Lịch sử phát triển về khái niệm mô hình NLKH được các nhà nghiên cứu diễn tả và phát triển nó: Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Em thực tập tại xã Cát Thịnh - huyện Văn Chấn - tỉnh
Yên Bái với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả một số mô hình nông lâm
kết hợp tại xã Cát Thịnh - huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái”
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và sự tận tình giảng dạy của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy giáo phó giáo sư tiến sĩ Trần Quốc Hưng người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề
Em cũng chân thành cảm ơn các cô, chú tại Uỷ ban nhân dân xã Cát Thịnh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại xã
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em suốt thời gian học tập vừa qua
Do thời gian thực tập và điều kiện có hạn cho nên chuyên đề của em khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để chuyên đề của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Vui
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Các loại đất của xã Cát Thịnh 15
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất 16
Bảng 4.1: Các dạng mô hình NLKH tại các xóm của xã Cát Thịnh 26
Bảng 4.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh 27
Bảng 4.3: Kết cấu mô hình NLKH của các hộ được điều tra 31
Bảng 4.4: Thu nhập từ các thành phần và tỉ trọng của mỗi thành phần trong các mô hình điều tra 33
Bảng 4.5: Phân bố số hộ NLKH theo diện tích 35
Bảng 4.6: Phân bố số hộ NLKH theo mức thu chi/ha 36
Bảng 4.7: Cơ cấu tổng thu nhập sản phẩm của các loại hệ thống 37
Bảng 4.8: Cơ cấu tổng chi phí sản phẩm của các loại hệ thống 37
Bảng 4.9 Giá các loại rừng hiện có trên địa bàn xã Cát Thịnh 38
Bảng 4.10: Dự kiến hiệu quả kinh tế của các mô hình sau 5 năm(2019) 39
Bảng 4.11 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 42
Bảng 4.12 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 45
Bảng 4.13 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 48
Bảng 4.14: Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề phát triển các hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh 53
Bảng 4.15: Sơ đồ SWOT cho sự phát triển các mô hình NLKH 55
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg- Ao- C 44Hình 2: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg – C 47Hình 3: Sơ đồ lát cắt mô hình R- Rg- Ao 50Hình 4: Sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát triển các mô hình NLKH 54
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
NLKH : Nông lâm kết hợp
ICRAF : Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Nông lâm kết hợp
PRA : Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 3
1 3 Mục tiêu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
2.1.1 Các khái niệm 5
2.1.2 Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp 6
2.2 Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới 6
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 12
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 12
2.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Công tác ngoại nghiệp 22
Trang 83.4.2 Phương pháp nội nghiệp - Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Nghiên cứu các dạng mô hình NLKH hiện có ở xã Cát Thịnh 25
4.2 Nghiên cứu về quy mô và kết cấu của các dạng mô hình NLKH điển hình 26
4.3 Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình 29
4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH tại xã Cát Thịnh 29
4.3.2 Đánh giá hiệu quả về môi trường 51
4.3.3 Đánh giá hiệu quả về xã hội 52
4.4 Đánh giá những khó khăn, thuận lợi trong phát triển mô hình NLKH tại xã Cát Thịnh 52
4.4.1 Vai trò của các tổ chức 52
4.5 Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh sản xuất nông lâm nghiệp trong toàn xã 56
4.5.1 Giải pháp chung 56
4.5.2 Giải pháp cụ thể 57
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Tồn tại 61
5.3 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam với tổng số diện tích đất tự nhiên là 330.000km2, trong đó trên 70% diện tích là đất dốc, chính vì vậy hiện tượng xói mòn, rửa trôi và thoái hoá đất ở vùng đất dốc xảy ra thường xuyên và ngày càng có tính chất nghiêm trọng Đặc biệt trong giai đoạn gần đây dưới sức ép của dân số, nguồn đất dự trữ ở đồng bằng đã sử dụng hết, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người chỉ 0,46 ha (Nguyễn Văn Bích, 1983) [1], để đảm bảo nhu cầu về lương thực người dân đã mở rộng diện tích đất canh tác bằng việc khai phá rừng, cho nên nạn chặt phá rừng ngày càng xảy ra mạnh mẽ, dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng và môi trường như: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ 40,7% (1940) xuống chỉ còn 27,7% (1993) (NXB chính trị quốc gia, 2005) [2], các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp
và ít loài cây có giá trị kinh tế Mất rừng kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây lũ lụt hạn hán, mất đi sự đa dạnh sinh học
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không thể thiếu cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ trước mắt
