1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

25 2,6K 81

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 185,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về thông tin bất cân xứng Trong giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cảnhững gì anh ta hay chị ta cần biết về bên kia để có những quyết đị

Trang 1

PHẦN I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1.1 Khái quát về thông tin bất cân xứng

Trong giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cảnhững gì anh ta hay chị ta cần biết về bên kia để có những quyết định đúng đắn Sự khôngcân bằng về thông tin mà mỗi bên nhân được gọi là thông tin bất cân xứng

Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng tới mục tiêu cuối cùng làchuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất cóthể Khi sản xuất hàng hóa và dịch vụ của xã hội liên tục phát triển sẽ làm gia tăng khôngngừng giá trị thặng dư Những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó luôn tìm các cơ hội đầu

tư tốt nhất nhằm giảm thiểu chi phía cơ hội của việc giữ tiền Những người muốn thành lậphoặc mở rộng sản xuất kinh doanh luôn tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư có chi phí thấp nhất

Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên tạo nên các giao dịch về tài chính và tổng hợp cácgiao dịch tài chính đó hình thành thị trường tài chính Tuy nhiên sẽ không đơn giản để cácgiao dịch tài chính đạt đến mục tiêu cuối cùng trên Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêucầu giữa người đi vay và người cho vay không phải bao giờ cũng đạt được Các giao dịch tàichính luôn gặp phải một mâu thuẫn cơ bản, cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại củacác điều kiện cho vay, đó là sự không cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đivay Tóm lại trong các giao dịch tài chính thường có sự chênh lệch về thông tin giữa các bêntham gia, đó chính là hiện tượng thông tin không cân xứng

Như vậy bất cân xứng về thông tin có các đặc điểm sau:

+ Thứ nhất có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch

+ Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên

+ Thứ ba, trong hai bên một bên có thông tin chính xác hơn

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thìkhông biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó

Thông tin bất cân xứng là khái niệm mô tả các tình huống trong đó những người thamgia tương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượngcủa mộttài sản đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó Nói một cách khác, nếu như khôngtồn tại tình trạng bất cân xứng đối với việc tiếp cận các thông tin về tài sản, thì các bên thamgia thị trường được hiểu là "cân xứng" về thông tin Tóm lại, thông tin bất cân xứng xảy rakhi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tinkhông chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định khôngchính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có nhữnghành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch Hai hành vi phổ biến nhất

Trang 2

do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn đối nghịch (adverseselection) và rủi ro đạo đức(moral hazard)

1.2 Các hệ quả của thông tin bất cân xứng và tác động của nó đến thị trường

1.2.1 Sự lựa chọn đối nghịch

a Khái niệm lựa chọn đối nghịch

Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn racuộc giao dịch Lựa chọn đối nghịch xảy ra trên thị trường tài chính khi những người đi vay

có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn (đối nghịch) – Tức là những rủi rokhông trả được nợ- là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều khả năng đượclựa chọn nhất Do vậy, lựa chọn đối lập khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiệncho nhưng trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết địnhkhông cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ

Lựa chọn đối nghịch (hay còn gọi là lựa chọn ngược, lựa chọn trái ý, lựa chọn bất lợi)

là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách kháctrước khi ký hợp đồng Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi thực hiện giao dịch

mà bên có nhiều thông tin có thể gây ra tổn hại cho bên có ít thông tin hơn Lựa chọn bất lợi

là trục trặc của yếu tố cơ hội chủ nghĩa trước hợp đồng; nó nảy sinh vì thông tin riêng màngười thực hiện "giao dịch" có trước khi họ ký hợp đồng, trong lúc đang tính toán xem việcthực hiện "giao dịch" thì có lợi hay không

