LỜI GIỚI THIỆU Trong mấy năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế:
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU Trong mấy năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế: tăng trưởng cao nhưng chưa ổn định, lạm phát tăng cao (năm 2008) và đặc biệt hơn nữa đó là tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng Bên cạnh đó, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và hiện trạng môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được cải thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa tăng trưởng vững chắc Hiện trạng này chắc chắn
sẽ gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các
cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam có xu hướng thu hẹp
Thách thức mà Việt Nam gặp phải hiện nay là cán cân thương mại đang rơi vào tình trạng thâm hụt khá nghiêm trọng Các số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 8 năm gần đây cán cân thương mại của nước ta thường xuyên bị thâm hụt, đặc biệt là kể từ khi gia nhâp WTO Vì vậy, khi nghiên cứu nền kinh tế vĩ mô Việt Nam không thể không nhắc tới vấn đề đáng quan tâm này – một bài toán khó chưa tìm ra giải pháp toàn diện
Từ thực trạng trên, Nhóm 2 lựa chọn đề tài: “Cán cân thương mại và những nguyên nhân gây thâm hụt thương mại ở Việt Nam” với mong muốn tìm
hiểu lý luận chung về cán cân thương mại và làm rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tác động đến cán cân thương mại và gây ra thâm hụt thương mại tại Việt Nam
Trang 2I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng
1.2 Bản chất của cán cân thương mại
Cán cân thương mại của một quốc gia phản ành khối lượng xuất nhập khẩu
về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với các nước khác Về mặt kinh tế, cán cân thương mại thể hiện mối quan hệ tương quan giữa việc tăng hay giảm lượng giá trị của một nền kinh tế nghĩa là nó phản ánh lượng tiền tăng lên hay giảm đi của một quốc gia trong một thời gian nhất định Trạng thái của cán cân thương mại được dựa vào sự chênh lệch của giá trị giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại
Cán cân thương mại chịu tác động của nhiều yếu tố như: xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ giá, lạm phát, giá cả hàng hóa, thu nhập, chính sách thương mại quốc tế,
…
1.3.1 Xuất khẩu và nhập khẩu:
Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên(MPZ) MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu ví dụ: MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ một đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dung 0,2 đồng cho nhập khẩu Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quôc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại
Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác Do vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định
1.3.2 Tỷ giá hối đoái
Là nhân tố quan trong đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa trên thị trường quốc tế Khi tỷ
Trang 3giá đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì hàng hóa nhập khẩu tăng dẫn đến giá
sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá 1 hàng hóa xuất khẩu sẽ trở nên đắt đỏ hơn đồi với người nước ngoài Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gậy bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kế quả là xuất khẩu ròng giảm Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên
1.3.3 Ảnh hưởng của dòng vốn
Cán cân thương mại là một trong những yếu tố của tài sàn quốc gia Cán cân thương mại phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư công và tiết kiện trong nên kinh tế mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được bù đắp bởi các dòng vốn đầu tư nước ngoài như FDI, ODA, FPI…, kiều hối và các dòng vốn vay thương mại khác
1.3.4 Ảnh hưởng của thu nhập
Khi thu nhập trong nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cũng đồng thời tăng theo Trong khi đó khi kinh tế nước ngoài tăng trưởng họ cũng tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ nước khác và làm cho xuất khẩu của đối tác thương mại tăng lên Do vậy cán cân thương mại phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế
1.3.5 Ảnh hưởng của chính sách thương mại