mà còn cả lâu dài Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, việc sử dụng đất hợp lý có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội , giữ vững an ninh quốc phòng tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với ngành kinh tế có nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nứơc, chống ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ bảo về môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và các giá trị cảnh
Trang 10quan, du lịch , văn hóa…Vậy mà những năm qua dường như con người đã lãng quên ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa mãn nhu cầu trước mắt của mình Đầu tiên là khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý có giá trị cao về mặt kinh tế và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và những giá trị văn hóa tồn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng loạt các biến đổi tiêu cực của khí hậu như hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon hay sự xuất hiện của lũ quét, lũ ống gay thiệt hại nặng nề về người và của
Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 90,5 triệu người (năm 2014)trong đó có trên 75% dân số sống dựa vaò nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở nông thôn và miền núi thu nhập của họ từ nông lâm nghiệp Ở nước ta nói chung và miền núi nói riêng thì ngành nông lâm nghiệp còn kém phát triển, hoạt động sản xuất còn nhiều khó khăn, trình
độ canh tác chưa cao nên năng suất lao động thấp Hơn nữa nhiều nơi việc sử dụng đất đai còn bất hợp lý, việc sử đụng đất mới chỉ dừng lại ở việc lợi dụng
mà chưa có biện pháp cải tạo đất, nâng cao chất lượng dinh dưỡng trong đấtnhằm sử dụng đất một cách bền vững Do vậy, để có thể nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai, góp phần nâng cao năng suất cây trồng Việc quy hoạch sử dụng đất khu vực miền núi là việc làm cần thiết góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân khi vực miền núi
Cát Thịnh là xã miền núi, vùng cao Cát Thịnh là xã vùng ngoài huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Cách trung tâm huyện lỵ Văn Chấn khoảng 20km, cách thành phố Yên Bái khoảng 50km Có tổng diện tích theo ranh giới hành chính là 16.912,28 ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 15883,13 ha chiếm 93,9% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, diện tích đất phi nông nghiệp:160,6ha chiếm 1% diện tích đất toàn xã Diện tích đất chưa sử dụng: 868,54ha, chiếm 5,1% diện tích đất toàn xã.Với 26 xóm và có 11 dân tộc anh
Trang 11em cùng sinh sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, H Mông,… Do trình độ đân trí chưa cao nên sản xuất còn manh mún, đời sống nhan dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn
trên nên tôi đã chọn xã Cát Thịnh để thực hiện đề tài này:” Nghiên cứu một
số mô hình nông lâm kết hợp điển hình tại xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn”
đề tài này sẽ góp phần cho xã có thêm tài liệu để phát triển các mô hình nông lâm kết hợp có tiềm năng và bền vững, môi trường sinh thái sẽ được cải thiện, sức khỏe cộng đồng sẽ được đảm bảo
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học
- Thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có kết quả Ngoài ra sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lý, tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả, cũng như viết một báo cáo nghiên cứu
- Bổ sung tài liệu tham khảo cho khoa, Trường Đại học Nông lâm và địa phương, các hộ gia đình trong việc phát triển sản xuất mô hình NLKH ở trong khu vực
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Trang 12- Nghiên cứu, đánh giá thực tế địa phương và ứng dụng những tiến bộ
kĩ thuật để làm tài liệu cho các hộ gia đình tham khảo Với những hộ gia đình
đã và đang áp dụng những mô hình NLKH thì hiệu quả như thế nào khi phát triển theo hướng như vậy, có những giải pháp nào cho việc trồng mới rừng, canh tác giống cây trồng, chăm sóc vật nuôi
- Đề xuất một số giải pháp giúp cán bộ kĩ thuật triển khai áp dụng các
biện pháp kĩ thuật có hiệu quả hơn trong việc chuyển giao khoa học kĩ thuật
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Các khái niệm
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 1960 bởi Keng (1969) Lịch sử phát triển về khái niệm mô hình NLKH được các nhà nghiên cứu diễn tả và phát triển nó:
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm gia
tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể
cả cây trồng lâu năm), cây rừng hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hoá xã hội của dân cư địa phương (Benn và các cộng sự, 1977)
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản
phẩm rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979)
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây
lâu năm với hoa màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn (Nan, 1987)
Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong
đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo
Trang 14thời gian Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Lundgren
và Raintree, 1983)
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên
đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái của các mức độ nông trại
kinh tế hộ nhỏ đến "kinh tế trang trại" Một cách đơn giản, Nông lâm kết hợp
là trồng cây trên nông trại (ICRAF, 1997) (Đặng Kim vui và cs, 2007) [12]
2.1.2 Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp
Với định nghĩa của trên của ICRAF, một hệ thống canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp có đặc điểm sau:
- Kỹ thuật nông lâm thường bao gồm hai hay nhiều hơn hai loại thực vật (hay động vật và thực vật) trong đó ít nhất phải có một loại cây thân gỗ
đa niên
- Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống
- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm
- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc canh
- Cần có một mối quan hệ hỗ tương có ý nghĩa giữa thành phần cây gỗ
và các thành phần khác ( Đặng Kim Vui và cs, 2007) [12]
2.2 Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Theo King (1987), cho đến thởi Trung cổ ở châu Âu vẫn tồn tại một tập
quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với
cây nông nghiệp sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn
Trang 15tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920
Cuối thế kỷ XIX, hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở Myanmar dưới sự bảo hộ của thực dân Anh Trong các đồn điền trồng cây gỗ tếch người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các hàng cây tếch chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm Phương thức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi
Nông lâm kết hợp hạn chế sự suy giảm tài nguyên rừng, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất Chính vì vậy mà ngay từ các kỳ họp vào năm 1967 và
1969 của Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã quan tâm đến vấn đề này và
đi đến một sự thống nhất đúng đắn là: “Áp dụng các biện pháp nông lâm kết hợp là phương thức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động
dư thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng môi trường sinh thái”
Năm 1977, hội đồng quốc tế về nghiên cứu NLKH được thành lập, năm
1991 đổi thành trung tâm quốc tế nghiên cứu NLKH (ICRAF) Nhờ có sự quan tâm đầu tư nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến thông tin của các tổ chức quốc tế nên NLKH có những bước phát triển nhảy vọt trong thời kỳ này Người ta đi sâu vào phân loại các phương thức canh tác, điều tra đánh giá, tổng hợp các mô hình, tổ chức xây dựng các mô hình mới phù hợp với từng vùng, hình thành các tổ chức chuyên nghiên cứu tuyển chọn, sưu tầm các loài cây đa tác dụng, cây cố định đạm, cây gỗ củi, cây cho thực phẩm
Trong nhiều mô hình NLKH được thực hiện ở các quốc gia trên thế giới thì cần phải kể đến các hệ thống canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được Trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao của Philippin tổng kết và phát triển từ những năm 1970 Đến năm
Trang 161992 đã có 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức thế giới ghi nhận như sau:
- Hệ thống SALT 1: Đây là một hệ thống tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất nước và sản xuất lương thực Kỹ thuật canh tác như sau: 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên + 50% cây nông nghiệp hàng năm
Hệ thống này cơ ưu điểm là bảo tồn đất và nước, phục hồi độ phì của đất, tăng năng suất và thu nhập
- Hệ thống SALT 2 (hệ thống lâm – nông - đồng cỏ): Đây là kỹ thuật sử dụng đất tổng hợp dựa trên kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc bằng cách dành một phần đất trồng cây thức ăn để chăn nuôi theo phương thức nông súc kết hợp Bố trí diện tích canh tác của SALT 2 như sau: 40% cây nông nghiệp + 20% cây lâm nghiệp + 20% cây trồng làm thức ăn chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại
- Hệ thống SALT 3 (hệ thống canh tác nông – lâm bền vững): Kỹ thuật này dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với sản xuất cây lương thực, thực phẩm Bố trí diện tích canh tác của hệ thống: 40% nông nghiệp + 60% lâm nghiệp Hệ thống này đòi hỏi đầu tư rất cao về nguồn lực Trong đó người dân sử dụng vùng đất thấp ở dưới chân đồi để trồng cây lương thực và những cây cố định đạm, phần đất cao ở bên trên từ sườn đến đỉnh tiến hành trồng rừng
- Hệ thống SALT 4 (hệ thống sản xuất cây ăn quả với quy mô nhỏ ): Hệ thống này là sự phát triển sau của các hệ thống SALT ở trên, kỹ thuật canh tác của hệ thống như sau: 60% cây lâm nghiệp + 15% cây nông nghiệp + 25% cây ăn quả, kỹ thuật này được xây dựng và hoàn thiện vào năm 1992 Trong
hệ thống này, ngoài đất đai để trồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, cây băng chắn người dân còn dùng một phần đất để trồng cây ăn quả và một số loài cây công nghiệp khác Đây là hệ thống cần đầu tư nhiều về tài chính, công chăm sóc và đòi hỏi kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm
Trang 17Tháng 5-1990, Hội thảo quốc tế về NLKH khu vực châu Á Thái Bình Dương đã được tổ chức, có 12 nước tham gia trong đó có Việt Nam được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan Hội nghị đưa ra một số nguyên nhân cần thiết phải mở rộng và phát triển NLKH trong khu vực do đây là khu vực có dân số chiếm 69% dân số thế giới, trong khi đó diện tích đất sản xuất lại không lớn
Von Uc Kill bsg Bosshart (1998) sau khi nghiên cứu về sự phát triển nông lâm nghiệp ở vùng nhiệt đới đã rút ra kết luận: “Cây lâu năm là những cây trồng có khả năng sản xuất lâu bền và thích hợp với điều kiện khắc nghiệt Những thí nghiệm ở Pêru chỉ rõ cần tính toán đến các nhân tố: khí hậu, đất đai và gắn với môi trường của hệ thống canh tác Bởi canh tác đồi núi khó hơn canh tác ở đồng bằng rất nhiều do địa hình có độ dốc lớn Khi canh tác việc chọn được các loài cây phối hợp với nhau cần được xem xét thật kỹ lưỡng nên trồng xen canh luân canh để hiệu quả phối hợp đạt cao nhất”