Lựa chọn đối nghịch là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạngthông tin bấtcân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt Trong điều kiệnthông tin đối xứng, các bên trong giao dịch nắm thông tin ngang nhau và đầyđủ về thứ đượcgiao dịch Khi đó, người ta có thể tìm được thứ tốt hoặc thứ tương xứng vớicái giá mà họphải bỏ ra Nhưng trong điều kiện thông tin phi đối xứng, nghĩa là một bên trong giao dịch

có nhiều thông tin về đối tượng giao dịch hơn bên kia, người có ưu thế về thông tin có thểcung cấp những thông tin không trung thực về đối tượng được giao dịch cho bên kém ưu thếthông tin Kết quả là, bên kém ưu thế về thông tin đồng ý hoàn thành giao dịch và nhận đượcthứ không như mình mong muốn

b Tác động của lựa chọn đối nghịch đến thị trường

Trên thị trường hàng hóa hữu hình, đặc biệt các thị trường của loại sản phẩm có mứcchất lượng biến thiên rộng, sự xuất hiện của bất cân xứng thông tin là yếu tố quan trọng kìmhãm giao dịch Người bán luôn có thông tin tốt hơn người mua nên sự nghi ngờ về chấtlượng sản phẩm của người mua là không thể tránh khỏi Điều đó đẩy người mua đến hai conđường: hoặc là chọn mặt hàng thay thế hoặc là tìm cách có thêm thông tin về hàng hóa đó(mua thông tin, thuê chuyên gia thẩm định…) Tuy nhiên, việc làm này tăng chi phí giaodịch mà người mua phải trả thêm Những yếu tố này làm giảm nhu cầu của người mua và kếtquả là trên những thị trường như thế doanh số giao dịch sẽ không cao

Trang 3

Chẳng hạn như trên thị trường tín dụng, người cho vay thường không thể nắm bắt đầy

đủ thông tin về người vay tiền nên sẽ tính một mức lãi suất cho vay có phần bù rủi ro Những

dự án kinh doanh có rủi ro thấp, lợi nhuận sẽ không đủ trả lãi, chỉ còn lại những dự án có rủi

ro cao mới có thể chấp nhận mức lãi suất cao Chính vì tình trạng thông tin không cân xứng

về dự án kinh doanh giữa người cho vay và người đi vay nên cuối cùng người cho vay chỉtoàn cho vay những dự án rủi ro cao hoặc sẽ không chấp nhận cho vay Điều này làm thu hẹpthị trường tín dụng Khi đó, người cho vay đã thực hiện một lựa chọn đối nghịch thay vì chovay những khách hàng có mức tín nhiệm cao thì họ lại chọn những khách hàng có mức tínhnhiệm thấp vay

Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn đối nghịch xảy ra khi những nhà đầu tư khôngbiết thông tin về cổ phiếu của các công ty khác nhau do đó có thể định giá cổ phiếu khôngchính xác hoặc mua cổ phiếu của công ty hoạt động kém, rủi ro cao Thị trường chứng khoánkhông minh bạch thông tin hoặc thông tin không đầy đủ nhà đầu tư thường có khuynh hướngtrả mức giá trung bình cho các loại chứng khoán khác nhau để đề phòng ngừa rủi ro vì thếnhững công tu hoạt động kém nhưng biết cách tiếp thị sẽ sẵn sàng phát hành chứng khoánvới mức giá trung bình mà các nhà đầu tư muốn mua trong khi những công ty hoạt động tốtđòi hỏi một mức giá cao thì có thể phát hành sẽ không thành công Giao dịch chứng khoántrong điều kiện thị trường bất cân xứng thông tin Những người tham gia có thể đẩy thịtrường đến một trạng thái lựa chọn đối nghịch, đó là việc mua chứng khoán của những công

ty hoạt động kém và đẩy khỏi thị trường những công ty có chất lượng tốt Trong thực tế,những nhà đầu tư sẽ dần ý thức được khả năng lựa chọn đối nghịch bất lợi của mình nên sẽkhông tiếp tục mua bất kỳ một loại chứng khoán nào nữa, trong khi đó những cổ phiếu tốt do

bị trả giá thấp ngang bằng với giá cổ phiếu trung bình nên cũng không bán ra nữa Nếunhững diễn biến trên xẩy ra thì nhà đầu tư sẽ quy lưng lại đối với thị trường, thị trườngchứng khoán sẽ mất tính thanh khoản và ngày càng bị thu hẹp, hàng hóa trên thị trường chỉcòn là những hàng hóa có chất lượng kém Như vậy thị trường chứng khoán đã không cònlàm tốt vai trò chu chuyển vốn trong nền kinh tế

