1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH

31 547 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, người nông dân tham gia nghề rừng có vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị sản phẩm nhưng giá trị lao động của họ còn đang rất khiêm tốn bởi nhiều lý do như: điều kiện tự nhiên,

Trang 1

DỰ ÁN THÊM CÂY - DDS TẠI VIỆT NAM – HỘI NÔNG DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP

TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH

Thực hiện:

- Đỗ Xuân Hạnh

- Đoàn khảo sát của Hội nông dân tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh, ngày 15 – 5 – 2012

Trang 2

Mục lục

Phần 1: Tổng quan về khảo sát thị trường 3

1.1 Cơ sở và mục đích 3

1.2 Phương pháp khảo sát 4

Phần 2 Kết quả khảo sát 6

2.1 Tổng quan về khai thác lâm sản ở Hương Sơn 6

2.2 Bộ máy quản lý rừng và hệ thống chế biến lâm sản 6

2.3 Các sản phẩm lâm sản của điểm khảo sát 7

2.4 Đối tượng quản lý rừng ở Hương Sơn 8

2.5 Chuỗi giá trị của sản phẩm gỗ Keo 9

2.6 Đặc điểmkhách hàng của nông dân 19

2.7Định giá sản phẩm trên thị trường 22

Phần 3 Lâm sản ngoài gỗ 22

Phần 4 Khuyến cáo đối với người dân 23

Phần 5 Kết luận của khảo sát thị trường 24

Phần 6 Các yếu tố phân tích bổ sung 27

Trang 3

Phần 1: Tổng quan về khảo sát thị trường

1.1 Cơ sở và mục đích

1.1.1 Cơ sở của khảo sát:

Huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên là 110.414,7 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 84.416,9 ha thuộc 28 xã, thị trấn trong số 32 xã, thị trấn của huyện

Lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp và thị trường sản phẩm gỗ rừng trồng ngày một phát triển, bởi

có sự tham gia của nhiều tổ chức, doanh nghiệp trong việc sản xuất – khai thác tiêu thụ – sơ chế sản phẩm cũng như là nhu cầu sử dụng sản phẩm rừng trồng Trong sự phát triển đó có

sự đóng góp vai trò rất lớn của người nông dân sản xuất rừng, họ tham gia là một tác nhân tâm điểm trong chuỗi giá trị sản phẩm gỗ rừng trồng

Mặc dù, người nông dân tham gia nghề rừng có vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị sản phẩm nhưng giá trị lao động của họ còn đang rất khiêm tốn bởi nhiều lý do như: điều kiện tự nhiên, đất đai, giao thông cho sản xuất còn nhiều khó khăn và bất cập, việc tiếp cận và áp dụng quy trình kỹ thuật chưa tốt, tổ chức sản xuất còn yếu, thông tin thị trường và hệ thống

tổ chức tiêu thụ chưa được đảm bảo, giá cả bấp bênh …

Tuy nhiên, các yếu tố trên chưa được đề cập một cách có hệ thống để giúp người trồng rừng thoát khỏi tình trạng hiện nay “giá trị lao động do sản xuất rừng hiệu quả chưa cao” để tiến đến một hệ thống sản xuất – thị trường mà ở đó người trồng rừng tham gia như một tác nhân quan trọng, tích cực hơn và có hiệu quả đích thực

Xuất phát từ thực tế trên, Hội nông dân tỉnh Hà Tĩnh với sự hỗ trợ của Văn phòng DDS tại Việt Nam thực hiện dự án Thêm cây và hoạt động khảo sát thị trường lâm sản quy mô nhỏ như một nghiên cứu khả thi cho các hoạt động tiếp theo của dự án

1.1.2 Mục đích và yêu cầu của khảo sát:

Trang 4

 Đối với mỗi sản phẩm liên quan đến cần phân tích mối quan hệ cung cầu, bao gồm: xác định giá cả hiện tại của sản phẩm

1.2 Phương pháp khảo sát

1.1.3 Tiến trình khảo sát:

Cuộc khảo sát với sự tham gia của tư vấn và các cán bộ dự án của Hội nông dân tỉnh Hà Tĩnh được thực hiện dựa theo phương pháp có sự tham gia và tiến trình được thực hiện theo các bước cơ bản như sau:

 Xác định yêu cầu của khảo sát

 Tìm hiểu thông tin, nghiên cứu các tài liệu thứ cấp có liên quan

 Xây dựng nội dung nghiên cứu, phương pháp và công cụ thu thập thông tin

 Tập huấn cho các thành viên nhóm: trao đổi, điều chỉnh, bổ sung và thống nhất về nội dung, phương pháp, công cụ

 Tham vấn các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở cấp tỉnh, huyện, xã

 Phỏng vấn nông dân sản xuất rừng, người thu gom, xưởng sơ chế

 Tổng hợp thông tin, viết báo cáo, kiểm tra thông tin

 Linh hoạt, có tính khám phá, tương tác và đổi mới nhằm đạt được thông tin cần thiết

 Lấy đối tượng phỏng vấn làm trung tâm do vậy có sự đảo ngược vai trò: người dân, người buôn bán, người tiêu dùng đều là các chuyên gia thay vì các nhà nghiên cứu đơn thuần

Nguyên tắc thực tế

 Bám sát mục tiêu khảo sát, không cố gắng tìm kiếm thông tin nhiều hơn mức cần thiết

 Đơn giản, rõ ràng, thông thường chỉ cần tìm hiểu xu hướng, cho điểm và xếp hạng

Trang 5

 Giảm thiểu thông tin sai thông qua tiếp xúc trực tiếp với các thành phần tham gia Các nhà điều tra cần phải đi thực tế, tiếp xúc với các tác nhân

 Tính nhất quán của thông tin thông qua kiểm tra chéo, nhìn nhận sự vật từ các góc độ khác nhau để giảm rủi ro, thiên vị, vội vàng, nhanh và sai nhằm đạt được độ chính xác cao

Mô phỏng phương pháp luận

1.1.5 Phương pháp thu thập thông tin

Đoàn khảo sát đã sử dụng một số phương pháp sau:

 Thu thập tài liệu thứ cấp của các cơ quan và số liệu thống kê năm 2010

 Phỏng vấn cấu trúc theo bảng hỏi và bán cấu trúc sử dụng câu hỏi định hướng theo chủ

đề và sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn

 Quan sát, ghi chép hình ảnh

 Thống kê số liệu và phân tích

1.1.6 Chọn mẫu khảo sát

Xác định các tác nhân trực tiếp và gián tiếp có liên quan đến thị trường gỗ để từ đó lựa chọn

để tham vấn hoặc phỏng vấn theo nội dung khảo sát

Cấp tỉnh: Chi cục phát triển lâm nghiệp, Sở thương mại, Chi cục kiểm lâm, Sở TN & MT Cấp huyện: Phòng NN & PTNT, Hội nông dân, Phòng TN & MT, Hạt kiểm lâm

Xác định mục tiêu

Xác định nội dung

và các chủ đề

Phương pháp

Bộ công

cụ

Phân tích vấn đề liên quan

Trang 6

Cấp xã: UBND xã, Ban nông lâm xã, Cán bộ địa chính xã, Cán bộ HND trong đó có 6 xã vùng dự án được chọn làm đại diện bao gồm Sơn Lĩnh, Sơn Kim, Sơn Quang, Sơn Trường, Sơn Lễ và Sơn Hàm

Ngoài ra còn có các doanh nghiệp trong và ngoài huyện: xưởng xẻ gỗ keo, xưởng sơ chế gỗ, người thu gom gỗ, nhà máy băm dăm gỗ keo

Phần 2: Kết quả khảo sát

2.1 Tổng quan về khai thác lâm sản ở Hương Sơn

Khai thác rừng tự nhiên: những năm 70 – 80 trước, việc khai thác rừng tự nhiên ở Hương Sơn được thực hiện với quy mô và cường độ khá mạnh, trung bình mỗi năm khai thác hợp pháp 15 – 20 nghìn m3 gỗ Hiện nay, thực hiện chủ trương từng bước giảm thiểu khai thác gỗ rừng tự nhiên, bình quân mỗi năm Hương Sơn được cấp phép khai thác từ 3 – 6 nghìn m3 gỗ rừng tự nhiên do 2 đơn vị được cấp phép thực hiện