NLKH đã và đang được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới nhất là ở các nước đang phát triển có phần lớn dân số làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp Việc sản xuất theo hướng NLKH sẽ mang lại hiệu quả lâu dài và có tính bền vững cao giúp con người vừa có thể sản xuất ra lương thực, thực phẩm mà vẫn bảo vệ môi trường sinh thái
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, các phương thức canh tác NLKH có ở Việt Nam từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước
Từ thập niên 60 của thế kỷ trước song song với phong trào thi đua sản xuất giỏi hệ sinh thái VAC được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh
mẽ và lan rộng trên khắp cả nước dưới nhiều hình thức khác nhau, thích hợp
Trang 18cho từng vùng sinh thái cụ thể Các hệ thống RVAC và vườn đồi cũng được phát triển mạnh mẽ ở các khu vực dân cư miền núi
Mặc dù việc nghiên cứu và phát triển hệ thống NLKH trên thế giới đã
có từ lâu nhưng hệ thống này mới được du nhập vào Việt Nam vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước Năm 1981-1985, Nhà nước ta tiến hành chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về NLKH từ đó tạo tiền đề cho hàng loạt các công trình nghiên cứu NLKH cũng như ứng dụng vào thực tiễn sản xuất của các nhà khoa học trong nước Kết quả thu được đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế vùng đồi núi của Việt Nam
Nông lâm kết hợp là hệ thống canh tác đã được nhiều dân tộc ít người
ở Trung du miền núi nước ta tiến hành từ lâu đời, như: các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước
Tuỳ theo từng địa phương mang phương thức canh tác, cơ cấu luân canh cây trồng được thay đổi khác nhau Ở Miền Bắc hệ thống Vườn - ao - chuồng (VAC) đã được phát triển mạnh mẽ và lan rộng trong những thập niên
60 Sau đó là hệ thống Rừng - vườn - ao - chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực miền núi Các hệ thống rừng ngập mặn phát triển ở các khu vực miền Trung Nhiều dự án đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề
về kinh tế - xã hội - môi trường và đã giới thiệu về các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi, như: Hệ thống canh tác xen theo băng (SALT 1), hệ thống nông lâm đồng cỏ (SALT 2), hệ thống canh tác nông lâm bền vững (SALT 3) và hệ thống nông lâm nghiệp với cây ăn quả quy mô nhỏ (SALT 4)
Đặc điểm của mô hình NLKH là thành phần cây trồng đa dạng, tận dụng được không gian gieo trồng, tạo ra nhiều tầng tán che nên có tác dụng bảo vệ tốt (Trần Quốc Hưng, 2010) [3]
Trang 19Kỹ thuật và mô hình NLKH tại Việt Nam phát triển không ngừng Có một số mô hình NLKH thành công và hiệu quả như:
- Mô hình hồi - trám - rừng tái sinh (Văn Quan - Lạng Sơn): Rừng tái sinh + trám + hồi
- Mô hình trồng chè xen hồi (Bình Gia - Lạng Sơn): Đỉnh đồi là rừng tái sinh Dưới là trồng hồi + chè + đậu xanh (cây cốt khí)
- Mô hình trúc sào - cây lương thực (Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang): Trồng lúa nương (hay sắn) xen trúc trong thời gian cây trúc chưa được thu hoạch
- Hệ thống thảo quả dưới tán rừng của người H'mông ở vùng cao phía Bắc
- Trồng quế dưới tán rừng của người Dao ở Yên Bái, lúa cạn và sắn xen với cây xoan của người Mường ở Thanh Hoá
Mô hình chè San - cây lương thực (Hà Giang): Đây là mô hình trồng chè trên diện tích rừng đã khai thác chọn nhưng vẫn để lại cây rừng rải rác làm cây che bóng hoặc trồng xen cây lấy gỗ Khoảng trống có thể trồng xen các cây lương thực như: đậu, đỗ, ngô hoặc cây phân xanh
Ngoài ra còn có một số mô hình khác cũng đã được phát triển và đem lại nhiều lợi ích cho nông hộ
Sản xuất theo mô hình Nông lâm kết hợp chính là sự bố trí thích hợp các loại cây trồng lâm nghiệp, cây nông nghiệp, cây công nghiệp, chăn nuôi trên một đơn vị diện tích cụ thể
Trong thời đại nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi việc sản xuất mô hình NLKH không phải theo hướng tự cung tự cấp như trước đây mà phải chuyển đổi theo hướng thị trường hàng hoá Đảm bảo các yêu cầu về số lượng
và chất lượng phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Do đó việc kết hợp các loại cây trồng nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi sẽ tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng và tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân
Ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu NLKH một số tác giả như: Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đã tập hợp hệ thống NLKH,
Trang 20chính trên cơ phân vùng tự nhiên, để xác định khả năng thực hiện ở các vùng,
đó là: Vùng ven biển với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động, vùng đồng bằng các hệ thống VAC (vườn - ao - chuồng), trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ; vùng đồi núi và trung du các hệ thống vườn rừng (VR), VAC, rừng - vườn - chuồng (R-V-C), trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy bằng (R-O)… chống xói mòn và bảo vệ đất, vùng đồi núi cao, chăn thả dưới tán rừng, làm ruộng bậc thang NLKH gồm: cây gỗ sống lâu năm + cây thân thảo+vật nuôi (Đặng Thị Thái, 2008) [5]
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Bắc giáp xã Suối Bu huyện Văn Chấn
