công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới (tháng 12/1994 và tháng 11/2000 ) Việc được công nhận là Di sản Thế giới một mặt là vinh dự và tự hào lớn của Việt Nam, mặt khác nó cũng mang lại cho nước ta nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng những đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
Với lợi thế về tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên, trong những năm qua, Quảng Ninh đã và đang trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Năm 1996, Quảng Ninh thu hút được 236.248 du khách, năm 2006 là 1.788.329 du khách, năm 2014 là hơn 2 triệu lượt
du khách, trong đó phần đa là đến thăm quan du lịch tại Vịnh Hạ Long
Tuy nhiên, việc khai thác Vịnh Hạ Long cho hoạt động du lịch đã và đang đặt
ra nhiều khó khăn, thách thức trong công tác quản lý du lịch di sản Lượng du khách tham quan ngày càng đông, kéo thu nhu cầu tăng cường các tuyến thăm quan, dịch
vụ ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí,…Điều này đã gây nên một sức ép lớn đốn với
Trang 11môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của Vịnh Hạ Long Do đó, việc quản lý, khai thác những giá trị thiên nhiên Vịnh Hạ Long một cách bền vững là một nhiệm
vụ quan trọng hiện nay Với mong muốn góp phần đưa ra những định hướng, giải pháp quản lý du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long một cách hiệu quả,
bền vững trong thời gian tới, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý du lịch di sản thiên
nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu:
Mục đích đề tài nghiên cứu: góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị di sản thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long để nơi đây mãi mãi là một viên ngọc, một nguồn lợi bền vững cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cho quốc gia nói chung
b Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long tại tỉnh Quảng Ninh trong mối quan hệ với phát triển du lịch bền vững để xác định những tồn tại, thách thức và nguyên nhân của các vấn đề đó;
- Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đáp ứng các mục tiêu phát triển du lịch bền vững thời gian tới cho tỉnh Quảng Ninh
c Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững;
- Đề xuất và chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long theo hướng bền vững
Trang 12Cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long theo hướng bền vững? là câu hỏi nghiên cứu xuyên suốt mà tác giả lựa chọn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
a Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long theo hướng bền vững
b Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về du lịch đối với di sản thiên nhiên thế giới, trong đó chủ thể nghiên cứu là các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Về không gian và thời gian: Trong giới hạn đề tài nghiên cứu, luận văn nghiên cứu công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 3 năm ( từ 2011 - 2014)
4 Những đóng góp của luận văn
nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh
Hạ Long thời gian qua, tìm ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân
quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và một số vấn đề lý luận về quản lý du lịch
di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Chương 3.Thực trạng quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long giai đoạn 2011 - 2014
Chương 4 Giải pháp tăng cường quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long theo hướng bền vững thời gian tới
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN
LÝ DU LỊCH THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển du lịch nói chung và việc quản lý du lịch đối với các di sản thiên nhiên thế giới nói riêng, trong đó có Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long là vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:
- Bài viết “Phát triển du lịch Quảng Ninh nhìn từ kinh nghiệm của
Singapore“, tác giả Nguyễn Đức Thành (Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện
Cô Tô), năm 2013 Bài viết đã đề cập đến kinh nghiệm phát triển du lịch thành công của Singapore và vấn đề phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh Trong đó bài nghiên cứu tập trung đề cập vấn đề cập tới vấn đề hoạch định, xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch của Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng Đồng thời, chỉ rõ thế mạnh của du lịch tỉnh Quảng Ninh là
di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và các lễ hội truyền thống, địa điểm du lịch tâm linh, với các điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển đảo Bài nghiên cứu cũng chỉ rõ: Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có và để du lịch đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của Quảng Ninh, các nhà quản lý cần có tầm nhìn dài hạn, lựa chọn được những ý tưởng, phương án quy hoạch phù hợp, lựa chọn được các nhà tư vấn thực sự có kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển du lịch và phải đúc kết, học tập kinh nghiệm từ sự thành công cũng như thất bại trong xây dựng, thực thi chính sách phát triển du lịch của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Tỉnh Quảng Ninh nên nghiên cứu, triển khai việc đấu thầu quản lý và phát triển các hoạt động dịch vụ trên vịnh Hạ Long Ban quản lý Vịnh Hạ Long chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, bảo tồn, phát huy giá trị ngoại hạng của Vịnh Hạ Long, còn việc phát triển dịch vụ thì để cho các doanh nghiệp
- Bài viết “Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới
phục vụ phát triển ở nước ta”, tác giả Nguyễn Quốc Hùng, Tạp chí Di sản văn hóa
số 1 (14), năm 2006 Nghiên cứu của tác giả nhấn mạnh đến vấn đề bảo tồn và phát
Trang 15huy giá trị các di sản, trong đó tập trung vào di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới ở Việt Nam như: Quần thể di tích kiến trúc Huế (1993), Vịnh Hạ Long (1994, 2000), Khu phố cổ Hội An (1999), Khu di tích Chăm Mỹ Sơn (1999), Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (2003); Nhã nhạc - nhạc cung đình Việt Nam (2003) và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (2005) Nghiên cứu đã tập trung chỉ
ra các thế mạnh của di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới của Việt Nam so với các di sản khác cùng loại trên thế giới Đồng thời nhấn mạnh những đóng góp về kinh tế,
xã hội to lớn của những di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới đối vơi sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Từ đó, tác giả đề cập đến vấn đề cấp thiết hiện nay đối với các nhà quản lý di sản đó là: Nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa và thiên nhiên của Việt Nam hiện nay Để thực hiện được công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, tác giả
đã đề xuất một số giải pháp thực hiện như: Thành lập đơn vị quản lý di sản thế giới trực thuộc cấp tỉnh, có đợn vị trực thuộc cấp huyện; tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan quản lý di sản để đáp ứng nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản thế giới; Phối hợp với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước cùng tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản; nhà nước cần còn có những cơ chế riêng về tài chính như bố trí lại các nguồn thu cho các di sản thế giới nhằm tạo sự chủ động cho các hoạt động của di sản thế giới
- Bài viết “Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch”, tác
