Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay-kinh nghiệm và giải pháp
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa, tác dụng to lớn vàtoàn diện về phương diện KT-XH, song cũng không kém phần khó khăn phứctạp Để thực hiện CNH, HĐH thành công cần phải có các điều kiện như vốn,nguồn nhân lực, tiềm lực khoa học và công nghệ trong các điều kiện đó, NNLđóng vai trò đặc biệt quan trọng
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy đầu tư cho phát triển NNL được coi
là “chìa khoá” của tăng trưởng và phát triển Vận dụng lý luận đó vào điều kiện
cụ thể của nước ta, Đảng ta chỉ rõ: “ Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinhthần của người Việt Nam, coi khoa học công nghệ là nền tảng và động lực cho sựnghiệp CNH, HĐH và còn là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-yếu tố
cơ bản của sự phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững“
Giải quyết vấn đề NNL trong quá trình CNH, HĐH bao gồm nhiều vấn đềtrong đó có vấn đề đào tạo và sử dụng NNL Đây là nhiệm vụ chung của cả nước,
và của mỗi địa phương
Trong thời gian qua Bắc Ninh đã và đang có những cố gắng giải quyết vấn
đề đào tạo và sử dụng NNL và đã thu được kết quả nhất định Song cho đến nay,
về cơ cấu, chất lượng NNL của tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH Để đánh giá đúng thực trạng về đào tạo và sử dụng NNL thời gian qua ở
Bắc Ninh, Học viên chọn đề tài: “Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay-kinh nghiệm và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu Từ đó góp phần định rõ phương
hướng và có những giải pháp cụ thể cho hoạt động đào tạo và sử dụng nguồnnhân lực ở địa phương có hiệu quả hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
-Đánh giá thực trạng đào tạo và sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH,thành tựu và hạn chế trong đào tạo và sử dụng NNL hiện nay ở Bắc Ninh;
Trang 2-Đề xuất một số giải pháp, chính sách đào tạo và sử dụng NNL có hiệuquả phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong thời gian tới ở Bắc Ninh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-Luận văn lấy việc đào tạo và sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH ởtỉnh Bắc Ninh làm đối tượng nghiên cứu
-Về giáo dục, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực từ 1997 (khi tái lập tỉnh)đến nay
-Trong luận văn này sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩahẹp
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
-Cơ sở lý luận: Lý luận Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam và các lý thuyết kinh tế hiện đại về NNL, về đàotạo và sử dụng NNL
-Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử đồng thời có sự kết hợp phương pháp lịch sử vớiphương pháp logic, phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê,
so sánh v.v trong quá trình nghiên cứu
5 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn.
-Làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo và sử dụng NNLtrong quá trình CNH, HĐH
-Làm rõ thực trạng về đào tạo và sử dụng NNL ở tỉnh Bắc Ninh trong quátrình CNH, HĐH (1997-nay)
-Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình đào tạo và sửdụng có hiệu quả NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Bắc Ninh
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần: Mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung được chia làm ba chương như sau:
Trang 3Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo và sử dụng nguồn nhânlực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chương II Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh (1997- nay)
Chương III Phương hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả đào tạo
và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnhBắc Ninh
Trang 4Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ.
1.1 Một số khái niệm cơ bản về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
1.1.1 Nguồn nhân lực.
-Khái niệm NNL có nhiều ý kiến, theo Begg, Fischer và Dornbusch: NNL
là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giácao vì tiềm năng đem lại thu nhập cao trong tương lai Cũng giống như nguồn lựcvật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trongtương lai Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn củacon người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của NNL
-Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diệnquốc gia hay địa phương NNL được xác định là “ tổng thể các tiềm năng laođộng của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn
bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào
đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằngcon đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyểnđổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH “ [15,tr:269] Theo cách hiểunày, NNL là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốcgia, vùng hay địa phương Một cách chung nhất, có thể hiểu NNL là bộphận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năngtham gia lao động NNL là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trílực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia Độtuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau Ở Việt Namhiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi
-Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện khoa học Lao động vàcác vấn đề xã hội, xem xét NNL dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tínhnăng động xã hội [3,tr.1-3] Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức
Trang 5lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo
ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét NNL dưới dạng tiềmnăng giúp định hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng caonăng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ.Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ.Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyển NNL sang trạng thái động, thànhvốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thôngqua các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng conngười Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự dosáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận
đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn Vì vậy,NNL được hiểu là “tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hộicủa con người(thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của conngười Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực conngười thành vốn con người” [3,tr:11]
-Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trongchương trình cấp Nhà nước KX-07, NNL được hiểu là "số dân và chấtlượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ,năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc" [14, tr.28]
Như vậy, NNL đựơc biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:
Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có đượccủa cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia Số lượng NNLđóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH Nếu số lượng khôngtương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốtđến quá trình CNH, HĐH Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng
về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng nhân lựccho quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước
Về chất lượng, NNL đựơc biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ,động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp
Trang 6của người công dân đó là yêu nước, yêu CNXH Trong ba mặt: thể lực, trílực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phươngthức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Ý thức tinh thần đạođức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lựcthành thực tiễn Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNLbởi nó có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộkhoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội Mác và Ăngghen đã nói "Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phảithông qua đầu óc của họ" [18, tr.438].
-Từ những quan niệm của các tác giả nước ngoài và các tác giả trongnước, có thể hiểu NNL là tổng hợp những con người cụ thể có khả năngtham gia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực;tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trongthể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách)và tínhnăng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng,
quốc gia Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con
người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển
Nói cách khác, NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động cókhả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo Luật lao động quy định
NNL có nội hàm rộng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, trithức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sứcsáng tạo, truyền thống lịch sử và cả nền văn hoá Do vậy, có thể cụ thể hoácác yếu tố cấu thành NNL theo các nhóm sau đây:
+Qui mô dân số, lao động và sức trẻ;
+Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật của NNL liên quan và phụthuộc vào sự phát triển nền giáo dục-đào tạo và dạy nghề một quốc gia;
+Tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người, yếu tố liênquan đến chính sách giải phóng sức lao động, tạo động lực phát triển, pháthuy tài năng;
Trang 7+Truyền thống lịch sử và nền văn hoá hun đúc lên bản lĩnh, ý chí, tácphong của con người trong lao động