Phía Nam giáp xã Mường Thải huyện Phù Yên
Phía Đông giáp xã TTNT Trần Phú, huyện Văn chấn
Phía Tây giáp xã Tà xi Láng, huyện Trạm Tấu
Đường giao thông liên thôn trong xã ngày một phát triển, mặt khác xã nằm trên đường giao thông nối liền thị trấn Nghĩa Lộ và thành phố Yên Bái nên đây là một thuận lợi lớn cho việc buôn bán trao đổi hàng hoá
Trang 21thuận lợi để có thể phát triển cây lâm nghiệp Hiện nay xã vẫn còn một diện tích khá lớn đất chưa canh tác do địa hình khó khăn gây cản trở quá trình sản xuất của người dân Các vùng chân đồi là dốc thoải có thể tự tưới tiêu theo chế độ thủy văn, do đó gặp nhiều thuận lợi trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp, đặc biệt trong trồng lúa nước, tuy nhiên lại gây khó khăn đối với việc
bố trí xây dựng cơ sở hạ tầng
2.4.1.3 Đặc điểm khí hậu
Theo nguồn tài liệu của Phòng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Văn Chấn thì đặc điểm khí hậu của xã Cát Thịnh là :Thời tiết thuộc vùng Tây Bắc, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có
4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 – 300c Mùa đông, nhiệt
độ trung bình là 170c, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 270c, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 Tổng nhiệt cả năm đạt 7.500 – 8.1000 C Với nền nhiệt độ cao gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng
và phát triển của cây trồng, vật nuôi Đáng lo ngại nhất là vào mùa đông nhiệt
độ thường xuống rất thấp làm ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi
- Độ ẩm, ánh sáng: Độ ẩm không khí trung bình năm 83 – 87%, tháng có
độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 3), thấp nhất là 55% (tháng 11) Lượng bốc hơi trung bình từ 770 – 780 mm/năm Thời gian chiếu sáng nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9, ít nhất từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tổng số giờ nắng trong năm từ 1360 – 1730 giờ, lượng bức xạ thực tế đến được mặt đất bình quân cả năm đạt 45%
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa nhiều, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng 7,8,9 Do lượng mưa quá lớn, lại tập trung vào một thời gian
Trang 22nhất định nên hiện tượng sụt lở đất thường xuyên xảy ra từ đó gây ảnh hưởng rất lớn đến việc thông thương, vận chuyển sản phẩm từ các thôn, xóm trong
xã ra ngoài thành phố và vào trong thị trấn
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm khoảng 20% lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1, 2, có tháng hầu như không có mưa Trong mùa khô thường thiếu nước nghiêm trọng do vậy gây khó khăn lớn cho sản xuất và hiệu quả không cao, đây là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân địa phương
- Gió: Do đặc điểm địa hình lòng máng chảy theo hướng Đông Nam –Tây
Bắc nên hướng gió chủ yếu thổi theo độ mở của thung lũng Gió khô và nóng
thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm (tập trung nhất vào tháng 5 đến tháng 7), ngày gió nóng nhiệt độ lên tới 35 đến 380 C, bình quân mỗi năm
2.4.1.4 Đặc điểm thủy văn
Do điều kiện địa hình đồi núi dốc, lượng mưa lớn và tập trung nên tạo cho Cát Thịnh một hệ thống ngòi suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn
và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ quét ở các vùng ven suối
Xã Cát Thịnh có hai dòng suối chính là suối Lao và suối Phà chảy qua, cùng với một hệ thống các khe suối nhỏ khá dày đặc như khe Kẹn, khe Căng, khe Rịa Cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất vào mùa khô, nó còn là nơi tập trung
cư trú của nhiều loài cá vào mùa lạnh
Trang 232.4.1.5 Đặc điểm tài nguyên đất
* Tài nguyên đất
Bảng 2.1: Các loại đất của xã Cát Thịnh STT Các loại hình sử dụng đất Diện tích( ha) Tỷ trọng(%)
( Nguồn UBND xã Cát Thịnh năm 2014)
Diện tích đất nông nghiệp chiếm rất lớn trong tổng diện tích tự nhiên của toàn xã với 15883,13 ha chiếm 93,9%, đây là tiềm năng rất lớn để người dân phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Với đặc điểm về địa hình và cơ cấu diện tích đất đai như trên, đất đai của xã Cát Thịnh được chia ra làm 02 loại đất chính sau:
*Đất đồi: Chủ yếu là đất Feralitich đỏ vàng, là nhóm đất chiếm phần lớn diện tích Đặc điểm của loại đất này là hàm lượng mùn và đạm thấp, có tính chua nhẹ Thích hợp với phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng và phát triển đồng cỏ chăn nuôi đại gia súc
*Nhóm đất dốc tụ: Phân bố rải rác ở các thung lũng, ven suối, thành phần cơ giới thô, lẫn sỏi đá, nghèo mùn, đạm trung bình, có khả năng cải tạo thâm canh cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày
* Hiện trạng sử dụng đất
Trang 24Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất STT Các loại hình sử dụng đất Diện tích( ha) Tỷ trọng(%) Tổng diện tích đất tự nhiên 16912,28 100
(Nguồn UBND xã Cát Thịnh năm 2014)
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm rất lớn trong tổng diện tích tự nhiên của toàn xã với 13615,4 ha chiếm 80,5 %, đây là tiềm năng rất lớn để người dân phát triển sản xuất lâm nghiệp, nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Tài nguyên rừng tự nhiên của
xã rất phong phú và đa dạng song hiện nay diện tích rừng tự nhiên đang bị thu hẹp do tình trạng phá rừng vẫn diễn ra