1.2.2 Rủi ro đạo đức

a Khái niệm rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin bất cân xứng tao ra sau khi cuộc giao dịchdiễn ra Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính xảy ra cho người cho vay phải chịu mộtrủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt (thiếu đạo đức) xét theoquan điểm của người cho vay, bởi những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vayđược hoàn trả Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn nên người cho vay cóthể quyết định thôi không cho vay

Rủi ro đạo đức (hay còn gọi là tâm lý ỷ lại) là kết quả của hành vi bị che đậy và xuấthiện sau khi ký hợp đồng Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sửdụng để chỉ một loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái Rủi ro đạo

Trang 4

đức là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin bất cân xứng Rủi rođạo đức là hình thức cơ hội chủ nghĩa sau hợp đồng, phát sinh do các hành động có tác độngđến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được và vì thế những người thực hiện cáchành động này có thể chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hạicho người khác Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thôngtin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theohướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thôngtin Hành vi tha hóa theo hướng như thế của bên có ưu thế thông tin được bên kém ưu thếthông tin cho là không đứng đắn, là một thứ nguy hiểm, rủi ro cho mình

Để có sự tồn tại của rủi ro đạo đức, ba điều kiện phải được thỏa mãn:

+ Thứ nhất, phải có sự khác biệt về quyền lợi giữa các bên

+ Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hình thức hợptáckhác nhau giữa các cá nhân (tức là có lý do để đồng ý giao dịch) từ đó làm lộ ra mâuthuẫn về quyền lợi;

+ Thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều kiện thỏathuậncó đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không

Rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau đây:

+ Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu Một bên tham gia giao dịch khôngthể giám sát hành động của phía bên kia

+ Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu dù vô tình hay cố ý sẽ làm tăng xác suất xảy rahậu quả xấu

b Tác động của rủi ro đạo đức đến thị trường

Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều thị trường, chẳng hạn:

có một số thị trường mà tình trạng bất cân xứng thông tin dễ được nhận thấy như thị trườngbảo hiểm, thị trường vay tín dụng, thị trường chứng khoán

Trong thị trường cho vay tín dụng, người vay tiền biết nhiều thông tin hơn người chovay về hiệu quả của phương án kinh doanh, khả năng quản lý vốn và mức độ rủi ro của dự ánhơn người cho vay tiền, thậm chí họ còn hiểu rõ uy tín của bản thâm và biết chắc rằng mình

có sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không Nói tóm lại, trong thị trường cho vay tíndụng bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến cả lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức

Trên thị trường chứng khoán, công ty phát hành chứng khoán biết nhiều thông tin hơnngười mua chứng khoán về kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng vốn, khả năng sinh lợicủa tài sản, mức độ rủi ro của dự án… Công ty phát hành có thể che giấu những thông tinbất lợi của công ty, thay vào đó là việc trưng ra những kế hoạch kinh doanh và sổ sách kếtoán đã được làm đẹp Sau khi huy động được vốn thì công ty có thể dùng vốn vào nhữngmục đích khác với cam kết ban đầu để thu lựi và chuyển dịch rủi ro cho nhà đầu tư, nhà đầu

tư dù muốn cũng không thể kiểm soát được rủi ro này vì biết ít thông tin hơn hoặc năng lựccan thiệp hạn chế Một trường hợp dễ nhận thấy của rủi ro đạo đức trên thị trường chứng

Trang 5

khoán là tình trạng thao túng các mặt hoạt động của công ty cổ phần và giá cổ phiếu Các cổđông lớn hoặc những người nằm trong ban điều hành công ty do có được thông tin về công

ty hoặc tạo ra những sự kiện rồi liên kết mua bán để đẩy giá cổ phiếu tăng cao kéo nhữngnhà đầu tư nhỏ lẻ ít kinh nghiệm vào cuộc Khi những cổ đông lớn đã rút ra khỏi thị trườngthì những cổ đông nhỏ nắm giữ những cổ phiếu giá cao (lựa chọn bất lợi) Trên thị trườngchứng khoán khi thông tin khi thông tin không cân xứng thì những người mua bán trung thựcthường chịu thiệt hại hơn những người mua bán với thông tin nội bộ, nhà đầu tư cá nhân lànhững đối tượng dễ bị tổn thương nhất Khi những người bán trung thực bị thua lỗ kéo dàithì chắc chắn họ sẽ rút ra khỏi thị trường vì không ai muốn chơi trong cuộc chơi mà mìnhluôn ở thế bất lợi, hậu quả là thị trường bị thu hẹp

