Chương 3. XÂY DỰNG KẾT CẤU NHỊP CẦU BTCTa. Mục đích, yêu cầu: Mục đích: Trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về công nghệ thi công kết cấu nhịp cầu BTCT. Yêu cầu: Hiểu được các công việc và trình tự thi công, bóc tách, thống kê được khối lượng thi công kết cấu nhịp BTCT.
Trang 1CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KẾT CẤU NHỊP CẦU
BÊ TÔNG CỐT THÉP
3.1 Khái niệm chung
Kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) kết hợp khả năng chịu nén tốt của bê tông và khả năng chịu kéo lớn của thép đặc biệt là thép cường độ cao, cùng với khả năng dễ tạo hình, giá thành thấp hơn nhiều so với cầu thép cả đầu tư xây dựng mới và bảo dưỡng Vì vậy kết cấu BTCT được áp dụng chủ yếu trong các công trình cầu trên thế giới Kết cấu nhịp cầu
BTCT được thi công theo 2 phương pháp là đổ bê tông liền khối và lắp ghép
3.1.1.Phương pháp thi công đổ bê tông liền khối:
- Là phương pháp mà kết cấu nhịp được đúc liền mạch không có mối nối Để đảm
bảo tính liền khối có thể tiến hành đúc toàn khối tức là thi công hoàn chình toàn bộ kết
cấu trong một đợt đổ bê tông hặc chia chiều dài kết cấu nhịp ra làm nhiều đốt và đổ bê
tông lần lượt từng đốt, đốt nọ liền mạch với đốt kia gọi là phương pháp thi công phân đoạn hay chia kết cấu nhịp thành từng dầm được thi công riêng rẽ gọi là đúc phân phiến
- Thi công đúc liền khối, kết cấu nhịp có thể đổ bê tông tại chỗ hoặc không tại chỗ trong đó đổ bê tông tại chỗ là phổ biến
- Đúc tại chỗ là biện pháp thi công đổ bê tông liền khối kết cấu nhịp ngay tại vị trí thiết kế Thi công đúc tại chỗ được tiến hành theo phương pháp toàn khối trên đà giáo cố định nếu lượng thi công không lớn và do cấu tạo của kết cấu nhịp bắt bược phải theo Nếu khối lượng thi công lớn kết cấu nhịp phải cắt khúc và tiến hành thi công phân đoạn theo một trong những biện pháp sau:
Đúc trên đà giáo cố đinh
Đúc tại chỗ trên đà giáo đi động
Đúc đẩy
Đúc hẫng cân bằng
Trang 2Thuật ngữ:
Liền khối: Bê tông được gắn kết liên tục với nhau
Toàn khối: Bê tông đúc cùng một đợt
Đúc tại chỗ: Đúc ngay tại vị trí của kết cấu
Nguyên nhịp: cả nhịp nguyên khối
Phân phiến: Chia thành từng dầm
Phân đoạn: Chia thành từng đốt
3.1.1.1.Thi công theo phương pháp đà giáo cố định:
Hình 3 3 Mô hình thi công KCN bằng phương pháp đổ bê tông tại chỗ trên đà giáo cố
định
Đặc điểm của biện pháp:
- Đà giáo cố định bằng gỗ hoặc bằng thép bố trí ngay bên dưới của nhịp cần đổ bê tông Không đảm bảo tĩnh không dưới cầu, chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiêu( Địa hình, địa chất, thủy văn ) Khi muốn di chuyển tới vị trí khác phải tháo dỡ hoàn toàn Thi công bằng đà giáo cố định đòi hỏi lượng lớn chi phí và nhân công
- Thi công đúc trên đà giáo cố định rất nhạy cảm với biến dạng của đà giáo, dễ phát
Hình 3 2 Bố trí mặt bằng thi công KCN trên đà giáo cố định
Trang 3- Sau khi bê tông đã đủ khả năng chịu được trọng lượng bản thân mới được tiến hành
hạ giáo thời gian thi công kéo dài
- Ưu điểm: thi công khá thuận lợi, không cần tay nghề công nhân bậc cao
Phạm vi áp dụng:
- Thi công đổ bê tông trên đà giáo cố định có thể áp dụng cho tất cả các dạng kết cấu, mặt cắt và chiều dài nhịp tuy nhiên cần xem xét tới vấn đề kinh tế trong quá trình thi công.Phổ biến áp dụng chủ yếu cho các cầu có kết cấu tĩnh định, có tiết diện ngang không phức tạp, bề ngang hẹp với khẩu độ nhịp hợp lý ≤ 35m và cầu ít nhịp
3.1.1.2.Thi công đúc tại chỗ trên đà giáo di dộng MSS: Movable Scaffolding System
- Công nghệ này thuộc phương pháp đổ bê tông tại chỗ Sau khi thi công xong một nhịp, toàn bộ hệ thống ván khuôn và đà giáo được lao đẩy tới nhịp tiếp theo và bắt đầu công đoạn thi công như nhịp trước, cứ như vậy theo chiều dọc cầu cho đến khi hoàn thành kết cấu nhịp
- Đà giáo di động là hệ thống dầm thép hay giàn thép có chân kê lên các trụ chính đã xây dựng trước đó Trên các dầm này có hệ thống để treo ván khuôn hoặc đỡ ván khuôn
- Hệ thống đà giáo di động được phát triển từ hệ đà giáo cố định truyền thống Đối với cầu có kết cấu nhịp dài và điều kiện địa chất, địa hình phức tạp đòi hỏi xem xét về giá thành lắp dựng, tháo lắp hệ thống đà giáo và ván khuôn kết cấu dầm thì việc áp dụng công nghệ này giúp giảm tối đa giá thành lắp dựng và thời gian chu kỳ thi công bằng việc di chuyển toàn bộ hệ thống đà giáo, ván khuôn từ một nhịp đến nhịp tiếp theo
Hình 3 4 Thi công KCN bằng phương pháp đúc tại chỗ trên đà giáo di động - MSS
