1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chức năng tạo lập môi trường cho các hoạt động kinh tế của quản lý nhà nước về kinh tế

37 7K 168

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 76,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Sự cần thiết phải tạo lập môi trường cho phát triển kinh tế: Một môi trường thuận lợi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho sự phát triển củanền kinh tế nói chung và cho hoạt động sản

Trang 1

Lời Mở Đầu

Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có môi trường chính trị, kinh tế và xã hội khácnhau nên đối với mỗi nền kinh tế, nhà nước lại có các cách quản lý kinh tế đặc thù Muốn tìm hiểu mỗi quốc gia có cách quản lý kinh tế ra sao thì chúng ta nên tìmhiểu qua các chức năng của quản lý nhà nước về tạo lập môi trường kinh tế

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế chính là những đặc trưng riêng có củaquyền lực nhà nuớc trong vịêc tác động có lựa chọn vào nền kinh tế theo các mục tiêutrong từng giai đoạn

Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc trong kinh tế

Sự phát triển vuợt bậc này chính là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nướctrong việc điều hành nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả Việt Nam phát triểnkinh tế thị truờng định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế mà vai trò kinh tế nhànuớc là chủ đạo nên các chứng năng quản lý nhà nuớc về kinh tế cần phải có thêm cảyếu tố mềm dẻo, kết hợp đuợc cả sự phát triển của kinh tế nhà nuớc và kinh tế tưnhân

Trong thời kỳ hiện nay, càng tìm hiểu rõ những chức năng của quản lý nhà nước vềkinh tế, chúng ta sẽ tìm ra đuợc nhiều phuơng pháp để giúp đất nước phát triển bềnvững, theo đúng con đường mà Đảng và Nhà nuớc đã chọn Chính vì lý do đó, nhóm

em xin phép được đi sâu vào đề tài: “Chức năng tạo lập môi trường cho các hoạt động kinh tế của QLNN về kinh tế? Liên hệ thực tiễn vấn đề này trong một lĩnh vực cụ thể (Thương mại, Tài chính – Tiền tệ, đầu tư, Kinh tế đối ngoại…) ở nước ta hiện nay?

Và để hiểu rõ vấn đề này chúng em đã đi sâu nghiên cứu các nội dung sau:

Phần 1: Lý luận chung chức năng tạo lập môi trường

Phần 2: Liên hệ chức năng tạo lập kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiệnnay

Phần 3: Một số giải pháp nâng cao chức năng tạo lập kinh tế của nhà nước ta

Trang 2

I LÝ LUẬN CHUNG CHỨC NĂNG TẠO LẬP MÔI TRƯỜNG KINH TẾ 1.1 Khái niệm

Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tập hợp các yếu tố, các điều kiện tạo nên khungcảnh tồn tại và phát triển của nền kinh tế Nói cách khác, môi trường cho sự phát triểnkinh tế là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan; bên ngoài và bên trong;

có mối liên hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng trực tiếp hau gián tiếp đến việc phát triểnkinh tế và quyết định đến hiệu quả kinh tế

Sự cần thiết phải tạo lập môi trường cho phát triển kinh tế:

Một môi trường thuận lợi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho sự phát triển củanền kinh tế nói chung và cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nóiriêng Ngược lại môi trường kinh doanh không thuận lợi không những sẽ kìm hãm, cảntrở mà còn làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ và các doanhnghiệp rơi và tình trạng phá sản hàng loạt

Vì vậy việc tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước và cho

sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết khách quan

1.2 Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế

1.2.1 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm môi trường vi mô, vĩ mô và môi trường thị trường

Các loại mô hình kinh tế

 Nền kinh tế chỉ huy

Nền kinh tế chỉ huy là nền kinh tế được kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn giữa ba vấn

đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào đều do Nhà nước quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương và cơ

sở sản xuất kinh doanh Nhà nước tiến hành quốc doanh hóa và tập thể hóa, xóa bỏ tư nhân Nhà nước cấp phát vốn và vật tư cho các ngành, các địa phương và cơ sở để thực hiện nhiệm vụ

 Nền kinh tế thị trường tự do

Trang 3

Thị trường tự do là một thị trường mà không có sự can thiệp kinh tế và quy định của

nhà nước, ngoại trừ việc thực thi các hợp đồng tư nhân và quyền sở hữu tài sản Thị trường tự do ngược lại với thị trường có kiểm soát, trong đó nhà nước trực tiếp quy định hàng hoá, dịch vụ và lao động có thể được sử dụng, định giá giá cả, hoặc phân phối như thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân

Một nền kinh tế thị trường tự do là một nền kinh tế nơi mà tất cả các thị trường bên trong

nó không được kiểm soát bởi các bên khác hơn so với những người tham gia trên thị trường Ở dạng thuần khiết nhất của nó chính phủ đóng một vai trò trung lập trong việc quản lý và điều ban hành pháp luật về hoạt động kinh tế không giới hạn và cũng không tích cực thúc đẩy nó (ví dụ như điều tiết các ngành công nghiệp cũng như trợ cấp cung cấp cho các doanh nghiệp cho phép một mình bảo vệ họ khỏi áp lực thị trường nội / ngoại) Một nền kinh tế như vậy dưới hình thức cực đoan nhất của nó không tồn tại trong nền kinh tế phát triển, tuy nhiên những nỗ lực tự do hóa nền kinh tế hoặc nỗ lực làm cho

nó "tự do hơn" để hạn chế vai trò của chính phủ theo cách như vậy

Lý thuyết này cho rằng trong một thị trường lý tưởng tự do, quyền sở hữu được trao đổi một cách tự nguyện trao đổi ở một mức giá được thỏa thuận chỉ bằng sự đồng ý lẫn nhau của người bán và người mua Theo định nghĩa, người mua và người bán không ép buộc lẫn nhau, theo nghĩa là họ có được quyền sở hữu của nhau mà không sử dụng vũ lực, đe dọa của lực lượng vật chất, hoặc gian lận, cũng không phải là họ bị cưỡng chế do bên thứ

ba (như của chính phủ thông qua các khoản thanh toán chuyển giao)và họ tham gia vào thương mại đơn giản chỉ vì họ đều đồng ý và tin rằng những gì họ đang nhận được là giá trị nhiều hơn hoặc càng nhiều càng tốt những gì họ bỏ đi Giá là kết quả của các quyết định mua bán hàng loạt như được mô tả bởi các lý thuyết về cung và cầu

 Nền kinh tế hỗn hợp

Đặc trưng của nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế vận hành theo nền kinh tế thị trường có

sự can thiệp của chính phủ với những mức độ khác nhau, chính phủ chỉ can thiệp có mực

đọ giưới hạn vào các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Bàn tay vô hình sẽ điều chỉnh

sự vận hành của nền kinh tế, thay cho sự can thiệp trực tiếp của chính phủ như trước đây

Sự can thiệp của chính phủ có thể diễn ra theo hai cách: chuyển sở hữu thực sự của chính phủ dối với các yếu tố sản xuất và tạo ảnh hưởng trong việc ra quyết định kinh tế Vấn để

sở hữu có thể xác định một cách chính xác về số lượng bằng phương pháp thống kê, tuy nhiện ảnh hưởng của chính phủ thông qua chính sách và tập quán khó có thể đo lường một cách chính xác

Chính sự can thiệp của chính phủ nhiều hay ít và nền kinh tế có thể sẽ tạo ra những thuận lợi, khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau cho doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sớm phát hiện ra những cơ hội hoặc thách thức mới trong kinh doanh, để từ

Trang 4

đó có sự điều chỉnh các hoạt động cho thích ứng, nhằm tránh những đảo lộn lớn trong quá trình vận hành nhằm đạt những mục đích đã định trong kinh doanh

1.2.2 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý là tổng thể các hoàn cảnh luật định được nhà nước tạo ra để điềutiết sự phát triển kinh tế, bắt buộc các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần hoạt độngtrong nền kinh tế thị trường phải tuân theo

Sự tác động của pháp luật đến các hoạt động sản xuất – kinh doanh được thựchiệnthông qua một cơ chế phức tạp Hoạt động kinh tế được tiến hành thông qua hoạtđộng cóý thức của con người và phải tuân theo những quy luật kinh tế khách quan Phápluật không đặt ra các quy luật mà chỉ tác động đến hànhvi của người kinh doanh, đặt racác tiêu chuẩn cho con người tuân thủ, chấp hành Đồng thời pháp luật còn thể hiện yêucầu của nhà nước đối với cácđơn vị kinh tế dưới dạng quyền và nghĩa vụ của chủ thể Trước hết, pháp luật xác lập vàđiều chỉnh các quan hệ sở hữu là quan hệ kinh tế cơ bảncủa xã hội