giả Đặng Hoàng Lan, Tạp chí Văn hoá và Du lịch, số 11, tháng 5 năm 2013 Nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề hoạt động bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển du lịch của Việt Nam hiện nay Đặc biệt, tác giả Đặng Hoàng Lan đã chỉ rõ những bất cập trong việc hiểu và thực hiện hoạt động bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển du lịch của Viêt Nam hiện nay chưa thực sự thống nhất và cần khắc phục Cụ thể, trong nghiên cứu của mình Đặng Hoàng Lan chỉ rõ: “Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên về di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khá đa dạng, phong phú Đây là nguồn tài nguyên quan trọng trong phát triển du lịch văn hóa của đất nước Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa có ý nghĩa lớn đối với phát triển du lịch Tuy nhiên, việc hiểu đúng về yêu cầu của công tác bảo tồn, hơn nữa bảo tồn để khai thác cho phát triển
Trang 16du lịch, thì không hẳn đã có quan điểm thống nhất” Từ những nhận định xác đáng
về hoạt động bảo tồn di sản trong phát triển du lịch tại Việt Nam hiện nay, tác giả
đã đề cập đến những vấn đề mà các nhà quản lý hiện nay cần quan tâm trong hoạt
động bảo tồn di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch đó là: Bảo tồn di sản phục vụ
du lịch trước hết phải đảm bảo đúng yêu cầu của Luật Di sản văn hóa; Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nghĩa là bảo vệ người kế thừa di sản văn hoá
- những nghệ nhân dân gian; Bảo vệ, tôn tạo di sản phải nhằm mục đích giới thiệu
di sản đến với công chúng; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; bảo vệ và tôn tạo môi
trường tại các khu di sản
- Đề tài luận văn thạc sỹ “Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch ở thành
phố Hạ Long” - tác giả Lê Anh Cường, Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại
học Thái Nguyên, năm 2013 Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về du lịch, trong đó làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về du lịch như: khái niệm du lịch, các loại hình du lịch, vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế, xã hội địa phương và những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch, các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về du lịch, một số kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước về du lịch của một số địa phương trong nước Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Hạ Long để tìm ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân Từ đó, đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển
du lịch ở thành phố Hạ Long trong thời gian tới
- Đề tài luận văn thạc sỹ “Tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt
động du lịch bền vững tại Hạ Long”, tác giả Lê Thị Thúy Vinh, Học viện Hành
chính, năm 2010 Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động du lịch và quản lý nhà nước về du lịch, tổng quan quản lý nhà nước về du lịch, mối quan hệ giữa quản lý, bảo tồn di sản với phát triển du lịch Tác giữa khái quát một số bất cập hiện nay trong quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam, đưa ra một
số kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch và quản lý nhà nước đối với hoạt động
Trang 17du lịch Tác giả phân tích thực trạng hoạt động du lịch và công tác quản lý nhà nước
về du lịch trên Vịnh Hạ Long, đưa ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân Từ
đó, tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động du lịch bền vững trên Vịnh Hạ Long và có đưa ra một số kiến nghị với Trung ương và tỉnh Quảng Ninh, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn Quảng Ninh
Bùi Thị Thu Hương (2014), nghiên cứu khoa học trong công tác bảo tồn và
phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, đăng trên Website halongbay.com.vn Nghiên cứu đã chỉ rõ đặc điểm địa chất - địa mạo, đa dạng sinh học và văn hóa lịch sử và giá trị thẩm mỹ của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long Đông thời, nghiên cứu cũng chỉ ra sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Vịnh Hạ Long trong gần 20 năm từ khi được công nhận Di sản thế giới đến nay đã đón gần 25 triệu lượt khách du lịch và trở thành một nhân tố quan trọng trong lĩnh vực phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh và khu vực Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng, chính sự gia tăng các hoạt động kinh tế xã hội cũng như hoạt động du lịch diễn ra trên vịnh đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn các giá trị của Di sản Vì vậy, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các giá trị di sản thiên nhiên thế giới tại Việt Nam nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng Cũng như đề xuất những giải pháp quan trọng trong công tác quản lý bảo tồn phát huy giá trị Di sản đó là: Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về vịnh Hạ Long bằng việc tích cực đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chủ động phối hợp, liên kết với các cơ quan bảo tồn thiên nhiên thế giới, các Viện nghiên cứu đầu ngành, Trường đại học, các nhà khoa học trong và ngoài nước nhằm triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, từng bước làm rõ và bổ sung đầy đủ những giá trị Di sản như: Đa dạng sinh học; Văn hoá - Lịch sử; Địa chất - địa mạo…; Coi trọng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, bảo vệ Di sản; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của Ban quản lý di sản, khuyến khích các cán
bộ quản lý thực hiện các đề tại nghiên cứu, các chuyên đề nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới
Trang 18Nghiên cứu Vũ Duy Anh (2015), “Bảo tồn, phát huy di sản thế giới - quần
thể danh thắng Tràng An”, Thông tấn xã Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ rõ những
giá trị nổi bật của quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình như : Quần thể danh
thắng Tràng An chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và là một trong 31 di sản hỗn hợp của thế giới, là di sản hỗn hợp thứ
11 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và là di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam
và khu vực Đông Nam Á; Phần lớn diện tích của Quần thể danh thắng Tràng An chưa có người ở và trong trạng thái tự nhiên, không có các tác động có hại lên các giá trị văn hóa và tự nhiên; Tràng An gồm một loạt các địa hình karst điển hình, nhiều loại đồi tháp ngoạn mục bao quanh bởi hàng loạt các thung lũng và hố sụt kín
có các đầm lầy rộng liên kết với nhau bởi một hệ thống sông suối ngầm; Nhiều nghiên cứu cho rằng, Tràng An là một cuốn biên niên sử nguyên vẹn nổi bật về sự biến đổi môi trường và những ứng phó của con người trong quá khứ xa xôi
Từ những giá trị nổi bật của danh thắng Tràng An, tác giả đã chỉ ra yêu cầu bức thiết trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản hiện nay đó là:
"Để sức sống của di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới - Quần thể danh thắng Tràng An ngày càng lan tỏa, chúng ta phải kết hợp đồng bộ giữa việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản trong một khối tổng thể, gắn liền với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái một cách bền vững; Toàn bộ những di tích này phải được bảo vệ theo các quy định tại Luật Di sản văn hóa của Việt Nam nhằm đảm bảo giữ gìn các giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và cảnh quan thiên nhiên Cùng với đó, tỉnh Ninh Bình cần vận dụng có hiệu quả các bộ luật khác có liên quan như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Xây dựng, Luật Khoáng sản để mọi hoạt động bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị
di sản hoặc những hoạt động có khả năng ảnh hưởng tới giá trị, tính toàn vẹn và xác thực của di sản được địa phương xây dựng thành từng dự án cụ thể, trình Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch cùng các bộ, ban, ngành có liên quan thẩm định kỹ lưỡng trước khi đưa vào triển khai thực hiện Thời gian tới, 5 địa phương nơi đặt Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới - Quần thể danh thắng Tràng An gồm Gia Viễn,
Trang 19Hoa Lư, Nho Quan, thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp, tăng cường quản lý hoạt động du lịch; bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị di sản; quản lý môi trường; quản lý dân cư, cộng đồng địa phương; tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng cư dân sở tại tham gia vào việc quản lý, bảo vệ di sản; ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, đồng thời đẩy mạnh việc tuần tra, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội diễn ra trong khu vực di sản; Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An đã phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương thực hiện các quy chế theo phân cấp quản lý nhằm đảm bảo an ninh trật tự, giữ gìn
vệ sinh môi trường và cảnh quan sinh thái trong khu vực di sản, nhất là khi mùa lễ hội 2015 đang đến gần Bên cạnh đó, tăng cường bảo vệ di tích, khai quật khảo cổ, bảo vệ rừng, phát triển du lịch và theo dõi chặt chẽ đối với doanh nghiệp hoạt động trong khu vực di sản nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn vùng lõi di sản và vùng đệm xung quanh
Nghiên cứu “Quản lý di sản UNESCO công nhận bằng gì?” đăng trên báo
Đại đoàn kết Nghiên cứu đã chỉ rõ Việt Nam hiện đang sở hữu 17 di sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận Bao gồm di sản thiên nhiên, di sản vật thể, phi vật thể và di sản hỗn hợp 22 năm qua, việc bảo vệ di sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam được thực hiện chủ yếu dựa trên tinh thần Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới; Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm
2009 Riêng với những di sản thiên nhiên thế giới tại Việt Nam, việc quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di sản còn được thực hiện theo Luật Bảo vệ Môi trường và những Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành liên quan Nghiên cứu cũng đề cập đến việc Bộ VHTT&DL mới ban hành Quyết định số 1620/QĐ-BVHTTDL thành lập ban soạn thảo, tổ biên tập Nghị định quản lý, bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam Vì vậy, trong thời gian tới Việt Nam sẽ có thêm Nghị định về quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại Việt Nam Và nghiên cứu chỉ ra rằng: Thực tế hiện nay việc quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế như: Các cơ quan quản lý chưa thống nhất được
Trang 20trong việc phân cấp quản lý di sản rõ ràng bởi bộ máy quản lý các Di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay còn thiếu đồng bộ Việc phân công, phân cấp, giao trách nhiệm
cụ thể cho các đơn vị quản lý ở địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tầm vóc quản lý di sản thế giới; Công tác bảo tồn di sản dựa trên văn bản pháp luật, dựa vào bộ máy ban quản lý danh thắng được lập ra tại Việt Nam hiện nay chưa được thực hiện hiệu quả do chưa dựa vào cộng đồng, vì lợi ích cộng đồng
Nghiên cứu “ Phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa và phát triển cộng đồng ở Việt Nam”, đăng trên mục nghiên cứu - trao đổi của Cinet Nghiên cứu đã đưa ta ra khái niệm về di sản văn hoá và cộng đồng và chỉ rõ vai trò của Văn hoá và Cộng đồng với phát triển du lịch, cũng như vai trò của cộng đồng với phát triển Du lịch Đồng thời, nghiên cứu cũng nêu ra định hướng phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa và phát triển cộng đồng ở Việt Nam hiện nay Từ đó, chỉ ra hai nhóm giải pháp tăng cường vai trò của Văn hoá và Cộng đồng với phát triển du lịch đó là:
Nhóm giải pháp tăng cường vai trò của Văn hóa với phát triển du lịch bao gồm các giải pháp cụ thể sau: Quy hoạch tổ chức không gian du lịch phải phù hợp với Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới và các quy định pháp
lý được quy định trong các Luật Di sản văn hóa, Luật Du lịch và các luật có liên quan; Quản lý “sức chứa” phù hợp khả năng chịu tải của tài nguyên và môi trường
du lịch và quản lý tác động của hoạt động du lịch căn cứ báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư phát triển du lịch tại các khu vực di tích, đặc biệt là di sản thế giới; Đóng góp từ thu nhập du lịch cho hoạt động bảo tồn, theo đó cần quy định cụ thể tỷ lệ đóng góp kinh phí cho hoạt động bảo tồn các giá trị di sản
từ thu nhập du lịch Để thực hiện vấn đề này cần có sự phối hợp của các ngành có liên quan, đặc biệt là ngành Tài chính; Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương từ hoạt động du lịch, theo đó cần có sự hỗ trợ vật chất từ thu nhập du lịch để cải thiện
cơ sở hạ tầng địa phương và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng được tham gia vào hoạt động dịch vụ du lịch tại các khu di sản Điều này sẽ góp phần hạn chế đáng
kể “sức ép” của cộng đồng lên các giá trị di sản đồng thời sẽ khuyến khích họ trở
Trang 21thành chủ nhân thực sự đóng góp vào nỗ lực chung bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản ở Việt Nam
Nhóm giải pháp tăng cường vai trò của Cộng đồng với phát triển du lịch bao gồm một số giải pháp chủ yếu như: Tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng có thể tham gia vào quá trình quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch phát triển du lịch nơi mà cuộc sống của cộng đồng gắn liền Điều này không chỉ góp phần đảm bảo cho quy hoạch đi vào cuộc sống trên cơ sở những hiểu biết phong phú và cụ thể của cộng đồng đối với mảnh đất mà họ gắn bó, mà còn để cộng đồng hiểu được những
gì sẽ biến đổi trên mảnh đất của họ; những gì họ có thể tham gia vào hoạt động phát triển du lịch để có được cuộc sống tốt hơn; và để cộng đồng có được sự chuẩn bị tốt hơn cho những công việc mới cùng với trách nhiệm bảo vệ các giá trị tự nhiên, văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển du lịch; Nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa để đảm bảo cuộc sống của họ với những thu nhập họ có được qua việc tham gia vào hoạt động phát triển du lịch trên cơ sở khai thác những giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa Trước hết nhận thức này cần được nâng lên ở những người “già làng, trưởng bản”, những người có ảnh hưởng rộng rãi trong cộng đồng; Tăng cường phổ biến, giải thích các quy định hiện hành về bảo vệ tài nguyên tự nhiên, văn hóa truyền thống đến cộng đồng Kinh phí dành cho những hoạt động này cần được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc một phần kinh phí trích trực tiếp từ thu nhập du lịch; Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù của địa phương để đảm bảo một phần từ thu nhập
du lịch sẽ “quay lại” hỗ trợ cho cộng đồng và cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên môi trường, du lịch nơi diễn ra hoạt động du lịch với sự tham gia của cộng đồng; Xây dựng một số mô hình và cơ chế cụ thể nhằm tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch như hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ đào tạo kỹ năng, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch; Tăng cường sự hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để tăng cường năng lực tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch để cải thiện sinh kế, nâng cao mức sống và qua đó hạn
Trang 22chế các tác động của cộng đồng đến tài nguyên, môi trường, góp phần cho phát triển
du lịch bền vững ở Việt Nam
- Đề án “Chiến lược và biện pháp phát triển du lịch bền vững khu vực Hạ Long”,