Khai thác rừng trồng: trong xu thế phát triển chung, rừng trồng ở Hương Sơn được phát triển mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây Diện tích rừng trồng được các dự án hỗ trợ như:

dự án PAM, 4304, Chương trình trồng rừng Việt Đức, Chương trình 327, và thời điểm cho khai thác chu kỳ đầu từ năm 2004 – 2008 Đối với rừng trồng có nhiều thành phần kinh tế quản lý, khai thác, trong đó các đơn vị ngoài quốc doanh nắm giữ phần lớn diện tích, chiếm gần 60% sản lượng gỗ khai thác hàng năm (số liệu thống kê năm 2008)

Khai thác lâm sản ngoài gỗ: bình quân hàng năm Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn phố khai thác khoảng 80 tấn nhựa thông

Khai thác Song, Mây, Nứa … đều ở rừng tự nhiên, phần lớn do nhân dân địa phương sống gần rừng Khai thác nhỏ lẻ, tự phát, sản phẩm thu được ít và bán tựu do theo nhu cầu tiêu dùng nhỏ lẻ

2.2 Bộ máy quản lý rừng và hệ thống chế biến lâm sản

Hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh rừng: trên địa bàn cấp huyện, hệ thống quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh rừng được thiết lập theo thể chế từ trên xuống, với sự tham gia của các bên liên quan:

Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng, Đơn vị quản lý kinh doanh rừng tự nhiên, các đơn vị sản xuất – kinh doanh nghề rừng, các hộ gia đình được giao đất rừng, UBDN các xã

Hệ thống cơ sở chế biến gỗ và lâm sản: ở Hương Sơn, chế biến lâm sản phát triển mạnh trong các năm 2004 – 2005, trong thời điểm đó trên địa bàn có 142 cơ sở, hiện nay còn có 96

cơ sở, trong đó có 64 cơ sở có giấy phép hoạt động Các cơ sở (xưởng hoặc công ty) khai thác, sơ chế gỗ hiện nay ở Hương Sơn chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ tận thu từ việc

Trang 7

trồng mới rừng Các doanh nghiệp này được giao đất trồng mới rừng, hoặc dự án trồng cao

su … có điều kiện để khai thác cây gỗ tận thu thuộc nhóm 5 đến 8, các loại gỗ này được sơ chế và vận chuyển đi bán hoặc đa số các xưởng nhỏ sử dụng để sản xuất đồ dùng gia đình như: bàn, ghế, giường, tủ

Cho đến thời điểm này, trên toàn huyện có 03 cơ sở là xưởng xẻ gỗ keo và bán thành phẩm

là các thanh gỗ cho các nhà máy sản xuất đồ dùng ở ngoài Hà Nội hoặc trong miền Nam Tuy nhiên, lượng sản phẩm không nhiều và hoạt động không thường xuyên Như vậy, có thể thấy rằng: một lượng lớn gỗ keo được khai thác từ vườn hộ đã được sử dụng làm nguyên liệu cho các Nhà máy băm dăm trên địa bàn Hà Tĩnh và Nghệ An

2.3 Các sản phẩm lâm sản của điểm khảo sát

Theo báo cáo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Hương Sơn (2010 – 2020), diện tích đất rừng của huyện là 76.229,8 ha, độ che phủ đạt 70% Hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng, gồm 523 loài, 360 chi, của 5 ngành thực vật bậc cao, trong đó, nhóm cây lấy gỗ có 121 loài Tổng trữ lượng gỗ các loại của rừng Hương Sơn khoảng 8.321.650 m3, trong đó rừng tự nhiên 8.092.886 m3, rừng trồng 228.764 m3 và 14 triệu cây tre nứa

Rừng Hương Sơn có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) quý hiếm khác như: Hoằng Đằng,

Sa Nhân, Hoài Sơn, Chỉ Xác … và nhóm cây có giá trị làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như Song, Mây, Tre trúc …

Bảng1 Tổng hợp trữ lượng rừng ở Hương Sơn:

Trang 8

Keo và Thông bắt đầu được trồng phổ biến từ những năm 2000, với dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng (Hương Sơn trồng được 3.600 ha), dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở dãy núi Bắc Trường Sơn (chính phủ Đan Mạch tài trợ), dự án đầu tư Vườn quốc gia Vũ Quang, và một số

dự án nhỏ của các tổ chức, doanh nghiệp khác Một số ít cây gỗ được trồng trong các vườn

hộ gia đình như: Xoan, Mít … tuy nhiên sản lượng những loại cây gỗ này không nhiều trên thị trường và người dân không có xu hướng mở rộng phát triển sản xuất