Thứ hai, pháp luậtđóng vai trò là công cụ quản lý vàđiều tiết kinh tế.Điều này thể hiệnthông qua việc thể chế hóa chiến lược, chính sách kế hoạch phát triển đất nước trong từnggiai đoạn để triển khai thực hiện Pháp luật thừa nhận sự tồn tại và bình đẳng của cácthành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, tạođiều kiện cho chúng phát triển và bảo vệchúng, quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể sản xuất kinh doanhnhằmđiều chỉnh các quan hệ kinh tế theo hướng mà Nhà nước mong muốn

Thứ ba, pháp luật còn là công cụ điều tiêt lợi ích của các chủ thể khi tham gia thịtrường Để đạt được lợi nhuận tối đa, các chủ thể sản xuất kinh doanh sẵn sang áp dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm biện pháp sản xuất kinhdoanh có hiệu quả… nhưng đông thời họ cũng sẵn sàng sử dụng các biện pháp tiêu cựcnhư: cạnh tranh không lành mạnh, trốn thuế, lừa đảo… Do vây pháp luật là công cụkhông thể thiếu để điều tiết lợi ích các chủ thể

Trang 5

Thứ tư, Pháp luật góp phần tạo điều kiện để giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh từnền kinh tế thị trường

Luật pháp điều chỉnh các họat động kinh tế trong nội bộ một quốc gia và giữa các quốcgia là một phần không thể tách rời môi trường kinh doanh.Hệ thống luật pháp ở các quốcgia trên thế giới tồn tại đa dạng và phức tạp Nếu một quốc gia có hệ thống luật phápkhông ổn định và thiếu đồng bộ, sẽ gây ra tâm lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpchỉ có tính chất tạm thời, không có dự án đầu tư dài hạn và quy mô lớn Bên cạnh đó, sốlượng các nhà đầu tư có khả năng chấp nhận mạo hiểm đầu tư vào các quốc gia này rấthạn chế

Quan điểm của đảng lãnh đạo, cơ chế điều hành của chính phủ tạo ra tác động lớn đếnhoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp Cơ chế điều hành của chính phủ ảnhhưởng trực tiếp đến cơ chế ban hành luật pháp, tính hiệu lực của luật pháp và các chínhsách kinh tế.Ngày nay, khi thế giới trong tiến trình thống nhất, môi trường luật pháp ởmỗi quốc gia đều có sự hoà đồng với các quy định chung của quốc tế

xã hội chủ nghĩa và các quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa Thông thường đi liềnvới xung đột về chính trị là xung đột về ngoại giao và kinh tế Hệ thống thể chế chính trị

có thể tạo điều kiện hay gây nên rủi ro không lường trước được đối với các doanh nghiệpkhi tham gia vào thương mại quốc tế hay xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia Mộtdoanh nghiệp kinh doanh quốc tế luôn bị ảnh hưởng bởi chính sách, thể chế của nước chủnhà cũng như nước nhập khẩu hay đầu tư

Trang 6

Môi trường chính trị lý tưởng cho doanh nghiệp là một chính phủ ổn định và thânthiện.Những thay đổi về quan điểm và mục đích của chính phủ có thể cơ hội kinh doanhcủa doanh nghiệp thành hiểm hoạ Những thay đổi có thể bắt nguồn từ sự thay đổi củađảng phái chính trị cầm quyền, hay do điều kiện kinh tế yếu kém nên chính phủ phải rútlại các cam kết thương mại trước đó.Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất của các doanhnghiệp vẫn là tính liên tục của các qui định, nguyên tắc ứng xử cho dù bất kỳ đảng pháinào đang nắm quyền.Một sự thay đổi đột ngột không lường trước được trong chính sáchcủa chính phủ cũng có thể làm cản trở hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất kểnguyên nhân của thay đổi là gì.