Diện tích đất nông nghiệp của toàn xã lại thấp 2261,63 ha chiếm 813,37% đất khá bằng phẳng do đó thuận lợi cho việc trồng cây lương thực như : Lúa, ngô, sắn… Diện tích đất vườn nhà chủ yếu là vườn tạp được trồng các loài cây ăn quả và trồng rau ăn
Trang 25Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn 868,54 ha chiếm 5,%,14 chủ yếu là đất đồi, núi đá song nó cũng cho thấy việc khai thác và sử dụng tiềm năng đất đai chưa hiệu quả, trong thời gian tới cần có các biện pháp sử dụng đất có hiệu quả và bền vững thông qua các chương trình, kế hoạch trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng
2.4.1.6 Đặc điểm tài nguyên nước
Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã được khai thác từ hai nguồn là nước mặt và nước ngầm, trữ lượng nước khá dồi dào
- Nguồn nước mặt: Đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã có hai dòng suối chính là suối Lao và suối Phà chảy qua, cùng với một hệ thống các khe suối nhỏ khá dày đặc như khe Kẹn, khe Căng, khe Rịa,
- Nguồn nước ngầm: Hiện tại chưa có số liệu điều tra chính về trữ lượng nước ngầm trên địa bàn xã, song qua điều tra, khảo sát sơ bộ ở một số khu vực người dân đã đào giếng và sử dụng nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt, chất lượng nước tốt, không mùi Tuy nhiên do địa hình cao nên khả năng giữ nước hạn chế và ở tầng sâu, theo cấu trúc địa chất của toàn vùng cho thấy mức độ chứa nước ngầm không nhiều
Do địa hình cao và chia cắt nên hệ thống suối và ngòi phân bố không đều, độ dốc lớn, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân
cư Do vậy khả năng khai thác cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân còn rất hạn chế, đặc biệt là vào mùa khô
- Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 6,01 ha
2.4.1.7 Đặc điểm tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 13.615,4 ha Trong đó đất rừng tái sản xuất là 11.126,5 ha chiếm 81,7%, đất rừng phòng hộ là 2488 ha chiếm 18,3%
Độ che phủ rừng đạt 70%, rừng có thảm thực vật đa dạng và phong phú, giữ và tạo môi trường cảnh quan trong sạch, phát triển nghề rừng còn là tiềm năng và thế mạnh của xã trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 262.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
2.4.2.2 Dân số, lao động và việc làm
Toàn xã có 2059 hộ và 8985 nhân khẩu, trong độ tuổi lao động là 4590 người, chiếm 51% dân số toàn xã
Trên địa bàn xã chủ yếu có 11 dân tộc anh em cùng sinh sống: Trong đó: kinh 2695 người chiếm 30%, Tày 1888 người (chiếm 21%), Và các dân tộc khác: 4402 người (Chiếm 49%) (Theo số liệu điều tra dân số của xã ngày 01/01/2010 và bổ xung năm 2011)
2.4.2.3 Giao thông
Trong những năm gần dây do được Đảng và nhà nước đầu tư nên hệ thống giao thông của xã ngày càng được hoàn thiện Đường giao thông liên thôn có tới 70% được trải nhựa, đã có đường ôtô nhưng chất lượng chưa cao Trên địa bàn xã có hai tuyến đường quốc lộ chạy qua đó là quốc lộ 32 và 37 với tổng chiều dài trên 18km Rất thuận lợi cho việc đi lại và trao đổi vận chuyển hàng hóa của người dân Nhưng do đặc điểm địa hình đồi núi phức tạp nên đường thường nhỏ, dốc và khó đi gây ảnh hưỏng đến việc đi lại của người dân Vào mùa mưa đường thường trơn, mặt khác còn có thể bị sạt lở nên việc
Trang 27đi lại, chuyên chở hàng hoá của người dân gặp không ít khó khăn Ngoài hệ thống đường giao thông chính trên còn có hệ thống đường dân sinh, đường lâm nghiêp và hệ thống đường mòn…
2.4.2.4 Thủy lợi
Hẩu hết các thôn đều có kênh, mương Các kênh, mương thường xuyên được nạo vét, tu sửa các công trình thủy lợi đảm bảo việc tưới tiêu cho nhân dân trong toàn xã Hề thống thủy lợi đang được cứng hóa Hệ thống thủy lời rất thuận lợi cho nhân dân trong xã phát triển lúa nước và đào các ao để phát triển các mô hình nông lâm kết hợp
2.4.2.6 Văn hóa
Trong những năm qua xã đã làm tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư xóm Đến nay đã có 18/26 xóm có nhà văn hóa cộng đồng (9 nhà xây, 2 nhà bán kiên cố và 7 nhà tạm)
Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Cát Thịnh
Cát Thịnh có diện tích đất nông nghiệp khá là ít so với tổng diện tích đất tự nhiên nhất là diện tích đất có thể trồng lúa nước, do đó quy hoạch sử dụng đất phải hết sức hợp lý để sản xuất đạt hiệu quả Diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do tình trạng phá rừng vẫn diễn ra
Điều kiện thời tiết phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, song ngày càng thất thường ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sản xuất của người dân
Trang 28Nguồn lao động địa phương dồi dào, người dân có kinh nghiệm trong sản xuất
Điểm xuất phát kinh tế xã hội còn thấp, đời sống của đại bộ phận dân cư còn khó khăn, ít có vốn tích luỹ để đầu tư phát triển sản xuất và tái sản xuất
mở rộng
Mặt bằng dân trí còn thấp, tư tưởng làm ăn tự cung tự cấp vẫn còn mang nặng
Trang 29PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mô hình NLKH hiện có trên địa bàn xã Cát Thịnh- Huyện Văn Chấn- Tỉnh Yên Bái
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung cấu trúc các mô hình NLKH, tính đa dạng trong
hệ thống NLKH, khả năng sản xuất của mô hình NLKH, các phương pháp quản lý của người dân bản địa, tính bền vững về môi trường như khả năng giữ đất nước, và chống xói mòn
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đưa ra được nhận xét về tính khả thi mở rộng hệ thống, cũng như các giải pháp để nâng cao sức sản xuất và bền vững sinh thái của hệ thống