1.1.2 Lực lượng lao động.
Là bộ phận dân số trong độ tuổi qui định, thực tế có tham gia laođộng(đang có việc làm) và những người chưa có việc làm nhưng đang tíchcực tìm kiếm việc làm Như vậy, có một bộ phận dân số được tính vào NNLnhưng không nằm trong lực lượng lao động Đó là những người không cóviệc làm nhưng không tìm kiếm việc làm, những người đang đi học vànhững người thuộc tình trạng khác, ví dụ người nghỉ hưu trước tuổi
1.1.3 Vốn con người
Là phạm trù chỉ các kỹ năng và năng lực con người khi được sử dụngvào lao động hay bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế Nhiều nhàkinh tế coi vốn con người đơn giản là lao động, một trong ba nhân tố củasản xuất và xem nó như một loại hàng hoá có thể trao đổi được Trong lýthuyết phát triển con người, các phân tích phân biệt niềm tin xã hội, kiếnthức chia sẻ được và sự sáng tạo của cá nhân như là ba khả năng của conngười áp dụng vào hoạt động kinh tế Thuật ngữ vốn con người trong lýthuyết phát triển con người chỉ sự tổ hợp của cả ba yếu tố đó Do vậy, vốncon người sẽ bằng không nếu không có lao động, không có việc làm haykhông có hàng hoá sản xuất ra
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng miền hay mỗi quốcgia thì NNL là tài nguyên cơ bản nhất Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX(năm 2001) của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: lấycon người và NNL là một trong ba khâu đột phá đi vào CNH, HĐH đấtnước: ”Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH là điều kiện để phát huy NNL conngười-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững” [8,tr:108-109]
Trang 81.1.4 Phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển NNL được nhiều tác giả bàn đến và đã có nhiều cách hiểumới được bổ sung theo thời gian Cho đến nay, xuất phát từ những cách tiếpcận khác nhau vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Nadler &Nadler(1990) cho rằng phát triển NNL và giáo dục, đào tạo(theo nghĩarộng) là những thuật ngữ có cùng nội hàm Hai tác giả này định nghĩa:
“ Phát triển NNL là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thờigian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc “ [33,tr.1-3]
UNESCO sử dụng khái niệm phát triển NNL(theo nghĩa hẹp): là làmcho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệvới sự phát triển của đất nước
Tổ chức lao động của thế giới (ILO) lại cho rằng phát triển NNL baohàm phạm vi rộng hơn, không chỉ trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạonói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vàoviệc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cánhân
Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa rộng, baogồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy pháttriển KT-XH và nâng cao chất lượng cuộc sống
1.1.5 Đào tạo NNL.
Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấy đầu
tư cho NNL được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác Đầu tư phát triển NNLđược hiểu ở cả ba mặt: chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống vàgiáo dục đào tạo, trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất Khái niệmgiáo dục luôn gắn với khái niệm đào tạo Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo đượchiểu là: "Đào tạo, là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người
đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằmchuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân
Trang 9công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội,duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Tuỳ theo tính chất chuẩn bịcho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạonghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ nhau với những nội dung do đòi hỏicủa sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật-công nghệ
và văn hoá của đất nước Có nhiều hình thức đào tạo; đào tạo cấp tốc, đào tạochính quy và không chính quy" Về cơ bản, đào tạo là hoạt động giảng dạy củanhà trường, gắn việc truyền thụ tri thức với giáo dục đạo đức và nhân cách Kếtquả và trình độ được đào tạo của một người ngoài việc phụ thuộc vào hoạt độngnêu trên còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham giavào các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đóquyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo mộtcách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao
Đào tạo là một mắt xích trong chu trình phát triển NNL Nó phải đáp ứngyêu cầu cung cấp NNL cho xã hội ở các lĩnh vực sau:
-Nhân lực trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, ngành nghề, kinh tế, kỹthuật
-Nhân lực trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nhà nước
-Nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp
Thực tế cho thấy dù nhân lực ở lĩnh vực nào đi chăng nữa cũng phải đảmbảo được yêu cầu của công việc như trình độ chuyên môn, kỹ thuật (tức các trithức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thái độ, phong cách, năng lực sáng tạo để cókhả năng thực hiện một loạt các công việc trong phạm vi ngành nghề theo sựphân công lao động xã hội
Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đào tạo NNL là quá trình tác động, dạy
và rèn luyện con người thông qua việc tổ chức truyền thụ tri thức và những kinhnghiệm lịch sử xã hội của loài người để gây dựng họ trở thành người có hiểu biếtđạt đến một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có khả năng đảm nhận
Trang 10một sự phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ của quá trình phát triển XH.
KT-Đào tạo NNL tạo nên sự chuyển biến về chất của NNL, biến những tiềmnăng nhân lực của quốc gia thành những lực lượng lao động hiện thực phù hợpvới yêu cầu phát triển KT-XH Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH,việc đào tạo NNL cần phải đảm bảo đựơc yêu cầu, mục tiêu sau:
-Đổi mới chất lượng đào tạo nhân lực theo hướng phù hợp với việc nângcao sức cạnh tranh của nền kinh tế
-Đào tạo phải gắn kết thường xuyên và chặt chẽ với sử dụng NNL và phùhợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động và thị trường lao động
Đào tạo NNL theo yêu cầu, mục tiêu nêu trên cần được thực hiện với nhiềuloại hình và nhiều phương thức khác nhau sao cho mọi người có nhu cầu đượcđào tạo, bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại đều có thể được đáp ứng Việc đào tạo
có thể được thực hiện tại các trường dạy nghề, trường Đại học, Cao đẳng, cácTrung tâm do Nhà nước hoặc tư nhân quản lý, hoặc các trường, lớp thuộc doanhnghiệp, trong các thành phần kinh tế, hay tại các lớp dạy nghề do các tổ chức xãhội và các làng nghề truyền thống tổ chức Việc đào tạo NNL có thể được thựchiện theo các cấp trình độ tuỳ theo yêu cầu đổi mới của nền sản xuất-xã hội vànhu cầu của người học như đào tạo bán lành nghề-lành nghề-trình độ cao; đào tạotrình độ sơ cấp-THCN-cao đẳng-đại học và sau Đại học
1.1.6 Sử dụng NNL.
Trong tiếng Việt khái niệm sử dụng NNL được dùng khá phổ biến, và vềthực chất sử dụng NNL chỉ bao hàm một số thành tố của quá trình quản lý NNLnhư: tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá, trả công, trả lương và thăng thưởng.Trong các tài liệu truyền thống, dùng người đúng có nghĩa là sử dụng được thếmạnh của con người, dùng người vào đúng chỗ, đúng lúc, phát huy được độnglực làm việc của con người Nếu mở rộng khái niệm sử dụng NNL, nội hàm của
sử dụng NNL sẽ trùng với nội hàm khái niệm quản lý NNL
Trang 11NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tốcấu thành: sức lực, trí tuệ, khối lượng cùng đặc trưng về chất lượng lao động nhưtrình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ phong cách làmviệc, tính năng động xã hội và sức sáng tạo Đó là sức lao động, như Mác đã nói:khả năng mà con người có thể thông qua lao động để biến thành hiện thực, từ đó
có thể đóng góp vào sự nghiệp CNH và sự phát triển KT-XH Tuy nhiên, khi nóiNNL tức là nói sức lao động, do vậy nó còn ở trạng thái khả năng, ở trạng tháitĩnh, nó phải được chuyển sang trạng thái động tức là phải được đem phân bố, sửdụng nó một cách có hiệu quả, phải làm thế nào để NNL dưới dạng khả năng đóthành hiện thực, thành vốn nhân lực
Sử dụng NNL tức là quá trình tạo điều kiện cho người tham gia vào hoạtđộng sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầu sản xuất
và nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Quá trình lao động sản xuất đó là quá trình kếthợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nên việc khai thác
và phát huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuất cùng những cáchthức của sự phát triển KT-XH Bởi vậy, sử dụng NNL được hiểu: là việc khơidậy và phát huy tất cả các khả năng của con người thành hiện thực, biến sức laođộng thành lao động trong quá trình phát triển KT-XH
Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nó phụthuộc vào những đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất, những cảitiến về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáo dục đào tạo (đặcbiệt là đào tạo nghề)
Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta, việc khai thác sử dụng NNL có thểđược xem xét trên các khía cạnh sau:
Một là, NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động nó bao gồm toàn bộnhững người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nốitiếp, vì vậy sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao động trong sản xuấtkinh doanh Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có là yêu cầu cơbản và chủ yếu của sử dụng NNL
Trang 12Hai là, con người khi tham gia vào quá trình phát triển KT-XH không chỉ
sử dụng lao động giản đơn mà còn phải sử dụng cả lao động trí óc cho xã hộingày càng phát triển Ngày nay thế giới đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tếtri thức, thì vai trò của lao động trí tuệ của con người thể hiện ngày càng rõ nét.Đúng như dự báo của Mác và Ăng ghen: Khoa học do lao động trí tuệ của conngười sáng tạo ra sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Tri thức khoa họcđang thấm sâu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất và trở thành một nhân tố có
ý nghĩa quyết định sự phát triển Do đó có thể khẳng định lao động trí tuệ, laođộng qua đào tạo là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của NNL, do vậy cầncoi trọng và phát huy tiềm năng của NNL qua đào tạo
Ba là, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã vàđang làm thay đổi tính chất, nội dung của lao động, cơ cấu lao động và việc làm
và làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn đi đôi với tiến trình phát triểnviệc làm Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ sử dụng lao động theo chiều rộng sangkhai thác sử dụng theo chiều sâu Việt Nam là một nước chậm phát triển, thựchiện CNH sau, NNL khá dồi dào nhưng chất lượng và trình độ còn thấp, vì vậytrong quá trình sử dụng NNL chúng ta phải chú ý sử dụng lao động theo hướngkết hợp cả số lượng và chất lượng
Như vậy, để khai thác phát huy và nâng cao hiệu quả NNL cần phải căn cứvào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của NNL và sự phát triển KT-XH trong từng thời