nằm trong khuôn khổ các chương trình của Dự án Hỗ trợ kỹ thuật Bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ, năm 2012 Đại diện nhóm quản lý nguồn tài nguyên du lịch và môi trường đã trình dự thảo đề án các chiến lược và biện pháp phát triển du lịch bền vững khu vực Hạ Long Theo đó, mục tiêu của
đề án là chuyển đổi từ du lịch đại chúng sang du lịch bền vững Trong đó, tập trung thực hiện 6 chiến lược: Tăng cường năng lực quản lý phục vụ và phát triển du lịch bền vững; phát triển khung thể chế và pháp lý, chính sách hỗ trợ du lịch sinh thái; bảo vệ tài nguyên du lịch; phát triển các sản phẩm du lịch bền vững; nâng cấp dịch vụ và chất lượng các cơ sở du lịch và kinh doanh du lịch; quảng bá và xúc tiến du lịch bền vững Ngoài ra, đề án còn đề xuất các biện pháp, phương hướng phát triển du lịch như: Lập quy chế xúc tiến du lịch sinh thái ở Quảng Ninh; lập khung thể chế, chính sách và khuyến khích các hoạt động xúc tiến du lịch sinh thái; kiểm soát tàu du lịch và các khu vực tàu neo đậu tại các đảo chính vào giờ cao điểm
Như vậy, hiện nay mới chỉ có một số ít những nghiên cứu về vấn đề quản lý
du lịch thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững Các công trình kể trên mới chỉ tiếp cận chủ yếu về việc bảo tổn, phát triển du lịch và nội dung quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên thế giới nói chung và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long nói chung, chưa đề cập sâu đến vấn đề làm sao để quản lý di sản này theo hướng thực sự bền vững Do đó, đề tài “Quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế
giới Vịnh Hạ Long theo hướng bền vững” vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu
1.2 Những vấn đề chung về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Du lịch di sản thiên nhiên thế giới
- Di sản thiên nhiên thế giới: Tính đến hết năm 2014, Tổ chức Khoa học,
Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc viết tắt là Unesco đã trao bằng công nhận cho tất cả 962 di sản đại diện cho 157 quốc gia trên thế giới Trong 962 di sản có
745 di sản văn hóa, 188 di sản thiên nhiên và 29 di sản hỗn hợp ( gồm cả 2 loại văn
Trang 23hóa và thiên nhiên) Do vậy, để đưa ra được khái niệm đúng nhất, chính xác nhất về
di sản thiên nhiên thế giới thì trước tiên chúng ta phải trả lời được câu hỏi “ di sản thế giới là gì?” Lý giải cho câu hỏi này, Unesco đã đưa ra khái niệm di sản thế giới như sau: “ Di sản thế giới là những di chỉ hay di tích của một quốc gia như các kiến trúc, thành phố, rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc, nghệ thuật…do các nước có tham gia vào Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới được xét duyệt, công nhận và quản lý bởi UNESCO Những đề cử di sản của các quốc gia được gửi đến chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ được tổ chức Unesco lập danh mục, đặt tên và bảo tồn Những đề cử được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ di sản thế giới theo một số điều kiện nhất định Chương trình này được lập theo Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới gọi tắt là Công ước Di sản Công ước Di sản được Đại hội đồng UNESCO thông qua ngày 16 tháng 11 năm 1972 Dựa trên những nghiên cứu về các đặc điểm của di sản, Công ước Di sản thế giới năm 1972
đã phân loại di sản thế giới thành 3 loại là di sản văn hóa, di sản thiên nhiên và di sản hỗn hợp Trong đó:
Di sản văn hóa là: “ Các di tích, các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và
hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang
đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học; Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học; Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên
và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học”
Di sản hỗn hợp là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi
bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản
Trang 24Vậy, di sản thiên nhiên là: “Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động kiến tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn”
- Du lịch di sản thiên nhiên thế giới:
Các di sản thiên nhiên thế giới sau khi được công nhận luôn được các nước bản địa đánh giá cao và được định hướng khai thác để phát triển trở thành các khu, điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, làm động lực cho sự phát triển du lịch
ở nước này Vì vậy, việc xác định khái niệm du lịch di sản thiên nhiên thế giới là rất quan trọng trong việc tìm kiếm những giải pháp quản lý du lịch bền vững tại các nơi được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
Theo Francesco Bandarin, Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO
tại Paris, Pháp thì” Du lịch là một lối thoát về quản lý quan trọng ở các khu Di sản
văn hóa và thiên nhiên thếgiới Nó là ngành công nghiệp với những chi phí mà ai
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm
trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Kết hợp khái niệm “du lịch”, khái niệm “ di sản thiên nhiên thế giới” như đã trình bày ở trên và quan niệm của Francesco Bandarin về mối quan hệ giữa du lịch
và di sản thiên nhiên thế giới, chúng ta có thể đưa ra được khái niệm du lịch di sản
1
Arthur Pedersen (2002), Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu Di sản thế giới, Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO
Trang 25thiên nhiên thế giới như sau: “ Du lịch di sản thiên nhiên thế giới là du lịch chủ yếu
dựa vào thiên nhiên bao gồm các hoạt động khai thác và bảo tồn môi trường tự nhiên, bản sắc văn hóa và các giá trị kiến tạo nên di sản”
Đặc điểm của du lịch di sản thiên nhiên:
Cũng giống như các loại hình du lịch khác, du lịch di sản thiên nhiên có đầy
đủ các đặc điểm của các loại hình du lịch thông thường Tuy nhiên, du lịch di sản
thiên nhiên có một số đặc điểm đặc thù sau đây:
- Du lịch di sản thiên nhiên là những hoạt động du lịch gắn liền giữa tìm hiểm,
khám phá và nghiên cứu với việc gìn giữ và bảo tồn các giá trị thiên nhiên, văn hóa,
môi trường, địa chất….Trong các hoạt động du lịch di sản thiên nhiên, chủ thể quan
tâm nhiều hơn đến việc tìm hiểu, khám phá và nghiên cứu hơn là các mục đích nghỉ ngơi, thư giãn, hay giải trí Họ muốn được khám phá những giá trị thực, muồn được đắm chìm trong những trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa và lịch sử thú vị Không
giống một số loại hình du lịch khác, tài nguyên, đối tượng của du lịch di sản thiên
nhiên là những giá trị vô giá về tự nhiên, địa chất, môi trường mà thiên nhiên ban
tặng mà con người dù với công nghệ, máy móc hiện đại cũng không thể tạo ra Có rất nhiều di sản thiên nhiên được công nhận có những giá trị đặc biệt và duy nhất, không nơi nào có được (ví dụ: Di sản TNTG Vịnh Hạ Long, Phong Nha - Kẻ
Bàng…) Chính vì vậy du lịch di sản thiên nhiên phải là những hoạt động du lịch
trong đó lợi ích du lịch phải hài hòa với nhiệm vụ bảo tồn; các dịch vụ, loại hình du lịch có tác động tiêu cực hay phá vỡ cảnh quan, môi trường thiên nhiên bị hạn chế tối đa trong khi các loại hình du lịch trải nghiệm, nghiên cứu khoa học hay các hình thức du lịch khác nhằm đánh thức, khai thác các tiềm năng của di sản thiên nhiên
được khuyến khích Hay nói một cách khác du lịch di sản thiên nhiên phải là du
lịch bền vững
Khái niệm du lịch bền vững: Có nhiều khái niệm khác nhau về du lịch bền
vững Sở dĩ có sự khác biệt này là vì các khái niệm khác nhau được xây dựng trên
cơ sở các góc nhìn, mục đích và mục tiêu khác nhau
Trang 26Theo Luật Du lịch 2005 thì "Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về
du lịch của tương lai."