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ 01/09/2014 đến 01/11/2014
- Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Xã Cát Thịnh- Huyện Văn Chấn- Tỉnh Yên Bái
3.3 Nội dung
- Đánh giá và tổng hợp các dạng mô hình NLKH hiện có ở xã Cát Thịnh
- Nghiên cứu về quy mô và kết cấu của các dạng mô hình NLKH điển hình (Cấu trúc thành phần loài và tính đa dạng loài trong các mô hình NLKH điển hình)
- Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình
+ Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả môi trường (độ che phủ, khả năng giữ độ phì đất )
Trang 30+ Hiệu quả xã hội
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển mô hình NLKH tại
xã Cát Thịnh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Công tác ngoại nghiệp
3.4.1.1 Sử dụng phương pháp điều tra nông thôn RRA
- Thu thập số liệu có sẵn có liên quan
+ Số liệu tài liệu phát triển NLKH trên thế giới và Việt Nam
+ Số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Cát Thịnh
+ Tài liệu tình hình sử dụng đất của xã
- Quan sát thực tế địa bàn xã
3.4.1.2 Sử dụng phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia PRA
Điều tra phỏng vấn 30 hộ gia đình làm về NLKH
- Cùng với trưởng thôn và nhóm người dân tham gia đánh giá và phân loại mô hình NLKH tại khu vực nghiên cứu
- Phân tích chi tiết 3 mô hình điển hình
Quá trình phỏng vấn được thông qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước phiếu điều tra, sử dụng những câu hỏi mở, bán định hướng, kết hợp với phỏng vấn các hộ Bộ câu hỏi với nội dung chính sau:
+ Phiếu điều tra đối với hộ dân (phụ lục 1)
- Họp thôn để đánh giá ảnh hưởng của một số tổ chức và tìm ra những thuận lợi khó khăn cho việc phát triển NLKH
- Lập sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát triển các mô hình NLKH
3.4.1.3 Điều tra tuyến về cấu trúc mô hình NLKH
Ba mô hình điển hình được thống kê và điều tra về cấu trúc thành phần loài, cũng như vẽ sơ đồ cấu trúc mô hình
Trang 31Tất cả các loài thực vật trong mô hình được thống kê và xác định tên, công dụng sử dụng, nguồn gốc Loài mà khó có thể xác định được thu thập để xác định bởi các chuyên gia thực vật
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp - Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi đã thu thập được các tài liệu, số liệu cụ thể tiến hành tổng hợp, phân tích và đánh giá hiệu quả của các mô hình NLKH tại xã
- Phương pháp so sánh: So sánh được sự biến động của yếu tố kinh tế
qua các năm
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Tài liệu và số liệu sau khi thu thập
được tổng hợp lại Sau đó được xử lý, phân tích rõ ràng để thấy rõ tình hình phát triển và hiệu quả của các mô hình NLKH
- Tính hiệu quả kinh tế của một hệ thống NLKH/năm (L):
L = T - C Trong đó: L là lợi nhuận thuần/năm (hay hiệu quả kinh tế)
T là thu nhập/năm
C là chi phí/năm (T=Thu nhập cây ăn quả + Thu nhập cây công nghiệp + Thu nhập cây lâm nghiệp + Thu nhập lương thực thực phẩm + Thu nhập chăn nuôi)
(C=Chi phí cây ăn quả + Chi phí cây công nghiệp +Chi phí cây lâm nghiệp + Chi phí lương thực thực phẩm + Chi phí chăn nuôi)
- Tính cơ cấu tổng thu nhập các loại sản phẩm của hệ thống: Cộng tổng thu nhập từng loại sản phẩm từ các hộ trong mô hình
- Tính cơ cấu tổng chi phí của hệ thống: Cộng tổng chi phí từng loại sản phẩm từ các hộ trong mô hình
* Phân nhóm các hệ thống theo mức thu nhập/ha và phân nhóm theo diện tích bằng phương pháp chia tổ
Mẫu được chọn gồm 30 hộ gia đình nên số tổ là:
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu các dạng mô hình NLKH hiện có ở xã Cát Thịnh
Trên địa bàn xã Cát Thịnh, các mô hình NLKH đã được áp dụng trong khoảng 7 năm trở lại đây Qua thời gian điều tra nghiên cứu tại xã, tôi nhận thấy công tác sản xuất nông - lâm nghiệp của xã đã có nhiều biến chuyển
Được sự quan tâm của các cấp ủy, Đảng, chính quyền trong xã Cát Thịnh
đã có những bước chuyển mình trong việc sản xuất NLKH, từng bước xây dựng đời sống của người dân ngày càng đi lên Áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất, ổn định các phương thức canh tác hiệu quả, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao trong nông lâm nghiệp Vận dụng hết khả năng, tiềm năng sẵn có của tài nguyên đất, nước tại địa phương
Từ hiệu quả của việc sản xuất NLKH đem lại, người dân trong xã tiếp tục triển khai, thực hiện và nhân rộng các mô hình NLKH đem lại hiệu quả kinh tế cao; ủng hộ, tham gia nhiệt tình trong các buổi trao đổi kinh nghiệm, thảo luận, tập huấn, tuyên truyền của các cán bộ khuyến nông xã về mô hình NLKH Áp dụng khoa học kĩ thuật vào chăm sóc cây trồng, vật nuôi bước đầu
đã giải quyết được số lao động dư thừa trong nông thôn và miền núi, tạo công
ăn việc làm cho người dân, nâng cao năng suất và sản lượng của cây trồng, vật nuôi; đem lại lợi ích về kinh tế cho địa phương
Ngoài việc đem lại lợi ích về kinh tế, mô hình NLKH còn mang lại những lợi ích về môi trường và sinh thái
Bên cạnh những lợi ích mà các mô hình NLKH mang lại, còn có những bất cập trong việc phát triển mô hình NLKH như: Vốn đầu tư ít, hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư đúng mực, diện tích đất có hạn, dịch bệnh thiên tai thường xuyên xảy ra nên các mô hình chưa được phát huy đầy đủ tác dụng