kỳ của quốc gia
1.2 Sự cần thiết khách quan của đào tạo và sử dụng NNL đối với quá trình CNH, HĐH.
NNL và CNH, HĐH có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Trong nềnkinh tế thị trường, thực chất của mối quan hệ này là mối quan hệ về cung cầu laođộng Trong mối quan hệ đó yếu tố con người bao giờ cũng giữ vị trí quyết định.Điều này thể hiện ở chỗ: Con người là chủ thể của quá trình CNH, HĐH Conngười là lực lượng sản xuất hàng đầu, có khả năng biến các nguồn lực khác thànhđộng lực phát triển Con người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình làđộng lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH Mối quan hệ này thể hiện:
Trang 131.2.1 Sự tác động của đào tạo và sử dụng NNL đối với quá trình CNH, HĐH.
NNL, nhất là NNL qua đào tạo là yếu tố vật chất quan trọng nhất, quyếtđịnh nhất của lực lượng sản xuất, của nhận thức, lĩnh hội và sử dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất, thúc đẩy CNH, HĐH và pháttriển KT-XH như Lênin nói: "Nếu không có các chuyên gia am hiểu các lĩnh vựckhoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất thì không thể nào có bước chuyển lên
xã hội XHCN" [20, tr.362], đặc biệt là NNL chất lượng cao, một yếu tố khôngthể thiếu của quá trình CNH, HĐH được LêNin viết: "Việc điện khí hoá khôngphải do những người mù chữ thực hiện được mà chỉ biết chữ thôi thì không đủ điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại mà nếukhông có nền học vấn hiện đại đó thì chủ nghĩa Cộng sản chỉ là nguyện vọng màthôi" [20, tr.364-365] Theo LêNin cái quyết định cho sự thắng lợi của trật tự xãhội mới đối với xã hội cũ là năng suất lao động cao cho nên cần phải thực hiện sựphát triển NNL Từ ý tưởng đó có thể thấy để nâng cao năng xuất lao động trướchết phải nâng cao trình độ tiến bộ của nền giáo dục và văn hoá của đông đảoquần chúng nhân dân, tiếp đến phải nâng cao tinh thần kỷ luật của người laođộng, nâng cao tài khéo léo và trình độ thành thạo của NNL Trên cơ sở đó,Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho quá trình CNH, HĐH đất nước
là nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất, tiềm lựckhoa học công nghệ, các nguồn lực ngoài nước Nhưng trong các nguồn lực đóthì nguồn lực con người là quan trọng nhất" Nguồn lao động dồi dào, con ngươìViệt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù sáng tạo có nền tảng văn hoá, giáodục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ đó là nguồn lực quantrọng" [4 tr.5] Sở dĩ như vậy vì NNL qua đào tạo là lực lượng duy nhất có khảnăng phát hiện, xác định mục tiêu, nội dung và các giải pháp đúng đắn để tiếnhành CNH, HĐH Mặt khác NNL qua đào tạo có ưu thế hơn hẳn các nguồn lựckhác là nó không bao giờ cạn: "Tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết" [32,tr.41]
Trang 14Chính vì vậy Đảng ta đã xác định: "Phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệcủa con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học công nghệ đào tạo
để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" [7, tr.28] Nghị quyếtHội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII nhấn mạnh: "Muốn tiếnhành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển Giáo dục đào tạo, lấy việc phát huynguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững"[6, tr.19]
Thực tiễn của nước ta và các nước đi trước đã chứng minh quá trình CNH,HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vàonhiều yếu tố nhưng trước hết tuỳ thuộc vào chất lượng NNL bởi nền kinh tế thếgiới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức đã chiếm tỷ trọnglớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trong sản phẩm chỉ còn 1/10,trí tuệ được coi là thước đo trình độ CNH và động lực của quá trình phát triển.Mặt khác trong xu thế toàn cầu hoá và việc mở rộng quan hệ giao lưu quốc tếhiện nay, các nước có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thôngqua con đường chuyển giao, khắc phục sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩuhoặc gia tăng nguồn vốn bằng cách vay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới,nhưng không thể khắc phục hoàn toàn sự yếu kém về NNL qua nhập khẩu laođộng hay vay mượn khả năng sáng tạo của con người Vì vậy, Việt Nam cũngnhư tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển NNL quađào tạo Nghị quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt nam đã chỉ ra rằng: "Pháthuy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triểnGiáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sựnghiệp CNH, HĐH" [8, tr.91]
Chúng ta cần ý thức sâu sắc rằng đầu tư cho Giáo dục đào tạo là một trongnhững hướng chính của đầu tư phát triển; Giáo dục đào tạo phải thật sự trở thànhquốc sách hàng đầu, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con ngườikịp thời và phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH Xét một cách tổng thể việc đào tạoNNL phải đáp ứng yêu cầu giải quyết mối quan hệ cung - cầu lao động cả sốlượng, chất lượng, cơ cấu, hạn chế tối đa việc dư thừa bất hợp lý về lao động đã
Trang 15đào tạo trên tất cả các lĩnh vực Trước hết phải đào tạo được những con người cókhả năng để đảm nhận và hoàn thành công việc ở cương vị công tác theo sự phâncông lao động của xã hội Đó là những con người vừa có tài vừa có đức Theotiêu chí của tài và đức thì hệ thống các cơ sở đào tạo NNL phải làm thế nào đểngười học sau khi được đào tạo phải được trang bị kiến thức văn hoá, trình độchuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo thực hành, có năng lực hợp tác trongmọi hoạt động, có năng lực nhận thức, vận dụng công nghệ tiên tiến hiện đại,hiểu và biết vận dụng đường lối chính sách của Đảng, biết lựa chọn các giải pháptối ưu cho các hoạt động của mình đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt,biết đặt lợi ích của cộng đồng xã hội lên trên lợi ích cá nhân, có ý thức tráchnhiệm cao đối với công việc, ý thức tự hào và phát huy truyền thống dân tộc, ýchí vươn lên để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.