Chính sách thương mại là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại Điều chỉnh cán cân thương mại thường được thực hiện thông qua các biện pháp như khuyến khích xuất khẩu, quản lý nhập khẩu Những cải cách thương mại quan trọng là mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu (chính sách nhượng quyền), chính sách thuế quan tham gia các hiệp định thương mại khu vực song phương và toàn cầu
Chính sách thương mại là chính sách quốc gia dùng để phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất nước ngoài Nó bao gồm một hệ thống hoàn chỉnh các luật lệ, quy định, các chính sách và các tập quán của chính phủ có ảnh hưởng đến thương mại Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại bao gồm thuế quan nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu về hàng nội địa
Điều tiết chính sách thương mại có ảnh hưởng đến tình trạng cán cân thương mại Chính sách thương mại khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng thô sơ,
sơ chế hay xuất khẩu các sản phẩm chế tạo có liên quan đến tình trạng cán cân thương mại trong ngắn hạn hay trong dài hạn
Trang 4Tóm lại, chính sách thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cán cân thương mại Điều tiết cán cân thương mại có liên quan chặt chẽ tới chính sách khuyến khích xuất xuất khẩu hay quản lý nhập khẩu
1.3.6 Ảnh hưởng của chính sách đầu tư
Các chính sách và biện pháp liên quan đến đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cán cân thương mại Trước hết, đầu tư liên quan đến nhập khẩu Nhiều nghiên cứu định lượng cho thấy nhập khẩu và đầu tư thường có mối quan
hệ với nhau Điều này là bởi các nước đang phát triển không có và không tự sản xuất đủ nguyên liệu đầu vào cũng như các loại máy móc, thiết bị cần thiết để đầu
tư cho sản xuất
Đầu tư liên quan đến nhập khẩu, hiệu quả đầu tư liên quan đến khả năng cạnh tranh của hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu Các luồng vốn đầu tư gián tiếp, hoặc nguồn viện trợ nước ngoài, kiều hối cũng ảnh hưởng đến cán cân thương mai Những yếu tố nêu trên có thể có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp, cải thiện hoặc gây tình trạng thân hụt cán cân thương mại
Thứ nhất, nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) là bộ phận quan trọng
của tài khoản vốn Việc gia tăng thu hút vốn đấu tư nước ngoài có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai
Thứ hai, việc gia tăng nguồn thu nhập chuyển giao từ nước ngoài như viện
trợ, thu nhập ròng từ các dự án đầu tư nước ngoài, kiều hối có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân thương mại
Thứ ba, nguồn vốn vay (vốn đầu tư hay vay thương mại) nếu sử dụng
không hiệu quả như đầu tư vào các ngành thay thế xuất khẩu, các công trình mang lại hiệu quả kinh tế thấp, mua sắm chính phủ, tiêu dùng sẽ làm trầm trọng cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài vì chỉ số nợ/xuất khẩu có xu hướng gia tăng
và tỷ số giữa lãi suất phải trả các khoản nợ so với mức độ tăng xuất khẩu cũng sẽ gia tăng
Thứ tư, chính sách đầu tư trong nước cũng ảnh hưởng đến cán cân thương
mại Đầu tư trong nước theo định hướng xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu có ảnh hưởng đến cán cân thương mại
1.3.7 Ảnh hưởng của chính sách khác.
Các chính sách khác như chính sách thuế, tài khóa, chính sách lãi suất, quản
lý nợ nước ngoài, chính sách tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối
Trang 5với cán cân thương mại Chính sách thuế có tác dụng hạn chế hoặc mở rộng xuất khẩu và nhập khẩu Chính sách lãi xuất có tác dụng kích thích hoặc hạn chế đầu
tư, tiêu dùng do ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu
1.4 Vai trò của cán cân thương mại đối với nền kinh tế
Thứ nhất: Cán cân thương mại cung cấp những thông tin cần thiết liên quan
đến cung cầu tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ
Thứ hai: Cán cân thương mại phản ánh khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế của một quốc gia
Thứ ba: Tình trạng của cán cân thương mại phản ánh tình trạng của cán cân
vãng lai Do đó ảnh hưởng đến ổn định nền kinh tế vĩ mô Đây là ảnh hưởng quan trọng nhất của cán cân thương mại tới nền kinh tế và dựa vào đó nhà nước có thể đưa ra những chính sách để có thể điều chỉnh cán cân thương mại và đảm bảo ổn định nền kinh tế vĩ mô
Thứ tư: Cán cân thương mại thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập
thực tế
NX=(S – I) + (T – G)
