Mặc dù có nhiều nguồn thông tin có liên quan đếnviệc dự đoán,một trong những nguồn chính mà chung tôi muốn tập trung trongchương này là những báo cáo tài chính của công ty bao gồm cả thô
Trang 1ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Nội dung kiến thức:
Sau khi hoàn thành chương này, bạn có thể :
- Đối chiếu với nguyên tắc cơ sở dồn tích và nguyên tắc cơ sở tiền mặt
và giải thích tại sao nguyên tắc thận trọng tồn tại trong một hệ thống nguyêntắc cơ sở dồn tích
- Miêu tả mối quan hệ giữa các mức độ của cơ sở dồn tích và sự tiếp tụctồn tại của lợi nhuận,và các Giải thích tỷ suất lợi nhuận bình quân và mối quan
hệ phức tạp khi lợi nhuận bằng tiền và lợi nhuận cấu thành trên cơ sở dồn tíchnên ghi nhận vừa phải trong sự đánh giá
- Liệt kê và giải thích những cơ hội và những động lực thúc đẩy tới sựquản lý để giám sát bên ngoài quá trình lập báo cáo tài chính,và cơ chế giámsát sự lạm dụng
- Thảo luận chất lượng lợi nhuận,giải thích những thước đo cơ bản củachất lượng lợi nhuận,so sánh và đối chiếu với chất lượng lợi nhuận của cáccông ty tương đương
- Giải thích tỷ suất lợi nhuận bình quân và mối tương quan giữa tỷ suấtlợi nhuận bình quân với lợi nhuận cộng dồn
- Nhận biết và giải thích các vấn đề trong báo cáo tài chính liên quanđến ghi nhận doanh thu,ghi nhận chi phí,báo cáo về tài sản và nợ phải trả,báocáo lưu chuyển tiền tệ
- Giải thích và làm sáng tỏ các dấu hiệu cảnh báo về những vấn đề tiềmtàng trong các phần chủ yếu của báo cáo tài chính (ví dụ như doanh thu,chiphí,tài sản,nợ phải trả và dòng tiền) và các dấu hiệu cảnh báo về toàn bộ những
gì làm sai lệch báo cáo tài chính
1 Giới thiệu
Việc phân tích báo cáo tài chính bao gồm việc đưa ra một cách tiếp cận
có hệ thống để sử dụng thông tin chứa trong báo cáo tài chính để giúp đỡ trongviệc ra quyết định Xu hướng của người ra quyết định sử dụng báo cáo tàichính là phải thích hợp Tuy nhiên,một lúc nào đó họ có chung một mức lãi
Trang 2suất cho dòng tiền có khả năng phát sinh trong tương lai của một công ty Vốncủa các nhà đầu tư và các nhà phân tích,tín dụng của các nhà đầu tư và các nhàphân tích, phân loại các chi nhánh,các khách hàng,các nhân viên,chính sáchthuế và các chủ thể khác, tất cả đều cần được đánh giá vào các dòng tiền trongtương lai của một công ty Mặc dù có nhiều nguồn thông tin có liên quan đếnviệc dự đoán,một trong những nguồn chính mà chung tôi muốn tập trung trongchương này là những báo cáo tài chính của công ty (bao gồm cả thông tin bổsung đến báo cáo tài chính).
Chất lượng báo cáo tài chính liên quan tới sự chính xác với việc ghi
chép tài chính của một công ty phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty và đểgiúp ích cho họ trong việc dự đoán các dòng tiền trong tương lai Trọng tâmcủa chúng tôi trong việc giới thiệu chủ đề này là vào báo cáo kết quả kinhdoanh và sự thận trọng (áp dụng của việc chọn lựa) được gắn với việc ghi nhậndoanh thu và chi phí hợp lý-điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần được tínhbằng doanh thu thuần trừ đi tổng chi phí Những cách đo lường đơn giản đemlại sự thận trọng hoàn toàn được phản trong việc ghi nhận lợi nhuận thuần, nócũng là cách rất hiệu quả để đo lường chất lượng báo cáo tài chính.Việc cáccông ty áp dụng nhiều hay ít sự thận trọng có thể luôn luôn bị phân loại nhưchất lượng báo cáo tài chính mạnh hay yếu Sự phân loại này đặc biệt hữu íchtrong việc nhận diện các công ty có dòng tiền phát sinh trong tương lai mạnhhay yếu
Vấn đề thảo luận trong chương này là đưa ra tài liệu được giới thiệutrong chương về các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính Chúng ta bắt đầu vớimột số nguyên tắc cơ bản để nêu bật phạm vi đánh giá sự thận trọng, điều đóđược ghi vào báo cáo tài chính Sự thận trọng này là một phần cần thiết của báocáo tài chính, nhưng nó lại mang lại hậu quả không định hướng trước được Sựthận trọng đòi hỏi người chuẩn bị báo cáo tài chính phải thực hiện đánh giá ướclượng nhiều hơn, điều đó có thể làm giảm chất lương bởi các lỗi trung lập nhưchiến lược lôi kéo Chúng ta sẽ đi qua nhiều ví dụ về sự thận trọng trong hệthống báo cáo tài chính, chứng minh bản thân nó trong hình thức của xu hướng
hệ thống hóa, cái mà các nhà phân tích sẽ phải liều lĩnh để lờ đi, thói quen làm
Trang 3tăng vai trò của các con số kế toán ngược với giá trị tài sản Vấn đề thảo luậncủa chúng ta sẽ rõ ràng và tổng quát thông qua việc phối hợp với một nhà phântích vốn hay phân tích nợ Tuy nhiên, nhiều tài liệu bí mật mà liên quan đếnnhà phân tích tài chính doanh nghiệp về việc đánh giá sự hợp nhất, tái cấu trúc,
và đầu tư khác, và cho việc tính toán giá trị được sinh ra bởi các sự kiện chiếnlược
Phần còn lại của chương này được tổ chức như sau: Phần 2 giới thiệu sựthận trọng trong hệ thống kế toán, so sánh với kế toán cơ sở dồn tích và kế toán
cơ sở tiền mặt Việc hiểu rõ vấn đề cơ bản này còn khá phức tạp, sự khác nhauquyết định đến tất cả kiến thức trong chương này,bởi nó chỉ rõ mục tiêu của sựthận trọng, điều đó tập trung rong báo cáo tài chính Phần 3 trình bày trườnghợp tổng quát về chất lượng báo cáo tài chính và giới thiệu phương pháp đơngiản đo lường chất lượng báo cáo tài chính Phần 4 cung cấp một kết cấu vềtính toán, phân tích và giải thích các chỉ tiêu khác nhau và phương pháp đolường chất lượng lợi nhuận và báo cáo tài chính Phần 5 thảo luận ngắn gọn xuhướng chất lượng báo cáo tài chính tiến tới gần hơn giá trị hợp lý Phần 6 tổngkết những điểm quan trọng trong chương này, và thực hành những vấn đề trongCFA về cấu trúc kết luận chương
2 Thận trọng trong phương pháp kế toán
Để hiểu được các vấn đề trong việc đánh giá chất lượng của báo cáo tàichính, các nhà phân tích nên làm quen với nội dung mà quyết định quản trịtrong kế toán được thực hiện và những nguyên tắc và mục tiêu của kế toán phátsinh Các phần sau đây cung cấp cơ sở đó:
2.1 Cơ sở nhận diện tiền mặt từ kế toán cơ sở cộng dồn
Tập trung vào các báo cáo tài chính bên ngoài bao gồm ba báo cáo tàichính cơ bản: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả HĐKD và báo cáo lưuchuyển tiền tệ Bảng cân đối là một bản chụp nhanh của các tài khoản tài sản,
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu khác nhau Nó phản ánh tình hình tài chính củađơn vị tại một thời điểm Doanh thu trừ chi phí trên BCKQHĐKD, và báo cáolưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp (bắt đầu với thu nhập ròng), chỉ
Trang 4rõ sự thay đổi như thế nào bằng tiền mặt trên bảng cân đối có thể cân bằng vớithu nhập trên báo cáo.