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có nhiều loại nhưng không được sản xuất và trao đổi mang tính hàng hóa, ngoại trừ một số ít Mây nếp được trồng xen với các rừng keo Một số xã cũng đã trồng mây từ những năm có dự án trồng rừng Tuy nhiên, khối lượng nhỏ và nhu cầu thị trường không cao, do vậy đến thời điểm này diện tích và sản lượng còn không đáng kể Chỉ còn một số ít hộ ở xã Sơn Quang vẫn còn duy trì tại vườn hộ

Thông qua việc khảo sát, tham vấn với các bên liên quan và phỏng vấn hộ dân, kết quả cho thấy: hiện nay, trên đại bàn Hương Sơn thì Keo vẫn là loài cây trồng rừng phổ biến nhất và cũng là sản phẩm trao đổi trên thị trường mang lại thu nhập cho các hộ trồng rừng Tiếp sau

đó lần lượt đến thông, xoan và mít, tuy nhiên khối lượng không nhiều

2.4 Đối tượng quản lý rừng ở Hương Sơn

Diện tích đất lâm nghiệp của Hương Sơn là 84.416,9 ha, trong đó đất có rừng là 76.229,8 ha (chiếm 90,3%) Phần diện tích đất lâm nghiệp có rừng gồm: đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên

là 64.812,6 ha, đất lâm nghiệp có rừng trồng là 11.471,2 ha và đất chưa có rừng là 8,187 ha Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng được phân bổ theo 3 loại rừng là: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất

7 Sinh thái vùng cao Ban 01 293,3

8 Tổng đội thanh niên

9 Dự án của huyện Dự án 02 194,5

Nguồn: Phòng NN&PTNT

Trang 9

Theo ước tính của huyện, thì có đến 70% diện tích đất rừng trồng ở trên là trồng keo, số diện tích còn lại trồng một số cây bản địa như: lim, vạng,…

Xét ở góc độ quản lý và sử dụng diện tích đất lâm nghiệp thì các hộ nông dân quản lý và sử dụng 15,6%, các doanh nghiệp là 51,5%, các ban quản lý rừng là gần 20%, còn lại là Ủy ban nhân dân xã (UBND) và cộng đồng gần 14%

Từ dẫn chứng trên cho thấy: nguồn cung cấp gỗ keo chính trên địa bàn Hương Sơn hiện nay

là các doanh nghiệp, sau đó là các hộ gia đình với 5.442 hộ rải rác tại 28 xã, thị trấn Một số

xã tập trung chính là: Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Trường, Sơn Quang, Sơn Lễ, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Mai, Sơn Lâm…

Như vậy Keo là cây trồng rừng chủ yếu vì thế để có thể phân tích sâu và có cái nhìn chung

về thị trường lâm sản ở Hương Sơn, các phần tiếp theo trong báo cáo này chúng tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu các sản phẩm từ cây Keo

2.5 Chuỗi giá trị của sản phẩm gỗ Keo

Keo được trồng và phát triển nhanh từ những năm 2000 nhờ các dự án của Nhà nước và các

Tổ chức bên ngoài hỗ trợ về nhiều mặt Các hộ dân tham gia là người hưởng lợi trực tiếp từ các dự án, được giao đất rừng, cung cấp kỹ thuật, cây giống … để sản xuất Cũng từ đó, phong trào trồng keo phát triển mạnh, kể cả các hộ không thuộc diện dự án cũng đã chủ động mua giống cây về trồng, tính đến thời điểm năm 2011 là tương tương 2 chu kỳ trồng và khai thác keo của các hộ trồng rừng

Các sản phẩm từ cây Keo:

Keo trồng sau 6 đến 7 năm là cho thu hoạch, tuy nhiên tùy vào điều kiện của hộ gia đình, mục đích khai thác nên tuổi cây để thu hoạch rất khác nhau biến động từ 4 đến 10 tuổi Các yếu tố như tuổi cây, điều kiện trồng, khả năng chăm sóc, điều kiện thổ nhưỡng quyết định đến kích cỡ của cây, chất lượng gỗ keo cũng như tỉ lệ sản phẩm Có ba loại sản phẩm chính

từ keo như sau:

Trang 10

Bảng 3 Các sản phẩm và tiêu chí phân loại sản phẩm

Số TT Loại sản phẩm Tiêu chí phân loại

1 Gỗ xẻ Đường kính đầu nhỏ từ 10 cm (vanh 32 cm) trở

lên, dài 0.5 đến 4 m

2 Gỗ bột giấy Đường kính đầu nhỏ từ 4 cm (vanh 13 cm) trở

lên, dài 0.5 đến 4 m

Nguồn: Thông tin điều tra

Gỗ xẻ là sản phẩm có giá trị cao nhất do vậy để tối đa hóa lợi ích người ta tối đa hóa khối lượng gỗ xẻ, tiếp đến gỗ nguyên liệu giấy và cuối cùng là củi Tuy nhiên, đối với sản phẩm

là củi không được tính đến lý do giá thành rẻ không bù đắp được chi phí khai thác vận chuyển nên người dân bỏ lại rừng nhằm tăng độ phì của đất

Hệ thống phân phối

Cùng với sự phát triển sản xuất và nhu cầu sản phẩm trên thị trường nên đã hình thành một

hệ thống sản xuất – thị trường ở Hà Tĩnh, đã có sự tham gia của 6 tác nhân (theo sơ đồ mô tả tác nhân), có 01 tác nhân thứ 6 chưa có tại tỉnh là: Nhà máy/xưởng sản xuất đồ gia dụng từ

gỗ keo

Giữa các tác nhân này, hiện chưa có các hợp đồng sản xuất – tiêu thụ một cách chính thức, việc mua – bán, giá cả và số lượng phụ thuộc vào yếu tố thị trường bên ngoài Thông thường sức ép về giá và lượng mua được đẩy ngược từ Nhà máy, xưởng cho những người thu gom

và người trồng rừng ít có cơ hội và khả năng quyết định về giá cả

Sơ đồ: mô tả các tác nhân tham gia vào chuỗi sản xuất – tiêu thụ gỗ Keo

Nhà máy băm dăm

Xưởng

xẻ gỗ keo

Người thu gom

gỗ keo

Các dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh – kinh doanh

Dự án trồng rừng Ngân hàng Dịch vụ khai thác, vận chuyển

Nhà máy sx

đồ gia dụng

Trang 11

Dòng sản phẩm của gỗ keo trên thị trường

Kênh 1

Đến 95% trữ lượng sản phẩm rừng tiêu thụ theo cách này Trên địa bàn Hương Sơn, có 65 người thu gom gỗ keo, trong đó có 3 người vừa làm thu gom gỗ keo đi bán cho Nhà máy băm dăm đồng thời vừa làm gỗ xẻ

Có 2 loại sản phẩm chính từ cây keo được người thu gom phân loại để bán: bán cho Nhà máy băm dăm đối với loại keo có vanh nhỏ hơn 50 cm (hầu như là bán xô), và bán cho Xưởng xẻ đối với loại keo có vanh lớn hơn 50 cm

Mô tả và phân tích các giao dịch

a) Mô tả

Giao dịch số 1

Giao dịch số 1 là giao dịch diễn ra giữa nông dân và thương lái thường diễn ra dưới hai phương thức

Phương thức 1: mua cây đứng tại rừng chiếm tới 85% số lượng rừng khai thác của nông dân

Cách tính Giá mua/cây Đặc điểm cây Nhận xét

Phụ thuộc vào tỷ lệ cây có vanh to nhiều hay ít, đường giao thông, nếu vườn rừng ở xa đường giao thông, đi – lại khó khăn, việc vận chuyển mất nhiều công sức thì giá bán cây sẽ giảm dần

Ở phương thức này, người thu gom trả tiền cho nông dân trên cơ sở đếm cây, người thu gom tự chịu trách nhiệm thuê lao động khai thác, thuê phương tiện khai thác, vận chuyển …

băm dăm

Xưởng xẻ gỗ keo Thanh, ván

Nhà máy, xưởng sx

Trang 12

60 cm trở lên Người thu gom tự chịu trách nhiệm thuê lao động khai thác vận chuyển, thuê phương tiên khai thác

và vận chuyển từ vườn rừng đến nơi mà xe tải có thể vận chuyển đi bán

Sau khi gỗ được vận chuyển và xếp lên xe tải thì

đo Ster để trả tiền cho nông dân

Hoặc đo m3 để thanh toán Giá mua giao động ở mức cao hay thấp là phụ thuộc vào đường giao thông đi lại khó hay dễ, thông thường