Các vấn đề chính trị nhạy cảm là cái mà doanh nghiệp cần hết sức quan tâm, đặc biệt làcác vấn đề liên quan đến cộng đồng.Các nhà đầu tư nước ngoài thường bị kết tội là khaithác sự giàu có của một quốc gia với chi phí của chính người dân quốc gia đó để phục vụlợi ích cho riêng mình Điều đó sẽ dẫn đến rủi ro chính trị tăng cao Các rủi ro chính trịliên quan đến cộng đồng như chủ nghĩa dân tộc, quyền dân chủ, bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng…Với tầm ảnh hưởng như vậy, vấn đề dự đoán rủi ro chính trị là hoạt độngkhông thể thiếu trong doanh nghiệp

Nhà nước ta phải tạo ra môi trường chính trị ổn định, rộng mở cho sự phát triển kinh tế,tạo sự thuận lợi tối đa cho phát triển nền kinh tế đất nước, và cho sự hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp

Tạo lập môi trường chính trị phải thực hiện trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc, thể chếchính trị dân chủ, thể chế kinh tế có phù hợp với kinh tế thị trường, bình đẳng đối với mọithành phần kinh tế, tôn vinh các doanh nhân, các tổ chức chính trị và xã hội, ủng hộ

doanh nhân làm giàu chính đáng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.

1.2.4 Môi trường văn hoá- xã hội

Môi trường văn hóa là không gian văn hóa được tạo nên bởi các quan niệm về giá trị,nếp sống, cách ứng xử, tín ngưỡng, hứng thú, phương thức hoạt động, phong tục tập quán

và thói quen

Trang 7

Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người do luật lệ, các thểchế, các cam kết, các quy định của cấp trên của các tổ chức…

Môi trường văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ, đến hành vi và đến sự hammuốn của con người Nhà nước phải tạo ra môi trường văn hóa – xã hội đa dạng, đậm đàbản sắc dân tộc, quý trọng, gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp và tiếp thu nềnvăn hóa hiện đại một cách phù hợp, tôn trọng và tiếp thu tinh hoa của nền văn hóa thếgiới, xây dựng nền văn hóa mới thích ứng với sự phát triển kinh tế và sản xuất kinhdoanh

- Cần phải đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bình đẳng xã hộitrong phát triển kinh tế Nhà nước điều chỉnh lại chính sách phân phối thu nhập trên cơ sởmối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước, có thể sử dụng nhiều công cụ để thực hiện vaitrò điều tiết trong phân phối thu nhập như thuế, ngân sách, tín dụng nhà nước và hệ thống

- Tăng trưởng trong nền kinh tế thị trường cần phải đi đôi với việc phát triển bền vững.Nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật, thuế, điều lệ hoặc chính sách quyền sởhữu công khai nguồn tài nguyên để kiểm soát mức độ nguy hiểm đối với môi trườngsinh thái

1.2.5 Môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái, hiểu một cách thông thường, là một không gian bao gồm các yếu

tố, trước hết là các yếu tố tự nhiên gắn kết với nhau và tạo điều kiện cho sự sống củacong người và sinh vật Chúng là những điều kiện đầu tiên cần phải có để con người vàsinh vật sống Dựa vào chúng, con người mới tiến hành lao động sản xuất để tồn tại vàphát triển, chẳng hạn như không khí để thở, nước để uống, đất để xây dựng, trồng trọt vàchăn nuôi, tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu, hoặc những thứ vật liệu để phục vụcuộc sống hàng ngày, cảnh quan thiên nhiên đất nước để thưởng ngoạn,…Môi trườngsinh thái có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển nền kinh tế của đất nước và hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì:

Trang 8

+ Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng

“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống

Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật

tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người

để tạo ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì khác, mà chính

là các yếu tố môi trường Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần cókhông khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơigiải trí, học tập nâng cao hiểu biết,… Những cái đó không gì khác là các yếu tố môitrường Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên – kể cả sức laođộng) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Haynói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống Môi trường tự nhiên(bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất

xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên Thực

tế đã cho thấy, rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên đểxuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại,… Tuy nhiên, cũng phải nóirằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người(thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt độngmang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên

+ Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh

tế - xã hội

Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thầncủa con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng caochất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loàingười trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ:Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhântạo nên các biến đổi của môi trường Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hóa được

di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luânchuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luônluôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đangtồn tại trong địa bàn đó

Trang 9

Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môitrường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thểgây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo.

Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế - xãhội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng của sự phát triển kinh

tế - xã hội hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hộitrong khu vực

Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễmmôi truờng khác nhau Ví dụ:

- Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tàinguyên và năng lương của loài người Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh, hoạtđộng của quá nhiều các phương tiện giao thông vận tải đã tạo ra một lượng lớn chấtthải độc hại vào môi trường (đặc biệt là khí thải) Hiện nay việc có được mua bán haykhông quyền phát thải khí thải giữa các nước đang là đề tài tranh luận chưa ngã ngũtrong các hội nghị thượng đỉnh về môi trường, các nước giàu vẫn chưa thực sự tự giácchia sẻ tài lực với các nước nghèo để giải quyết những vấn đề có liên quan tới môitrường

- Ô nhiễm do nghèo đói: Mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, song chỉ sử dụng20% tài nguyên và năng lượng của thế giới, nhưng những người nghèo khổ ở cácnước nghèo chỉ có con đường duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng,khoáng sản, đất đai,…) mà không có khả năng hoàn phục Diễn đàn hợp tác Á – Âu(ASEM) về môi trường họp vào tháng 1/2002 tại Trung Quốc đã cho rằng nghèo đói

là thách thức lớn nhất đối với công tác bảo vệ môi trường hiện nay Do vậy, để giảiquyết vấn đề môi trường, trước hết các nước giàu phải có trách nhiệm giúp đỡ cácnước nghèo giải quyết nạn nghèo đói

Như vậy, để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễmmôi trường Vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển vàbảo vệ môi trường Để phát triển bền vững không được khai thác quá mức dẫn tới hủyhoại tài nguyên, môi trường; thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất

đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật;bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệmôi trường,…

Trang 10

Như vậy, để đảm bảo kinh tế phát triển bền vững, Nhà nước phải tạo ra môitrường sinh thái xanh, sạch, đẹp, đa dạng sinh học, bền vững Nhà nước phải có biệnpháp chống ô nhiễm, chống hủy hoại môi trường tự nhiên sinh thái, cảnh quan thiênnhiên bằng các biện pháp và các chính sách bảo vệ, hoàn thiện môi trường sinh thái.

1.2.6 Môi trường khoa học kỹ thuật

Môi trường kỹ thuật là không gian khoa học công nghệ bao gồm các yếu tố về sốlượng, tính chất và trình độ của các khoa học công nghệ: về nghiên cứu ứng dụng cácthành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, về chuyển giao khoa học công nghệ,…Ngày nay, khoa học công nghệ đã phát triển với tốc độ cao Những thành tựu khoahọc công nghệ trong nhiều lĩnh vực đã xuất hiện Tiến bộ khoa học công nghệ đã mở

ra môi trường rộng lớn cho nhu cầu của con người Chúng ta không thể không tínhđến ảnh hưởng của khoa học công nghệ đến sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, đếnquá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Nhà nước bằng chính sách của mình phải tạo ra một môi trường kỹ thuật hiện đại,thích hợp, thiết thực, phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta

1.2.7 Môi trường dân số

- Môi trường dân số là hệ thống các yếu tố tạo thành không gian dân số bao gồm quy môdân số, cơ cấu dân số, sự di chuyển dân số, tốc độ gia tăng dân số và chất lượng dân số.Môi trường dân số là một trong những môi trường phát triển kinh tế

- Nhà nước tạo ra một môi trường dân số hợp lý cho phát triển kinh tế bao gồm các yếu tố

số lượng và chất lượng dân số, cơ cấu dân số

- Nhà nước phải có chính sách điều tiết sự gia tăng dân số với tỷ lệ hợp lý, thích hợp vớitốc độ tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng dân số trên cơ sở nâng cao chỉ số H.D.I(human development index), bố trí dân cư hợp lý giữa các vùng, đặc biệt giữa đô thị vànông thôn phù hợp với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá

1.2.8 Môi trường quốc tế

Môi trường quốc tế là không gian kinh tế có tính toàn cầu, bao gồm các yếu tố cóliên quan đến các hoạt động quốc tế, trong đó có hoạt động kinh tế quốc tế Môi trườngquốc tế là điều kiện bên ngoài của sự phát triển của nền kinh tế đất nước Nó có thể tácđộng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, đến sự sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp

Trang 11

Môi trường quốc tế cần được Nhà nước tạo ra là môi trường hòa bình và quan hệquốc tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.