Để giúp đưa các báo cáo và làm rõ tầm quan trọng của kế toán dồn tích,xem xét một cửa hàng sửa chữa xe đạp Cadence Cycling Vào đầu năm nay chủ
sở hữu đóng góp $ 100 tiền mặt vào kinh doanh Bảng cân đối kế mở sẽ trôngnhư sau:
Bảng cân đối kế toán Candence Cycling ( Kế toán theo cơ sở tiền ) tính đến ngày 01/01/2007
Tài sản
Tiền mặt 100
Nợ phải trả 0 Vốn chủ sở hữu
Cổ phiếu phổ thông 100
Trong năm 2007, Cadence Cycling thu hút được hai khách hàng mua xeđạp của họ đến các cửa hàng dịch vụ Khách hàng đầu tiên trả $20 cho cácdịch vụ và sửa chữa xe đạp Khách hàng thứ hai không phải trả tiền cho dịch vụ
; giá ước tính cho dịch vụ là $ 25 Đến cuối năm 2007, Cadence đã hoàn thànhcông việc cho khách hàng thứ hai nhưng vẫn chưa bắt đầu công việc cho kháchhàng đầu tiên (chúng ta đang bỏ qua những phần liên quan đến hàng tồn kho để
ví dụ đơn giản hơn) Theo kế toán cơ sở tiền mặt thuần, chỉ các nghiệp vụ liênquan đến báo cáo tài chính thì mới liên quan đến tiền mặt Như vậy, bảng cânđối cần thiết cho ví dụ này chỉ bao gồm tiền mặt và các khoản tương đươngtiền, và báo cáo KQHĐKD (và báo cáo lưu chuyển tiền tệ) chỉ đơn giản là sựthay đổi bằng tiền mặt và tương đương tiền không phải do các nhà cung cấpvốn bên ngoài Báo cáo KQHĐKD và bảng cân đối kế toán theo cơ sở tiền mặt
sẽ như sau:
Báo cáo KQHĐKD của Cadence Cycling (kế toán cơ sở tiền mặt) cho kết thúc năm 31/12/2007
Trang 5Cổ phiếu thường 100Lợi nhuận giữ lại 20
Lưu ý: Chúng tôi bỏ qua các chi phí liên quan đến hàng tồn kho tập trung thảo luận về doanh thu.
Rõ ràng, chúng ta không thấy báo cáo tài chính như vậy trong thực tếcho các công ty niêm yết công khai (mặc dù chúng ta sẽ thấy những báo cáo tàichính như thế nàycó thể được viết lại để tính toán trên cơ sở tiền mặt thuần củathu nhập, nó có thể được sử dụng để làm tiêu chuẩn đánh giá lợi nhuận tíchluỹ) Thay vào đó, chúng ta thấy một hệ thống kế toán dồn tích Ngược lại với
kế toán cơ sở tiền mặt, theo kế toán cơ sở dồn tích, đó không phải là dòng tiềnxác định khi doanh thu và chi phí được ghi trong báo cáo tài chính; đúng hơn,
đó là một quá trình tạo nên việc ghi nhận doanh thu và chi phí Doanh thu làmtăng giá trị tài sản ròng và nó là kết quả của các hoạt động tạo thu nhập chínhcủa công ty Chi phí làm giảm giá trị tài sản ròng liên quan đến việc tạo doanhthu Do đó, doanh thu sổ sách kế toán dồn tích không được ghi nhận khi đã thutiền, mà được ghi nhận khi một sản phẩm dịch vụ đã được cung cấp cho khách
Trang 6hàng Báo cáo KQHĐKD và bảng cân đối theo cơ sở dồn tích cho Cadence Cycling:
Báo cáo KQHĐKD của Cadence Cycling (kế toán cơ sở dồn tích) cho kết thúc năm 31/12/2007
Doanh thu
Dịch vụ xe đạp cho khách hàng #2 25
Chi phí 0
Lợi nhuận ròng 25
Bảng cân đối kế toán của Cadence Cycling ( kế toán cơ sở dồn tích) tính đến 31/12/2007 Tài sản Tiền mặt 120
Khoản phải thu 25 Nợ phải trả Doanh thu chưa thực hiện 20
Vốn chủ sở hữu Cổ phiếu thường 100
Lợi nhuận giữ lại 25
Có sự khác biệt đáng chú ý trong phương pháp tính toán tổng hợp qua 2
bộ báo cáo tài chính Theo cơ sở tiền mặt, trên báo cáo của Cadence Cycling, lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA) là $20 / [($100 + $120) / 2] = 18,2%, trong khi đó theo cơ sở dồn tích ROA là $25 / [($100 + $145) / 2] = 20,4% Có lý do hợp lý để tập trung vào phương pháp tính toán dựa trên cơ sở dồn tích, vì nó đưa ra một dấu hiệu tốt hơn cho các hoạt động tạo ra giá trị
“đúng” trong năm Sự khác biệt giữa ROA trên kế toán cơ sở tiền mặt và kế toán cơ sở dồn tích thậm chí còn lớn hơn nếu chúng ta xem xét các hoạt động đầu tư tài sản dài hạn (tài sản có thời gian sử dụng hữu ích dài) Theo kế toán
cơ sở tiền mặt, nếu các khoản đầu tư dài hạn, chẳng hạn như mua bất động sản, nhà máy và thiết bị (PP & E), được thanh toán bằng tiền mặt, dòng tiền ra sẽ làm giảm thu nhập trong năm đầu tư, trong khi theo kế toán cơ sở dồn tích, số tiền ban đầu được vốn hóa như một tài sản và sau đó định kỳ khấu hao theo
Trang 7thời gian hữu dụng của tài sản Trong năm đầu tư, một sự đo lường ROA theo
cơ sở tiền mặt sẽ thấp hơn đáng kể so với theo cơ sở dồn tích Ngược lại, trongthời gian sau đó, nếu công ty thực hiện ít đầu tư hơn trong PP & E, thì sau đóROA sẽ cao hơn theo cơ sở tiền mặt trong tương lai, trong khi, chi phí khấuhao sẽ tiếp tục tăng lên qua báo cáo KQHĐKD theo kế toán cơ sở dồn tích Ví
dụ này đương nhiên dẫn đến câu hỏi: Giá trị tương đối của cơ sở tiền mặt và lợinhuận dồn tích là gì?