Đặc điểm công nghệ:
- Với công nghệ này trong quá trình thi công ta vẫn tạo được tĩnh không dưới cầu cho giao thông thủy bộ, mặt khác không chịu ảnh hưởng của điều kiện địa hình, thuỷ văn và địa chất khu vực xây dựng cầu
- Kết cấu nhịp cầu có thể thực hiện theo sơ đồ chịu lực là dầm giản đơn và liên tục nhiều nhịp với chiều cao dầm có thay đổi hoặc không thay đổi
Trang 4- Tuy nhiên các công trình phụ trợ của công nghệ này còn khá cồng kềnh: Giàn đẩy, trụ tạm, mũi dẫn nhưng với tính chất vạn năng của công nghệ có thể cải tiến được nhược điểm này như chế tạo: giàn cứng chuyên dụng dùng cho nhiều nhịp, nhiều kết cấu, kết hợp giàn cứng với mũi dẫn, thân trụ tạm lắp ghép và di chuyển được với trọng lượng nhỏ, dễ giàng tháo lắp khi thi công, có thể sử dụng cho công trình khác cùng quy mô
- Chiều dài nhịp thực hiện thuận lợi và hợp lý trong phạm vi từ 3560 m Chiều dài nhịp biên 0,8L Số lượng nhịp trong một cầu về nguyên tắc là không hạn chế vì chỉ cần lực đẩy dọc nhỏ và không tích lũy tiến qua các nhịp
Phạm vi áp dụng:
- Dễ giàng áp dụng cho các cầu với các loại sơ đồ kết cấu nhịp và các loại mặt cắt ngang (hộp đơn, hộp kép, Doube -T ) Đồng thời được áp dụng cho các loại dầm với chiều dài nhịp từ 18 80 m trong đó chiều dài áp dụng hợp lý 35 60m
- Chiều dài cầu thường được áp dụng từ 500 mét đến vài kilômét Trong trường hợp chiều dài cầu lớn hơn, có thể triển khai thi công nhiều mũi bằng việc bố trí thêm nhiều
hệ thống MSS
3.1.1.3.Thi công theo phương pháp đúc đẩy:
Hình 3 5 Thi công kêt cấu nhịp theo công nghệ đúc đẩy
- Đúc đẩy thuộc phương pháp đổ bê tông liền khối thuộc nhóm thi công phân đoạn nhưng không thực hiện tại chỗ mà kết hợp đúc liền khối và lao dọc trên đường trượt
- Kết cấu nhịp thi công theo phương pháp đúc đẩy được chia làm nhiều đốt bằng nhau và được đúc trên cùng 1 vị trí ở 1 phía của đầu cầu, đốt nào đúc xong rồi được đẩy
ra khỏi bệ đúc để lấy vị trí đúc đốt tiếp theo nối liền mạch với đốt trước, trước khi đẩy ra khỏi bệ đúc được kéo cốt thép DUL nối tiếp với các bó của đốt trước
Đặc điểm công nghệ:
- Mặc dù công nghệ có ưu điểm: thiết bị di chuyển cấu kiện khá đơn giản, tạo được tĩnh không dưới cho các công trình giao thông thủy bộ dưới cầu và không chịu ảnh hưởng lớn của lũ nhưng công trình phụ trợ lại phát sinh nhiều như: bệ đúc, mũi dẫn và trụ tạm…
- Chiều cao dầm và số lượng bó cáp DƯL nhiều hơn so với dầm thi công bằng công nghệ khác, mặt khác chiều cao dầm không thay đổi để tạo đáy dầm luôn phẳng nhằm đẩy trượt trên các tấm trượt đồng thời chiều dài kết cấu nhịp bị hạn chế do năng lực của
hệ thống kéo đẩy
Trang 5 Phạm vi áp dụng
- Cầu thi công bằng công nghệ này có kết cấu nhịp liên tục với khẩu độ nhịp lớn nhất hợp lý khoảng từ 35 - 60m Với công nghệ này khả năng tái sử dụng hệ thống ván khuôn, bệ đúc và kết cấu phụ trợ cao
3.1.1.4.Thi công theo phương pháp đúc hẫng:
- Đúc hẫng thuộc phương pháp đổ bê tông tại chỗ theo phân đoạn từng đợt, quá trình xây dựng kết cấu nhịp dần từng đốt theo sơ đồ hẫng cho tới khi nối liền thành các kết cấu nhịp cầu hoàn chỉnh Có thể thi công hẫng từ trụ đối xứng ra 2 phía hoặc hẫng dần từ bờ ra
Đặc điểm công nghệ:
- Việc đúc hẫng từng đốt trên đà giáo di động giảm được chi phí đà giáo Ván khuôn được dùng lại nhiều lần với cùng một thao tác lặp lại sẽ làm giảm chi phí nhân lực và nâng cao năng suất lao động
- Phương pháp đúc hẫng thích hợp với việc xây dựng các dạng kết cấu nhịp có chiều cao mặt cắt thay đổi, khi đúc các đốt dầm chỉ cần điều chỉnh cao độ ván khuôn đáy dầm cho phù hợp Mặt cắt kết cấu nhịp đúc hẫng có thể là hình hộp, bản chữ nhật hay dầm có sườn Việc thay đổi chiều cao tiết diện cho phép sử dụng vật liệu kết cấu một cách hợp
lý giảm được trọng lượng bản thân kết cấu và cho phép vượt các nhịp lớn (cầu Hamana
ở Nhật bản thi công đúc hẫng vựơt nhịp tới 240m)
- Trong trường hợp xây dựng các cầu có sơ đồ kết cấu hợp lý thì quá trình đúc hẫng tạo ra sự phù hợp về trạng thái làm việc của kết cấu trong giai đoạn thi công và giai đoạn khai thác Điều này làm giảm số lượng các bó cáp phục vụ thi công dẫn đến việc hạ giá thành công trình do không phải bố trí và căng kéo các bó cáp tạm thời
- Phương pháp thi công hẫng không bị phụ thuộc vào không gian dưới cầu do đó có thể thi công trong điều kiện sông sâu, thông thuyền hay xây dựng các cầu vượt qua thành phố, các khu công nghiệp mà không cho phép đình trệ sản xuất hay giao thông dưới công trình