1.3 Nội dung chức năng tạo lập môi trường cho các hoạt động kinh tế của Nhà nước

+Chủ động bình ổn giá cả để tạo môi trường cho đầu tư, tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện đời sống nhân dân

Trong kinh tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩysinh thông qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế Sự giaođộng kinh tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá cả, chonên quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dung chủ yếu về sựcan thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiết quan hệ cung – cầu,điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết quan hệcạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biến xấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt độngsản xuất kinh

Bình ổn giá cả thị trường và phục vụ nhu cầu mua sắm các mặt hàng thiết yếu phục vụđời sống nhân dân, đảm bảo cân đối cung cầu, không để tình trạng xảy ra tình trạng thiếuhàng, sốt giá, góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội trong những tháng cuối năm vàdịp Tết Nguyên đán; tạo cơ hội và điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín mạnh bánhàng và mở rộng sản xuất kinh doanh Mục tiêu lớn nhất của chương trình là phục vụ đờisống thiết yếu cho người tiêu dùng Với uy tín của các doanh nghiệp tham gia chươngtrình bình ổn được tạo dựng trong nhiều năm qua, việc giá cả các mặt hàng bình ổn đượcđiều chỉnh kịp thời và đúng lúc sẽ giúp người tiêu dùng yên tâm

Thu hút các đối tác, doanh nghiệp đầu tư sản xuất, tăng năng suất, sản lượng hàng hóathiết yếu phục vụ nhân dân

+Huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước bằng nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực

Cán bộ là cái gốc để hoàn thành tốt mọi công việc Vì vậy, cần hoàn thiện chế độcông vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tínhnghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ,công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn, gắn với việc tinh giản biên chế, nâng caochất lượng đội ngũ Tăng cường cán bộ cho cơ sở, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng

xa, nơi có nhiều khó khăn Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Đổi mới

Trang 12

chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn để họ yêntâm phấn khởi làm việc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngày càng được chú trọng cả về sốlượng, chất lượng Hiện, Bộ đã và đang áp dụng những chính sách khuyến khích củaNhà nước đối với các trường hợp tuyển dụng đã tốt nghiệp thạc sỹ, tiến sỹ, sinh viênxuất sắc Bộ đã chú trọng, tạo điều kiện cho những trí thức ưu tú được cống hiến, thểhiện tốt nhất tài năng, vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc Rất nhiều cán

bộ, công chức, viên chức trẻ đã có mặt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đã lựachọn và cử nhiều công chức trẻ đi đào tạo ở nước ngoài và sử dụng họ sau khi đàotạo

+Đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công tác phân tích, đánh giá, dự báo tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, cần khắc phục nhược điểm trong công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh

tế xã hội đó là ôm đồm quá nhiều mục tiêu, theo đó tập trung cho những mục tiêu hiệuquả và phát triển bền vững

Thứ ba, đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

-xã hội theo hướng nâng cao chất lượng quy hoạch bằng cách nâng vị trí pháp lý của vănbản ban hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lên tương đương với kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội 5 năm Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 10 năm cần lược

bỏ sự trùng lặp các nội dung được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10năm, thay vào đó là định hướng cho việc quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội các vùng,các ngành có vai trò chiến lược, có căn cứ khoa học, có tầm nhìn dài hạn, được công khaihóa và thu hút sự đóng góp ý kiến của đông đảo nhân dân

Đổi mới cách thức thông qua và phê duyệt kế hoạch, đồng thời tăng cường các biệnpháp kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện kế hoạch - Cần có kế hoạch tổng thể chovực kinh tế nhà nước theo hướng tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động côngích, phát triển mạnh các lĩnh vực hạ tầng cơ sở; giữ các vị trí then chốt, trọng yếu trongnền kinh tế; giải quyết những vướng mắc trong việc thực thi những chính sách cổ phầnhóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước

+Nâng cao chất lượng dự toán ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư phát triển cho các vùng khó khăn

Trang 13

Trên cơ sở bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch, Nhà nước cần tiến hành ưu tiên ngân sách vàcác nguồn lực khác để đẩy nhanh việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng của từng vùng

và trên phạm vi cả nước; khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, đặcbiệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triển vào lĩnh vực này,chú trọng các công trình quan trọng, thiết yếu và khắc phục tình trạng đầu tư giàn trải,lãng phí, kém chất lượng Bên cạnh đó, Nhà nước cần ưu tiên phát triển hạ tầng thịtrường, đó là: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh,giao dịch, hệ thống bến bãi, kho hàng và các dịch vụ khác như điện, nước, trường học, ytế