Một trong những mục tiêu chính của báo cáo tài chính bên ngoài là đểcung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư Kế toán dồn tích đã xuất hiện như làphương pháp được chấp nhận để đạt được mục tiêu này Kế toán dồn tích tậptrung vào việc xác định, đo lường tài sản và nợ phải trả, với những thay đổi dồntích trong tài sản và nợ phải trả không dùng tiền mặt Các nhà phân tích tàichính nên phân tích việc quyết định sử dụng của công ty trong điều kiện triểnkhai phương pháp trích trước hoặc ngăn cản việc ra quyết định đầu tư Sự hữuích tiềm năng của hệ thống dồn tích có thể được nhìn thấy bằng phương phápdồn tích và việc trì hoãn liên quan đến ghi nhận doanh thu Đối với một công tybán rất nhiều hàng hóa và dịch vụ trên các điều khoản tín dụng, đợi cho đến khinhận được tiền sẽ không tạo ra đúng dòng tiền trong tương lai tạo ra khả năngcủa doanh nghiệp đó Thay vào đó, công ty tích lũy doanh thu khi sản phẩmđược phân phối hoặc dịch vụ được cung cấp Đây là thuộc tính hấp dẫn của hệthống kế toán dồn tích: nó cung cấp thông tin liên quan và kịp thời hơn chomục đích ra quyết định Ví dụ, nếu Cadence Cycling bán một chiếc xe đạptrong năm 2007 cho khách hàng bằng tín dụng, sau đó theo kế toán cơ sở tiềnmặt thì việc bán này mà sẽ không xuất hiện trong việc tính toán thu nhập chonăm 2007 Thay vào đó, nó sẽ được ghi nhận là doanh thu khi thu tiền ở thờigian trong tương lai Theo cơ sở dồn tích, việc bán này sẽ được ghi nhận làdoanh thu trong năm 2007, với một điều chỉnh cho các tài khoản phải thu khóđòi (tức là, toàn bộ số tiền bán nợ sẽ được giảm dựa trên sự kỳ vọng của số tiền
mà không có khả năng là thu về) Kế toán cơ sở dồn tích theo đó tạo ra một con
số lợi nhuận sau thuế chuẩn xác hơn trong hoạt động tạo lợi nhuận tới người sửdụng báo cáo tài chính
Trang 8Điều quan trọng cần lưu ý là những phương pháp dồn tích giống nhaumang theo những quyết định trong việc ước tính doanh thu được phân bổ giữacác kỳ tài chính Một số câu hỏi phải được trả lời trước khi một lượng doanhthu có thể được giao nhận tại một khoảng thời gian nhất định Ví dụ, đã là hàngthực sự phân phối chưa? Liệu khách hàng đã tin tưởng để trả tiền cho hàng hóachưa? Khách hàng có khả năng, hoặc có uy tín tín dụng để thanh toán khi nóđến hạn hay chưa? Câu trả lời cho những câu hỏi thường là chủ quan và tạođiều kiện cho chiến lược sử dụng kế toán dồn tích Bằng cách "sử dụng chiếnlược", nghĩa là số liệu kế toán như là thu nhập ròng rất quan trọng trong mộtloạt các điều khoản hợp đồng như là chấp hành bồi thường Các khuyến khíchkinh tế được tạo ra bởi các hợp đồng như vậy tạo ra một cơ hội cho việc quản
lý "chiến lược" hay "cơ hội" khi đưa ra quyết định ,chẳng hạn như khi một sảnphẩm đã được cung cấp, hoặc làm thế nào để xét mọi mặt cho các tài khoảnphải thu khó đòi Chúng tôi mô tả một số chính sách ưu đãi cụ thể hơn trongphần 2.3
Những nghiên cứu lớn đã kiểm tra xem phương pháp thực hiện cơ sởtiền mặt hay cơ sở dồn tích có các chỉ số cao trong dòng tiền tương lai và lợinhuận cổ phiếu Việc thu thập từ các tài liệu có liên quan cho thấy là lợi nhuận
kế toán dồn tích cao hơn lợi nhuận kế toán tiền mặt Tuy nhiên, kế toán dồntích tổng hợp rất nhiều các ước tính liên quan đến việc trì hoãn và dồn tíchdoanh thu và chi phí khác nhau Ví dụ, sự lựa chọn thời gian sử dụng hữu ích
và giá trị còn lại cho mục đích ước tính khấu hao định kỳ, sự lựa chọn về tríchlập dự phòng cho các tài khoản phải thu khó đòi, sự lựa chọn trên những giảđịnh để tính toán nghĩa vụ postretirement, vv, tất cả đều có liên quan trong việcxác định thu nhập ròng trong kỳ Một cách đơn giản để tách các phương phápdồn tích tổng hợp là phân tách lợi nhuận dồn tích vào dòng tiền và hợp phầndồn tích ( bao hàm các phương pháp của các hợp phần trong phần 3.2) Nghiêncứu bao quát đã kiểm tra những lợi ích từ phân tách này Nghiên cứu bao quát
đã kiểm tra những lợi ích từ phân tách này Có bằng chứng rõ ràng rằng hợpphần dồn tích của các khoản thu nhập ít bền vững hơn (nghĩa là tạm thời hơn)
so với các thành phần tiền thu nhập (Để giải thích rõ hơn nữa, một khoản thu
Trang 9nhập hoàn toàn bền vững là với một đồng thu nhập đồng euro hôm nay kiếmđược một đồng thu nhập euro cho tất cả các giai đoạn trong tương lai) Nghĩa làtrong khi kế toán dồn tích vượt trội so với kế toán tiền mặt, hợp phần dồn tíchcủa các khoản thu nhập nên nhận được một lượng thấp hơn so với lợi nhuậnhợp phần tiền trong việc đánh giá hiệu suất của công ty Sự bền vững thấp hơnnày ít nhất một phần do sự chủ quan lớn tham gia vào dự toán dồn tích.
Thu nhập bền vững thấp hơn do mức độ cao của phương pháp dồn tíchkhông phải là một kết quả trực tiếp của hoạt động quản lý thu nhập (ví dụ, hoạtđộng có chủ ý nhằm vào tạo sự ảnh hưởng đến những con số lợi nhuận trên bảnbáo cáo, thường với mục tiêu quản lý đặt trong một “nguồn sáng” thuận lợi).Bản chất của kế toán dồn tích là tích luỹ và trì hoãn quá khứ, hiện tại và dựđoán tương lai thu tiền và giải ngân Quá trình dồn tích liên quan đến mộtlượng đáng kể dự toán biên lai thu tiền trong tương lai và các khoản thanh toán,
và phân bổ chủ quan biên lai thu tiền trước và các khoản thanh toán Khi làmnhư vậy, quá trình dồn tích tạo ra tài khoản của độ tin cậy khác nhau Ví dụ, ghilại những giá trị thuần có thể thực hiện của các khoản phải thu liên quan đếnviệc tính toán rủi ro mặc định trên một danh mục đầu tư của người nợ Các ví
dụ khác bao gồm ước tính số tiền bồi thường của hàng tồn kho, mất giá và khấuhao tài sản, và ước tính nghĩa vụ lợi ích sau khi nghỉ hưu Ước tính sai sót(hoặc cố ý hoặc vô ý) cho các tài sản khác nhau, trách nhiệm, và liên kết các tàikhoản doanh thu và chi phí sẽ dẫn đến việc giảm bền vững trong thu nhập Nóichung, các ước tính tự biểu thị trong mức độ của báo cáo phương pháp dồntích Chúng ta sẽ xem xét ví dụ chi tiết liên quan đến những sai sót kế toán sautrong chương này Cụ thể, chúng tôi sẽ giới thiệu một số phương pháp phổ biếncủa phương pháp dồn tích đó là hữu ích từ một quan điểm đầu tư Trong phạm
vi mà các nhà đầu tư không chỉ định một lượng thấp hơn để dồn tích (vì họkhông thể hiểu được đầy đủ tính chủ quan lớn hơn tham gia vào dự toán dồntích), chứng khoán trở nên bị định giá sai đối với thông tin đó Một nhà phântích tốt không nên phạm phải lỗi này: Các hợp phần dồn tích của các khoản thunhập sẽ nhận được nhiều định giá thấp hơn so với các hợp phần tiền mặt
2.2 Những quyết định về việc lựa chọn các chính sách kế toán:
Trang 10Trong phần này sẽ đưa ra một vài những quyết định quan trọng mà đượcđính kèm với BCTC và xác định tại sao những quyết định này có thể được sửdụng bởi Ban quản trị Sự chuẩn bị các BCTC được thực hiện theo các nguyêntắc kế toán đều theo sự ước tính Những ước tính này làm giảm độ tin cậy củaBCTC do những sai xót ngẫu nhiên về các ước lượng và đưa ra quyết định sửdụng phương pháp kết toán như thế nào Ví dụ, khi ước lượng dự phòng khoảnphải thu khó đòi sắp trở thành các khoản nợ xấu trong quá trình bán hàng vàcung cấp dịch vụ, doanh nghiệp chỉ ước tính tỷ lệ 3% trong tổng giá trị hànghóa đã bán nhưng thực tế có thể lên tới 5% Việc đánh giá thấp đi 2% so vớicon số thực tế của khoản dự phòng được tạo ra đơn giản bởi vì nó là một sự sai
số trong ước lượng hoặc cũng có thể là kết quả của những tính toán có chủ ýcủa Ban quản trị để làm cho chi phí thấp đi Nhưng cho dù việc sai số nàymang tính ngẫu nhiên hay có chủ ý thì kết quả cuối cùng vẫn giống nhau đốivới các nhà phân tích tài chính Nếu bạn lựa chọn cách tính chi phí như trên sẽ
có xu hướng đánh giá cao ( hoặc thấp ) đi lợi nhuận của công ty thì dòng tiềntrong tương lai cũng sẽ thấp đi ( hoặc cao lên ) tương ứng
Một vài ví dụ về việc lựa chọn các chính sách kế toán:
- Ghi nhận doanh thu: dự phòng phải thu, dự phòng bảo hành sản phẩm,giảm giá và hàng bán bị trả lại…
- Khấu hao: thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, giá trị thanh lý,phương pháp khấu hao
- Hàng tồn kho: phương pháp tính giá hàng tồn kho, dự phòng giảmgiá…
- Lợi thế thương mại hay những tài sản cố định vô hình: chi phí kiểm trađịnh kì xem có bị giảm giá trị không
- Chính sách thuế: ước tính về sự khấu trừ thuế
- Chế độ hưu trí: ước tính ROA, lãi suất chiết khấu, tốc độ tăng trưởng,thu nhập công nhân viên
- Định giá tài sản tải chính, nghĩa vụ nợ: những chuẩn mực kế toán hiênhành ( ví dụ chuẩn mực 157 về đo lường giá trị hợp lý của Mỹ) tập trung vàogiá trị hợp lý làm cơ sở ghi nhận tài sản và nợ phải trả Đối với một số loại tài
Trang 11sản tài chính và nợ phải trả mà ít khi được giao dịch thì cần xác định giá trị cácyếu tô tạo nên các tài sản và nợ đó để xác định giá trị một cách hơp lý.