1.3 Khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trongviệc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Dấu hiệu của khủng hoảng tàichính là:

- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền

- Các khách hàng vay vốn , gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàntrả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặpphải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn vì điều này cóthể có lợi ở khía cạnh nào đó Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phásản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ Bản thân Chính phủ cũnggặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng khôngsáng sủa mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả Sựmất khả năng thanh toán thường có tính dây chuyền Vì vậy, khủng hoảng tài chính là điềukhông mong muốn

1.3.1 Các dạng khủng hoảng tài chính

- Khủng hoảng ngân hàng: rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiềngửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay nên rủi ro dồn cả về mặt số lượng, thời hạncũng như chủng loại tiền Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức vàkhông thu hồi lại được dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn cao làm ngân hàng không thể thanh toán cácnghĩa vụ khi đến hạn

- Khủng hoảng nợ quốc gia: trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay chínhthức, vay thương mại) quá nhiều, sử dụng không hiệu quả vốn nên không trả được nợ đúnghạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ(như trường hợp của CHDCND Triều Tiên) Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều (Argentinamới đây hay nhiều nước Châu Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cầu hóa kinh tế do các

Trang 6

điều kiện vay nợ nước ngoài trở nên dễ dàng hơn.

- Khủng hoảng tiền tệ: là hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đếnhạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ buộc chính phủ phải dùng quỹ dựtrữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng

- Khủng hoảng thị trường chứng khoán: với tư cách đỉnh cao của kinh tế thị trường, thịtrường chứng khoán rất nhạy cảm và phức tạp nên cũng dễ đổ vỡ Khủng hoảng thị trườngchứng khoán xảy ra khi giá chứng khoán biến động mạnh (“tuột dốc” hay “không thang” quánhanh) ngoài tầm kiểm soát và do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “bán đổ”, bántháo” hay thị trường bị đông cứng vì không có giao dịch tạo ra sự thâm hụt giữa tiền (chứngkhoán) vào so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứng khoán)

- Khủng hoảng cán cân thanh toán, cán cân vốn là cấu thành quan trọng nhất của tài

khoản quốc gia: khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài

và không có nguồn bù đắp Khủng hoảng cán cân vãng lai thường xảy ra khi cán cân thươngmại (nhập trừ đi xuất) bị thâm hụt và khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các nguồnngoại tệ ra lớn hơn ngoại tệ vào (cán cân vãng lai, tài khoản vốn) gây nên thâm hụt nặng nề

- Khủng hoảng khả năng tính thanh khoản: nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên

liên quan tới cả ba mặt số lượng, thời hạn và chủng loại tiền (và giống như tiền) thì khủnghoảng thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của “giốngnhư tiền” và một số loại tài sản đặc thù

1.3.2 Những yếu tố gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính

Có 5 yếu tố trong môi trường kinh tế có thể dẫn đến việc gây tồi tệ hơn một cách cănbản cho vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính, và đưađến một cuộc khủng hoảng tài chính: Tăng lãi suất; sự sụt giảm thị trường cổ phiếu; Sự sụtgiảm bất ngờ về mức giá tổng hợp; Tình trạng không chắc chắn tăng lên và Sự hoảng loạnngân hàng

- Sự tăng lãi suất: Như ta đã thấy trước đây, những cá nhân và công ty với những dự ánđầu tư rủi ro nhất chắc chắn là những người sẵn lòng chịu vay với lãi suất cao nhất Nếu lãisuất trên thị trường được nâng lên một cách đầy đủ vì hu cầu tín dụng tăng lên hoặc vì sự sụtgiảm lượng tiền cung ứng, những vụ mạo hiểm vay tín dụng có triển vọng tốt bới có khảnăng xảy ra, trong khi đó những vụ maohi hiểm vay tín dụng có triển vọng xấu vẫn nhiềukhả năng xảy ra Do hậu quả việc này làm tăng lựa chọn đối nghịch khiến người cho vay sẽkhông còn muốn thức hiện các món vay Sự sụt giảm quan trọng trong việc cho vay dẫn đến

sự sụt giảm quan trọng trong đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp

- Sự sụt giảm ở thị trường cổ phiếu: Một sự sụt giảm mạnh trong thị trường cổ phiếu cóthể làm tăng vấn đề chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đúc trong các thị truowfnmg tài chính

và tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính Một sự sụt giảm do chỗ giá cổ phiếu khiến chonhững người cho vay giảm bới ý định cho vay vì, như chúng ta thấy, giá trị tài sản ròng củamột công ty có vai trò tương tự như vật thế chấp vay, do đó tổn thất từ món cho vay dễ có

Trang 7

khả năng là nghiệm trọng hơn Do những người cho vay này kém bảo vệ chống lại nhữnghậu quả của lựa chọn đối nghịch hơn, họ giảm bớt việc cho vay của mình, việc này khiến choviệc đầu tư tổng sản phẩm cuối cùng giảm.

Ngoài ra, sự sụt giảm nói trên về giá trị tài sản ròng công ty do sự sụt giảm ở thịtrường cổ phiếu gây ra, làm tăng ý muốn gây rủi ro, bởi vì nay họ có ít hơn để mất nếu cáccuộc đầu tư của họ có kết cục tồi tệ Sự tăng rủi ro đạo đức kết cục khiến cho việc cho vaytrở thành kém hấp dẫn – đây là một lý do khác vì sao một sự sụt giảm ở thịt rường cổ phiếu

và do đó một sự sụt giảm giá trị tài sản ròng, dẫn đến sự giảm bớt hoạt động cho vay và hoạtđộng kinh tế

- Những sụt giảm bất ngờ về mức giá: Sự sụt giảm bất ngờ về mức giá cũng làm giảmgiá trị tài sản ròng của các công ty Do việc thanh toán nợ đã được cố định theo hợp đồngthành những khoản danh nghĩa, một sự sụt giảm bất ngờ về mức giá làm tăng giá trị các món

nợ của công ty theo hiện vât (sự tăng sức nặng của món nợ này), nhưng không tăng giá trịthực của những tài sản của các công ty Kết quả là giá trị ròng theo hiện vật (hiệu số) giữa tàisản và nợ theo hiện vật giảm Do vậy, một sự tụt mạnh mức giá gây ra một sự sụt giảm quantrọng giá trị tài sản ròng thực và một sự tăng các vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạođức đối mặt với những người cho vay Một sự sụt giảm bất ngờ về mức giá, như vây, dẫnđến một kết cục mô tả trên đây trong đó hoạt động cho vay và hoạt động kinh tế giảm xuống

- Tình trạng không chắc chắn tăng lên: Một sự tăng không bình thường tính không chắcchắn trong các thị trường tài chính có thể do sự thất bài của một tổ chức tài chính hoặc phi tàichính nổi tiếng, một sự suy thoái, hoặc sự đổ vỡ thị trường cổ phiếu gây ra, khiến cho nhữngngười cho vay khó phân biệt những vụ mạo hiểm vay tín dụng có triển vọng totost với những

vụ mạo hiểm vay tín dụng có triển vọng xấu -> người cho vay không có khả năng giải quyếtlựa chọn đối nghịch làm họ giảm bớt ý định cho vay, đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp

- Sự hoảng loạn ngân hàng: Các ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính quan trọngbằng việc tiến hành những hoạt động tạo thông tin, những hoạt động này tạo dễ dàng chonhững cuộc đầu tư sinh lợi đối với nền kinh tê Như vây, một cuộc khủng hoảng tài chínhtrong đó nhiều ngân hàng không còn kinh doanh được nữa (gọi là hoảng loạn ngân hàng) làmgiảm tổng số những hoạt động trug gian tài chính mà ngân hàng thực hiện, như thế, dẫn đến

sự sụt giảm về đầu tư và hoạt độn kinh tế tổng hợp Một sự giảm sổ lượng các ngân hàngtrong một cuộc khủng hoảng tài chính cũng là giảm sự cung ứng vốn cho người vay, điềunày đãn đến việc tăng lãi suất cao hơn, Do một sự tăng lãi suất cũng làm tăng sự lựa chọn đốinghịch trong thị trường tín dụng, các vụ hoảng loạn ngân hàng cũng làm tăng thêm sự suygiảm hoạt động kinh tế qua kênh này