Nhìn chung Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao
tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và
có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào
Du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là
ý chí chính trị mạnh mẽ để đảm bảo sự tham gia, hưởng ứng rộng rãi và đồng thuận của các đối tượng liên quan
Du lịch bền vững là những hoạt động du lich:
- Giảm thiểu những tác động tiêu cực về xã hội, kinh tế và môi trường, tạo ra nhiều lợi ích kinh tế hơn cho người dân địa phương, nâng cao đời sống của cộng đồng;
- Thu hút sự tham gia của người địa phương vào trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng tới cuộc sống và cơ hội trong cuộc sống của họ;
- Góp phần bảo tồn di sản tự nhiên, văn hóa mà vẫn đảm bảo tính đa dạng của nó;
- Mang đến cho du khách những trải nghiệm thú vị thông qua sự kết nối với người dân địa phương và sự hiểu biết sâu sắc hơn về xã hội, môi trường và văn hóa địa phương;
- Đảm bảo sự tiếp cận dễ dàng cho những người khuyết tật về thể chất;
- và đảm bảo có sự tôn trọng lẫn nhau giữa chủ và khách, xây dựng niềm tự hào và tin tưởng
- Con đường tiến tới mục tiêu Du lịch bền vững là một tiến trình liên tục và
nói đòi hỏi có sự giám sát thường xuyên những tác động, đề xuất các biện pháp
phòng ngừa và xử lý các tác động tiêu cực Ngoài ra, Du lịch bền vững là sự đảm
bảo mức độ thỏa mãn cao cho khách du lịch, tăng cường nhận thức về tính bền
Trang 27vững, khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động, sáng kiến du lịch bền vững trong các đối tượng liên quan
1.2.1.2 Quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới
Quản lý di sản thiên nhiên thế giới là việc nâng cao vai trò, hiệu quả của các phương thức quản lý của nhà nước đối với di sản thiên nhiên thế giới, tạo ra sự chuyển biến thực sự về nhận thức và hành động của cộng đồng đối với việc gìn giữ, bảo vệ di sản Quản lý di sản thiên nhiên thế giới đảm bảo vừa bảo tồn, vừa khai thác
và phát huy giá trị của di sản,bảo tồn để khai thác, phát huy tốt giá trị; đồng thời khai thác, phát huy giá trị tốt sẽ tạo điều kiện để bảo tồn Quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên thế giới phải coi trọng cơ chế phối hợp liên ngành, cơ chế hợp tác quốc tế với phát huy cao nhất thẩm quyền trách nhiệm của chính quyền địa phương
1.2.1.3 Quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững
Hiện nay, ở trong nước cũng như quốc tế chưa có tổ chức, cá nhân nào đưa ra khái niệm cụ thể về vấn đề quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm dựa trên cơ sở khái niệm và nội hàm của du lịch bền vững cũng như quản lý nhà nước đối với du lịch di sản thiên nhiên thế giới như sau:
Quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững là sự tác động
có tổ chức của nhà nước bằng hệ thống pháp luật thông qua bộ máy tổ chức của mình nhằm phát triển di sản thiên nhiên với mục đích giữ gìn, bảo tồn và phát huy những di sản thiên nhiên thế giới theo hướng đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương đồng thời bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cho tương lai
1.2.1.4 Tiêu chí đánh giá quản lý du lịch di sản thiên nhiên theo hướng bền vững:
Hiện tại chưa có một bộ tiêu chí chính thức nào để đánh giá quản lý du lịch di sản thiên nhiên theo hướng bền vững Tuy nhiên, để đảm bảo tính bền vững cần phải đạt được sự hài hòa giữa hai yếu tố hiệu quả kinh tế và việc đảm bảo giữ gìn, bảo tồn và phát huy những di sản thiên nhiên thế giới
Thực tiễn triển khai cho thấy những nhân tố sau cần được xem xét để đánh giá xem công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên có theo hướng bền vững hay không
Trang 28Thực chất việc đánh giá này là hết sức khó khăn vì khó có thể đưa ra một tiêu chí định lượng hay một phép đo cụ thể Nhưng thông qua việc xem xét các nhân tố dưới đây có thể giúp cho các quản lý có được một cái nhìn tổng quan về công tác quản lý
du lịch di sản thiên nhiên
- Mức độ truyên truyền nâng cao nhận thức về giá trị di sản thiên nhiên (số lượng người được phổ biến, truyên truyền về di sản TNTG và các giá trị của di sản TNTG);
- Mức độ quan tâm của lãnh đạo về việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những di sản thiên nhiên thế giới (số lượng các văn bản chính sách liên quan đến quản lý du
lịch di sản thiên nhiên bền vững;
- Tỷ lệ nguồn lực phân bổ cho công tác quản lý du lịch di sản thiên nhiên (tỷ lệ
% ngân sách nhà nước, nguồn lực huy động từ các nguồn khác dành cho quản lý du lịch di sản thiên nhiên);
- Công tác phối hợp trong quản lý du lịch di sản thiên nhiên (Số lượng các cuộc họp, giao ban liên ngành liên quan đến quản lý du lịch di sản thiên nhiên bền vững);
- Tỷ lệ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp về quản lý du lịch di sản thiên nhiên bền vững;
- Mức độ hài lòng của du khách (tỷ lệ đánh giá mức độ hài lòng cao của du khách);
- Các nhân tốt tác động tới khu di sản thiên nhiên (vd: Tỷ lệ nước thải ĐT, công nghiệp, bệnh viện và khu du lịch ven biển được xử lý đạt tiêu chuẩn thải ra khu di sản;- Tốc độ tăng sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản tại các khu vực sản/5 năm gần nhất, (%/năm); Tỷ lệ phương tiện đạt chuẩn tham gia vào các hoạt động du lịch trong khu di sản thiên nhiên)
1.2.2 Vai trò của quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới
- Thứ nhất, vai trò định hướng của nhà nước đối với di sản thiên nhiên
Nhà nước có những chính sách chung nhất để bảo vệ và phát huy giá trị di sản nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển
Trang 29kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và
nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Nhà nước thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đối với các di sản, tạo môi trường pháp lý để phát triển, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản này
Chức năng hoạch định chính sách trong quản lý nhà nước cũng giúp cho từng địa phương có những phương án chiến lược, kế hoạch phát triển riêng, trong vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản tại địa phương mình
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản Chủ sở hữu
di sản có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản
- Thứ hai, tổ chức phối hợp quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên
Nhà nước với vai trò chung hoạch định chiến lược, định hướng phát triển bảo
vệ và phát huy những giá trị văn hóa Từ đó, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi là tổ chức) và cá nhân có trách nhiệm thực hiện những quy hoạch, kế hoạch đó để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước Trung ương với các cơ quan quản lý nhà nước địa phương nơi có di sản thiên nhiên, cùng hướng tới mục đích chung là bảo tồn và phát huy giá trị di sản
Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực tham gia quản lý các di sản thiên nhiên, đồng thời nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ tài nguyên di sản, bảo vệ môi trường, đồng thời tuyên truyền và nâng cao ý thức bảo vệ di sản của người dân địa phương nơi có di sản thiên nhiên Thông qua hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, trong việc bảo vệ và giữ gìn giá trị di sản của cộng đồng
Trang 30- Thứ tư, vai trò điều tiết quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên bao gồm:
i) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa; ii) Bộ Văn hóa -
Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản
văn hóa; iii) các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ; iv) Chính phủ
quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản
lý nhà nước về di sản văn hóa; v) Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ
và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa
phương theo phân cấp của Chính phủ; vi) Hội đồng di sản văn hóa quốc gia là hội
đồng tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về di sản văn hóaThủ tướng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia
- Thứ năm, giám sát của quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên bao gồm: i)
Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh trên địa bàn có liên quan đến
di sản thiên nhiên, ảnh hưởng đến di sản đó, cho phép hoặc nghiêm cấm các hoạt động ảnh hưởng đến di sản thiên nhiên; ii) vai trò giám sát của quản lý Nhà nước còn thể hiện trên phương diện kiểm tra, giám sát, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý cũng như năng lực quản lý của từng địa phương đối với di sản thiên nhiên Điều này được thể hiện qua hoạt động của Thanh tra Nhà nước về văn hóa - thông tin thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về di sản văn hóa, có nhiệm vụ: Thanh tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa; thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa; tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa; kiến nghị các biện pháp để bảo đảm thi hành pháp luật về di sản văn hóa; phát hiện ra những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước không còn phù hợp, từ đó quyết định điều
chỉnh thích hợp để tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các di sản thiên nhiên
1.2.3 Các nhân tố tác động đến quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững là vấn đề luôn được chính phủ các quốc gia quan tâm và coi đây là
Trang 31nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong việc phát triển du lịch bền vững Bởi vậy, để quản lý khai thác có hiệu quả di sản thiên nhiên thế giới mà vẫn đảm bảo tính bền vững, ổn định lâu dài Các quốc gia, các cơ quan quản lý di sản thiên nhiên cần xác định rõ các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý di sản thiên nhiên hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Theo các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch và các nhà trực tiếp quản lý di sản thì có 16 yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý khai thác di sản thiên nhiên hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững, đó là:
- Năng lực cán bộ quản lý: Con người luôn là chủ thể chính trong mọi hoạt
động của xã hội và đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhà nước Do đó, năng lực cán
bộ quản lý là nhân tố quan trọng hàng đầu tác động trực tiếp đến hoạt quản lý và khai thác di sản thiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Chỉ
có những cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, tinh thần trách nhiệm và năng lực làm việc tốt mới có thể quản lý và khai thác di sản thiên nhiên một cách hiệu
quả mà không làm mất đi những giá trị vốn có của nó
- Sự quan tâm của cộng đồng: Kinh nghiệm quản lý di sản thiên nhiên của
nhiều quốc gia trên trên giới cho thấy: Để quản lý khai thác di sản thiên nhiên đạt hiệu quả hướng tới mục tiêu phát triển bền vững thì không thể thiếu yếu tố sự quan tâm của cộng đồng Sự quan tâm của cộng đồng là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả của các Chính sách quản lý khai thác di sản thiên nhiên được ban hành Bởi phải có được sự quan tâm sự hưởng ứng của cộng đồng những người dân bản địa sống xung quanh khu di sản thiên nhiên nói riêng và cộng đồng cả quốc gia đó nói
chung thì việc quản lý khai thác di sản thiên nhiên mới thực sự hiệu quả và bền vững
- Tổ chức bộ máy quản lý: Bên cạnh yếu tố con người thì yếu tố tổ chức bộ
máy quản lý tại các khu di sản thiên nhiên thế giới có vai trò vô cùng quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý và khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Tổ chức bộ máy quản lý khoa học , phân cấp quản lý rõ ràng là việc làm cần thiết tạo sự đồng bộ trong hệ thống quản lý di sản và ta ̣o thành mô ̣t bô ̣ máy quản lý chă ̣t trẽ , hữu hiê ̣u và phát huy tốt mọi nguồn lực hiện có để thực hiện việc khai thác và bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững được hiệu quả
Trang 32- Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong việc quản lý di sản: Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của xã hội và sự phát triển như vũ bão của Công nghệ thông tin thì việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trog việc quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới là vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tiết kiệm thời gian và chi phí quả lý cũng như nhân lực quản lý Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý di sản còn là tiền đề cho việc giảm bớt chi phí cho quản lý, tăng cường chi phí đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường tại di sản.Bởi vậy, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý di sản là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động quản lý và khai thác di sản thiên nhiên thế giới
hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững
- Công tác kiểm tra giám sát: Công tác kiểm tra giám sát là hoạt động không thể
thiếu trong quản lý nhà nước và đóng vai trò là yếu tố quyết định hoạt động quản lý
có được thực hiện hiểu quả hay không Do đó, công tác kiểm tra giám sát là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả quản ly khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Công tác kiểm tra giám sát cần được
thực hiện thường xuyên, nghiêm túc đảm bảo tính khách quan và trung thực
- Hoạt động kinh tế-xã hội của cơ quan, tổ chức và cá nhân: Cùng với sự phát
triển kinh tế xã hội, với nhu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân trong khu vực, việc xây dựng các cơ sở hạ tầng tại khu vực lân cận di sản, hoặc thậm chí trong phạm vi bảo vệ của các di tích như mở đường, san lấp mặt bằng lấn biển, xây dựng bến bãi cầu cảng, xây dựng các công trình phục vụ dân sinh… đã và đang diễn ra, gây ảnh hưởng đến môi trường di sản ở các cấp độ khác nhau như: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao nhu cầu sống của người dân cư ngụ trong phạm
vi bảo vệ của các di sản; Hoạt động của các khu công nghiệp, các nhà máy, các cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nằm trong khu di sản; Hoạt động khai thác xâm lấn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng
Ngoài những tác động trên, việc quản lý khai thác di sản thiên nhiên thế giới hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững còn chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố khác như: Công tác tuyên truyền vào giáo dục cộng đồng trong quản lý, bảo tồn, phát huy bền vững di sản;Cơ chế, chính sách, các văn bản, quy định của
Trang 33pháp luật; Sự quan tâm của cả hệ thống chính trị; Ngân sách phục vụ cho quản lý di sản; Sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế; Vai trò, ý thức của du khách và cộng đồng dân cư đối với di sản; Việc phối hợp trong Công tác quản lý của các ngành, các địa phương; Tầm nhìn và định hướng của cơ quan quản lý đối với di sản; Điều kiện tự nhiên
1.3 Nội dung quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững
Di sản văn hóa nói chung và di sản thiên nhiên thế giới nói riêng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, mà cụ thể là ngành du lịch của nước ta Sức hút của các di sản thiên nhiên đã tạo tiền đề cho việc mở rộng các điểm du lịch và các hoạt động khác xung quanh các di sản thiên nhiên này Du lịch phát triển tại các
di sản thiên nhiên không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người dân ở các địa phương có di sản, mà còn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại một số địa phương, góp phần phát triển các ngành nghề dịch vụ du lịch, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, hoạt động văn hóa truyền thống (văn hóa phi vật thể) được phục hồi, phát triển phục vụ trở lại cho du lịch Sự phát triển du lịch tại các điểm di sản văn hóa và thiên nhiên ở nước ta không chỉ tạo điều kiện để các hoạt động dịch
vụ du lịch như: Nhà hàng, khách sạn, quán trọ, ca nhạc, vũ trường, nhiếp ảnh, hướng dẫn du lịch… phát triển Di sản thiên nhiên còn góp phần thúc đẩy các ngành giao thông, hàng không hoạt động mạnh mẽ hơn Điều đó nói lên tầm quan trọng của di sản thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế là rất lớn Do đó, vấn đề bảo tồn, bảo vệ và phát huy những giá trị thiên nhiên cho hiện tại và đảm bảo cho tương lại