- Các chi phí liên quan đến chứng khoán: ước tính biến động, tỷ lệ chiếtkhấu…
Trên đây là một phần danh sách, ngoài ra còn những thứ khác khôngliên quan đến tiền mặt Chúng tôi muốn hiểu và học cách sử dụng các thuyếtminh BCTC để định lượng mức độ tác động của việc lựa chọn các phươngpháp kế toán ảnh hưởng như thế nào đến BCKQHĐKD
Điều quan trọng là hãy nhớ rằng những chế độ chính sách kế toán màđược thảo luận trong chương này là một phần trong rất nhiều các quyết địnhquản trị và nó tương tác trực tiếp với thị trường tài chính hơn là ảnh hưởng đến
sự kỳ vọng của các nhà đầu tư Ví dụ, việc sử dụng một cách có chủ ý chế độ
kế toán này có thể được kết hợp với các quyết định kinh doanh thực tế như: cắtgiảm các hoạt động nghiên cứu và phát triển hoặc sử dụng phương pháp kếtoán liên quan đến hàng tồn kho theo LIFO hoặc FIFO ( được cho phép trongchế độ kế toán Mỹ nhưng không được cho phép trong chế độ kế toán quốc tế ),những điều đó cũng tác động trực tiếp lên BCTC Ban quản trị cũng có thể trựctiếp liên lạc với các chủ thể trên thị trường tài chính thông qua bộ phận quan hệvới các nhà đầu tư của họ, hoặc các cuộc họp, buổi thuyết trình Có một ngànhcông nghiệp lớn được thành lập để hỗ trợ cho những sự kết nối này mà được sửdụng bởi các công ty để giải thính về những hoạt động của công ty và giúp tạo
ra những kì vọng về hoạt động trong tương lai của công ty
2.3.1 Ảnh hưởng tới thị trường vốn
Khi thông tin tài chính được báo cáo trên thị trường vốn, sẽ thay đổi giáchứng khoán của công ty Điều này tạo ra một động lực rõ ràng trong việc quản
Trang 12lý báo cáo hiệu quả tài chính mà đáp ứng hoặc vượt qua kỳ vọng hiện tại vàquản lý kỳ vọng trong tương lai.
Các nghiên cứu đã tập trung vào khuynh hướng vào việc báo cáo doanhthu qua các ngưỡng (ví dụ: mức thu nhập lịch sử, mức dự báo phân tích đồngnhất) Các minh họa sau tóm tắt về hiện tượng này Minh họa 17-1 báo cáo tầnsuất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu giá trị thị trường (định nghĩa là thu nhậpròng chia cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu) Mẫu bao gồm tất cả đăng
ký của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) từ 1988 đến 2003 (có hiệu quả, tất cảcác công ty có chứng khoán được giao dịch tự do ở Mỹ trong thời gian này).Trục hoành tập hợp các công ty theo “mức thu nhập ròng” Các vạch đượchình thành theo xếp hạng ngang hàng các công ty thành các nhóm dựa trên tầmquan trọng của quy mô thu nhập ròng bởi vốn hóa thị trường Mỗi thanh tươngứng với một khoảng thời gian 50 cơ sở điểm Ví dụ, các thanh dọc in đậmtương ứng với năm mà quy mô lợi nhuận vốn hóa thị trường trong khoảng từ 0đến 0.005 cho thanh đầu tiên và trong khoảng 0,005 đến 0,01 cho thanh in đậmthứ hai Có một "nút thắt" rõ ràng trong phân phối này, nơi nhiều công ty dựđoán các khoản lợi nhuận nhỏ (thanh in đạm) so với các khoản mất mát nhỏ.Một số người đã yêu cầu “nút thắt” này là phần tối thiểu do động cơ báo cáo tài
chính.
Trang 13Minh họa 17-2 cho biết sự phân bố của các lỗi dự báo cho các mẫutương tự của công ty Một lỗi dự báo được định nghĩa là sự khác biệt giữa thunhập và sự thống nhất phân tích lợi nhuận các kỳ gần đây nhất được công bố.
Có một tỷ lệ rõ ràng của một sự bất đối xứng xung quanh "không" dự báo lỗi(ví dụ, nơi nhiều công ty báo cáo lợi nhuận mà vượt qua một phần dự báo phântích lợi nhuận của bên bán so với các công ty đã báo cáo lợi nhuận mà bỏ quaphần dự báo) (Các nhà phân tích bên bán làm việc trong các cty mà bán giaodịch bán và các dịch vụ liên quan.) Mô hình này xuất hiện để minh họa cho một
sự kết hợp của quản lý thu nhập (ví dụ, sử dụng cơ hội của các phương pháptrích trước) và lợi nhuận kỳ vọng quản lý (ví dụ, khuyến khích các nhà phântích dự báo một số thấp hơn một chút)
Mục tiêu mà công ty đang cố gắng để đạt được là một điểm tham chiếu
di động: dự báo thống nhất từ bên bán Sử dụng các chiến lược truyền thôngvới đầu tư công chúng, quản lý có khả năng là di động điểm tham chiếu Tương
tự như vậy, số lượng báo cáo thu nhập là một mục tiêu di chuyển do các quyếtđịnh dành để quản lý Sự tập trung vào báo cáo lợi nhuận đáp ứng ước tính sựđồng thuận thường được gọi là các trò chơi thu nhập Thật vậy, có bằng chứngrằng điều này "trò chơi" có liên quan đến áp lực thị trường vốn đối với mộtcông ty Nếu nhìn vào các mô hình của các lỗi dự báo trong cả năm tài chính,
Trang 14dự báo ban đầu có xu hướng lạc quan so với thu nhập báo cáo (ví dụ, các nhàphân tích đều dự báo một số sớm trong năm đó lớn hơn những gì công ty kếtthúc báo cáo), và dự báo sau đó có xu hướng bi quan (ví dụ, các nhà phân tíchđang dự báo một số vào cuối năm nay đó là ít hơn những gì công ty kết thúcbáo cáo) Việc chuyển đổi từ lạc quan ban đầu đến bi quan dẫn đến một khoảnthu nhập tích cực không ngờ khi thu nhập được công bố khi kết thúc Minh họa17-3 trên trang 732 tóm tắt mô hình này cho các mẫu tương tự của công ty, và
rõ ràng là mô hình này ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây.Hơn nữa, mô hình này mạnh hơn cho các công ty mà sau đó được phát hành cổphiếu, hoặc trong trường hợp người trong cuộc bán cổ phần của họ
Bên cạnh thị trường vốn, một loạt các hợp đồng có thể cung cấp cácđộng lực BCTC, thảo luận trong phần tiếp theo
2.3.2 hợp đồng
Thông tin kế toán được sử dụng trong một loạt các hợp đồng, bao gồm
cả hợp đồng quản lý và các hợp đồng liên quan đến chứng khoán tài chính Cảhai loại hợp đồng có thể cung cấp động lực cho việc quản lý sử dụng theoquyết định kế toán cơ hội
Ví dụ, bồi thường quản lý thường được thiết lập là một hàm của báo cáo
số liệu lợi nhuận (trong điều kiện tuyệt đối hoặc tương đối ) cũng như cácthông tin liên quan đến giá cổ phiếu, lần lượt là một chức năng của báo cáo thunhập Ví dụ, Textron Inc ủy quyền báo cáo trong năm 2006 là các tiêu chí hiệusuất sử dụng cho các kế hoạch ngắn hạn và khuyến khích dài hạn của nó baogồm các biện pháp khác nhau dựa trên báo cáo tài chính bao gồm cả lợi nhuậntrên tài sản, và các tỷ suất lợi nhuận và doanh thu Thông tin báo cáo tài chínhthường xuyên được sử dụng như một cơ sở cho việc xác định bồi thường điềuhành Các hợp đồng này trực tiếp tạo động lực cho việc quản lí để có cơ hộitrong việc sử dụng quyền quyết định kế toán
Trang 15Có hợp đồng khác, nơi thông tin kế toán cũng được sử dụng, chẳng hạnnhư các hợp đồng nợ Các công ty có dư nợ là các bên tham gia một hoặc nhiềugiao ước nợ (các thỏa thuận giữa công ty với vị thế đi vay và chủ nợ của mình)thường có nhiều hạn chế (ví dụ, các công ty phải duy trì tỷ lệ lãi vay tối thiểu
để tránh vỡ nợ và khả năng thỏa thuận lại chi phí nợ) và có thể định giá hiệusuất mà chi phí lãi suất bị ràng buộc một cách rõ ràng để thực hiện các hoạtđộng tài chính Nói chung, các hợp đồng cung cấp động cơ rất rõ ràng để quản
lý sử dụng theo quyết định chiến lược kế toán dành cho họ
2.4 Cơ chế quản lý có kỉ luật:
Các cuộc thảo luận đưa ra nhiều cơ hội để Ban quản trị cùng nhau làmméo mó các BCTC Do vậy liệu chúng ta có nên đặt ít niềm tin vào kết quả hệthống báo cáo này hay không? Không BCTC cung cấp các thông tin rất hữuích, một phần là do các quy tắc lập báo cáo đã được chuẩn hóa Có nhiều cơchế giảm bớt sự lạm dụng các chế độ mang tính chủ quan này Một số ví dụ vềcác cơ chế đảm bảo sự tin cậy của báo cáo bao gồm:
- Kiểm toán bên ngoài: mỗi công ty đại chúng được yêu cầu phai cóBCTC được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán có đăng ký Quy trình này
Trang 16cung cấp sự xác nhận độc lập về BCTC Cụ thể, trách nhiệm của kiểm toánviên bên ngoài là đưa ra ý kiến về sự tin cậy của BCTC hợp nhất, ý kiến vềđánh giá sự kiểm soát của Ban quản trị, sự hiệu quả của BCTC nội bộ Ý kiếncủa kiểm toán mà có ghi từ “ không đồng ý” thì phản ánh sự đối lập sai xót khicông bố BCTC.