150.000 đến

200.000đồng/

1 Ster

có vanh < 40cm trở xuống

số cây, đường kính cây, mật độ, căn cứ vào giao thông đi – lại … để từ đó định giá mua

Hiện nay, mỗi người thu gom đều có cách tính riêng và kinh nghiệm riêng khi đặt vấn đề mua keo của nông dân theo hình thức này Hình thức mua này, cũng có thể giúp người thu gom có lãi cao nhưng cũng có một số người chịu thua lỗ và

bỏ nghề vì bằng cách tính toán nào chăng nữa thì cuối cùng họ vẫn chủ yếu bán keo làm bột giấy và khi bán là tính theo kg (Chi tiết xem thêm phụ lục)

Hình thức mua bán này được áp dụng đơn vị tính

là ha, mỗi ha ở đây thường có đến 2/3 keo và 1/3

là thông trồng xen (1 ha trồng có 1.200 cây keo +

600 cây thông) Khi mua theo cách này, các chủ thu gom chỉ được khai thác keo và trả tiền tính theo đơn vị m3, việc định số lượng m3/ 1ha rừng

đó là do BQL lâm trường tính toán trước và giá (đây là mức giá tính đồng đều mà người thu gom phải trả cho chủ rừng)

Trang 13

Phương thức 2 mua cây đã hạ tại bãi gỗ gần đường:

Giá bán

Hình thức mua này chủ yếu diễn ra giữa các thu gom với nhau, do sự nắm bắt thông tin về giá cả, mối bán hàng khác nhau, có hay không có phương tiện vận chuyển đi bán (xe tải) giữa những người thu gom nên họ thường bán lại cho nhau những lô hàng mà họ đã khai thác và đã được mang ra để tại bãi ven đường Có 2 cách mua – bán ở hình thức này là: Bảng 4 Các cách tính khác nhau của thương lái

Cách tính Giá mua/cây Đặc điểm cây Nhận xét

60cm thì đo m3

1.500.000 đồng đến 1.800.000đồng/m3 (chưa bóc vỏ).

nếu cây keo có số vanh lớn hơn 60cm thì tính khối đông đặc (đo

m3 từng cây một)

Có khi giá lên đến 1900.000 – 2100.000/m3 đối với cây có vanh lớn 90 – 100cm

Ở đây, người thu gom thường xác định xem nguồn gốc keo được trồng ở đâu, vị trí nào? Theo lý giải của những người thu gom thì sự khác nhau giữa vị trí trồng keo sẽ quyết định chất lượng keo như độ đặc, chắc và trọng lượng của keo, việc xác định này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp lâu năm ở địa phương

Ở thời điểm này, các thu gom rất khó để mua được số lượng keo nhiều có vanh lớn hơn 60cm, bởi vì người nông dân thường trồng với mật độ cao từ 3.000 đến 3.500 cây/ha dẫn đến tình trạng nhiều cây nhưng rất ít cây to Bên cạnh đó nhiều hộ dân thường khai thác sớm hơn

so với quy định độ tuổi (có khi keo 4 tuổi đã khai thác bán) do điều kiện kinh tế gia đình gặp khó khăn

Trang 14

Chi phí khai thác và vận chuyển tới bãi gỗ ven đường

Ngoài việc đi tìm nguồn keo để mua, tính toán giá trị của vườn keo thì người thu gom phải chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị để khai thác như: cưa xăng, dây, dao, xe trâu kéo, phương tiện vận chuyển (tự có hoặc thuê) để khai thác và vận chuyển Việc tổ chức lao động để khai thác cũng rất quan trọng với họ, tính toán lượng lao động như thế nào cho phù hợp và hiệu quả buôn bán

Chi phí để vận chuyển từ vườn rừng đến bãi tập kết (nơi xe tải vận chuyển được) là rất biến động, phụ thuộc vào mức độ phức tạp của đường giao thông Có thể vườn rừng ở gần bãi tập kết nhưng độ dốc cao, đường đi khó, lầy lội vào mùa khai thác, việc vận chuyển phải thuê nhiều lao động, thuê xe trâu kéo thì giá mua keo thấp