1.4 Tác động của thông tin bất cân xứng đến thị trường tài chính

Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tin không đốixứng Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài chính Nó đưangười vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống cho những kỳ vọng xấu của

Trang 8

người cho vay về người đi vay Thông tin không cân xứng khiến cho người đi vay và ngườigửi tiền do họ khó khăn trong việc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khảnăng thanh toán, qua đó dẫn đến việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ củanước gặp khó khăn

1.4.1 Tác động của lựa chọn đối nghịch

“Sự lựa chọn đối nghịch” và “Hiểm họa đạo đức” là hai hiện tượng phổ biến nhất xảy

ra trong điều kiện thông tin bất cân xứng, bóp méo quyết định của các chủ thể kinh tế thamgia trên thị trường Lợi thế thuộc về những người có thông tin, điều đó không còn xa lạ trongnền kinh tế.Trong trường hợp nghiêm trọng, thông tin bất cân xứng bóp méo thị trường và cóthể dẫn đến thất bại thị trường Bất cân xứng thông tin khiến người cho vay không phân biệtđược đâu là đối tượng nên cho vay, khiến người cho vay e dè trong vấn đề cung nguồn vốnnhàn rỗi của mình Điều này ảnh hưởng đầu tiên đến những người cần vốn thật sự, sau đó làlợi ích của người cho vay, và theo đó là ảnh hưởng tới thị trường tài chính

Một số tác động của thông tin bất cân xứng đối với thi trường tài chính như sau:

- Trong giao dịch bất động sản: Bên bán là bên có ưu thế thông tin về một lô đất hayngôi nhà (gặp những điều kiện không tốt như: trong diện giải tỏa, hay ở nơi dễ ngập lụt,v.v…) còn bên mua có nhu cầu mua đất nhưng không đủ khả năng tìm hiểu về các thông tinliên quan – là bên kém ưu thế thông tin Kết quả là bên mua gánh chịu bất lợi khi mua phảiđất hay nhà không tốt

- Trong lĩnh vực ngân hàng: Lựa chọn bất lợi xảy ra trước cho vay, khi ngân hàng bịkhách hàng che giấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tíndụng không hiệu quả Khách hàng có độ rủi ro cao thường là những khách hàng tích cực nhấttrong việc xin vay Ví dụ, những người liều lĩnh hay có động cơ lừa đảo thường là nhữngngười hăm hở chấp nhận khoản vay, bởi vì họ biết rõ rằng khả năng trả lại khoản vay là khóhoặc không xảy ra Hậu quả của sự lựa chọn đối nghịch có thể dẫn đến việc cấp tín dụng chokhách hàng có rủi ro cao nên trong trường hợp này các ngân hàng có thể sẽ cắt giảm cho vayhoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường vẫn có nhiều khách hàng tốt

- Trong giao dịch chứng khoán: Sự xuất hiện thông tin không cân xứng làm nhà đầu tư

do dự trước việc lựa chọn chứng khoán của công ty A hay của công ty B Nhà đầu tư khôngbiết được đâu là công ty tốt, có lợi tức dự tính cao, rủi ro thấp và đâu là công ty tồi, có lợi tức

dự tính thấp và rủi ro cao Công ty biết rõ về tình hình kinh doanh của mình, nếu họ cung cấpthông tin không chính xác, nhà đầu tư có thể lựa chọn mua cổ phiếu (hoặc trái phiếu) của công

ty này Kết quả là chỉ có công ty hoạt động kém bán được cổ phiếu, thị trường cổ phiếu trởnên kém hiệu quả

1.4.2 Tác động của rủi ro đạo đức

Thông tin bất cân xứng cũng gây ra rủi ro đạo đức trên thị trường Thiếu thông tin dẫntới giám sát không đầy đủ của chính phủ có thể dẫn tới các rủi ro đạo đức ở chủ thể kinh tếđược chính phủ ủy thác thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách, đó là việc các chủ thể này sử

Trang 9

dụng lãng phí ngân sách.