- Kiểm toán nội bộ, ủy ban kiểm toán và hội đồng quản trị Hội đồngquản trị thông qua các ủy ban của nó và sự giám sát của kế toán nội bộ nhưhoạt động của nhà quản lý
- Cấp giấy chứng nhận quản lý: đối với công ty mà phải tuân theo tổchức Sarbanes – Oxley của Mỹ hoạt động từ 2002, GĐ điều hành và GĐ tàichính phải xác thực BCTC, việc này làm tăng nguy cơ rủi ro đối với các cánhanh hơn trước đây khi họ tiến hành bóp méo kết quả kinh doanh
- Luật sư: những vụ kiện là một trong những cách khá hiệu quả để giảmkhuynh hướng bóp méo kết quả hệ thống BCTC
- Người quản lý, các cơ quan quản lý, kể cả cơ quan điều tra tội phamjtrong thẩm quyền của họ có thể làm cho các nhà quản lý phải suy xét kĩ vềnhững hành động của họ
- Giám sát thị trường nói chung: những nhà báo về tài chính, tổ chức tàichính, công đoàn, nhà phân tích…, đều luôn chú ý đến sai xót, những lỗ hổngtrong BCTC để tìm ra sự gian lận
3 Chất lượng báo cáo tài chính: Định nghĩa, vấn đề và các thước đo tổng hợp:
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày khung khái quát về chất lượngbáo cáo tài chính và tập trung vào chất lượng lợi nhuận Chất lượng lợi nhuận
là thuật ngữ được định nghĩa đặc trưng cho tính ổn định và bền vững Ví dụnhư, các nhà phân tích thường cho rằng lợi nhuận được coi là có chất lượng caokhi chúng bền vững hoặc khi họ “kỳ vọng mức lợi nhuận được báo cáo đượcbền vững hoặc liên tục” Các phương pháp tiếp cận sẽ có cái nhìn trọng tâmvào việc dự báo các dòng tiền hoặc lợi nhuận trong tương lai, cái sẽ là trungtâm của việc đánh giá Một thước đo mà yếu tố dự báo các dòng tiền tương lai
Trang 17và lợi nhuận hiệu quả thì đáng để bàn luận hơn thước đo mà việc dự báo của nókém hiệu quả hơn, do đó nó cũng phục vụ tốt hơn cho mục đích đánh giá.
Những tranh luận khác về chất lượng lợi nhuận sẽ xem xét việc chọn lựaphương pháp kế toán sáng tạo hay thận trọng, đc trình bày trên BCTC của cáccông ty VD như, các công ty sử dụng phương pháp khấu hao nhanh, có mứctrợ cấp cao cho hàng tồn kho lỗi thời và các khoản phải thu khó đòi hoặc là cókhoản lợi nhuận giữ lại lớn thì có thể được xem xét là đã sử dụng phương phápthận trọng Điều này là bởi vì lợi nhuận đã bị giảm xuống ở kỳ hiện tại Tậptrung vào những thay đổi của các khoản mục trên bảng CĐKT hoặc lợi nhuậndồn tích, lợi nhuận hoãn lại là cách hiệu quả để nắm bắt những thay đổi củachất lượng lợi nhuận Các thước đo dồn tích khi sử dụng cả 2 phương pháp kếtoán sáng tạo và phương pháp kế toán thận trọng sẽ làm giảm khả năng của lợinhuận dồn tích trong dự báo về biểu hiện của công ty trong tương lai
3.1 Lợi nhuận đảo chiều:
Với mục đích nhận biết những công ty có lợi nhuận ổn định và bền vữnghơn so với những công ty cùng ngành, phần này sẽ tập trung vào giá trị cốt lõicủa chất lượng lợi nhuận, gồm yếu tố dồn tích và hoãn lại Trong phạm vi đó,các nhà phân tích quan tâm tới khuynh hướng của lợi nhuận khi chuyển từ mứcthấp nhất lên mức trung bình (gọi là lợi nhuận đảo chiều) Hiện tượng này sẽđược giải thích về mặt kinh tế Thị trường cạnh tranh có xu hướng tự sửa saiđối với những vấn đề mang tính quản lí hoặc mang tính chiến lược mà dẫn tớihoạt động kinh doanh kém hiệu quả và các doanh nghiệp hoạt động kém sẽ dần
bị loại bỏ Tùy thuộc vào rào cản gia nhập, vốn sẽ di chuyển về phía nhữngdoanh nghiệp có khả năng sinh lời cao hơn, làm tăng mức độ cạnh tranh vàgiảm sự quay trở lại Tác động của hiệu ứng cạnh tranh là làm cho lợi nhuận trở
về mức trung bình Dữ liệu được phân tích bởi Nissim và Penman (2001) đãchỉ ra rằng mô hình lợi nhuận đảo chiều này là rất phổ biến Mô hình 17-4 dướiđây sẽ mô tả trạng thái đảo chiều của lợi nhuận trên tài sản hoạt động ròng(RNOA) Hàng năm, các công ty sẽ được phân chia thành 10 nhóm cùng ngành
và lấy trung bình RNOA của 10 danh mục đầu tư được theo dõi trong vòng 6năm tới
Trang 18Việc hiểu rõ lợi nhuận đảo chiều có ý nghĩa quan trọng cho việc phântích báo cáo tài chính Để xây dựng mức dự báo có ý nghĩa cho dòng tiền trongtương lai, ta nên nhận ra rằng mức lợi nhuận quá cao hoặc quá thấp khôngđược mong đợi là sẽ tiếp tục trong tương lai
Như đã đề cập trước đó, lợi nhuận được cấu thành từ lợi nhuận bằng tiền
và lợi nhuận dồn tích Về mặt đại số: LN = LN bằng tiền+ LN dồn tích Nếu lợinhuận dồn tích lớn thì tỷ suất lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai sẽ nhỏ vànhững công ty có lợi nhuận dồn tích lớn thì tỷ suất lợi nhuận sẽ trở về mứctrung bình nhanh hơn Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên vì lợi nhuậndồn tích là nhân tố làm biến dạng kế toán nhiều nhất và tính ổn đinh thấp hơn
Tóm lại, lợi nhuận càng ổn định thì chất lượng sẽ càng cao Việc phântích lợi nhuận được cấu thành từ lợi nhuận dồn tích và lợi nhuận bằng tiền sẽtạo ra dự báo tốt hơn cho lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai; hơn nữa, như
đã đề cập, lợi nhuận mà kém ổn định hơn sẽ có chất lượng thấp hơn Trongphần sau, chúng tôi sẽ trình bày nhiều hơn các ví dụ về các giao dịch làm phátsinh các dòng thu nhập chất lượng thấp Một vấn đề chung cho tất cả các ví dụ
về chất lượng lợi nhuận thấp đó là trên thực tế, do việc lựa chọn các phương
Trang 19pháp kế toán khác nhau làm cho lợi nhuận bị bóp méo so với giá trị thực, tuynhiên dòng tiền lại không bị ảnh hưởng.
