1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Phân tích những nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế và việc liên hệ thực tiễn vấn đề này trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay

17 11,6K 114
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây chính là những tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được

Trang 1

Lời Mở Đầu

Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý nhà nước về kinh

tế cũng được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định Đây chính là những tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân công

Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế mang tính khách quan và khoa học Ănghen cho rằng “ Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào giới tự nhiên và lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người không phải giới tự nhiên và loài người thích ứng với nguyên tắc mà trái lại nguyên tắc chỉ đúng nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử” nên các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế phải được xây dựng, tổng kết và rút ra từ thực tiễn quản lý nhà nước

về kinh tế

Trên thực tế, việc tiến hành hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế cần phải dựa trên rất nhiều nguyên tắc khác nhau Trong đó có những nguyên tắc được xác định là nguyên tắc cơ bản có tính bao trùm, chi phối toàn bộ hoạt động cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế

Với tầm quan trọng như vậy nên nhóm 2 chúng em quyết định chọn đề tài: “Phân tích những nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế và việc liên hệ thực tiễn vấn

đề này trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay”.

Trang 2

Chương 1

Cơ sở lý luận về những nguyên tắc cơ bản trong QLNN về kinh tế

1.1, Nguyên tắc thống nhất chính trị và kinh tế

Thống nhất lãnh đạo, chính trị và kinh tế, đảm bảo quan hệ đúng đắn giữa kinh tế

và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý kinh tế có căn cứ khoa học trong phạm vi quốc gia

- Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế:

Trong sự thống nhất giữa chính trị và kinh tế; Kinh tế quyết định chính trị; Chính trị tác động trở lại đến kinh tế

- Nội dung của nguyên tắc:

+ Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cụ thể là Đảng phái vạch ra đường lối chủ trương phát triển kinh tế xã hội, chỉ rõ con đường, biện pháp, phương tiện để thực hiện được đường lối chủ trương đã vạch ra

+ Bảo đảm sự quản lý của Nhà nước cụ thể là : Nhà nước phải biến đường lối chủ trương của Đảng thành kế hoạch, chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới, Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh…

+ Vừa phát triển kinh tế vừa giữ gìn bảo vệ chủ quyền độc lập đất nước, an ninh an toàn xã hội vừa đấu tranh chống nạn tham nhũng và tệ quan lieu vừa đấu tranh chống nguy cơ diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch

1.2, Nguyên tắc tập trung dân chủ.

Nội dung cơ bản của nguyên tắc: Phải đảm bảo mối quan hệ kết hợp chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý kinh tế Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung

Trang 3

Biểu hiện của quản lý tập trung: Có kế hoạch chung phát triển đất nước; Thống nhất ban hành luật pháp; Thực hiện chế độ một thủ trưởng trong quản lý kinh tế

Biểu hiện của quản lý dân chủ: Xoá bỏ cơ chế xin – cho; Cạnh tranh bình đẳng; Tăng cường phân cấp quản lý kinh tế

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay:

- Cơ quan quyền lực nhà nước đều do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Các cơ quan hành chính nhà nước toà án viện kiểm sát đều do cơ quan quyền lực nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan bầu ra mình

1.3, Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.

1.3.1, Quản lý nhà nước theo ngành

Khái niệm:

Quản lý theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của

Bộ quản lý ngành ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cả nước

Nội dung quản lý nhà nước theo ngành:

Quản lý Nhà nước theo ngành bao gồm các nội dung quản lý sau đây:

- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế toàn ngành

- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

và các dự án phát triển kinh tế toàn ngành

- Trong việc xây dựng và triển khai các chính sách, biện pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ… cho toàn ngành

Trang 4

- Trong việc xây dựng và triển khai các quan hệ tài chính giữa các đơn vị kinh tế trong ngành với Ngân sách Nhà nước

- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng sản phẩm Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm

- Trong việc thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế trong ngành Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân

Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp quy, thế chế kinh tế theo chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành

1.3.2, Quản lý Nhà nước theo lãnh thổ

Khái niệm

Quản lý nhà nước trên lãnh thổ là việc tổ chức, điều hòa phối hợp hoạt động của tất cả các đơn vị kinh tế phân bổ trên địa bàn lãnh thổ(ở nước ta, chủ yếu là theo lãnh thổ của các đơn vị hành chính)

Nội dung

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ ( không phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, các thành phần kinh tế khác nhau) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và có hiệu quả

- Điều hòa, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị kinh tế trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn lực sẵn có tại địa phương

- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ bao gồm: hệ thống giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước, đường sá, cầu cống, hệ thống thông tin liên lạc… để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ

Trang 5

1.3.3, Kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ

Khái niệm

Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ Sự kết hợp này sẽ tránh được tư tưởng bản vị của bộ, ngành, trung ương và tư tưởng cục bộ địa phương của chính quyền địa phương Theo đó, Bộ chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế do mình thành lập và Ủy ban nhân dân địa phương chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế của địa phương Từ đó, dẫn đến tình trạng tranh chấp, không có sự liên kết giữa các đơn vị kinh tế trên cùng một địa bàn lãnh thổ, do đó hiệu quả thấp

Nội dung kết hợp

Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:

- Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Có nghĩa là, các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ) đồng thời nó cũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định

- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, không trùng lặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

- Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản hiệp quản, tham quản với cơ quan nhà nước thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của Nhà nước Đồng quản là cùng

có quyền và cùng nhau ra quyết định quản lý theo thể thức liên tịch Hiệp quản là cùng nhau ra quyết định quản lý theo thẩm quyền, theo vấn đề thuộc tuyến của mình nhưng

có sự thương lượng, trao đổi, bàn bạc để hai loại quyết định của mỗi bên tương đắc với nhau Tham quản là việc quản lý , ra quyết định của mỗi bên phải trên cơ sở được lấy ý kiến của bên kia

Trang 6

1.4, Nguyên tắc phân định và kết hợp tốt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp

Quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất- kinh doanhlà hai phạm trù, hai mặt khác nhau của quá trình quản lý, cần có sự phân biệt vì những lý do sau đây: Một là, trong thời kỳ đổi mới, trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, đã từng không có sự phân biệt giữa hai loại quản lý nói trên

Hai là, việc phân biệt quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh cho phép định rõ được trách nhiệm của cơ quan nhà nước và trách nhiệm của cơ quan sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp Chỉ khi đó, mọi sai lầm trong quản lý dẫn đến tổn thất tài sản quốc gia, lợi ích của nhân dân sẽ được truy tìm nguyên nhân, thủ phạm Không ai

có thể trốn tránh trách nhiệm

Ba là, trong điều kiện nền kinh tế tồn tại nhiều hình thức sở hữu, việc không phân biệt quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh là vi phạm tính tự do kinh doanh và sự chịu trách nhiệm cảu các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế thị trường và trong khuôn khổ pháp luật, làm thui chột tính năng động, sáng tạo của giới kinh doanh

và hạn chế hiệu quả sản xuất, kinh doanh

1.5, Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích:

Quản lý kinh tế trước hết là quản lý con người, là tổ chức mang tính tích cực lao động Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định

Nội dung của nguyên tắc là kết hợp hài hòa 3 loại lợi ích xã hội:

+ Kết hợp hài hoà 3 lợi ích: cá nhân- tập thể- nhà nước

+ Biện pháp thực hiện:

- thực hiện đường lối phát triển kinh tế đúng đắn dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đặc điểm của đất nước

- Xây dựng và thực hiện các quy hoạch và kế hoạch chuẩn xác

Trang 7

-Thực hiện đầy đủ chế độ hoạch toán kế toán kinh tế và vận dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế để quản lý một cách có hiệu quả mọi tiềm năng và cơ hội

1.6, Nguyên tắc đảm bảo về kinh tế, hiệu lực, hiệu quả, công bằng (nguyên tắc 4e).

- Đảm bảo hiệu lực (Efficient): Khi nhà nước ban hành chính sách kinh tế phải được thực thi và đạt được mục tiêu trong thực tiễn

- Đảm bảo hiệu quả (Effect): Thể hiện kết quả đầu tư so với chi phí

- Đảm bảo kinh tế(Economic): Huy động được đầu vào với chi phí thấp nhất

- Đảm bảo công bằng (Equality): đảm bảo công bằng giữa các lĩnh vực kinh tế (Về

sở hữu, phân phối lợi ích…); xã hội (Về y tế, giáo dục, cơ hội tiếp cận các dịch vụ văn minh, hiện đại…); công bằng giữa các vùng miền

1.7, Nguyên tắc gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá- xã hội đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng nhằm duy trì và phát triển các đặc trưng phải có của Chủ nghĩa xã hội.Văn hoá mang tính bản sắc và có cấu trúc hết sức đa dạng được xem xét theo nhiều tiêu chi khác nhau (Văn hoá ứng xử, văn hoá cộng đồng, văn hoá doanh nhân, thẩm mỹ, văn hoá lễ hội, du lịch…)

- Thực hiện nhiều hình thức phân phối dựa trên mức đóng góp của các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội

- Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước, khai thác triệt để những tích cực đồng thời khắc phục, ngăn ngừa những tiêu cực của cơ chế thị trường

- Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên & xã hội

1.8, Nguyên tắc tăng cưòng pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước về kinh tế

Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là một nền kinh tế đa sở hữu về tư liệu sản xuất Chính sự xuất hiện của nhiều loại hình kinh tế thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau như: kinh tế nhà