- Tuy nhiên việc đúc hẫng kết cấu trong điều kiện hẫng kém ổn định, mặt bằng chật hẹp đòi hỏi phải có trình độ tổ chức tốt, trang thiết bị đồng bộ, cũng như trình độ công nhân phù hợp mới có thể đảm bảo chất lượng công trình
Phạm vi áp dụng
- Phương pháp này có thể áp dụng thích hợp để thi công các kết cấu nhịp cầu liên tục cầu dầm hẫng, cầu khung hoặc cầu dây xiên có dầm cứng BTCT dạng mặt cắt thường là hình hộp Đối với cầu dầm có thể xây dựng nhịp dài từ 70 - 240m, nếu là cầu dây xiên dầm cứng có thể vượt nhịp từ 200 - 350m
Trang 6Bảng 1.1 Tóm tắt đặc điểm chủ yếu các công nghệ
3.1.2.Phương pháp thi công lắp ghép:
- Biện pháp thi công lắp ghép sử dụng các cấu kiện từ nơi khác đưa đến nối ghép lại thành kết cấu nhịp bằng mối nối thi công có gắn bằng vữa bê tông hoặc không gắn vữa nhưng có nối cốt thép
- Các cấu kiện đúc sẵn là bộ phận kết cấu nhịp được chế tạo trong xưởng hoặc ngay trên bãi đúc công trường
- Theo hình thức phân chia kết cấu nhịp thành các cấu kiện đúc sẵn có 2 phương pháp
là phân đốt và phân phiến
Phương pháp phân phiến là KCN được phân ra thành từng dầm, từng bản riêng có chiều dài bằng nguyên 1 nhịp được chế tạo sẵn và lắp đặt trên gối sau đó được nối với nhau bằng các mối nối dọc cầu Mối nối giữa các cấu kiện phân phiến được thực hiện bằng mối nối kho hoặc ướt Mối nối ướt có để cốt thép chờ là cốt thép thường
và sử dụng đổ lấp bằng vữa bê tông, mối nối khô là mối nối bằng cốt thép UST hoặc
là hàn nối các bản thép được đặt sẵn không cần đổ lấp bê tông chỉ gắn bằng vữa bê tông mác cao
Phương pháp phân đốt KCN hoặc dầm chủ được chia thành nhiều đốt ngắn đúc sẵn sau đó ghép lại với nhau thành nhịp nguyên vẹn tại chỗ hoặc thành phiến dầm bằng những mối nối ngang, ở mối nối ngang giữa những cấu kiện phân đốt bắt bược phải nối cốt thép DUL nhưng có thể không cần cốt thép thường
Trang 7Thi công lắp ghép các phiến dầm đúc sẵn
Thi công dầm cắt khúc sâu táo
Thi công lắp hẫng
Thi công lắp đẩy
Thi công toàn nhịp: Full span
3.1.2.1.Thi công lắp ghép các phiến dầm đúc sẵn
a, Thi công lao lắp bằng cần cẩu:
- Các cấu kiện đã chế tạo sẵn trong xưởng hoặc trên bãi đúc, sau khi vận chuyển ra ngoài công trường sử dụng cần cẩu đưa vào vị trí trên đỉnh trụ
Đặc điểm công nghệ:
- Tiến độ thi công nhanh chóng rút ngắn thời gian thi công, tính kinh tế cao
- Không phải xây dựng hệ đà giáo trụ tạm
- Tốn chi phí lắp dựng bãi đúc đầu cầu và bố trí đường công vụ
- Cần cẩu phải có đủ sức nâng cần thiết
Áp dụng:
- Khi thi công KCN giản đơn
- Có vị trí đứng cho cần cẩu để lấy các cụm dầm và đặt lên nhịp
Hình 3 6 Thi công KCN bằng phương lao lắp bằng cần cẩu
- Theo vị trí cẩu phân loại có 2 phương pháp thi công:
Cẩn cẩu chạy trên
Cầu cẩu chạy dưới
b,Thi công lao lắp bằng giáo lao( giá 3 chân, giá long
môn ) :
- Các cấu kiện đã chế tạo sẵn trong xưởng hoặc trên
bãi đúc, sau khi vận chuyển ra ngoài công trường tới vị
Trang 8trí giá, sử dụng giá nhấc đưa vào vị trí
Hình 3 8 Thi công lao lắp bằng giá long môn
Hình 3 9 Thi công lao lắp bằng giá Pooc tic
Trang 93.1.2.2.Thi công dầm cắt khúc sâu táo
- Kết cấu nhịp được chia thành nhiều đốt đúc sẵn, khi lắp ráp các đốt đồng thời treo lên tại vị trí nhịp bằng giá lắp rồi luồn cốt thép qua các rãnh kín và căng kéo các đốt lại với nhau bằng mối nối mộng ghép chống cắt mà không cần một chất kết dính nào
- Đặc điểm của dầm thi công theo biện pháp cắt khúc sâu táo là dầm có chiều cao không đổi, sơ đồ kết cấu giản đơn hoặc liên tục Chiều dài nhịp từ 35-60m
- Biện pháp phù hợp với dạng cầu vượt, cầu cạn, yêu cầu thi công ít ảnh hưởng tới không gian dưới cầu hoặc cần tiến độ thi công nhanh
Hình 3 10 Thi công lao lắp bằng giá 3 chân
Trang 10Hình 3 11 Thi công kết cấu nhịp đường sắt đô thị 1- Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến
Thành – Suối Tiên theo công nghệ sâu táo
3.1.2.3.Thi công lắp hẫng
- Lắp hẫng cân bằng về nguyên tắc được thực hiện tương tự như đúc hẫng tức là kết cấu được chia thành nhiều đốt và lần lượt lắp nối lại với nhau đối xứng qua mặt cắt đỉnh trụ, việc khác nhau là các đốt dầm đã được đúc sẵn
Trang 11Hình 3 12 Thi công kết cấu nhịp theo phương pháp lăp hẵng cân bằng
- Đặc điểm của phương pháp: Giống như phương pháp đúc hẫng cân bằng, tuy nhiên kết cấu bê tông được đúc sẵn trong xưởng nên chất lượng tốt hơn Đối với kết cấu lắp ghép vấn đề đảm bảo hình dạng kết cấu nhịp chính xác và ép xít với nhau giữa các đốt dầm cần phải được chú trọng