1.2.2 Sự tác động của CNH, HĐH đến đào tạo và sử dụng NNL.
Thứ nhất, Đối với đào tạo NNL: Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã vàđang mở ra cơ hội lớn đồng thời đòi hỏi rất nhiều ở giáo dục, đào tạo NNL Đạihội Đảng lần thứ IX đã xác định chỉ có thể thực hiện bằng con đường "phát triểnrút ngắn" mới thu hẹp được khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển củanước ta so với các nước khác trên thế giới Tiến trình đó đòi hỏi hoạt động giáodục đào tạo phải có NNL đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cơ cấu trình
độ, đặc biệt phải có NNL trình độ cao
-Trong tiến trình CNH, HĐH đặt ra yêu cầu mới cho đào tạo NNL Với tưcách là người sử dụng NNL qua đào tạo, nó đòi hỏi phải tuyển chọn để thu hútđược một đội ngũ lao động có trình độ học vấn cao, tay nghề giỏi để thực hiệnvai trò quyết định của NNL Ăng ghen nhấn mạnh "Muốn nâng sản xuất côngnghiệp và nông nghiệp lên một mức độ cao mà chỉ có phương tiện cơ giới và hoáhọc phù trợ thì không đủ, còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lựccủa con người sử dụng những phương tiện đó nữa" [20, tr.474]
-CNH, HĐH còn là điều kiện vật chất cần thiết cho việc định hướng đào tạo
và phát triển NNL Điều đó thể hiện ở chỗ:
Trang 16+ CNH, HĐH là điều kiện vật chất tồn tại cần thiết để cải biến nếp nghĩ,nếp làm, vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ của một bộ phậnđáng kể lực lượng lao động xã hội mà trong đào tạo nhất thiết phải tính đến.+ Trong mỗi giai đoạn phát triển của CNH, HĐH sự biến đổi về kinh tế, kỹthuật và công nghệ lại luôn thúc đẩy sự phát triển chất lượng của NNL và đòi hỏiNNL qua đào tạo ngày càng nhiều và với chất lượng cao.
+ CNH, HĐH còn là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu giảiphóng và phát triển con người một cách toàn diện Điều đó tác động không nhỏđến mục tiêu đào tạo toàn diện NNL cho CNH, HĐH đất nước
Để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nhanh chóng đổi mới đưa kỹthuật công nghệ của nền sản xuất lên trình độ tiên tiến, thực hiện chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, công nghiệp, dịch
vụ ngày càng tăng trong GDP và chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tỷtrọng và số tuyệt đối của lao động nông nghiệp giảm, tỷ trọng và số tuyệt đối laođộng công nghiệp và dịch vụ tăng Đặc biệt CNH, HĐH nông nghiệp nông thônđòi hỏi việc đào tạo NNL không chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà ngàycàng phải tiến dần tới sự đáp ứng yêu cầu về số lượng, quy mô, cơ cấu hợp lý vềtrình độ đào tạo cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vựcquản lý xã hội và sản xuất kinh doanh ở nông thôn Trên cơ sở đó nâng cao năngsuất lao động, hiệu quả sử dụng lao động và sức cạnh tranh của lao động nước ta
Vì vậy việc đào tạo NNL phải làm tốt công tác dự báo, phải điều chỉnh quyhoạch đào tạo; bồi dưỡng thường xuyên NNL bao gồm cả đào tạo cao đẳng, đạihọc, THCN và đào tạo nghề với các cấp trình độ bán lành nghề, lành nghề, trình
độ cao cho các ngành, các lĩnh vực KT-XH để khắc phục sự bất cập về trình độ,quy mô, cơ cấu của NNL hiện nay để có thể tiếp thu sử dụng công nghiệp hiệnđại mới Vấn đề này đã đựơc nêu trong kết luận của Hội nghị Trung ương 6, khoáIX: "Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề và THCN Hiện đại hoámột số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhân bậc cao có trình độtiếp thu và sử dụng công nghệ mới và công nghệ cao" [9, tr.129]
Trang 17Như vậy, vấn đề đào tạo NNL ở nước ta vừa phải đáp ứng yêu cầu chấtlượng, vừa phải đáp ứng yêu cầu số lượng, quy mô, cơ cấu trình độ và thực tiễnphát triển của các ngành nghề trong các lĩnh vực khác nhau, trên địa bàn lãnh thổkhác nhau Điều đó có nghĩa là đào tạo NNL phải gắn với nhu cầu thực tiễn: nhucầu NNL cần sử dụng để giải quyết sự mất cân đối "rất thiếu nhưng rất thừa nhânlực hiện nay" như định hướng của Hội nghị Trung ương 6, khoá IX: "Nâng caochất lượng và hiệu quả Giáo dục, phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũinhọn trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo vớiyêu cầu phát triển KT-XH, đào tạo sử dụng" [9, tr.126].
Thứ hai, Đối với sử dụng NNL: Đào tạo và sử dụng NNL là hai mặt của sựphát triển Khi xác định chiến lược phát triển đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐHĐảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sựnghiệp CNH, HĐH đất nước là con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sởvật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật vốn có và các nguồn lực ngoài nước (vốn,thị trường, công nghệ, kinh nghiệm quản lý) Nhưng các nguồn lực đó tự nókhông thể tham gia vào các quá trình KT-XH bởi phần lớn mới ở dạng tiềmnăng Để thực hiện được mục tiêu của CNH chúng ta không thể không khai thác,
sử dụng phát huy tối đa nguồn lực lâu bền và quan trọng nhất đó là NNL vì chỉ
có con người mới có thể tác động khai thác các nguồn lực đó biến nó ở dạng tiềmnăng thành hiện thực Hơn nữa, nguồn lực con người không chỉ quyết định sửdụng hiệu quả việc khai thác các nguồn lực tự nhiên mà còn góp phần tạo ra cácnguồn lực mới Như Mác- Ănghen đã nói: "Những con người có năng lực pháttriển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sảnxuất trong thực tiễn đáp ứng đựơc nhu cầu khai thác sử dụng các nguồn lực tựnhiên cho sự phát triển xã hội " [18, tr.474-475]
Đào tạo NNL đông đảo có trình độ chuyên môn là một vấn đề quan trọngnhưng việc sử dụng NNL đó như thế nào để phát huy được mọi tiềm năng của
nó, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo lại càng quan trọng hơn Điều này
đã được khẳng định thông qua kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong khu vực
và thế giới Vấn đề thực tiễn đặt ra cho nước ta hiện nay là với một nguồn lực lao
Trang 18động dồi dào nhưng còn nhiều bất cập về trình độ, cơ cấu, sự phân bổ lao độngtrong các ngành, vùng chưa hợp lý nhưng lại phải khắc phục sự tụt hậu quá xa vềkinh tế kỹ thuật; bởi vậy cần phải có chính sách phân công lao động hợp lý để cóthể thu hút được tất cả lực lượng lao động xã hội, tạo điều kiện cho mọi người cóviệc làm, có cơ hội để cống hiến sức lực trí tuệ của mình cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước Lực lượng lao động phải được xem như một tổng thể nằm trongmột cơ cấu lao động thống nhất Ở đó, mỗi cá nhân người lao động được sử dụngđúng trình độ chuyên môn kỹ thuật, đúng công việc mà mình yêu thích theohướng toàn dụng lao động Mặt khác dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoahọc công nghệ hiện đại, lao động trí tuệ trở thành đặc trưng, với ý nghĩa đó việckhai thác phát huy tiềm năng lao động trí tuệ trở thành yêu cầu cơ bản nhất của
sử dụng NNL qua đào tạo để bảo đảm năng suất, hiệu quả lao động cao Trongđiều kiện nền kinh tế mở, quan hệ phân công và hợp tác lao động quốc tế ngàycàng mở rộng, việc sử dụng NNL càng mang tính mở rộng, tính quốc tế hoá cao.Nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài ở mỗi quốc gia trên thế giới hiệnnay rất đa dạng về chủng loại, cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, do vậyviệc xuất khẩu lao động là một lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng cần đượcchú ý tới trong việc khai thác sử dụng lao động Xuất khẩu lao động dư thừatrong nước, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ choNhà nước và mặt khác đây còn là con đường để đào tạo nguồn lao động cho đấtnước Do đó Nhà nước cần có chính sách khuyến khích cho hoạt động xuất khẩulao động để khai thác lợi thế nguồn lao động dồi dào phục vụ quá trình CNH,HĐH và hội nhập quốc tế
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy quá trình CNH, HĐH ở nước ta nóichung và quá trình CNH, HĐH ở Bắc Ninh nói riêng hiện nay đòi hỏi phải đàotạo NNL chất lượng cao và sử dụng NNL một cách hiệu quả, mà CNH, HĐH với
tư cách thuộc phía cầu của NNL trên thị trường lao động ở nước ta
Trang 191.3 Nội dung của đào tạo và sử dụng NNL được đào tạo.