3.2 Đo lường lợi nhuận dồn tích và chất lượng của lợi nhuận:
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày phương pháp đo lường lợi nhuậndồn tích và lợi nhuận bằng tiền dùng trong các báo cáo tài chính được chuẩnhóa Chúng tôi cũng đưa ra nhiều thước đo lợi nhuận dồn tích khác nhau (LNbằng tiền= Tổng LN - LN dồn tích) Cuối cùng, chúng tôi cũng trình bày thước
đo tỷ số của LN dồn tích, đây là thước đo vô cùng đơn giản để các nhà phântích có thể tính toán và sử dụng để đánh giá chất lượng của lợi nhuận
Mô hình 17-5 sẽ trình bày 3 BCTC cơ bản trong khuôn khổ được chuẩnhóa Khuôn khổ được lựa chọn sẽ căn cứ vào cái được sử dụng bởi Compustattrong quá trình báo cáo các BCTC của các công ty hoạt động tại Hoa kỳ Việc
sử dụng khuôn khổ được chuẩn hóa mang lại lợi thế so sánh giữa các công ty.Lưu ý rằng “ lợi nhuận trước các khoản mục khác thường” có thể được chuẩnmực kế toán Mỹ (U.S.GAAP) ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc nhưng lạikhông được ghi nhận theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) và “lợi ích của cổđông thiểu số” theo chuẩn mực kế toán quốc tế phải được ghi nhận bên phầnvốn chủ sở hữu nhưng lại không được ghi nhận ở phần nợ phải trả, vốn chủ sởhữu hoặc giữa 2 phần theo chuẩn mực kế toán Mỹ (Compustat đặt nó trongphần nợ phải trả) Việc tiến hành điều chỉnh những chênh lệch này là một trongnhững yêu cầu trong công việc của nhà phân tích
Các BCTC được đưa ra dưới đây được dựa trên hệ thống kế toán dồntích Ngoại trừ tiền mặt, tất cả các khoản mục trên bảng cân đối kế toán đều làkết quả của những lựa chọn chủ quan xung quanh các qui định đánh giá và thừanhận Ví dụ như: (1) Các khoản phải thu được báo cáo dựa trên cơ sở thuần saukhi việc bán hàng đã được thực hiện và những người mua chịu có đủ khả năngthanh toán các khoản nợ; (2) Hàng tồn kho cũng được báo cáo trên cơ sở thuầnvới giả định rằng trong tương lai có thể bán chúng với giá lớn hơn giá gốc.Những giải thích tương tự cũng được đưa ra cho các khoản mục khác trên bảngcân đối kế toán Các quyết định dược đưa ra từ các BCTC trên cơ sỏ dồn tích
Mô hình 17-5: BCTC (Trong khuôn khổ chuẩn mực):
Trang 21Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh sau khấu hao
(OIAD)
OIBD-d
Trừ: Các khoản mục đặc biệt và các khoản mục khác không
thuộc hoạt động kinh doanh
f
Lợi nhuận trước các khoản mục khác thường (IBXI) OIAD-e-f-g
Trang 22Lợi nhuận sau thuế (NI) IBXI-h
Bảng C : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ :
Chỉ tiêu
Lợi nhuận trước các khoản mục
khác thường
IBXI
+(-) Các quĩ khác từ hoạt động kinh
doanh
e
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh
doanh (CFO)
IBXI+a+b+c+d+e+f
+ Thu nhập từ cổ phiếu thường và cổ
phiếu ưu đãi
l
- Tiền chi trả cổ tức cho các chủ sở
hữu, mua lại cổ phiếu của doanh
Trái lại, các BCTC dựa trên cơ sở tiền mặt lại không có các quyết địnhnày: “Tiền là tiền” Không còn gian lận, cũng không còn tranh luận về quyền
sở hữu và giá trị tiền mặt Do đó, các quyết định được đưa ra từ các BCTC
Trang 23được lập trên cở tiền mặt sẽ trái ngược với các quyết định được đưa ra từ cácBCTC được lập trên cơ sở dồn tích.
Sự khác ở đây chính là lợi nhuận dồn tích hay cấu thành dồn tích của lợinhuận: LN dồn tích= Tổng lợi nhuận-LN bằng tiền
Có nhiều cách khác nhau để chúng ta phân chia lợi nhuận trên cơ sở dồntích được báo cáo thành cấu thành tiền mặt và cấu thành dồn tích Chúng ta cóthể lấy những thông tin từ bảng cân đối kế toán hoặc cũng có thể từ báo cáo lưuchuyển tiền tệ Chúng tôi ưu tiên cách tiếp cận thứ 2 hơn vì nó tạo ra một thước
đo rõ ràng hơn mà không bị ảnh hưởng từ hiệu ứng của các vụ mua lại phi tiềnmặt và hiệu ứng điều chỉnh các giao dịch ngoại tệ Chúng tôi sẽ phác thảo 2cách tiếp cận để phân chia lợi nhuận dồn tích cũng như đưa ra định nghĩa về tỷ
số dồn tích để so sánh giữa các công ty hoặc so sánh 1 công ty qua thời gian
Trước tiên là cách tiếp cận những thông tin trên bảng cân đối kế toán,chúng ta có thể đo lường sự thay đổi ròng của tất cả các tài khoản phi tiền mặt
để tính toán chỉ tiêu Lợi nhuận dồn tích trong năm tài chính đó Từ Bảng cânđối kế toán mẫu được trình bày ở trên, lợi nhuận dồn tích chỉ đơn giản là sựthay đổi trong tài sản ròng (tài khoản tiền mặt ròng và tài khoản nợ ròng có liênquan) từ đầu kỳ tới cuối kỳ Trước tiên chúng tôi sẽ định nghĩa về Tài sản kinhdoanh thuần (NOA) chính là chênh lệch giữa Tổng tài sản kinh doanh và Tổng
nợ kinh doanh:
NOA = Tổng TS KD – Tổng nợ KD
Trong đó:
Tổng TS KD = Tổng TS - (Tiền + ĐTTC ngắn hạn)
Tổng nợ KD = Tổng nợ phải trả - Tổng vay phải trả lãi
Chúng tôi loại trừ tiền mặt (ở đây ám chỉ Tiền và Đầu tư TC ngắn hạn)
và Tổng lãi vay phải trả ra khỏi công thức là do các khoản mục này thực chấtkhông ảnh hưởng tới các quyết định Điều này thực ra không hoàn toàn là đúngnhưng chúng tôi vẫn loại bỏ ra để phục vụ cho mục đích của mình
Từ góc độ bảng cân đối kế toán, chúng tôi có thể đo lường lợi nhuận dồntích cho kỳ t, chính là sự thay đổi NOA trong giai đoạn này:
Trang 24Lợi nhuận dồn tíchtB/S = NOAt - NOAt-1 1)
(17-Chúng ta có thể gọi thước đo trong công thức (17-1) là Lợi nhuận dồntích tính từ Bảng CĐKT Để có thể đánh giá chất lượng lợi nhuận, thước đonày cần phải được mang ra để so sánh giữa các công ty bằng việc điều chỉnhnhững khác biệt về qui mô Một cách dễ dàng để điều chỉnh là làm giảm (VD:qui mô) của thước đo Lợi nhuận dồn tích bằng việc lấy giá trị trung bình củaNOA Nếu chỉ sử dụng giá trị đầu và giá trị cuối của NOA để tính tỷ số, thì tỷ
số này sẽ bị làm méo mó bởi những công ty có tăng trưởng mạnh hoặc có sựbiến động lớn trong năm tài chính
Thước đo tỷ số (gọi là Tỷ số lợi nhuận dồn tích từ bảng CĐKT) là thước
đo đầu tiên của chúng tôi để đánh giá chất lượng BCTC và được tính theo côngthức:
Tỷ số dồn tíchtB/S = (17-2)