- Dựa vào hình thức sử dụng phương tiện cẩu lắp mà chia thành 3 biện pháp nhỏ:
Lắp hẫng bằng cẩu công xon
Hình 3 13 Lắp hẫng bằng cẩu công xon
Trang 12Lắp hẫng bằng giá lao
Hình 3 14 Lắp hẫng bằng giá lao
Lắp hẫng bằng cần cẩu tay với
Hình 3 15 Lắp hẫng bằng cần cẩu tay với
Trang 133.1.2.5 Thi công toàn nhịp: Full span
- Đối với các nhịp dầm giản đơn thi công theo phương pháp lắp ghép người ta thường chia kết cấu nhịp thành nhiều phiến dầm hoặc các đốt dầm nhỏ với khối lượng không vượt quá 80 tấn để có thể sử dụng các dạng giá lao cầu kể trên khi lao lắp Tuy nhiên đối với những cầu có chiều dài nhịp dẫn lớn hoặc khi xây dựng những cấu trên cạn với rất nhiều nhịp liên tiếp nhau Hiện nay người ta lại thiên về việc sử dụng một phiến dầm hộp cho cả mặt cắt ngang cầu, chiều dài một nhịp có thể lên tới 55m, khi đó trọng lượng của mỗi dầm 600-900 tấn kỷ lục là dầm cầu vượt vịnh Hàng Châu – Trung Quốc 1430 tấn
- Để thi công toàn nhịp có trọng lượng lớn cần đòi hỏi năng lực của thiết bị cẩu lắp Dựa vào hình thức thiết bị cẩu lắp chia thành 2 biện pháp:
Lắp ghép bằng giá 3 chân:
a, Kiểu có chân chống giữa cố định
b, Kiểu có chân chống giữa co lên
Hình 3 16 Lắp ghép bằng giá 3 chân:
Lao lắp bằng giá 2 chân:
Hình 3 17 Lao lắp bằng giá 2 chân:
Trang 143.2 Xây dựng kết cấu nhịp cầu BTCT theo phương pháp đổ tại chỗ
- Thi công kết cấu nhịp cầu BTCT theo phương pháp đổ bê tông tại chỗ bao gồm các
công nghệ sau:
Đúc phân đoạn trên đà giáo cố đinh
Đúc tại chỗ trên đà giáo đi động
Công tác bê tông
3.3.2 Đà giáo cho xây dựng KCN
3.3.2.1.Khái niệm chung
- Đà giáo là hệ thống kết cấu phụ trợ phục vụ công tác xây dựng Đà giáo thường có cấu tạo là hệ khung chống bằng thép hoặc gỗ Đà giáo có nhiệm vụ đỡ lấy trực tiếp ván đáy của ván khuôn tạo nên hình dạng đáy dầm do đó đá giáo phải có cấu tạo đủ cứng và có hình dạng đường biên mặt phù hợp với hình dạng thiết kế của đáy dầm Trong quá trình thi công đúc kết cấu bê tông thì bê tông rất nhạy cảm với biến dạng của đà giáo( do trọng lượng bản thân, tải trọng bê tông dầm, tải trọng thi công) nên trong quá trình lắp dựng phải tiến hành tạo độ vồng trước cho đà giáo
- Đà giáo còn làm nhiệm vụ tạo mặt bằng thuận lợi để thi công
- Sau khi bê tông đã đủ khả năng chịu tải trọng bản thân thì tiến hành tháo dỡ đà giáo nhẹ nhàng không gây ra bất cứ chấn động nào
Phân loại đà giáo:
- Theo cấu tạo, đà giáo phân làm bốn loại :
Loại 1- Đà giáo cố định là loại đà giáo được lắp dựng tại chỗ và khi di chuyển đến
vị trí sử dụng khác phải tháo dỡ hoàn toàn
Loại 2- Đà giáo mở rộng trụ, là một dạng đặc biệt của đà giáo cố định nhưng được lắp tạm vào hai phía trụ cầu, tựa hoàn toàn hoặc một phần lên kết cấu trụ
Loại 3- Đà giáo di động là loại dà giáo có khả năng di chuyển đến vị trí sử dụng mới màkhông cần tháo dỡ hoàn toàn
Loại 4- Đà giáo treo là đà giáo mà kết cấu chính của nó để đỡ kết cấu nhịp cầu nằmphía trên Đà giáo treo được sử dụng với mục đích để dễ di chuyển và thuộc loại đà giáodi động
- Trong nội dung phần này sẽ đi sâu vào tìm hiểu cấu tạo đà giáo cố định Đối với các loại đà giáo khác sẽ được trình bày ở các nội dung sau
Trang 15a, Đà giáo di động
b,Đà giáo mở rộng trụ
Hình 3 18 Một số dạng đà giáo thi công cầu
- Theo Vật liệu làm đà giáo có 2 loại: Bằng thép và bằng gỗ
Đà giáo bằng gỗ: Loại này thường được chế tạo, lắp dựng tại chỗ Sau khi thi công xong, lại tháo rời Loại đà giáo này rất tốn vật liệu và nhân công chế tạo, lắp dựng nhưng tận dụng được vật liệu tại chỗ đối với công trình xây dựng khu vực trung du, miền núi
Đà giáo bằng thép: Chắc chắn, chịu lực tốt, khấu hao ít, sử dụng được nhiều lần Các bộ phận được lắp ráp bằng bu lông hoặc bằng chốt thép nên tháo lắp nhanh chóng, ít
hư hỏng Loại đà giáo này hiện nay được sử dụng phổ biến, phù hợp với các công trình lớn, các đơn vị thi công chuyên nghiệp
3.3.2.2 -Yêu cầu về đà giáo
- Đà giáo là công trình tạm thời sau khi thi công xong sẽ tiến hành tháo bỏ nên cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau: cấu tạo đơn giản, gọn nhẹ, dễ tháo lắp, có khả năng chịu lực theo yêu cầu Đà giáo phải có hiệu quả kinh tế cao Chi tiết như sau
Đà giáo có cấu tạo đơn giản để dễ kiểm soát nội lực và biến dạng, nên sử dụng kết cấu vạn năng Đà giáo phải đủ độ cứng, độ ổn định theo yêu cầu ví dụ như độ võng không vượt quá 1/400