+Mở cửa và phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có khả năng tạo

ra nhanh- nhiều giá trị tăng thêm, các dịch vụ cao cấp

Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng như du lịch, bảo hiểm vận tảihàng không, xây dựng, xuất khẩu lao động… khuyến khích phát triển dịch vụ mới có sứccạnh tranh cao; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2006-2010 cao hơn tốc

độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành và nội ngànhdịch vụ, tăng dần tỷ trọng dịch vụ trong GDP của cả nước, tiến tới đạt khoảng 45% vàonăm 2010

Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệpkinh doanh dịch vụ trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế; đẩy mạnh khai thác tiềmnăng và lợi thế của từng lĩnh vực dịch vụ, tăng cường sự hợp tác giữa các lĩnh vực dịch

vụ để cùng cạnh tranh và phát triển

Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ và dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ thông qua các hoạt độngdịch vụ du lịch, tài chính-ngân hàng, thu kiều hối và bán hàng tại chỗ, bưu chính viễnthông, vận tải hàng không và đường biển; giảm thâm hụt cán cân dịch vụ

Đẩy mạnh xã hội hoá để phát triển các dịch vụ văn hoá, giáo dục y tế, thể dục thể thao,dịch vụ việc làm…theo cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân

và từng bước hội nhập quốc tế

Khảo sát, đánh giá sức cạnh tranh của từng lĩnh vực dịch vụ hiện tại và trong tương lai,phân loại các dịch vụ cần được bảo hộ, các lĩnh vực loại trừ tạm thời, loại trừ hoàn toàn

Trang 14

cho việc mở cửa các ngành dịch vụ và dành đãi ngộ quốc gia, tối huệ quốc cho các nhàcung cấp dịch vụ nước ngoài.

Chỉ thị này cũng đặt yêu cầu cụ thể cho các Bộ/ngành/địa phương về công tác xây dựngchiến lược, quy hoạch phát triển dịch vụ cũng như các công tác liên quan khác nhằm hỗtrợ việc hoạch định chính sách ngành dịch vụ

+Tập trung chỉ đạo để chuyển biến rõ rệt một số khâu còn yếu kém của chương trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả chỉ đạo điều hành của bộ máy HCNN

Muốn phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, tất yếuphải có đầu tư Mà Nhà nước chỉ đầu tư một phần về hạ tầng, còn chủ yếu vẫn là cácthành phần kinh tế, doanh nghiệp, kể cả hộ cá thể

"Để tạo được môi trường đầu tư thuận lợi cho các thành phần kinh tế phải làm tốt cácvấn đề sau: thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất, đa dạng hoá nguồn vốn và trách nhiệmcủa chính quyền địa phương"

Thủ tục hành chính hiện nhiều nơi còn rườm rà gây mất thời gian của các doanh nghiệp,tăng chi phí Điều này sẽ cản trở việc tiến hành đầu tư của các thành phần kinh tế

Về đất đai - mặt bằng sản xuất kinh doanh - lâu nay đã được Chính phủ nói đến rấtnhiều, nhưng đây là vấn đề rất khó khăn Việc giải toả mặt bằng ở nhiều nơi gặp trở ngại

do dân đòi đền bù cao theo giá thị trường Chính phủ cũng đã có chỉ đạo phải tạo đượcmặt bằng sản xuất, thông qua Luật Đất đai năm 2003

Việc đa dạng hoá nguồn vốn là rất cần thiết Lâu nay các doanh nghiệp chỉ nhìn vàonguồn vốn từ ngân hàng, hoặc vốn ưu đãi của Nhà nước Nhưng ưu đãi của nhà nướchằng năm chỉ có 10.000 tỷ mà lại ưu tiên cho các dự án công trình có tính chất chuyểndịch cơ cấu kinh tế, hay tạo ra năng lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ (như các nhà máyphân đạm, điện, phôi thép lớn) Các doanh nghiệp chưa khai thác nguồn vốn khác, quacác định chế tài chính trung gian, các quỹ hay thị trường chứng khoán

Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:

- Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng, mở rộng quan hệ đốingoại, trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại

- Xây dựng và thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế-xã hội theohướng đổi mới và chính sách dân số hợp lý

- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật

- Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm điều kiện cơ bản cho hoạtđộng kinh tế có hiệu quả: giao thông, điện nước, thông tin, dự trữ quốc gia

Trang 15

- Xây dựng cho được một nền văn hoá trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và thừa kế tinh hoa văn hoá của nhânloại.