1.3.1 Nội dung của đào tạo NNL.
Nước ta bắt đầu thực hiện CNH, HĐH với một xuất phát điểm thấp Từ mộtnước nông nghiệp lạc hậu Mặt bằng dân trí thấp, số người được đào tạo có trình
độ tay nghề cao cũng như số người có học vấn đại học và sau đại học còn ít, phầnđông số người lao động chưa qua đào tạo về nghề nghiệp Đây là một khó khănlớn cho việc tiếp thu khoa học công nghệ mới nhằm đạt tới mục tiêu CNH, HĐH.Mặt khác do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triểntheo hướng kinh tế tri thức với sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới nên lợi thế
về lao động giản đơn đang giảm dần nhường chỗ cho lao động trí tuệ Do đó nộidung giáo dục đào tạo nhằm chuẩn bị NNL chất lượng cho tương lai được xácđịnh theo hướng "Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị,
tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức cộng đồng, lòngnhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoàtrong gia đình, cộng đồng và xã hội, tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyềnthống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý trí tự lực tự cườngxây dựng và bảo vệ tổ quốc" [7, tr.114] Thực tế, sự nghiệp CNH, HĐH đang đặt
ra yêu cầu và đòi hỏi rất cao và đa dạng, phong phú cả về mặt nội dung vàphương thức đối với việc đào tạo NNL ở nước ta hiện nay Nội dung đào tạoNNL ở nước ta không chỉ là những kiến thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ,chuyên môn nghiệp vụ mà còn bao hàm cả đạo đức, truyền thống dân tộc Nộidung các tri thức cấu thành chương trình đào tạo, cũng phải bao hàm sự kế thừacác yếu tố truyền thống, tiếp cận các trí thức hiện đại và tính tới sự phát triển.Đào tạo chuyên môn, trình độ học vấn cho mỗi người là rất quan trọng để tạođiều kiện cho họ có khả năng lao động, khả năng đảm nhận một công việc nào đótrong xã hội Còn đào luyện "Đức" chính là tạo ra cái gốc, yếu tố cơ bản đem lạisức khoẻ về tinh thần để làm người có văn hoá, có tri thức Đến lượt nó lại trởthành động lực thúc đẩy người lao động có những quyết định đúng đắn và hiệuquả trong hoạt động của họ, giúp họ biết hợp tác với ai, biết làm cái gì, làm vì ai
và sẽ làm như thế nào Nội dung của đào tạo NNL được thực hiện qua nhiều cấp
Trang 20bậc học với các mức độ khác nhau Nhưng luận văn tập trung nghiên cứu đào tạoTHCN, dạy nghề, đào tạo đại học, cao đẳng có thể khái quát qua các cấp bậc sauđây:
-Thứ nhất: Đối với các cấp bậc phổ thông đặc biệt là THPT: Đối với bậc
học này cần cung cấp kiến thức nền tảng khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,giáo dục ý thức công dân, định hướng giá trị: chân- thiện-mỹ và giáo dục hướngnghiệp để các em có thể ra quyết định đúng đắn cho việc lựa chọn bước đườngtiếp theo cho tương lai, theo học nghề gì, chọn trường chuyên nghiệp hoặc trườngcao đẳng, đại học nào cho phù hợp với khả năng của mình và yêu cầu của xã hội.-Thứ hai: Đối với các trường THCN-dạy nghề-cao đẳng-đại học: Đào tạo làquá trình kết hợp giữa đào tạo ban đầu và tự đào tạo, giữa truyền thụ tri thức, rènluyện kỹ năng nghề nghiệp với giáo dục đạo đức nhân văn để cung cấp nhân lựccho tất cả các lĩnh vực hoạt động KT-XH nên việc xác định nội dung đào tạoNNL trong hệ thống các trường nêu trên cần được đề cập tới các vấn đề sau:+Coi trọng giáo dục ý thức công dân đặc biệt hình thành niềm tin lý tưởngcộng sản, ý thức bảo vệ tổ quốc, rèn luyện sức khoẻ thông qua hệ thống các mônhọc chung
+Cung cấp các kiến thức thiết thực với nhu cầu thực tế của các ngành trongnền kinh tế quốc dân như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đặc biệt chú ý tớicác ngành và lĩnh vực kinh tế mũi nhọn như công nghệ cao và du lịch Gắn liềnvới việc truyền thụ tri thức là việc hình thành năng lực và phương pháp tư duykhoa học để người học có thể tiếp tục tự hoàn thiện về nhân cách và trình độchuyên môn sau thời gian được đào tạo trong trường biết phát hiện và lý giảiđược những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra cho nghề nghiệp Thực tiễn chothấy kết quả của đào tạo không chỉ tính bằng lượng kiến thức được truyền đạt màchủ yếu phải tính bằng sự phát triển của năng lực sáng tạo, phương pháp tư duykhoa học; khả năng thích hợp và khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động
Trang 21+Cung cấp các kiến thức công cụ như ngoại ngữ và tin học nhằm tạo điềukiện cho sinh viên trong việc giao lưu, học hỏi, tiếp cận các tri thức khoa họchiện đại trên thế giới.
+Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau thông qua cácgiờ thực hành, xâm nhập thực tế theo chuyên ngành đào tạo, các cuộc gặp gỡ,trao đổi và học hỏi các doanh nhân thành đạt trong các lĩnh vực và nghề nghiệphoặc các chuyên gia nước ngoài về lĩnh vực chuyên ngành nghiệp vụ được đàotạo Kết hợp tốt việc giảng dạy lý thuyết với thực hành để sinh viên sau khi tốtnghiệp ra trường có thể giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạomình được đảm nhận một cách có hiệu quả Để chuẩn bị NNL chất lượng caocho sự phát triển nền kinh tế tri thức cần giúp đỡ cho sinh viên cập nhật các kỹnăng mới, nhất là sử dụng công nghệ thông tin viễn thông, kỹ năng giải quyết, xử
lý các vấn đề sự cố phát sinh, kỹ năng làm việc theo nhóm
+Ngoài các nhóm nội dung cơ bản nói trên cần chú ý tới việc rèn luyện ýthức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp, đạo đức lương tâm nghề nghiệp,văn hoá ứng xử trong hợp tác lao động ở mỗi cương vị công tác mà người laođộng được đảm nhiệm trong hệ thống phân công lao động xã hội
Đối với các cơ sở đào tạo lao động xuất khẩu cần có nội dung bổ trợ tìmhiểu về pháp luật, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán từng vùng của nướcnhập khẩu lao động và cách giao tiếp ứng xử sao cho phù hợp với nước họ và tậpquán quan hệ quốc tế Cần bồi dưỡng về ngoại ngữ ở một trình độ nhất định chođối tượng này
-Thứ ba: Đối với bậc đào tạo nhân tài: Trên cơ sở tuyển chọn các sinh viên
xuất sắc ở các trường vào cuối năm thứ nhất, hoặc tuyển lựa các học sinh cóđiểm cao trong kỳ thi vào đại học sau đó tuyển chọn tiếp để đào tạo thành lớpsinh viên tài năng các ngành nghề quan trọng cho đất nước Nội dung đào tạo lớpsinh viên tài năng này phải mang tính hiện đại, nhất là phải hướng vào việc pháttriển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự nghiên cứu, học tập và làm việc độclập cũng như hợp tác, đồng thời hướng vào việc hình thành các kỹ năng cơ bản
Trang 22trong việc dự đoán, nhận định năng lực và khai thác được tài năng của đối tác.Ngoài ra còn phải chú ý rèn luyện đạo đức Như Bác Hồ của chúng ta từng dạy
"Có tài mà không có đức thì vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gìcũng khó" [16, tr.252-253]
Như vậy, nội dung đào tạo NNL cần được xác định theo xu hướng pháttriển của thời đại để có thể đào tạo cho xã hội một đội ngũ lao động mới có đủđức, tài, năng động sáng tạo, thích nghi với kinh tế thị trường và hội nhập quốctế
1.3.2 Nội dung sử dụng NNL được đào tạo.
Sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với những đòihỏi tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hiện nay đang đặt ra những yêu cầumới trong việc khai thác và phát huy tiềm năng NNL Ngày nay ở hầu hết cácquốc gia con người được coi là trung tâm của quá trình sản xuất nên đã diễn raquá trình tìm kiếm những cách thức và giải pháp tối ưu sử dụng NNL Nhưng dođặc điểm tình hình KT-XH khác nhau nên việc xác định nội dung, giải pháp vàbước đi có sự khác nhau ở mỗi quốc gia, địa phương Quá trình khai thác sử dụngNNL ở nước ta bao gồm nhiều vấn đề như tạo việc làm, phân bố sử dụng hợp lýlực lượng lao động, phát huy tiềm năng trí tuệ và yếu tố tinh thần dân tộc, tạo ranhững kích thích và động lực của lao động để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng vàhiệu quả Để khơi dậy và phát huy tiềm năng con người nói chung việc sử dụngNNL phải được tiến hành đồng bộ từ Giáo dục đào tạo, phổ cập nghề, chuẩn bịcho người lao động bước vào cuộc sống lao động đến vấn đề tự do lao động vàđựơc hưởng thụ xứng đáng giá trị lao động đến vấn đề đào tạo NNL Trong đóGiáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng NNL là cơ sở, điều kiện để sử dụngNNL có hiệu quả Sử dụng có hiệu quả NNL sẽ tạo điều kiện mở rộng, cải thiệnmôi trường đào tạo tốt hơn để nâng cao chất lượng NNL Ở các nước khác nhau,NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người laođộng đang có khả năng phục vụ cho xã hội Trong nguồn lao động đó có nhữngngười đã qua đào tạo và cả những người chưa được đào tạo; những người laođộng sản xuất kinh doanh, nhà quản lý, khoa học, những người làm công tác dịch
Trang 23vụ, văn phòng Từ khía cạnh này có thể hiểu nội dung sử dụng NNL, trước hếtbao hàm việc phân bố hợp lý, khai thác sử dụng hết lực lượng lao động, giảiquyết việc làm cho mọi người có nhu cầu làm việc và sử dụng các biện pháp kíchthích hiệu quả đến nguồn lao động; kết hợp khai thác sử dụng với đào tạo bồidưỡng NNL để nâng cao hiệu quả sử dụng, nâng cao chất lượng việc làm và tăngquỹ thời gian lao động được sử dụng Trên cơ sở đó làm tăng thu nhập góp phầncải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động Sự thành công của CNH,HĐH ở nước ta nói chung và từng địa phương nói riêng không chỉ phụ thuộc vào
số lượng và chất lượng NNL mà còn phụ thuộc vào sử dụng hợp lý và hiệu quả;đặc biệt là khai thác hiệu quả NNL đã qua đào tạo
Việc thu hút toàn bộ lực lượng lao động vào hoạt động kinh tế không chỉphải dừng lại ở chỗ thông qua phân công lao động tạo cho mỗi người đều có việclàm mà cần phải chú ý phân bố, sử dụng theo cơ cấu hợp lý và phù hợp về trình
độ trong các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ của nền kinh tế theohướng CNH, HĐH; trong các lĩnh vực như hành chính sự nghiệp, sản xuất kinhdoanh (theo hướng lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp ngày càng giảmxuống) và trong các vùng (thành thị - nông thôn, các vùng kinh tế trọng điểm)thuộc lãnh thổ quốc gia, đồng thời cũng cần phải tính đến tỷ lệ lao động trongtổng lực lượng lao động sẽ xuất khẩu ra nước ngoài Nếu không có sự phân bốlao động một cách hợp lý thì nguồn lực lao động dù có đông đảo cũng không thểtrở thành động lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng của nền kinh tế.Ngoài những vấn đề trên, việc toàn dụng lao động còn phải tính tới khảnăng khai thác thời gian lao động trong tổng số thời gian mà người lao động cóthể làm việc Cho nên trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, Nhà nước cũng cầnphải tạo các cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển các ngànhnghề tạo nhiều việc làm, trong đó có nhiều việc làm có chất lượng để bảo đảmcho người lao động có việc làm thường xuyên và hạn chế tình trạng bỏ việc mộtcách tuỳ tiện
Trên cơ sở phân công hợp lý toàn bộ lực lượng lao động tham gia hoạt độngkinh tế, nhà nước và các cơ sở trực tiếp sử dụng lao động cần tính đến việc tìm ra
Trang 24các biện pháp quản lý chặt chẽ lao động, các biện pháp kích thích tới người laođộng để nâng cao hiệu quả sử dụng NNL của mình.