Kết cấu dễ lắp dựng và tháo dỡ thể hiện ở chỗ từng cấu kiện phải nhẹ có thể mang vác bằng thủ công, liên kết bằng bu lông hoặc chốt Lắp dựng và tháo dỡ dễ dàng
c,Đà giáo treo
Trang 16đẩy nhanh tiến độ thi công và tốc độ quay vòng sử dụng vì vậy tiết kiệm chi phí sử dụng
Đà giáo phải được sử dụng nhiều lần Đối với loại sử dụng một lần nên tận dụng được vật liệu tại chỗ
Trước khi đưa đà giáo vào sử dụng thường phải tiến hành chất tải trước để khử các biến dạng không đang hồi
Với trụ tạm nên phân biệt giữa móng tạm và trụ tạm để kiểm soát được sự làm việc của từng bộ phận và dễ tháo dỡ sau này, không lên đóng cọc cao đỡ ngay vào dầm thay cho trụ
Hạn chế số lượng các điểm kê giữa dầm chịu lực và trụ đỡ, những điểm kê này bố trí đối xứng nhau qua mặt cắt giữa nhịp và qua đường tim cầu, kết hợp điểm kê với thiết bị hạ đà giáo
Đối với công trình xây dụng cho phép lưu thông phía dưới cần phải đảm bảo yêu cầu về tĩnh không xây dựng
3.3.2.3 Cấu tạo đà giáo:
Ván sàn: Bằng gỗ hoặc bằng tôn, bằng thép tấm Trên đó đặt ván khuôn kết cấu và
là nơi làm việc của người thi công
a, Đà giáo gỗ:
- Đà giáo gỗ dễ gia công, lắp đặt nhưng do gỗ có cường độ thấp nên vượt qua khẩu độ nhỏ Đà giáo gỗ không bền, số lần sử dụng thấp Ngày nay gỗ rừng rất khan hiếm, chủ yếu
là gỗ vườn Vì vậy đà giáo gỗ chỉ nên dùng với công trình nhỏ, đơn lẻ
- Giàn giáo cố định loại đơn giản nhất là giàn giáo kiểu cột đứng( trụ palê gỗ đơn), khoảng cách giữa các palê thay đổi từ 2 4m (hình 3.19 a ) Khi cầu cao, palê phải bố trí dày, do đó tốn gỗ đồng thời trong thời gian thi công thuyền bè không qua lại được, cho nên cũng có thể dùng giàn giáo thanh chống xiên dạng tam giác hoặc hình thang (hình 3.19 b
và c) Khoảng cách giữa các cột sẽ tăng từ 6 8m Để giữ ổn định cho cột dài sử dụng các thanh ốp chép liên kết theo cả phương dọc và ngang cầu
Trang 17Hình 3 19 Cấu tạo một số dạng đà giáo gỗ
- Mặt cắt ngang giàn giáo có cấu tạo tuỳ theo bề rộng cầu và số lượng dầm chủ Các cột đứng luôn luôn phải bố trí ứng với dầm chủ Hình 3.20 giới thiệu cấu tạo một loại giàn giáo
gỗ cố định tính từ trên xuống có các bộ phận sau: ván đáy dầm chủ, dầm ngang, dầm dọc, thiết bị hạ giàn giáo và palê gồm xà mũ, cột đứng, chân chống và các thanh ốp chéo Các vì palê có thể kê trực tiếp trên nền đất tốt, nếu nền đất yếu phải kê trên nền cọc
Trang 18- Áp dụng đà giáo gỗ khi xây dựng công trình ở khu vực trung du, miền núi, Thiếu đà giáo vạn năng và khẩu độ cầu là nhỏ thường áp dụng với kết cấu cầu bản đặc
- Đối với công trình mà chiều cao trụ tạm thấp có thể không cần sử dụng pale mà đặt kết cấu dầm dọc hoặc dàn lên trụ là rọ đá
Hình 3 22 Đà giáo trụ lồng đá
b, Đà giáo thép
Hình 3 21 Đà giáo gỗ – trụ pale kép
Trang 19Trường hợp cần vượt khẩu độ lớn, tải trọng tác dụng lên đà giáo rất nặng có thể dùng các dàn thép làm dầm đà giáo
- Đà giáo thép có 2 loại:
Kết cấu phi tiêu chuẩn: Sử dụng các loại thép hình, thép ống hoặc dàn để liên kết thành các trụ đơn hoặc liên kết với nhau thành trụ không gian
Hình 3 23 Đà giáo phi tiêu chuẩn
Kết cấu vạn năng sử dụng là kết cấu cạn năng УИКМ, МИК, dàn bailey hoặc dạng
tương tự lắp thành khung không gian Trên đỉnh các cột của trụ bố trí thiết bị hạ đà giáo và dung dầm thép hình I để làm xà mũ để đỡ lấy dầm dọc của đà giáo
Hình 3 24 Đà giáo sử dụng kết cấu vạn năng
Trang 20- Đà giáo xây dựng trên cạn, địa chất tốt có thể sử dụng đà giáo dạng khung thép rải dầy
Đà giáo thường sử dụng là kết cấu cạn năng УИКМ, МИК, dàn bailey
Hình 3 25 Đà giáo dạng trụ rải dầy
- Đối với các công trình xây dựng ngập nước do điều kiện thi công không thuận lợi, khối lượng san ủi mặt bằng lớn thay dạng đà giáo rải dầy bằng hệ thống trụ tạm + dầm chủ Cấu tạo chung của một đà giáo cố bao gồm : các trụ tạm, dầm chủ, các điểm kê của dầm chủ lên trụ tạm, bố trí giữa điểm kê và xà mũ các thiết bị hạ đà giáo Trên hệ dầm chủ là các dầm ngang truyền tải trọng từ trên mặt sàn công tác lên các dầm chủ Mặt sàn công tác bao gồm ván lát và các thanh nẹp ván, lan can bảo hiểm và hệ thống thang lên xuống từ mặt sàn đến đỉnh trụ tạm
Hình 3 26 Cấu tạo đà giáo cố định sử dụng trụ tạm bằng thép
- Kích thước của đà giáo :
Chiều dài đà giáo là khoảng cách nằm lọt giữa xà mũ trụ và mố hoặc hai xà mũ trụ Khẩu độ của dầm chủ phụ thuộc vào khả năng chịu lực và chiều dài hiện có của dầm Dầm
I định hình thường có chiều dài chế tạo 12 - 12,5m Căn cứ vào chiều dài của dầm chủ để
bố trí các trụ tạm
Cao độ của mặt sàn lấy theo cao độ của đáy dầm chủ kết cấu nhịp sau khi đã trừ đi