Trang 34Qua điều tra 30 hộ gia đình trong xã Cát Thịnh, tôi đã thống kê được các dạng
Đồng
Mường
Tuần Vực
1
Tuần Vực
2
Rịa
1
Khe Kẹn
Pin
Pé
Làng Lao
Ba Khe
2
Ba Khe
3 Cộng
( Tổng hợp từ nguồn số liệu điều tra)
Bảng trên là sự phân bố của các mô hình NLKH tại một số xóm trên địa bàn xã, ta thấy mô hình R – Rg- C chiếm phần đa, 9/30 hộ tham gia; chủ yếu
ở các xóm Làng Lao (3 hộ), Pin Pé (2 hộ)
4.2 Nghiên cứu về quy mô và kết cấu của các dạng mô hình NLKH điển hình
Sau khi tổng hợp các loại mô hình đã thu thập được tại các xóm Tôi đã tổng hợp được bảng phân loại sau:
Trang 35Bảng 4.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh Các
Cơ cấu % Phân bố các xóm
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Qua bảng 3.2, ta nhận thấy các hệ thống NLKH tại xã tương đối phong phú và đa dạng, nhiều mô hình được áp dụng phù hợp với điều kiện địa hình của các xóm, điển hình là 7 mô hình sau:
Mô hình 1: Rừng- Ruộng- Chăn nuôi
Mô hình 2: Đồi chè- Ruộng- Chăn nuôi
Mô hình 3: Rừng- Đồi chè- Chăn nuôi
Mô hình 4: Rừng- Ruộng- Ao
Mô hình 5: Rừng- Ruộng- Ao- Chăn nuôi
Mô hình 6: Đồi chè- Ruộng- Ao
Mô hình 7: Rừng- Ruộng
Các mô hình trên được người dân quan tâm chú trọng phát triển rộng, các mô hình đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập ổn định hơn, đảm bảo tính lâu dài, ít tính rủi ro và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
Trang 36- Loại mô hình 1: Rừng –Ruộng- Chuồng là sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp + cây ăn quả + cây rau màu, lương thực thực phẩm và các cây phù trợ khác (các loại cây gia vị…) + nhà ở + chuồng trại + cây lúa Mô hình có 9/30
hộ tham gia áp dụng, chiếm 30% và đạt được những hiệu quả rõ rệt Các sản phẩm lương thực thực phẩm cung cấp đầy đủ và cho giao lưu trao đổi hàng hóa, thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm Đẩy mạnh tăng gia cho các hộ gia đình, cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho nông hộ Đây là mô hình đem lại hiệu quả kinh tế khá cao nên được khá nhiều hộ áp dụng Phân bố chủ yếu ở các xóm: Làng Lao và Pin Pé
- Loại mô hình 2: Đồi chè- Ruộng- Chăn nuôi: Có 6 /30 hộ tham gia áp dụng, chiếm 20% Mô hình được phát triển dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa cây lâu năm, cây ăn quả, cây rau màu, lương thực thực phẩm và các cây phù trợ khác (các loại cây gia vị…) và chuồng trại chăn nuôi Đây là mô hình đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao nên được khá nhiều hộ áp dụng Phân bố chủ yếu ở các xóm: Khe Căng, Tuần Vực 2, Đồng Mường, Rịa 1, Khe Kẹn
- Loại Mô hình 3: Rừng- Đồi chè- Chăn nuôi: Mô hình là sự kết hợp của cây lâm nghiệp + cây lâu năm + chuồng trại Đây là mô hình đòi hỏi có vốn đất khá rộng và cá thể xoay vòng vốn khá nhanh nên số hộ tham gia là khá nhiều có 6/30 hộ tham gia chiếm 20% Phân bố chủ yếu ở các xã: Tuần Vực 1, Pin Pé, Làng Lao, Rịa 1, Ba Khe 3
- Loại mô hình 5: Rừng- Ruộng- Ao- Chăn nuôi: là một hệ sinh thái hoàn chỉnh và thống nhất, các thành phần có tác động qua lại với nhau Mô hình này cũng đã có được một số hộ gia đình áp dụng và đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm, giảm sức ép phát triển dân số tác động vào tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra mô hình còn đảm bảo ổn định môi trường sinh thái, tạo ra một chuỗi thức ăn cho cây trồng, vật nuôi Hiệu quả kinh tế - môi
Trang 37trường - xã hội của mô hình cao nhưng ít hộ tham gia vì vốn đầu tư cho mô hình cao, tài nguyên đất hạn hẹp
- Loại mô hình 4,6,7: Chiếm 20% nhưng đòi hỏi vốn đầu tư và khả năng thu hồi vốn ở mô hình này lâu nên ít hộ gia đình tham gia Phân bố chủ yếu ở các xóm: Đồng Mường, Khe Kẹn, Ba Khe 2, Khe Căng, Tuần Vực2
4.3 Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình
4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH tại xã Cát Thịnh
Qua điều tra, phỏng vấn 30 hộ gia đình áp dụng phát triển các mô hình NLKH tại 10 xóm của xã Cát Thịnh, dựa trên phiếu thông tin của các hộ gia đình, tôi có kết quả sau:
Từ bảng 4.3 và bảng 4.4 và 4.5 dưới đây, ta nhận thấy loại mô hình R -
Rg – C tập hợp được nhiều số hộ tham gia Mô hình tổng hợp được các thành phần và thu được những hiệu quả cao từ rừng - ruộng- chăn nuôi Đây là một hệ thống dễ áp dụng tại khu vực miền núi, đặc biệt đối với điều kiện địa hình phức tạp tại xã Cát Thịnh Nguồn thu từ mô hình này khá cao và ổn định Mô hình kết hợp chặt chẽ giữa cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây rau màu và ruộng lúa và chuồng trại chăn nuôi Cây lâm nghiệp có tác dụng làm giảm sự xói mòn đất, chống sạt lở đất, giữ nước và giữ đất, làm cho đất tơi xốp; cây rừng là nguyên liệu củi, gỗ trong việc xây dựng, làm đồ gia dụng và chất đốt Chăn nuôi cung cấp phân bón cho cây Trong 30 hộ gia đình được điều tra, phỏng vấn thì có 9 hộ tham gia loại mô hình này Qua bảng tổng hợp số liệu điều tra thì hộ gia đình đạt giá trị kinh tế cao nhất là 234,055 triệu đồng; hộ đạt giá trị thấp nhất là 6,46 triệu đồng
Qua đó ta thấy hệ thống này mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, nên có hướng đầu tư, khuyến khích mở rộng loại mô hình này
Loại mô hình R - Rg - Ao - C là mô hình có 4 thành phần tham gia, có kết cấu bền vững, bảo vệ hệ thống và môi trường sinh thái, với sự có mặt của 4 thành phần tạo nên một cảnh quan cho khu vực Mô hình là được bố trí từ cao