- Xây dựng một nền khoa học-kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cần thiết và phù hợp,đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp, cải cách nền giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và trí tuệ phục vụcho sự phát triển kinh tế

- Xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật về bảo vệ và sử dụngcó hiệu quảtài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ và hoàn thiện môi trường tự nhiên, sinh thái

1.4 Những biện pháp để nhà nước tạo lập môi trường

+Đảm bảo sự ổn định kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở đất liền, vùng trời, vùng biển và hải đảo Giữvững hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.Bố trí thế trận quốc phòng, anninh phù hợp với tình hình mới Gắn kết quốc phòng với an ninh Kết hợp chặt chẽ quốcphòng, an ninh với phát triển kinh tế-xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quyhoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn

xã hội, quan tâm đặc biệt đến các vùng, địa bàn trọng điểm

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và pháttriển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; ViệtNam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạomôi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước Tăng cường quan hệhữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại vềbiên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luậtpháp quốc tế và quy tắc ứng xử của khu vực

+Xây dựng thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế- xã hội theo hướng đổi mới và chính sách dân số hợp lý

Trang 16

Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế theo cơ chếthị trường, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội.Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồngthời đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển nhanh hệ thống y tếcông lập và ngoài công lập;hoàn chỉnh mô hình tổ chức và củng cố mạng lưới y tế cơ sở.

Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc conngười Việt Nam.Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tíchcao.Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức sinh thaythế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số Đẩy mạnh xã hội hoátrong các lĩnh vực y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình và thể dục thểth

+Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật

Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bìnhđẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.Hoàn thiện chínhsách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyềntrong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiềncông Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất

là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty Quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nướcngoài; giữ mức nợ chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn Tăng cườngvai trò giám sát ngân sách của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng.Mở rộng các hìnhthức thanh toán qua ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt Điều hành chính sáchlãi suất, tỉ giá linh hoạt theo nguyên tắc thị trường Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chínhsách về đất đai bảo đảm hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất, củangười giao lại quyền sử dụng đất và của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng cóhiệu quả nguồn lực đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũngđất đai

+Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh

tế có hiệu quả: giao thông, điện nước, thông tin, dự trữ quốc gia

Trang 17

Hình thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiệnđại là một đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và

cơ cấu lại nền kinh tế Tập trung rà soát và hoàn chỉnh quy hoạch xây dựng kết cấu hạtầng trong cả nước và trong từng vùng, nhất là giao thông, thủy điện, thủy lợi, bảo đảm

+Xây dựng cho được một nền văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và thừa hưởng tinh hoa văn hóa nhân loại

Tạo bước phát triển mạnh mẽ về văn hóa, xã hội Tăng đầu tư của Nhà nước, đồngthời đẩy mạnh huy động các nguồn lực của xã hội để phát triển văn hóa, xã hội Nâng caothu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân Có chính sách và các giải pháp phù hợpnhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thànhthị.Hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ công cộng thích ứng vớithể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Nhà nước không ngừng nâng caomức bảo đảm các dịch vụ công cộng thiết yếu cho nhân dân

Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốtđẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệgiữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một độnglực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế Tập trung xây dựng đời sống, lối sống

và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, văn hóa

Trang 18

trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người ViệtNam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xãhội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ

+Xây dựng một nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, cần thiết và phù hợp, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cải cách giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và trí tuệ phục vụ cho

sự phát triển của kinh tế.

Hướng trọng tâm hoạt động khoa học, công nghệ vào phục vụ công nghiệp hoá,hiện đại hoá, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệuquả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ: nângcao năng lực, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, tăngcường hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ

Tăng nhanh năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm Gắn các mụctiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội

ở từng cấp, ngành, địa phương và cơ sở

Đẩy mạnh nghiên cứu - triển khai, ứng dụng công nghệ; phát triển hợp lý, đồng bộkhoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ.Khoa học xã hội làmtốt nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấpluận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển đất nước trong giai đoạn mới.Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng cho phát triểnkinh tế tri thức như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,công nghệ môi trường Tập trung phát triển sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tănglớn trong một số ngành, lĩnh vực

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chấtlượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứngdụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và làlợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững

Ngày đăng: 10/03/2016, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w