độ võng của đà giáo và độ co lún của trụ tạm do trọng lượng của nhịp và trọng lượng bản
Trang 21theo khổ giới hạn thông thuyền của cấp sông Đối với cầu vượt qua đường giao thông đang hoạt động kể cả đường sắt và đường bộ chiều cao tính từ mặt xe chạy đến đáy đà giáo là 4,5m
Chiều rộng của đà giáo theo yêu cầu về mặt bằng thi công trên sàn công tác, chiều rộng này bằng chiều rộng của mặt cầu cộng với mỗi bên 70cm chiều rộng đường người đi
để đảm bảo yêu cầu về an toàn lao động, lối đi lại này có lan can phòng hộ ở hai bên chiều cao 90cm và không bị bất cứ kết cấu nào cản trở
Căn cứ vào điều kiện chịu lực và yêu cầu về tĩnh không, dầm chủ đà giáo có thể làm bằng các bó dầm I số hiệu từ 300 đến 910, chiều cao dầm chủ chọn tỷ lệ 1/12-1/15 khẩu độ làm việc thông thường sử dụng loại I300-I550 do có trọng lượng vừa phải trong điều kiện cần thiết có thể di chuyển bằng thủ công , hoặc là kết cấu dạng dàn được lắp từ các thanh của bộ kết cấu vạn năng УИКМ, МИК hay dầm quân dụng Bailey Kết cấu vạn năng này
xem trong giáo trình Thi công cầu tập 1 của tác giả Chu Viết Bình Khi chọn chiều cao
dầm chủ ngoài điều kiện chịu lực còn phải xét tới khoảng cách còn lại từ đỉnh trụ tạm và đáy dầm sao cho đủ chiều cao bố trí gối kê tạm hoặc thiết bị hạ đà giáo
c, Cấu tạo trụ tạm cũng bao gồm: móng tạm, thân trụ và xà mũ trụ
Móng tạm có hai loại : móng khối trên nền thiên nhiên và móng cọc
Móng khối trên nền thiên nhiên dùng cho những trường hợp nền đất từ loại cát hạt thô và sét pha nửa cứng trở lên, không bị ngập hoặc ngập nông Nếu nền đất là cát nhỏ bão hòa nước hoặc đết sét dẻo cần gia cố bằng cách đóng cọc tre Móng khối làm bằng rọ đá xếp chồng lên nhau, kích thước đáy móng sao cho áp lực đáy “p” không vượt quá 0.3 Mpa Trên mặt bệ móng đặt tà vẹt để liên kết với thân trụ
Hình 3 27 Cấu tạo móng khối trụ tạm
Móng cọc dùng cọc gỗ hoặc cọc thép Hiện nay ít dùng cọc gỗ mà phổ biến là dùng cọc thép bằng các thanh ray cũ hoặc cọc thép chữ H, cọc ống thép Những móng cần sức chịu tải lớn có thể dùng cọc BTCT và đổ bê tông bệ cọc
Trang 22Hình 3 28 Cấu tạo móng cọc trụ tạm
Bệ móng cọc tạm bằng thép thông thường được cấu tạo theo dạng xà mũ Trước hết
dùng dầm I gác trên các đầu cọc đóng thẳng hàng và liên kết bằng bu lông hoặc hàn vào
các đầu cọc Những dầm này vừa có vai trò giằng các đầu cọc vừa là đà ngang truyền lực
lên cọc Bên trên hàng dầm ngang đầu cọc đặt các bó dầm I làm thành mặt sàn để dựng
thân trụ Nhất thiết phải bố trí cao độ của mặt sàn cao hơn MNTC 0,5m để lắp dựng trụ
được thuận lợi, đồng thời bảo vệ kết cấu palê, sử dụng được nhiều lần
Cấu tạo của thân trụ:
Trụ bằng gỗ, sử dụng gỗ cây có đường kính gốc d= 18-28 cm hoặc gỗ xẻ kích
thước,8x10, 10x16 Gỗ cây làm xảm hai cạnh để tạo cạnh bằng, những cây làm giằng chéo
thì có thể bổ đôi Các thanh gỗ ghép sắn thành khung hình thang, không bị biến hình, đủ
cứng và chắc chắn có thể chịu lực độc lập gọi là palê đơn Các palê đơn ghép đôi với nhau
bằng liên kết ngang thành palê kép Một kết cấu trụ có thể sử dụng một hoặc hai palê kép
tùy thuộc vào tải trọng tác dụng Để chống lực xô ngang có thể bổ sung thêm các thanh
chống ở hai bên trụ
Trụ bằng thép được chế tạo từ các thanh thép hình,I, [, L và cũng liên kết thành từng
khung phẳng gọi là palê thép hoặc sử dụng kết cấu vạn năng Những đơn vị thi công cầu
chuyên nghiệp thường luôn Chân đế của khung palê thép đặt trên các tà vẹt gỗ liên kết vào
mặt sàn của móng tạm, để có thể chịu được lực nhổ khi bị xô ngang
Cấu tạo xà mũ:Xà mũ của trụ pa lê là dầm chịu uốn để gối các dầm chủ đà giáo
Nếu trụ tạm lắp từ các thanh của bộ kết cấu vạn năng hoặc bằng thép thì xà mũ phải
được đặt trên hệ dầm truyền lực và các con kê bằng gỗ hoặc thép để sao cho lực chỉ truyền
lên trụ thông qua các nút của dàn vì các thanh chỉ làm việc chịu kéo nén dọc trục, không
chịu uốn
Cấu tạo xà mũ trụ tạm gỗ sử dụng các thanh gỗ xẻ làm xà mũ Xà mũ được liên kết
Trang 233.3.2.4.Chất tải đà giáo
- Mục đích:
Phát hiện những biến dạng dư dư
của đà giáo
Phát hiện những vị trí xung yếu,
điểm chèn lỏng, hẫng kịp thời điều chỉnh
Lường trước sự cố xảy ra
Là tải trọng chất thử còn làm nhiệm
vụ tải trọng dằn trước, ngăn ngờ chuyển vị
đà giáo trong khi vữa bê tông ninh kết
- Tải trọng chất thêm nếu được dỡ đi
ngay sau khi thử tải có thể sử dụng khối bê
tông đúc sẵn, bao xi măng hoặc các phao
nước Nếu tải trọng chất thêm được dỡ đi