Thực tế, phần góp vốn của những người lãnh đạo công ty chỉ chiếm một phần nhỏ sovới tổng vốn công ty Điều này đồng nghĩa với việc họ đang quản lý một phần lớn vốn củanhững cổ đông Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là nguyên nhân xảy ra rủi

ro đạo đức trong các công ty cổ phần Những người lãnh đạo công ty có thể hành động vì lợiích cá nhân mà đi ngược lại lợi ích của các cổ đông Nó làm tăng các chi phí phục vụ cho lợiích của người quản lý công ty Ngoài việc theo đuổi những lợi ích cá nhân, người quản lýcông ty có thể theo đuổi những chiến lược của công ty nhằm đề cao quyền lực cá nhân màkhông làm tăng lợi ích của công ty Chính việc không có đủ thông tin khiến các cổ đông sởhữu không biết đầy đủ những gì người đại diện đang làm và không thể ngăn ngừa những chỉtiêu vô ích hoặc gian lận

Trang 10

CHƯƠNG II:

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG GIẢI THÍCH

CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008

2.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008

2.1.1 Tình hình nước Mỹ năm 2008

Năm 2008 là năm thua lỗ nghiêm trọng của các tập đoàn tài chính lớn tại Mỹ Đây lànguyên nhân dẫn tới sự chao đảo mạnh của hệ thống tài chính toàn thế giới, vì trong một thếgiới mở như hiện nay, biên giới là thứ gần như không hề tồn tại trong ngành tài chính Mặtkhác, các loại chứng khoán bảo đảm bằng địa ốc có nguồn gốc tại Mỹ cũng được bán cho rấtnhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới chứ không riêng gì ở nước này

Đỉnh điểm của cơn khủng hoảng là vào tháng 9/2008 sau vụ phá sản của ngân hàngđầu tư Phố Wall Lehman Brothers và nguy cơ đổ vỡ của một loạt tập đoàn tài chính lớn của

Mỹ, trong đó có hãng bảo hiểm AIG Sau cơn hoảng loạn lan rộng khắp các châu lục là sựđóng băng của thị trường tín dụng vì các ngân hàng đã quá sợ cho vay, bất chấp những nỗlực bơm vốn vào hệ thống tài chính của các chính phủ Các công ty cạn vốn để làm ăn, dẫntới sa thải hàng loạt Người tiêu dùng vừa không thể vay tín dụng để chi tiêu, vừa mất việc,nên thắt lưng buộc bụng, khiến các ngành sản xuất càng gặp khó.v.v Cứ thế, lần lượt cácnền kinh tế đầu tàu: Mỹ, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu, Nhật Bản và Anh đãcùng tuyên bố suy thoái Nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu ở châu Á thì chứng kiếntốc độ sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu và cũng có nguy cơ suy thoái theo Thế giới đangphải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất từ trước đến nay

Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ cuối năm 2007 đã lan nhanh và ảnh hưởngsâu rộng đến toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trườngchứng khoán khuynh đảo Năm 2008 cũng chứng kiến những nỗ lực chưa từng có để chốngchọi với bão tài chính Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn suy giảm nghiêm trọngtrước cú sốc tài chính nguy hiểm nhất kể từ năm 1930 ở các thị trường lớn Ngân hàng thếgiới (WB) nhận định “ GDP toàn cầu năm nay sẽ giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giớilần 2”

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ thực chất là biểu hiện rõ nét nhất của mộtquá trình khủng hoảng rất lâu trước đó, sau đây là những mốc sự kiện chính:

- Năm 2002-2004 : giá cả ở các bang Arizona, Califfornia, Florida, Hawaii, và Nevada

Trang 11

tăng trên 25% / năm, bùng nổ nhà đất bắt đầu.