Việc tính toán mức độ khó khăn của giao thông là một trong các yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến lỗ hoặc lãi của người thu gom, một số ý kiến cho rằng: giá mua vận chuyển 1 lô keo từ vườn rừng đến Nhà máy (nơi tiêu thụ) và các chi phí lao động thường bằng giá trị mua lô keo đó

Bảng5 Tính toán thuê khai thác, vận chuyển đến địa điểm tập kết (tính trung bình)

TT Loại chi phí Tính theo cây Tính theo Ster/m3 Tính theo ha

Khoảng cách từ Hương Sơn đến Nghi Xuân là 70 km, đến Kỳ Anh là 140 km, đến cửa lò

100 km Ở các điểm mua này có mức giá khác nhau và thay đổi theo thời gian

Trang 15

- Keo bán làm nguyên liệu băm dăm chủ yếu là cây keo thường có vanh nhỏ hơn 50cm, đã được bóc vỏ tại bãi tập kết, có chiều dài từ 2 – 3m, loại keo này được bán theo tấn, giá bán giao động 1000.000 – 1.050.000đồng/tấn (thời điểm năm 2011), đối với mùa nắng, keo thường bị hao hụt (mất nước) thì nhà máy thường bù thêm 1 – 2 giá1

Giá mua tại Nhà máy băm dăm Nghi Xuân – Hà Tĩnh thường có giá thấp hơn các nơi khác khoảng 50.000 đến 100.000đồng/tấn

20 – 22 tấn Giá trung bình và các chi phí cho một chuyến xe từ Hương Sơn đến các Nhà máy giao động từ 4.500.000 – 5.000.000đồng (đến các nhà máy ở Kỳ Anh – Hà Tĩnh), 2.000.000 – 2.500.000đồng (đến Nhà máy ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh, chi phí vận chuyển bằng 50% so với đi Kỳ Anh) Cũng có một số thu gom sử dụng loại xe tải có trọng tải 8 đến 10 tấn, giá thuê xe thường theo hình thức khoán 2.000.000 - 2.500.000 đồng/xe (từ bãi tập kết đến Nhà máy)

Giao dịch số 3 Người thu gom bán sản phẩm cho xưởng gỗ xẻ

Nơi bán và giá cả

- Keo được bán làm gỗ xẻ đã được bóc vỏ thường có vanh lớn từ 50 đến 60cm trở lên, chiều dài theo yêu cầu từng giai đoạn của các xưởng xẻ, giá bán giao động tùy theo kích thước vanh của keo, đơn vị tính là m3

Ngày đăng: 11/03/2016, 05:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Chủ sử dụng rừng - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Bảng 2. Chủ sử dụng rừng (Trang 8)
Bảng 3. Các sản phẩm và tiêu chí phân loại sản phẩm - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Bảng 3. Các sản phẩm và tiêu chí phân loại sản phẩm (Trang 10)
Hình thức mua này chủ yếu diễn ra giữa các thu gom với nhau, do sự nắm bắt thông tin về  giá cả, mối bán hàng khác nhau, có hay không có phương tiện vận chuyển đi bán (xe tải)  giữa những người thu gom nên họ thường bán lại cho nhau những lô hàng mà họ đã - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Hình th ức mua này chủ yếu diễn ra giữa các thu gom với nhau, do sự nắm bắt thông tin về giá cả, mối bán hàng khác nhau, có hay không có phương tiện vận chuyển đi bán (xe tải) giữa những người thu gom nên họ thường bán lại cho nhau những lô hàng mà họ đã (Trang 13)
Bảng 6. Giá các sản phẩm gỗ keo - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Bảng 6. Giá các sản phẩm gỗ keo (Trang 15)
Bảng 7 Tỉ lệ trừ bỏ tương ứng nếu chua được bó vỏ - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Bảng 7 Tỉ lệ trừ bỏ tương ứng nếu chua được bó vỏ (Trang 16)
Bảng số 9 . Cơ cấu giá thành 1 ha trải qua các công đoạn - BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM NGHIỆP TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH
Bảng s ố 9 . Cơ cấu giá thành 1 ha trải qua các công đoạn (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w