dần trong quá trình đổ bê tông thì sử dụng
các vật liệu rời có thể di chuyển bằng thủ
công như bao xi măng, đá hộc
- Tải trọng chất lên:
Q=1,25P nhịp đúc + P ván khuôn + P thi công
- Trình tự chất tải:
50%+ 30% + 20%
- Bố trí theo dõi chuyển vị đà giáo ở các vị trí:
Trên mặt sàn đà giáo ngay phía ở trên mỗi điểm kê
Trên đỉnh trụ tạm hai phía thượng và hạ lưu cầu
Ở các góc và tim của bệ móng trụ tạm
- Thời gian quan trắc 5-7 ngày tùy theo mức độ phức tạp của địa chất móng và thời
gian chất đủ tải
- Tại những vị trí chịu lực chính bố trí thiết bị đo ứng suất
- Trong giai đoạng 20% tải trọng cuối cùng không để người có mặt trên và dưới đà
giáo
- Dỡ dần tải đối xứng từ hai đầu vào giữa nhịp, trong quá trình dỡ tải vẫn tiến hành
quan trác chuyển vị võng trở lại của đà giáo để xác định biến dạng dư Khi sử dụng tải trọng dàn lên trên đà giáo thì giữ khoảng 50% tổng số tải trọng thử
3.3.2.5 Tính toán đà giáo:
Các tải trọng tác dụng lên đà giáo:
Trọng lượng bản thân của kết cấu nhịp dầm bê tông: Bê tông 2500kG/m3, cốt thép lấy theo bản vẽ hoặc có thể lấy 100kG/m3
Trọng lượng bản thân của đà giáo: Lấy theo bản vẽ khối lượng riêng của gỗ lấy
khoảng 700-750kG/m3 của thép lấy 7850kG/m3
Tải trọng thi công do người, dụng cụ và các thiết bị nhỏ:
Lấy bằng 200kG/m2 đối với đà giáo khẩu độ <60m
Lấy bằng 10kG/m2 đối với đà giáo khẩu độ ≥60m
Lực xung kích do dầm: lấy bằng 200kG/m 2
Tải trọng gió, nước
Hình 3 29 Chất tải và quan trắc đà giáo
Trang 24 Hệ số tải trọng
Bảng 2- 1
Nguyên lý tính toán
- Căn cứ vào kết cấu để mô hình hoá theo tầm quan trọng của những trạng thái xét mô hình
đơn giản hay phức tạp, nói chung mô hình hoá theo sơ đồ đơn giản, thiên về an toàn Thường đưa sơ đồ không gian về sơ đồ phẳng có tính đến hệ số phân bố ngang
Trạng thái giới hạn:
- Trạng thái giới hạn cường độ và ổn định
Khi tính với trạng thái giới hạn cường độ thì nhân thêm hệ số tải trọng + tải trọng xung kích
Khi tính với trạng thái ổn định không xét với xung kích
Tính duyệt các cấu kiện đà giáo theo các trường hợp chịu kéo, nén hoặc có thể uốn
Trang 25đặt cao hơn cao độ thiết kế đáy dầm một khoảng nhất định Độ cao hơn đó được gọi là độ
vồng dự trữ của đà giáo
-Nội dung tính toán
+Co ngắn đàn hồi của cọc hay cột đà giáo (1):
l-Chiều dài tính toán của cọc hay cột đà giáo
-Ứng suất nén trong cọc hay trong cột đà giáo
E-Mô đuyn đàn hồi của vật liệu làm cọc hay cột
+Biến dạng của dầm hay dàn KCN đà giáo gối giản đơn trên vì giá, tính cho điểm giữa nhịp (2):
Khi là dầm
EJ
l q
.384
q-Lực rải đều trên dầm hoặc trên dàn (kG/m)
J-Mô men quán tính của dầm hay dàn, tính cho tiết diện giữa nhịp
k -Số chỗ tiếp xúc giữa thép với gỗ
+ Biến dạng của các thiết bị hạ đà giáo (4):
Với các loại nêm: 4 0 , 2k 0 , 1k' (cm)Với hộp cát: 4 0,5 (cm)
+Độ lún của đất nền (5):
Kê trực tiếp trên đất nền: 3 = 1cm
Cọc, cột đóng đến độ chối, hoặc kê trên bộ phận công trình khác: 5 = 0
+Độ võng tương đối của bản thân kết cấu nhịp cầu, dưới tác dụng của tải trọng bản thân và
½ hoạt tải gây ra (6): Lấy theo số liệu thiết kế
i i
Trang 263.3.2.6.Thiết bị hạ đà giáo
a-Loại bằng gỗ
- Có nhiều loại: nêm gỗ 2 mảnh, nêm gỗ 3 mảnh, ngựa gỗ, Sau đây chỉ trình bày
về nêm gỗ hai mảnh và ngựa gỗ – loại được sử dụng phổ biến nhất:
Trong đó: - Góc nội ma sát của gỗ
tg = 1/6 1/10 Rem – Cường độ chịu ép mặt tính toán của gỗ làm nêm
1- Mảnh gỗ trên 2-Mảnh gỗ dưới 3-Đinh đỉa
b-Bề rộng của nêm l – Chiều dài mặt tiếp xúc P-Tải trọng tác dụng lên
nêm
- Thao tác: Tháo đinh đỉa Lấy búa gõ vào đầu nhỏ của miếng gỗ trên Miếng gỗ trên
sẽ trượt xuống theo đường trượt l Chiều cao của nêm giảm, làm tách rời KCN đà giáo
Nếu nêm bị kẹt, có thể dùng nước xà phòng đặc cho vào mặt tiếp xúc giữa hai miếng gỗ
- Ưu, nhược điểm của nêm gỗ hai mảnh: Ưu điểm lớn nhất là có cấu tạo đơn giản, dễ thao tác
- Nhược điểm: Không điều chỉnh tốc độ hạ đà giáo theo ý muốn, chịu lực kém
Ngựa gỗ ( Guốc gỗ)
- Ngựa gỗ có cấu tạo như hình vẽ sau Khi muốn hạ đà giáo, dùng dao hoặc cưa cắt theo các đường I-I, II-II, mục đích là làm a giảm Dưới tác dụng của P, ngựa gỗ sẽ bị phá hoại, chiều cao thiết bị giảm, tách rời KCN đà giáo ra khỏi hệ thống ván khuôn Tuy nhiên,
do phạm vi chặt hẹp, rất khó thao tác, lưỡi cưa dễ bị kẹ và cũng không điều chỉnh được tốt
độ hạ đà giáp Do vậy, rất hạn chế dùng thiết bị này
Hình 3 30 Cấu tạo nêm gỗ 2 mảnh
Trang 27
Hỡnh 3 31 Cấu tạo ngựa gỗ
I-I, II-II - Đường cắt