Nếu cán cân thương mại bị thâm hụt thì điều đó thể hiện quốc gia chi nhiều hơn thu nhập của mình cũng như tiết kiệm sẽ ít hơn đầu tư và ngược lại
Vì những tác động to lớn của cán cân thương mại tới nền kinh tế nên các nhà kinh tế, quản lý luôn tìm cách dự báo những cơ hội cũng như các thách thức
để có thể đề ra những giải pháp thiết thực cho hoạt động xuất - nhập khẩu trong thời gian sắp tới, từ đó giúp điều tiết vĩ mô một cách tốt hơn
II THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1 Tình trạng thương mại Việt Nam
Theo số liệu thống kê thì cán cân thương mại ở Việt Nam ở trạng thái thặng
dư chỉ từ năm 2000 đến 2001 Nhưng từ năm 2002 đến 2011 thì cán cân thương mại liên tục ở trạng thái thâm hụt và giá trị thâm hụt ngày càng lớn Đến năm 2012 – 2013, cán cân thương mại thặng dư trở lại
Nếu trong năm 2003 thâm hụt thương mại vào khoảng 2,581 tỷ thì đến năm 2008 mức thâm hụt lên đến 12,782 tỷ USD, gấp 5 lần so với năm 2003 Năm 2009 mức thâm hụt là 15,412 tỉ USD, gấp 5,9 lần so với năm 2003
Trang 6Năm 2010
Cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về nhập siêu với mức thâm hụt vào khoảng trên 12 tỉ USD Nếu so sánh giá trị thâm hụt thương mại với giá trị GDP qua các năm thì từ năm 2002 (năm bắt đầu có sự thâm hụt thương mại), tỉ lệ thâm hụt thương mại so với GDP ngày càng gia tăng và trở nên đáng báo động trong những năm gần đây (2007-2010) khi tỉ lệ này vượt trên 10% GDP
Theo IMF, mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP nếu vượt quá 5% thì được xem là nghiêm trọng, vì vậy vấn đề thâm hụt thương mại của Việt Nam cần phải được xem xét thấu đáo
Năm 2011
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 12/2011 đạt 18,44 tỷ USD, tăng nhẹ 0,9%
so với tháng trước đó và tăng 12,6% so với tháng 12/2010 Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,09 tỷ USD, tăng 2,6 % so với tháng 11/2011; nhập khẩu là 9,36 tỷ USD, giảm 0,7% Kết quả là cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 thâm hụt 270 triệu USD, giảm mạnh 52,4% so với tháng trước và bằng 3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan thì tính từ đầu năm đến ngày 25 tháng 12 năm 2011, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã
chinh phục mức kỷ lục mới của Việt Nam “200 tỷ USD” sau khi đã cán mốc 100
tỷ USD vào ngày 01 tháng 12 năm 2007
Tính đến hết tháng 12 năm 2011 tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước đạt 203,66 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, trị giá hàng hoá xuất khẩu đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% và thực hiện vượt 22% mức kế hoạch của cả năm 2011; trong khi đó, trị giá hàng hóa nhập khẩu là 106,75
tỷ USD, tăng 25,8% và vượt 14,2% kế hoạch của cả năm Với kết quả trên thì cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong năm 2011 thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Trang 7Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại
của Việt Nam giai đoạn 2001-2011
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Theo số liệu Thống kê Hải quan thì tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2011 đạt 96,71 tỷ USD, tăng 36% so với kết quả thực hiện của năm trước
Trong đó, trị giá xuất khẩu là 47,87 tỷ USD, tăng 40,3% và chiếm 49,4% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước Trị giá nhập khẩu của khu vực các doanh
nghiệp này là 48,84 tỷ USD, tăng 32,1%, chiếm 45,7% tổng kim ngạch nhập khẩu
của cả nước Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu đạt 49,03 tỷ USD trong năm 2011, tăng 28,7% và nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng 21%
Năm 2012
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 12 đạt 20,2 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4% so với tháng trước Trong đó xuất khẩu đạt 10,36 tỷ USD, tăng 0,1% và nhập khẩu là 9,86 tỷ USD, giảm 1%
Cán cân thương mại hàng hoá tháng 12 thặng dư gần 500 triệu USD Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2012 đạt gần 228,37 tỷ USD, tăng 12,1%
Trang 8so với năm 2011, trong đó xuất khẩu đạt 114,57 tỷ USD, tăng 18,2% và nhập khẩu
là 113,79 tỷ USD, tăng 6,6%
Tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm qua là 124 tỷ USD, tăng 28,2% và chiếm 54% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Trong đó, xuất khẩu đạt 64,05