- Năm 2005 : bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005

- Năm 2006: thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh bất độngsản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể

- Năm 2007: kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính caonhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dướichuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu đê thế chấp nợ, tăng79% từ năm 2006

- Năm 2008: sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 khi ngay cả những ngânhàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tếtrước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG,… cũng lâm nạn Chínhphủ Mỹ đã cung cấp 700 tỉ USD để mua lại nợ xấu của các ngân hàng

2.1.2 Tình hình các nước trên thế giới trong giai đoạn khủng hoảng

Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở Châu Âu, cũngtham gia vào thị trường tí dung nhà thứ cấp ở Hoa Kỳ Chính vì vây, bong bóng nhà ở củaHoa Kỳ bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tàichính của Hoa Kỳ Những nước Châu Âu bị nổi loạn tài chính nặng nhất là Anh, Iceland,Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha

Iceland là nước đầu tiên có nguy cơ phá sản trên qui mô quốc gia, Chính phủ Iceland

đã phải đóng cửa thị trường chứng khoán và quốc hữu hóa những ngân hàng đầu Từ đó,động nội tệ của nước này mất giá trầm trọng và gần như bị xóa sổ

Tại Châu Á, kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi đồng Won mất giá hơn 40% kể

từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kết từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Chính phủHàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiềnvào hệ thống tài chính

Nhiều nền kinh tế lớn, bắt đầu từ Nhật và EU tuyên bố rơi vào trạng thái suy thoái,

Mỹ, lần đầu tiền sau 8 năm, chính thức thừa nhận đã lâm vào tình trạng trên từ tháng12/2007 Điều tương tụ cũng xảy ra với Nga, cường quốc kinh tế lớn thứ 4 thế giới Giá dầusụt giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xây dụng đi xuongs ảnh hưởng nghiệm trọng tới haimặt hàng xuất khẩu chiến lược của Nga là dầu mỏ và kim loại, góp phần khiến quốc gia nàyrơi vào suy thoái

2.2 Vận dụng lý thuyết giải thích cuộc khủng hoảng tài chính 2008

2.2.1 Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: 4 nguyên nhân cơ

bản

Thứ nhất: Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, các khoản cho vay dưới chuẩn.

Trang 12

Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lần vốntrong một thời gian dài sau đó Do đó, có một sự lien hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất vàtình trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đimua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho bong bóng nhà đất hình thành, Khi lãi suất cao thìthị trường dậm chân, người bán nhiều hơn người mua đẩy giá nhà xuống thấp

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa để biến các khoảncho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản đầy rủi ro cung cấpcho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay muanhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bấtđộng sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì viecj phát mại tài sản càngtăng làm giá bất động sản giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu cànggiảm, rủi ro tín dụng càng tăng

Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục, làm cho giá chứng khoản sụt giảm manh Cácngân hàng đầu tư mặc dù không năm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếpduy trì một số danh mục chúng khoán lien quan đến bất động sản Hậu quả là hàng loạt ngânhàng đâu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh

Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ

Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất rất nhiều Trongcho vay nhà đát lẫn trong thị trường nợ, việc dung đòn bẩy tài chính là hết sức quan trongm.Một donh nghiệp có thể đi vay 3 nếu có vốn riêng là 1, như vậy được gọi là sử dụng đòn bẩybằng 3 lần Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực nếu có đòn bẩy tài chínhkhông lơn hơn 3 thì được coi là bình thường, với hình thức này, trong trường hợp rủi rongười di vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên khi đòn bẩy càng cao thf tức là rủi ro càng lớn Khi chovay, các ngân hàng thường chú ý đến hệ số đòn bẩy này bới vì nếu hệ số đòn bẩy quả cao thìkhi có lãi nguwoif vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân hàng phải gánh chịu Trên thị trường tàichính, các ngân hàng sư dụng đòn bẩy cao hơn, co khi lên đến cả tram lần do các ngân hàngđầu tư các công ty tài chính không có qui định nghiêm ngặt về vấn đề này

Thứ ba: thị trường thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ.

Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước, còncác ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu sự giám sát ít hơn Các cơ quan quản lý lỏnglẻo, không theo kiepj hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng dẫn đến những rủi

ro khôn lường Có tiền, các công ty thoải mái cho khác hàng vay bằng tiền của các ngânhàng đầu tư cung caaos thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty nay Các

Ngày đăng: 10/03/2016, 22:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Ti lệ tăng trưởng tín dụng và lãi suất huy động giai đoạn 2006-2013 - Tiểu luận vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Bảng 1 Ti lệ tăng trưởng tín dụng và lãi suất huy động giai đoạn 2006-2013 (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w