a,b,l – Kớch thước tớnh toỏn ngựa gỗ
Điều kiện:
u
em
R b
l P c
R b
P a
.2
3
.2
- Gồm 1 ống thộp đổ đầy cỏt khụ và lốn chặt, đố lờn cỏt là trục cú đường kớnh nhỏ hơn
đường kớnh hộp cỏt 1cm Nguyờn tắc làm việc tương tự như kớch thủy lực, nhưng sử dụng vật liệu rời cú gúc nội ma sỏt lớn thay cho chất lỏng như vậy sẽ trỏnh được tổn thất và an toàn trong sử dụng
- Cỏt sử dụng là loại cỏt thạch anh hoặc silic hạt mịn và sạch để dễ chuyển động và chịu
ỏp lực tới 200kg/cm2 Trước khi đổ cỏt vào hộp phải rang khụ, trong quỏ trỡnh thi cụng phải chống ấm cho cỏt trong hộp bằng mỏi che mưa hoặc nhồi xơ gai,mat tit hay bitum vừa giữa hộp và pittụng
b a
5-Máttít bitum-xơ gai6-Chân đế
h-Chiều cao hạ
D = d+1cm
Hỡnh 3 32 Cấu tạo hộp cỏt
Trang 28- Sau một hiệu lệch, cùng một lúc tháo bỏ các van tháo (4) Bấm giờ, lượng cát chảy ra ở
các hộp cát là như nhau Các hộp cát được hạ xuống cùng một độ cao như nhau Như vậy,
có thể chia chiều cao hạ (h) thành nhiều lần hạ
- Có thiết bị hứng cát chảy ra để dùng cho lần sau
Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm: Thiết bị khỏe, hạ được từ từ theo ý muốn
- Nhược điểm: Cấu tạo khá phức tạp Cát phải được tuyển chọn kỹ càng, chịu được áp lực
≤200kG/cm2 mà không bị vỡ Hạt cát phải đồng đều, khô và sạch sẽ
c-Thiết bị hạ đà giáo khác
- Các loại ván đà giáo, ván khuôn hiện đại đều có các thiết bị hạ hoàn chỉnh, như: kích
thuỷ lực, kích răng, khoá hãm
3.2.2 Công tác Ván khuôn kết cấu nhịp
3.2.3.2 Yêu cầu
- Yêu cầu về khả năng chịu lực: Ván khuôn phải đảm bảo đủ bền chắc, không biến dạng
- Yêu cầu về cấu tạo: Ván khuôn phải có hình dạng, kích thước đúng với yêu cầu thiết kế
Phải có cấu tạo đơn giản, dễ thi công lắp ráp Phải phẳng nhẵn, thật khí tại vị trí giáp nối các bộ phận Không được dính bám với bê tông Không ảnh hưởng đến việc lắp đặt cốt thép, không ảnh hưởng đến thi công bê tông
- Yêu cầu về kinh tế: Tận dụng vật liệu sẵn có Ván khuôn phải sử dụng được nhiều lần
Hao hụt vật liệu sau mỗi lần thi công là ít nhất
- Chú ý đặc biệt đến chống dính cho ván khuôn
3.2.2.2 Cấu tạo ván khuôn kết cấu nhịp
- Ván khuôn kết cấu nhịp cầu BTCT đúc tại chỗ có thể là ván khuôn gỗ, ván khuôn thép
hoặc kết hợp cả gỗ và thép Ván khuôn để đúc dầm gồm có 4 loại ván khuôn đáy, ván khuôn thành, ván khuôn đầu đốc và ván khuôn trong đối với dầm hộp hay dầm bản lỗ rỗng
- Ván khuôn đáy kết hợp với ván lát mặt sàn công tác của đà giáo
- Ván khuôn thành được ghép theo hết chiều cao dầm cùng với ván khuôn của phần công
xon bản mặt cầu, đối với những đoạn cong thì ghép từ nhiều tấm nhỏ
- Trọng lượng tấm ván không quá 70kg để có thể di chuyển bằng thủ công
- Tấm ván có hệ sườn và nẹp đủ cứng đảm bảo để ván khuôn không bị biến hình và truyền
tải trọng từ khuôn lên hệ nẹp của khuôn và khung đỡ ván Trên hẹ nẹp có vị trí lắp đầm gắn cạnh
Xét 3 loại ván khuôn cho những kiểu dầm bê tông áp dụng đổ tại chỗ trên đà giáo cố định
a Ván khuôn của dầm bản có lỗ rỗng
- Ván khuông bằng thép
- Ván thành tựa trên ván đáy và chống trượt ra phía ngoài bằng thanh chặn đặt dọc theo
chân ván cùng với thành chống xiên Ván đáy phần bản công xong đỡ bằng khung chống
có tăng đơ điều chỉnh độ cao Ván khuôn trong tạo thành lỗ rỗng đề giảm tĩnh tải nhưng vẫn giữ chiều cao có hiệu của dầm chế tạo bằng thép mỏng tạo thành thùng kín, rỗng dạng hình trụ đáy hình cầu hoặc ô van đặt vào trong dầm và định vị bằng khung cốt thép
Trang 29Hình 3 33 Cấu tạo ván khuôn dầm bản lỗ rỗng
b.Ván khuôn dầm hộp
- Ván khuôn bằng thép
- Ván đáy được lắp trước với sàn công tác
- Ván khuôn thành và ván khuôn trong được chia thành các tấm, làm bằng thép có
sườn tăng cường và được liên kết lại với nhau Ván khuôn ngoài được đỡ bằng hệ khung chống nhẹ dựng trên mặt đà giáo có hệ tăng đơ điều chỉnh độ cao Hệ khung đỡ ván khuôn trong dựng trên mặt bê tông đáy hộp đã thi công, khung này đỡ ván đáy của bản nắp
- Ván khuôn thành bao gồm cả phần vút bản liên kết với ván khuôn đáy bản bằng
chốt bản lề để khi dỡ ván chỉ cấn tháo các bu lông giằng tấm này sẽ quay xuống phía dưới tách khỏi mặt bê tông
Hình 3 34 Cấu tạo ván khuôn dầm hộp
c Ván khuôn dầm có sườn
- Dầm có sườn đổ tại chỗ trên đà giáo cố định thường áp dụng cho những cầu có khẩu
độ nhỏ, bê tông cốt thép thường thi công trong điều kiện sử dụng vật liệu địa phương và lực lượng thủ công vì vậy ván khuôn dầm phổ biến là loại ván khuôn gỗ chế tạo không theo tiêu chuẩn sử dụng riêng cho công trình