Thực tế lịch sử phát triển của con người và xã hội loài người đã cho thấy:con người cùng với tri thức của họ là nguồn lực không bao giờ cạn Bởi vậy songsong với quá trình khai thác sử dụng lao động, các cơ sở tuyển dụng lao động cầnkết hợp một cách linh hoạt, mềm dẻo các hình thức và nguyên tắc phân phối tạođiều kiện cho người lao động được tham gia các loại hình đào tạo, bồi dưỡng đểnâng cao trình độ tay nghề và nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo Nói cáchkhác là vừa biết khai thác vừa biết tái tạo, bồi đắp NNL để đáp ứng yêu cầu pháttriển trong tương lai
Nhìn chung, việc sử dụng NNL trong điều kiện hiện nay phải tính tới tất cảcác vấn đề: toàn dụng lao động, phân bố hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vàbồi đắp NNL
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo và sử dụng NNL.
1.4.1 Chính sách và biện pháp về đào tạo NNL.
-Chính sách phát triển NNL bao gồm hầu hết những giải pháp tác động đến quátrình tăng cường năng lực của từng con người và tổ chức, quản lý, sử dụng có hiệuquả nguồn năng lực đó cho phát triển Đó là những lĩnh vực và chính sách về điều tiếtdân số, sức khoẻ và dinh dưỡng, giáo dục và đào tạo, việc làm và thu nhập, nâng caomức sống vật chất và tinh thần của nhân dân v.v Do đó chính sách phát triển, đàotạo NNL cần hoàn thiện gồm những nhóm chính sách như sau:
+Chính sách phát triển giáo dục cơ sở có ý nghĩa tạo nền móng cần thiết banđầu, là tiền đề cần thiết cho phát triển đào tạo NNL và là một nhân tố cơ bản của pháttriển NNL Vì vậy, trong việc đánh giá phát triển NNL của một quốc gia, trước hếtngười ta dựa vào trình độ phát triển giáo dục phổ thông(tỷ lệ biết chữ, trình độ phổcập giáo dục-số năm giáo dục bắt buộc, tỷ lệ đi học của trẻ em trong các nhóm tuổicủa mỗi cấp học ), coi đó là nhân tố thuận lợi hay trở ngại cho việc đầu tư và hoạtđộng kinh doanh Trong số các chính sách phát triển giáo dục thì chính sách phổ cậpgiáo dục là trọng tâm và trở thành những chính sách phát triển NNL của nhiều quốc
Trang 25gia trên thế giới Tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển KT-XH và điều kiện cụ thể, mỗiquốc gia đặt mục tiêu phổ cập giáo dục cho một thời kỳ nhất định, thông thường trướchết là phổ cập tiểu học, sau đó là các cấp học tiếp theo(căn cứ vào sự phân cấp hệthống giáo dục phổ thông theo 2 hoặc 3 cấp) hoặc phổ cập về số năm đi học bắt buộc.
+Chính sách về quy mô đào tạo: Mục tiêu là nhằm điều tiết quy mô đào tạochung và của từng cấp độ đào tạo khác nhau, theo đó có thể khuyến khích mở rộnghoặc thu hẹp quy mô đào tạo ở một cấp nhất định nào đó
+Chính sách về cơ cấu đào tạo: Mục tiêu của chính sách này là nhằm điều tiếthai loại hình cơ cấu đào tạo là cơ cấu về trình độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề đàotạo
+Chính sách tài chính trong phát triển đào tạo NNL có ý nghĩa quan trọnghàng đầu trong quản lý phát triển NNL Hiện nay ở nước ta chính sách tài chính trongphát triển đào tạo NNL có những nội dung chủ yếu sau:
Đa dạng hoá các nguồn tài chính nhằm huy động ngày càng nhiều và đa dạngcác nguồn tài chính cho phát triển đào tạo
Ưu tiên tăng nhanh chi ngân sách nhà nước cho phát triển đào tạo NNL
-Một số biện pháp về đào tạo NNL:
+Xây dựng kế hoạch dài hạn và kế hoạch cụ thể đào tạo NNL gắn với sử dụngNNL theo mục tiêu phát triển đất nước trong quá trình CNH, HĐH
+Xây dựng kế hoạch và các giải pháp khả thi để điều chuyển lực lượng laođộng trong ngành giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của hệ thống Việc điềuchuyển không nên thực hiện trên cơ sở áp đặt mà kết hợp những ràng buộc tráchnhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi và chế độ ưu đãi với sự cam kết của cá nhân và tổ chức.Những sinh viên nghèo, có hoàn cảnh khó khăn có thể được đào tạo miễn phí để trởthành giáo viên đi công tác một thời gian nhất định tại các vùng sâu, vùng xa kết hợpvới chế độ cử tuyển trên cơ sở hợp đồng với nơi nhận, cơ quan cấp kinh phí và sinhviên Việc chuyển cán bộ phải đi kèm với chế độ đãi ngộ thoả đáng
Trang 26-Cải cách chế độ tiền lương, làm cho mức lương của cán bộ làm việc trong khuvực giáo dục và đào tạo không thấp hơn khu vực khác; cán bộ nghiên cứu có năng lựcsáng tạo cao phải có thu nhập cao hơn hẳn so với mức thu nhập chung.
-Để có thể đổi mới tác phong làm việc, văn hoá trong nghiên cứu khoa học,trong giảng dạy cần hình thành những đơn vị nghiên cứu, những trường đại học theo
mô hình mới, hợp tác và mời những cộng tác viên người nước ngoài, từng bước thayđổi tác phong,văn hoá làm việc theo hướng hiện đại
-Phân cấp cho các cơ sở đào tạo những chức trách và quyền lực nhất địnhtrong đãi ngộ, trả lương giáo viên; các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghềcần được tự chủ trong quản lý NNL và chịu trách nhiệm thông qua cơ chế công khai,
cơ chế hội đồng; các cơ sở giáo dục phổ thông được tham gia vào nhiều khâu của quátrình quản lý, trong đó có trả công, trả lương để tăng cường hiệu quả quản lý
-Xã hội hoá huy động các nguồn lực tài chính cho giải quyết việc làm Tăng hỗtrợ kinh phí Nhà nước cho các chương trình dự án giải quyết việc làm khuyến khíchcác doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí cho người lao động tự tạo việc làm, tìm kiếm việclàm
1.4.2 Nguồn và chất lượng đầu vào của NNL.
Ở nước ta hiện nay, giáo dục phổ thông là nền tảng sẽ tạo ra nguyên liệucho giáo dục đào tạo NNL, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề trực tiếp tạo raNNL Giáo dục phổ thông có ảnh hưởng lớn đối với đào tạo NNL cả về số lượng
và chất lượng đầu vào, do đó ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng đào tạo NNL.Thực tế cho thấy nếu số lượng học sinh phổ thông có nguyện vọng dự thi vào cáctrường nghề, THCN và cao đẳng, đại học quá ít hoặc quá nhiều với trình độ họclực thấp sẽ không chỉ gây khó khăn cho việc tuyển lựa sinh viên vào các trường
mà còn ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề và phươngpháp học tập tự nghiên cứu để nắm bắt được tri thức mới, nâng cao trình độ taynghề
Trang 271.4.3 Trình độ cơ sở vật chất và khả năng tài chính ở các cơ sở đào tạo.