Các thước đo dồn tích được xác định trong công thức (17-1) và (17-2)bao hàm việc lấy tổng của tất cả các khoản mục trên BCĐKT Nếu bạn quantâm tới các thành phần phụ của hoạt động dồn tích thì chỉ cần xem xét các tàikhoản có liên quan trên BCĐKT Ví dụ như, nhìn vào sự thay đổi trong khoảnmục khoản phải trả ròng trong năm tài chính, bị giảm bởi giá trị NOA trungbình, sẽ cho bạn thấy được tầm quan trọng của doanh thu từ tín dụng bán hàngròng
Chúng ta cũng có thể tiếp cận từ BCLCTT Theo cách tiếp cận này,chúng ta sẽ nhìn vào khoản chênh lệch giữa lợi nhuận dồn tích được báo cáovới dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và dòng tiền từ hoạt động tài chính Do
đó, thước đo Lợi nhuận dồn tích sẽ như sau:
(17-3)
Chúng ta có thể gọi thước đo trong công thức (17-3) là Lợi nhuận tính từBCLCTT Tương ứng ta có thước đo tỷ số (gọi là Tỷ số lợi nhuận dồn tích từBCLCTT) là thước đo thứ 2 để đánh giá chất lượng BCTC:
Tỷ số dồn tíchtCF = (17-4)
Trang 25Các thước đo trong công thức (17-3) và (17-4) tổng hợp tất cả các hoạtđộng kinh doanh và hoạt động đầu tư và tác động của chúng tới lợi nhuận dồntích Kết quả là ta có thước đo lợi nhuận dồn tích từ BCLCTT Việc đưa dòngtiền từ hoạt động đầu tư vào công thức (17-3) và (17-4) có thể cần phải đượcgiải thích Từ quan điểm đánh giá, thực chất chỉ có 2 phương diện để đánh giá
1 công ty: Phương diện hoạt động (được hình thành rộng rãi) và phương diệntài chính Tuy nhiên, BCLCTT lại chia phương diện hoạt động thành phần
“hoạt động” và phần “đầu tư” Do đó, khi tính toán tỷ số dồn tích, cách xử lýphù hợp là đưa cả 2 thành phần này vào Khi áp dụng Công thức (17-3) và (17-4), các nhà phân tích nên thực hiện các điều chỉnh cần thiết cho sự khác biệt vềcách xử lý của lãi suất và cổ tức trong BCLCTT của các công ty được nghiêncứu Việc điều chỉnh cần đảm bảo được tính nhất quán trong cách xử lý củahoạt động kinh doanh và đầu tư Ví dụ như, nếu công ty A xử lý lãi phải trảnhư 1 dòng ra của hoạt động kinh doanh (theo chuẩn mực kế toán Mỹ) mà công
ty B lại xử lý lãi phải trả như 1 dòng tiền từ hoạt động tài chính (theo chuẩnmực kế toán quốc tế) thì sẽ có sự khác biệt trong chỉ tiêu đòn bẩy giữa 2 công
ty và làm tăng thêm sự khác nhau trong việc tính toán thước đo lợi nhuận dồntích Xử lý khoản lãi phải trả thống nhất gia các công ty (VD: coi như là dòng
ra từ hoạt động tài chính) sẽ làm giảm bớt được các vấn đề phát sinh
VD 17-1 minh họa việc tính toán các tỷ số của 1 công ttr trong thực tế:Lợi nhuận dồn tích: Công ty Coca-Cola
Bảng A: Bảng CĐKT:
Trang 26Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước khấu hao 7535
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh sau khấu hao 6597
Cộng: Các khoản mục đặc biệt và các khoản mục không thuộc
hoạtđộng kinh doanh
+(-) Tăng (giảm) vốn hoạt động ròng+(-) Lãi (lỗ) từ bán tài
sảndàihạn
-615
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh 5957
Trang 27- Chi cho đầu tư 1045
+ Thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các TSDH khác 112
+ Thu nhập từ cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi 148
- Tiền chi trả cổ tức cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của
doanhnghiệp đã phát hành
5327
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính -6583
Dựa trên các thông tin ở trên, giải quyết các vấn đề sau:
1 Tính tổng tài sản kinh doanh thuần cho năm 2005-2006
2 Tính lợi nhuận dồn tích dựa trên bảng CĐKT
3 Tính tỷ số dồn tích dựa trên BCTC cho năm 2006
4 Tính LNDT dựa trên BCLCTT
5 Tính tỷ số dồn tích dựa trên BCLCTT cho năm 2006
6 Cho biết thước đo nào trong số 5 chỉ tiêu tính được ở trên là phù hợp đểđánh giá chất lượng BCTC của 1 nhóm công ty? Giải thích
Lời giải cho các vấn đề 1,2,3 được đưa ra ở bảng sau:
Lợi nhuận dồn tích tính trên cơ sở bảng cân đối kế toán:
Tài sản kinh doanh
Trừ: tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn 2590 4767
Trang 28Vấn đề 1: Khoản tổng tài sản kinh thuần chính là phần chênh lệch giữa
tài sản kinh doanh (=tổng tài sản-ĐTTC ngắn hạn) và nợ kinh doanh (=Tổng
nợ phải trả-(nợ ngắn hạn+nợ dài hạn)) Năm 2005 và 2006, tổng tài sản kinhdoanh thuần lần lượt là 17288 triệu USD và 18912 triệu USD
Vấn đề 2: Lợi nhuận dồn tích dựa trên bảng CĐKT năm 2006 là phần
chênh lệch của Tổng tài sản kinh doanh thuần từ năm 2005 tới 2006 17288=1624 triệu USD)
(=18912-Vấn đề 3: Tỷ số LNDT dựa trên bảng CĐKT năm 2006 được tính bằng
cách lấy LNDT dựa trên BCĐKT chia cho Tài sản kinh doanh thuần bình quân(=1624/18100=8,97%)
Vấn đề 4+5:
Lợi nhuận dồn tích dựa trên BCLCTT:
2006
Lợi nhuận trước các khoản mục khác thường 5080
Trừ: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh 5957
Trừ: Dòng tiền từ hoạt động tài chính -1700
Tỷ số LNDT dựa trên BCLCTT = (A)/AvgNOA 4.55% Vđ 5
Vấn đề 6: Trong số các chỉ tiêu tính được từ vấn đề 2 đến vấn đề 5, chỉ
có các thước đo tỷ số tính được ở vấn đề 3 và 5 là phù hợp để đánh giá chấtlượng BCTC của 1 nhóm công ty Các thước đo không phải thước đo tỷ số ởvấn đề 2 và 4 sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt về qui mô của các công ty
Về lý thuyết, cách tính lợi nhuận dồn tích dựa trên bảng CĐKT và Báocáo LCTT là như nhau Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả tính toán có thể khácnhau do những khoản mua sắm không dùng tiền tệ, chuyển đổi dòng tiền, và sựphân loại không nhất quán giữa 2 báo cáo Tuy nhiên, sự khác nhau này là rất
Trang 29nhỏ và thường được bỏ qua Hệ số tương quan giữa 2 cách tính > 0,8 Điềuquan trọng để nhớ là việc so sánh các công ty phải áp dụng cùng 1 phươngpháp Nếu bạn thích cách tiếp cận từ bảng CĐKT hay cách tiếp cận từBCLCTT, nhớ rằng phương pháp đó phải nhất quán giữa các công ty Nếukhông có sự nhất quán ở cách tiếp cận sẽ làm cho sự so sánh trở nên méo mó,không chính xác.