Trang 8

nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân tư bản, kinh tế tư nhân…đòi hỏi Nhà nước phải quản lý đối với nền kinh tế bằng những biện pháp, trong đó đặc biệt phải coi trọng phương pháp quản lý bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật Thực tiễn quản lý nhà nước đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy, tình trạng buông lỏng kỷ luật, kỷ cương, sự hữu khuynh trong việc thực hiện chức năng tổ chức, giáo dục, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp…đã làm cho trật tự kinh

tế ở nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất không nhỏ cho đât nước, đồng thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín va làm lu mờ quyền lực của Nhà nước Vì vậy, việc thực hiện nguyên tác tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu khách quan của quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước ta

1.9, Nguyên tắc mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại với yêu cầu các bên cùng có lợi, không xâm phạm độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của nhau.

- Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vừng môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, CNH_HĐH đất nước xây dựng

và bảo vệ tổ quốc đảm bảo độc lập và chủ quyền quốc gia

- Mở rộng quan hệ nhiều mặt song phương, đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lương hoà bình…

- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tê và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN bảo vệ lợi ích dân tộc an ninh quốc gia và giữ gìn bản sắc văn hoà dân tộc

- Coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng

Trang 9

Chương 2 Liên hệ thực tiễn nguyên tắc QLNN về kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam hiện nay.

Quản lý nhà nước về thương mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước

về kinh tế Đó là sự tác động có định hướng, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý trên tầm vĩ mô về thương mại các cấp đến hệ thống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong môi trường xác định Bản chất của quản lý nhà nước về thương mại là một quá trình thực hiện và phối hợp bốn loại chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát của các cơ quan quản lý vĩ mô các cấp Cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước về thương mại gồm:

- Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại, thống nhất trên toàn lãnh thổ

- Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý Nhà nước về thương mại

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quản lý Nhà nước về thương mại đối với lĩnh vực được phân công phụ trách

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý Nhà nước về thương mại trong phạm vi địa phương theo sự phân công của Chính phủ

Các cơ quan quản lý thương mại cùng thống nhất thực hiện quản lý thương mại theo các nguyên tắc căn bản sau:

2.1 Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị với kinh tế, kinh doanh

Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị kinh tế được thể hiện trong lĩnh vực thương mại ở chỗ nhà nước thống nhất quản lý thương mại bằng chính sách, luật pháp

và công cụ kế hoạch hóa nhằm phát triển thương mại

Mọi hoạt động thương mại đều có sự lãnh đạo và quản lý và thể hiện được vai trò điều hành, quản lý của nhà nước.

Trang 10

Nhà nước quản lý hoạt động thương mại bằng các pháp luật thương mại có tính bắt buộc Mặt khác, nhà nước hướng dẫn, định hướng cho các hoạt động thương mại bằng các chính sách, kế hoạch hóa thương mại

Kế hoạch hóa thương mại theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, lựa chọn các mục tiêu cho tương lai và biện pháp tổ chức triển khai, giám sát thực hiện mục tiêu đó nhằm đưa thương mại đạt tới vị trí xứng đáng của nó trong tương lai Kê hoạch hóa thương mại bao gồm các bộ phận hợp thành chủ yếu sau: chiến lược phát triển thương mại, quy hoạch phát triển thương mại, kế hoạch 5 năm và hàng năm phát triển thương mại, các chương trình, dự án trong thương mại

Trong các công cụ kế hoạch hóa thương mại, chiến lược thương mại là công cụ thể hiện rõ nhất nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị kinh tế trong lĩnh vực thương mại Chiến lược thương mại hình thành nhằm đảm bảo cho hoạt động lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất trên cơ sở khai thác tối ưu các nguồn lực và phát triển đúng định hướng mà Đảng và nhà nước đề ra Vì vậy có thể xem chiến lược phát triển thương mại là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng

và nhà nước trong hoạt động thương mại Trong từng thời kỳ nhất định, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước sẽ có những chiến lược phát triển thương mại với những mục tiêu và những giải pháp tổng quát khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Mọi chiến lược phát triển thương mại đều phải được sự phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại Chiến lược thương mại quốc gia do bộ công thương xây dựng trình Chính Phủ phê duyệt; chiến lược thương mại tỉnh thành phố do sở công thương xây dựng và trình ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt Qua đó cũng có thể thấy được sự gắn

bó không tách rời và thống nhất giữa chính trị và kinh tế trong lĩnh vực thương mại Chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng bao giờ cũng được cụ thể hóa bằng các chính sách, cơ chế quản lý các hoạt động kinh tế nói chung và lĩnh vực thương mại nói riêng Trên cơ sở đường lối chính trị, nhà xây dựng các chiến lược phát triển thương mại nội địa cũng như ngoại thương trong những giai đoạn nhất định

Ngày đăng: 10/03/2016, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w