đó đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra mà vai trò quản lý nhà nước theo hướng bền vững là yếu tố then chốt Vì vậy, luật di sản văn hóa đã quy định cụ thể về nội dung quản lý về di sản văn hóa (quản lý nhà nước về di sản thiên nhiên nói riêng) bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;
Trang 34- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;
dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong công tac bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa
Trên cơ sở đó, việc quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển
du lịch di sản thiên nhiên thế giới trên cơ sở phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường
Chính sách, chiến lược quản lý là định hướng xuyên suốt trong quá trình quản
lý nhà nước dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, đối với quản lý nhà nước đối với các di sản thiên nhiên cũng vậy Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới là ý chí của cơ quan nhà nước trên cơ sở các quy định của pháp luật, đồng thời cũng dựa trên đặc trưng yếu tố của từng địa phương nơi có di sản thiên nhiên để chính sách đó phù hợp với từng vùng, miền nhằm phát huy mọi lợi thế để thu hút khách du lịch, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, góp phần bảo
vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên cho hoạt động du lịch hiện tại và đảm bảo cho các thế hệ mai sau tiếp tục được hưởng lợi
Thứ hai, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới
Quản lý Nhà nước dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để đề ra những chính sách, chiến lược quản lý du lịch cụ thể Do đó, nâng cao nội dung quản
Trang 35lý nhà nước để đưa vào thực tiễn có hiệu quả thì Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về quản lý du lịch di sản thiên nhiên thế giới Song song với việc đó, cơ quan ban hành văn bản cũng phải rà soát các văn bản quy phạm
đã bị lỗi thời, không phù hợp với tình hình hiện tại để đưa ra các văn bản mới điều chỉnh hoặc thay thế văn bản cũ đó Sự phát triển mạnh của hoạt động du lịch, kéo theo đó là số lượng khách du lịch ngày càng đông có thể ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến giá trị của các di sản thiên nhiên Do vậy, để có thể giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị của di sản thiên nhiên đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến du lịch di sản thiên nhiên, để đưa ra những chính sách, quy hoạch, kế hoạch… và dùng các công cụ này để quản lý
du lịch đối với di sản thiên nhiên một cách hiệu quả và bền vững Để các chính sách pháp luật đó được đưa vào cuộc sống thì đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung quản lý
đã đề ra Các cấp chính quyền địa phương nơi có di sản thiên nhiên thế giới phải có các biện pháp thực hiện một cách cụ thể như: tuyên truyền phố biến các chính sách pháp luật của nhà nước về di sản thiên nhiên thế giới cho người dân địa phương cũng như du khách thăm quan, giúp họ hiểu được vai trò quan trọng của di sản thiên nhiên, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, coi đó không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ phải thực hiện, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với di sản
Thứ ba, tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học , kết hợp với đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản thiên nhiên thế giới
Con người là nhân tố quyết định, trên thực tế đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan quản lý du lịch di sản thiên nhiên còn thiếu về số lượng
và yếu về chuyên môn nghiệp vụ Sự thiếu đồng bộ trong tổ chức và đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất rõ đến công tác phát triển du lịch cũng như bảo tồn và phát huy giá trị
di sản thiên nhiên cũng như tài nguyên du lịch Vì vậy quản lý du lịch về di sản văn hóa nói chung, di sản thiên nhiên thế giới nói riêng tập trung phát triển các hoạt động nghiên cứu khoa hoc, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là vấn đề then chốt, và cần được quan tâm thường xuyên Trình độ của đội ngũ cán bộ về quản lý di sản thiên nhiên
Trang 36thế giới được nâng cao thì khả năng quản lý để đảm bảo ngày càng thu hút khách du lịch cũng như bảo vệ, phát huy giá trị thiên nhiên của di sản hiệu quả hơn Theo đó phải chú trọng tổ chức nhiều khóa tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, hội thảo khoa học với sự tham gia của các chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau ở trong
và ngoài nước đã góp phần nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý du lịch di sản Đồng thời quan tâm cử một số cán bộ quản lý ra nước ngoài học tập, tham gia các cuộc hội thảo liên quan trực tiếp đến những vấn đề thiết yếu của quản lý du lịch tại các di sản thiên nhiên, để nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý di sản không chỉ tăng thêm kinh nghiệm, kiến thức, mà còn có dịp tiếp cận trực tiếp với cách thức nghiên cứu, quản lý hiện đại, khoa học và cách làm việc của chuyên gia nước ngoài
Thứ tư, hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới
Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước,
tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc bảo vệ môi trường và phát huy giá trị di sản trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế; góp phần bảo vệ môi trường, phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới tại di sản thiên nhiên vì nó là tài sản không chỉ của một địa phương, một quốc gia mà là của cả nhân loại
Nội dung hợp tác quốc tế về di sản thiên nhiên thế giới bao gồm: i) Xây dựng
và thực hiện chương trình, dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường thiên nhiên
và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới; ii) Tham gia các tổ chức và điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường và phát huy giá trị di sản thiên nhiên; Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường; Trao đổi các cuộc triển lãm giới thiệu về di sản thiên nhiên thế giới; Đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc bảo vệ môi trường thiên nhiên và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về di sản thiên nhiên thế giới
Đây là nhiệm vụ cơ bản trong nội dung công việc thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản Sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động du lịch tại các địa phương
Trang 37có di sản sẽ làm phát sinh tác động tiêu cực ảnh hưởng đến di sản như: Hoạt động
du lịch khai thác quá mức di sản thiên nhiên, kinh doanh hoạt động du lịch trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục địa phương, hành động gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước,… Do đó đòi hỏi cần phải có sự kiểm tra, thanh tra thường xuyên, việc chấp hành pháp luật, các nội quy, quy định đã được đề ra tại các khu di sản thiên nhiên để phòng ngừa và ngăn chặn ngay các hành vi tiêu cực có thể xảy
ra Đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm đối với di sản Giải quyết kịp thời mọi khiếu nại, tố cáo liên quan đến các chính sách, quy định và hoạt động liên quan đến di sản thiên nhiên tại địa phương
Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên là yếu tố quan trọng, vạch ra chiến lược, kế hoạch, quy hoạch
để giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản Dù ở góc độ nào, thì Nhà nước vẫn giữ được vai trò chủ đạo trên công tác quản lý Nhà nước dựa trên công cụ
là các quy phạm pháp luật để dùng quyền lực nhà nước phối hợp với nhân dân cùng thực hiện các chủ trương đã đề ra nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
di sản, không chỉ nhằm bảo vệ, phát huy giá trị di sản mà còn nhằm tôn vinh vẻ đẹp của di sản thiên nhiên, quảng bá vẻ đẹp đó cho bạn bè trên khắp thế giới Đó cũng là động lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta nói chung và ngành du lịch nói riêng phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý du lịch thiên nhiên thế giới theo hướng bền vững