3.3 Áp dụng thước đo cơ bản của chất lượng lợi nhuận:
Thước đo cơ bản của chất lượng lợi nhuận được đưa ra trong những tínhtoán của ví dụ 17.2 và 17.6 là cách hiệu quả để chia các công ty thành hainhóm có chất lượng lợi nhuận thấp và cao Việc đưa ra các quyết định để quản
lý sẽ khó để phân biệt chính xác đâu là dồn tích hay hoãn được đưa ra trongmột năm tài chính Thay vì cố gắng đo lường lựa chọn theo cơ sở dồn tích, mộtcách hiệu quả hơn là tập trung vào sự tổng hợp của chúng Thước đo tổng hợp
sẽ phản ánh danh mục các lựa chọn và sự ảnh hưởng của chúng trên lợi nhuậntrong một kỳ Ví dụ dưới đây sẽ làm rõ về thước đo này Ví dụ 17.2 so sánh haicông ty
Ví dụ 17.2: So sánh chất lượng lợi nhuận của 2 công ty
Siemens AG là công ty năng lượng và điện toàn cầu có trụ sở chính tại Munich, Đức Số liệu (triệu euro) từ BCTC của Siemens được lấy tại thời điểm kết thúc năm là 30/12 của 2006, 2005, 2004 được đưa ra ở bảng sau đây:
Siements AG: Năm tài chính kết thúc 30/12 ( đvị: triệu euro)
Lợi nhận tước thuế từ hoạt động liên tục 4371 4185 4369
BCĐKT
Trang 30Công ty General Electric và chi nhánh được hợp nhất Năm tài chính kết thúc 30/12
( đvị: triệu dollar)
Lợi nhận tước thuế từ hoạt động liên tục 24620 22696 20297
BCĐKT
Trang 31Dựa vào những thông tin trên hãy:
1 Tính tổng rài sản kinh doanh thuần của Siemens và GE mỗi năm
2 Tính LN dồn tích dựa trên cả bảng CĐKT và BCLCTT của cả 2 công
B Xác định xu hướng trong chất lượng LN mỗi công ty
5 Kết quả câu 4 sẽ thay đổi như thế nào nếu chỉ số dồn tích được tínhtoán chỉ dựa trên cơ sở hoạt động liên tục
6 GE ghi nhận khoản phải thu tài chính là $334,232 năm 2006 và
$292,639 năm 2005 Nó miêu tả các khoản phải thu này là tình hình tài chínhcủa nó chủ yếu liên quan trực tiếp đến thuê tài chính Đánh giá công bố này vớiviệc đánh giá chất lượng lợi nhuận của GE
Bài giải:
1 Tổng tài sản kinh doanh thuần được tính = (Tổng TS - Tiền và Đầu
tư tài chính ngắn hạn) – ( Tổng nợ phải trả - Tổng vay phải trả lãi)
Ví dụ: Năm 2006, Siemens báo cáo :
Tổng TS: 90.973
Tiền + ĐTTC ngắn hạn = 10214 +596 = 10.810
Tổng Nợ phải trả = 61.667
Tổng vay phải trả lãi = 2.175+13.399=15.574
Tổng TS kinh doanh thuần = (90.973-10.810) - ( 15.574=80.163-46.093= 34.070
Trang 322 LN dồn tích dựa trên bảng CĐKT được tính bằng sự thay đổi trong
tài sản kinh doanh thuần Như vậy chỉ có 2 năm thì giá trị của LN dồn tích cóthể tính toàn được dựa trên dữ liệu của đề bài Ví dụ cho Siemens, sử dụng kếtquả của câu 1, LN dồn tích dựa trên BCĐKT cho năm 2006 là (34.070-29.547)=4.523
LN tích lũy dựa trên BCLCTT = LNST – ( LCT từ HĐKD + LCT từ HĐTC)
Ví dụ cho Siemens năm 2006:
Trang 33thước đo dựa trên BCLCTT, GE cho thấy chất lượng LN thấp hơn Siemens chỉtrong năm 2006.
B Sử dụng thước đo chất lượng LN khác, Siemens cho thấy chất lượng
LN tăng từ năm 2005 sang 2006, trong thi GE thì cho thấy chấp lượng LN xấuđi
5 Trừ kết quả của hoạt động không liên tục từ LNST và sử dụng số liệu
dòng tiền từ hoạt động liên tục, kết quả của phép tính trên là:
6 Sự thay đổi $41.593 triệu trong tài khoản khoản phải thu tài chính
chiếm phần lớn sự thay đổi $53,879 triệu trong tổng tài sản kinh doanh thuầncủa GE So sánh với việc coi đây như khoản thuê hoạt động ( xem chương nợdài hạn), kế toán cho thuê như thuê tài chính trực tiếp tăng LNST trong nămtrước nhưng tổng LNST là giống nhau sau thời gian thuê Theo cách hạch toánthuê hoạt động, dòng tiền HĐKD thấp hơn nhưng dòng tiền HĐTC là cao hơn.Khi cân nhắc dòng tiền với phần tích lũy của lợi nhuận, những phân tích nàycho phép chúng ta kết luận lợi nhuận của GE năm 2006 là không bền vững( chất lượng thấp hơn) so với lợi nhuận năm 2005
Trang 34Những thước đo bảng của tổng LN dồn tích là khá hiệu quả trong việcxác định với những vấn đề về chất lượng lợi nhuận báo cáo tài chính của doanhnghiệp Sử dụng mẫu bảng của việc trình bày lại lợi nhuận từ 1979 đến 2002,Richardson, Tuna và Wu (2002) tìm ra chứng cứ quan trọng rằng sự trình bàylại này được tập trung vào công ty báo cáo mức tổng tích lũy cao nhất Biểu đồ17.6 tóm tắt được những điều này Mỗi năm, SEC sắp xếp lại tốp 10 nhóm dựatrên cường độ của tổng tích lũy, sử dụng thông tin ở BCLCTT trên (số liệu ở
ví dụ 17.6) Biểu đổ 17.6 chỉ ra tần số tương đối của lợi nhuận thông qua nhóm
10 công ty có tổng lợi nhuận đồn tích lớn nhất Đường dốc lên cho thấy rằng ở
440 báo cáo LN đồn tích trình bày lại được kiểm tra tập trung vào nhóm có lợinhuận dồn tích cao nhất ( chất lượng lợi nhuận thấp) Đặc biệt, nhóm có lợinhuận dồn tích thấp nhất (chất lượng lợi nhuận cao) chỉ là 7,5% trong 440 báocáo LN dồn tích được trình bày lại, nhưng trong nhóm có lợi nhuận dồn tíchcao nhất, chúng ta thấy chúng chiếm18% trong tổng số được điều tra
Khả năng để phân biệt công ty trình bày lại hay không trình bày lại LNtích lũy là có ích cho nhà phân tích xem xét để tránh sai lầm lớn trong danhmục của họ Điều này có thể thấy rõ trong bảng 17.7 Trên biểu đồ này, chúng
ta vẽ lợi nhuận VCSH tích lũy cho 440 công ty trình bày lại LN được kiểm tra
Trang 35ở trên Chúng ta tính lợi nhuận cổ phiếu cho 120 ngày Đây là sự giảm đáng kểtrong giá trị thị trường xung quanh thông báo này Với công ty có mức trungcủa nhóm, sự thua lỗ của giá trị thị trường trong vài ngày xung quanh thôngbáo của việc trình bày lại là 10% Có thông tin sớm nhất của việc trình bày lại
sẽ là rõ ràng cho nhà đầu tư VCSH Những phân tích ở trên khẳng định rằng:Thước đo LN tích lũy theo biểu đồ rất hiệu quả trong việc tìm ra sự bất qui luật
kế toán nghiêm trọng của những loại thông báo việc điều chỉnh lại lợi nhuậndồn tích Quan trọn rằng những thước đo này tập trung vào nhưng công ty cóthông báo LN dồn tích dẫn đầu Với 440 công ty được xem xét, ngày thông báo
là hơn 1 năm sau năm tài chính khi các thao tác điều chỉnh xảy ra
Để làm cho điểm này rõ ràng hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng thước đo mẫubiểu của LN đồn tích cũng là chỉ số dẫn đầu trong các hoạt động cụ thể củaSEC Biểu đồ 17.8 báo cáo tổng LN dồn tích của các công ty đối với nhữnghành động của SEC LN dồn tích được theo dõi trong 5 năm Đường in đậmcho thấy lợi nhuận tích lũy bình quân với các hành động của SEC Đường kẻngang ở mức hơn 15% một chút cho thấy lợi nhuận tích lũy bình quân của cáccông ty Chú ý rằng thước đo lợi nhuận tích lũy tăng mạnh từ mức 30% lên35% trong 2 năm dưới những hành động của SEC