tỷ USD, tăng 33,8% và nhập khẩu là 59,94 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước
Như vậy, năm 2012 Việt Nam xuất siêu 780 triệu USD với tỷ lệ nhập siêu/ xuất khẩu là -0,7% (trong khi năm 2011 nhập siêu 9,84 tỷ USD) Xuất nhập khẩu năm 2012 đạt được kết quả như vậy là do có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương cũng như sự nỗ lực của cộng sđồng doanh nghiệp cả nước
Năm 2013
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 12 năm 2013 (từ ngày 16/12 đến ngày 31/12/2013) đạt gần 13,29 tỷ USD Trong đó, xuất khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 22,2%; nhập khẩu đạt 6,87 tỷ USD, tăng 28,8% so với nửa đầu tháng
12 năm 2013
Trong nửa tháng cuối năm 2013, Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu phương tiện vận tải khác và phụ tùng; máy móc, thiết bị, dụng cụ; máy vi tính, sản phẩm điện tử
Tính chung cả tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,64 tỷ USD, giảm 3% và nhập khẩu đạt 12,18 tỷ USD, tăng 10,9% so với tháng 11/2013
Với kết quả này, tháng 12 Việt Nam trở lại với nhập siêu Tuy nhiên nhờ tích lũy của những tháng trước, lũy kế cả năm 2013 cán cân thương mại của Việt Nam vẫn thặng dư 9,4 triệu USD, thấp hơn nhiều so với ước tính xuất siêu 863 triệu USD công bố trước đó và mức xuất siêu 749 triệu USD của cả năm 2012
Trang 9Biểu đồ 2.2: Kim ngạch XNK năm 2013
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Cụ thể: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 132,13 tỷ USD, tăng 15,4 % so với năm 2012, tương đương tăng 17,61 tỷ USD về số tuyệt đối
Tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt hơn 132,13 tỷ USD, tăng 16,1% so với năm 2012, tương ứng tăng 18,35 tỷ USD về số tuyệt đối
Năm 2013 là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam có thặng dư cán cân thương mại hàng hóa
2.2 Đánh giá chung
2.2.1 Thành tựu và thuận lợi
- Về cơ bản, cán cân thương mại được điều chỉnh và duy trì ở mức độ có thể
chấp nhận được để duy trì tăng trưởng và phát triển kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 10- Các chính sách, biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại tiếp tục được đổi
mới, hoàn thiện và áp dụng ngày càng hiệu quả hơn, tạo cơ sở quan trọng cần thiết
để có thể tiếp tục điều chỉnh cán cân thương mại theo hướng bền vững hơn trong thời gian tiếp theo
- Việc áp dụng thuế nhập khẩu thấp hơn đối với thương mại hàng hóa theo
FTA trong nội khối ASEAN (AFTA), FTA giữa ASEAN với Trung Quốc (ACFTA), và việc gia nhập WTO trong năm 2007, làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn tương đối so với các sản phẩm trong nước và phù hợp hơn với túi tiền của người tiêu dùng nên đã tạo ra tỷ lệ tiêu dùng hàng nhập khẩu cao hơn
- Xuất khẩu có tập trung hơn vào một số thị trường tương đối mới (TQ+HQ,
do FTA khu vực) bên cạnh các thị trường truyền thống (ASEAN, Mỹ, EU, Nhật) Đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các đối tác, song thị trường xuất khẩu còn chưa đa dạng
2.2.2 Hạn chế và yếu kém
- Tác dụng và hiệu quả của các chính sách, biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại còn hạn chế Tình trạng nhập siêu vẫn chưa có dấu hiệu được cải thiện một cách cơ bản và bền vững
- Thường xuyên phải đối đầu với những rào cản thương mại là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập vì năng lực cạnh tranh còn thấp Chính vì vậy, nguy cơ Việt Nam phải đối mặt với hàng trăm
vụ kiện và tranh chấp thương mại mỗi năm sẽ ngày càng gia tăng
- Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam còn thấp do nhiều mặt hàng gia công, xuất khẩu dựa nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tiến độ thực hiện các dự án sản xuất nguyên liệu, phụ liệu, phát triển công nghiệp phụ trợ còn chậm Tình trạng thiếu hụt lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề cao có xu hướng gia tăng
- Vấn đề điều chỉnh cán cân thương mại theo các khu vực thị trường và theo các mặt hàng tham gia xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế
- Nhiều nhóm hàng đã chạm ngưỡng, khó tăng tiếp Bên cạnh đó, xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại mới, với quá trình phục hồi chứa đựng đầy rủi ro của nền kinh tế thế giới Những vấn đề hậu khủng hoảng như bảo hộ mậu dịch, biến động giá cả, lạm phát, khan hiếm nguyên liệu,