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam
Trong khi việc tổ chức khai thác du lịch tại nhiều điểm di sản chưa thực sự hiệu quả, chưa tương xứng với giá trị thì việc khai thác di sản trên địa bàn Hội An (tỉnh Quảng Nam) trở thành điểm sáng Nhân rộng cách làm hiệu quả như Hội An cũng là một hướng đi mà các địa phương cần nghiên cứu
Tổng quan tình hình phát triển du lịch cho thấy, tại các địa phương có di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới, lượng khách du lịch có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mức độ phát triển về du lịch thể hiện qua lượng khách có sự khác biệt Ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế là hai địa phương
Trang 38có sự tăng trưởng khách cao so với các địa phương khác Với Huế, giai đoạn 2000 -
2012, lượng khách tăng khoảng 5 lần cùng với tổng thu nhập từ du lịch tăng khoảng
10 lần Quảng Nam là trường hợp đặc biệt, ngay sau khi được công nhận 02 di sản thì lượng khách đến năm sau đó đã tăng khoảng 4 lần, giai đoạn 2000-2012 lượng khắc quốc tế tăng khoảng 14 lần, khách nội địa tăng khoảng 50 lần, tổng thu nhập từ
du lịch tăng khoảng 35 lần Quảng Nam là điển hình cho việc khai thác giá trị di sản văn hóa phục vụ cho phát triển”
Báo cáo của Sở Văn hóa Thể thao và du lịch tỉnh Quảng Nam cũng cho biết: Năm 2014, Quảng Nam đón trên 2,8 triệu lượt khách du lịch, tăng 10,7% so với năm 2013, thu nhập xã hội từ du lịch đạt trên 3,5 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng thu nhập du lịch bình quân gần 30%/năm trong thời kỳ 2010 - 2014, đóng góp khoảng 10% vào GDP của toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2014, Quảng Nam đã đón hơn 1,6 triệu lượt khách, tăng 19, 58% so với cùng kỳ, thu nhập từ du lịch đạt 1.859
tỷ đồng, tăng 27.84% so với cùng kỳ năm trước Hội An đóng vai trò quan trọng, đồng thời cũng là điển hình trong việc giải quyết tốt vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị
di sản, điều hòa lợi ích của cộng đồng với các bên tham gia trong hoạt động du lịch, xây dựng được môi trường du lịch văn minh, lịch sự, thân thiện với du khách Hội
An không chỉ là thương hiệu du lịch của Quảng Nam mà còn là điểm đến của miền Trung Việt Nam nói riêng và điểm đến Việt Nam nói chung trên bản đồ du lịch thế giới Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tạp chí du lịch nước ngoài như Wanderlust (Anh), Condé Nast Traveler (Mỹ), Smart Travel Asia đã bình chọn cho Hội An các danh hiệu: Thành phố được yêu thích nhất trên thế giới; 1 trong 10 thành phố du lịch tốt nhất; Điểm du lịch hấp dẫn nhất châu Á
Ngày 18/6/2014 vừa qua, 4 điểm đến của Việt Nam là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hội An, Hạ Long được nhận giải thưởng Asia Destination Awards 2013 của website du lịch TripAdvisor bình chọn Hội An đứng thứ 17 trong 25 điểm du lịch hấp dẫn nhất của châu Á Để có được sự thành công này, Hội An có bí quyết gì đặc biệt? Đặc biệt là ở chỗ, Hội An đã có được sự đồng thuận trong từng hành động của nhân dân trong việc xem công tác bảo tồn di sản là hàng đầu khi khai thác di sản
Trang 39Khẳng định tiềm năng và lợi thế về du lịch, đồng thời nhận thức rõ giá trị của những di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Đô thị cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm) Những năm qua, Quảng Nam luôn xem bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá và phát triển du lịch bền vững là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Cùng với công tác bảo tồn, tôn tạo, trùng tu các giá trị di sản văn hóa vật thể là gìn giữ các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng và văn nghệ dân gian mang đậm chất văn hóa xứ Quảng Song song đó, tỉnh Quảng Nam cũng huy động cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa “Công tác phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch đã đạt được một số kết quả tích cực, tạo dựng được thương hiệu du lịch Quảng Nam mà đặc biệt là phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn” Thành phố Hội An đã quyết định hướng đi “Phát triển du lịch Hội An bền vững trên nền tảng gắn kết văn hoá và sinh thái” từ những thực tiễn trong quá trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch, như: Phát triển du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn văn hoá và môi trường; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản; Xây dựng sản phẩm du lịch văn hoá gắn với văn hoá du lịch; Quy hoạch hướng tới sự phát triển bền vững; Khoanh vùng di sản và giảm tốc quá trình đô thị hoá trong khu vực di sản; Giảm thiểu tốc độ thương mại hoá và tăng cường thông tin để nâng cao nhìn nhận ý thức của người dân và du khách… “Tôn trọng và nghiêm túc thực hiện công tác bảo tồn các giá trị văn hoá, giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường được coi là quyết định sống còn của du lịch” Việc đưa các di sản văn hoá, thiên nhiên thế giới vào phát triển du lịch nhưng vẫn bảo đảm được rằng, du lịch sẽ không làm ảnh hưởng, xâm hại tới di sản Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhà quản lý, cộng đồng và người làm du lịch thì rất cần chủ trương định hướng phát triển những hoạt động du lịch lựa chọn, có trách nhiệm Chính quyền tỉnh Quảng Nam xác định, di sản phải được quản lý hiệu quả, đem lại kết quả tích cực cho cả du lịch và di sản Bên cạnh việc xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng cao, vấn đề bảo vệ di sản, tạo mối quan hệ lợi ích hài hoà giữa các bên tham gia khai thác và bảo vệ di sản phải được đặt lên hàng đầu Chỉ có
Trang 40bảo vệ di sản một cách tốt nhất thì di sản mới đem lại lợi ích cho những người khai thác di sản Đây thiết nghĩ là bài học đơn giản nhưng không phải ở nơi nào cũng đã học tập và làm theo được một cách hiệu quả như Quảng Nam
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Bình
Vùng đất cố đô Ninh Bình gắn với tên tuổi và sự nghiệp của sáu vị vua thuộc
ba triều đại Đinh, tiền Lê, Lý và cũng là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt Cùng với những cảnh quan, danh thắng độc đáo, nơi đây lưu giữ nhiều di tích và các lễ hội văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc, lâu đời Đó là nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đồng thời là cơ sở để tỉnh lựa chọn phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Ngay từ năm 2009, Tỉnh ủy Ninh Bình đã có Nghị quyết riêng về phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và UBND tỉnh cũng ban hành kế hoạch thực hiện chủ trương, định hướng phát triển du lịch theo nghị quyết trên địa bàn tỉnh
Trong lĩnh vực du lịch, Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông Tuy nhiên, sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh khá nhanh, tạo nên các chuyển biến, giúp xây dựng và phát triển “ngành công nghiệp không khói” Từ chỗ năm
2007 mới chỉ có khoảng gần một triệu lượt du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, đến năm 2013, tỉnh đã đón 4,39 triệu lượt khách (tăng 99% so với năm 2009), trong đó có 521 nghìn lượt khách quốc tế, doanh thu năm 2013 đạt 897,4 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 37,63% so với năm 2009 Năm 2014, doanh thu từ du lịch ước đạt 942 tỷ đồng, tăng 5,1% so với năm 2013 và tổng lượng khách lưu trú tăng 21,5%
Trong điều kiện vốn ngân sách còn khó khăn, tỉnh đang thực hiện từng bước
xã hội hóa trong phát triển du lịch, tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật các tuyến giao thông và khu nghỉ dưỡng Đến nay, cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được đầu tư Từ năm 2009 đến năm 2014, tỉnh thu hút 33 dự án đầu tư vào cơ sở vật chất du lịch với số vốn đăng ký gần 13 nghìn tỷ đồng Đến nay, toàn tỉnh có 284 cơ sở lưu trú, trong đó có 38 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 3