Cơ sở đào tạo NNL đều phải dựa trên những điều kiện cơ sở vật chất nhấtđịnh để cho các hoạt động giảng dạy trong các trường đào tạo NNL, thực hiệnđược cần có sự hỗ trợ rất lớn về tài chính và những điều kiện vật chất Ngoàinguồn lực tài chính dùng để trả lương cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lýtrong các trường, còn cần một lượng không nhỏ để xây dựng mở mang trườnglớp, các thiết bị văn phòng, máy tính, dụng cụ vật tư kỹ thuật cho thí nghiệm thựchành, các thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy có chất lượng cao, giáo trình
và tài liệu cho sinh viên học và tham khảo Thực tế đã chứng minh để đáp ứngyêu cầu nhân lực kỹ thuật không thể thiếu điều kiện trang thiết bị và xưởng thựchành Không có các điều kiện trên việc tiếp xúc với trang thiết bị trở nên xa lạ,sinh viên không được làm quen với các thao tác nghề, những kiến thức lý thuyếtthu nhận được sẽ mai một dần theo năm tháng, kỹ năng của người thợ khôngđược hình thành Hơn nữa, nếu không có nguồn tài chính để bổ sung các thiết bịhiện đại cho sinh viên thực hành sẽ không đáp ứng khoa học công nghệ hiện nay
và cũng không thể đáp ứng yêu cầu phát triển NNL theo hướng kinh tế tri thức
1.4.4 Trình độ đội ngũ giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lý.
Các mục tiêu của giáo dục đào tạo sẽ không thực hiện được nếu không cóđội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đủ mạnh Chất lượng của đội ngũ giáo viên
là yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm giáo dục đào tạo, mặc dù lấy người họclàm trung tâm của đào tạo Mọi sự bất cập về số lượng, chất lượng, trách nhiệmcủa người thầy so với yêu cầu đào tạo đều có ảnh hưởng đến kết quả đào tạo Đốivới sinh viên, tấm gương về đạo đức, nhân cách, tài năng của người thầy có tácdụng rất lớn đối với việc hình thành nhân cách, tài năng của họ Muốn có trò giỏi(NNL có chất lượng) ắt phải có thầy giỏi, bởi trong thực tế người thầy không thểcho học sinh của mình cái mà mình chưa có được Trình độ chuyên môn của thầyyếu dẫn tới việc truyền tải tri thức và tay nghề cho sinh viên không đầy đủ, thậmchí còn sai lệch, học sinh thông minh nhưng không có thầy giỏi dẫn dắt thì sựthông minh ấy không thể trở thành nhân tài được Vì vậy phải xây dựng đội ngũgiáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có trách nhiệm và lương tâm
Trang 28nghề nghiệp, đồng thời phải chú trọng việc nâng cao trình độ giáo viên trong cáctrường, tạo điều kiện cho họ được cập nhật với các tri thức khoa học hiện đại vàphát triển đội ngũ giáo viên tài năng Trong các nhà trường để hoạt động đào tạođạt được kết quả, ngoài đội ngũ cán bộ giảng dạy không thể thiếu đội ngũ cán bộquản lý với năng lực, trình độ, trách nhiệm cao trong bộ máy quản lý hành chính.Thực tế cho ta thấy mọi hoạt động trong nhà trường cần được tiến hành một cáchđồng bộ và thống nhất Vì vậy cần phải có hệ thống quản lý từ Ban giám hiệuđến các phòng, ban chức năng để thực hiện các công việc từ quản lý con ngườiđến quản lý và điều hành các hoạt động giáo dục rèn luyện ý thức đạo đức chosinh viên, cũng như hoạt động giảng dạy, hoạt động phục vụ cho giảng dạy, hạchtoán thu chi, mua sắm và vận hành, bảo quản các trang thiết bị, cơ sở vật chất Một bộ phận nào đó trong hệ thống trên bị trục trặc hay suy yếu đều ảnh hưởng
và gây ách tắc tới hoạt động của các bộ phận khác, do đó ảnh hưởng tới việcnâng cao chất lượng đào tạo và tăng chi phí đào tạo NNL Nhưng việc thực hiệntốt các hoạt động trong hệ thống trên lại phụ thuộc vào trình độ năng lực và ýthức trách nhiệm của chính những con người được quyền phân công và sử dụngđội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường Cho nên phải có đội ngũ cán bộ quản
lý có năng lực trình độ phù hợp với công việc và ý thức trách nhiệm cao
1.4.5.Chất lượng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trình độ trang thiết
bị kỹ thuật-công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đào tạo NNL có quan hệ chặt chẽ với nhau.Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, thực hiện quy hoạch phát triểntrên các vùng lãnh thổ sẽ tạo ra nhu cầu lớn cho thu hút lao động, đòi hỏi phảichuyển dịch cơ cấu lao động và tổ chức điều chỉnh phân bố lao động Việc xâydựng những công trình kinh tế lớn của quốc gia, mở mang và nâng cấp hệ thống
hạ tầng cơ sở vật chất, xây dựng và phát triển các khu kinh tế với những mô hìnhthích hợp ở các vùng chậm phát triển, tăng cường các hoạt động đầu tư nướcngoài và liên doanh liên kết rộng với các cơ sở kinh tế địa phương đều tạo khảnăng thu hút nguồn lao động lớn và đặt ra yêu cầu lớn về đào tạo NNL Chiếnlược phát triển KT-XH thời kỳ 2001-2010 của nước ta yêu cầu chú trọng đẩy
Trang 29mạnh các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng một số ngành công nghệ kỹ thuậtcao, nâng cao từng bước trình độ công nghệ trong mọi ngành sản xuất, phát triểncông nghiệp nhỏ và dịch vụ nông thôn theo hướng văn minh hiện đại, nâng chấtlượng và giá trị nông sản hàng hoá để tăng sức cạnh tranh, phát triển đa dạngthương mại dịch vụ, phát triển du lịch sớm trở thành mũi nhọn
Nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp- công nghiệp-dịch vụsang công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 70% năm 2000 xuống 50%vào năm 2010 và nâng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụnhưng trong đó đòi hỏi phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động được đào tạo theongành và trình độ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế Rõ ràng chuyểndịch cơ cấu kinh tế như phân tích đã đặt ra những thách thức đối với NNL và do
đó trực tiếp tác động tới đào tạo NNL cả về quy mô, cơ cấu và trình độ cũng nhưviệc phân bổ, khai thác sử dụng hợp lý NNL trong quá trình CNH, HĐH
-Trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp và các ngành kinh tế, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu laođộng, các trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất và kinh doanh cũng ngày càngthay đổi theo hướng hiện đại, do đó đòi hỏi phải có NNL phù hợp để trước hết cóthể sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị hiện có để nâng cao hiệu quả đầu tư sau
đó là sự tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng một cách sáng tạo các thiết bị côngnghệ mới Thực tế cho thấy đầu tư xây dựng cơ bản tăng nhưng thiếu người laođộng và thiếu sự đồng bộ giữa trình độ công cụ lao động với trình độ chuyênmôn của người lao động thì hiệu quả lao động không cao, gây lãng phí vốn đầu
tư trong xã hội Tính đồng bộ giữa trình độ công nghệ cao với trình độ kỹ thuật
và công nhân lành nghề đòi hỏi hoạt động đào tạo phải đáp ứng đủ và đúngchuyên môn, ngành nghề, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề để có thể làmchủ các công nghệ mới Trong xu thế hội nhập hiện nay, muốn nhập khẩu côngnghệ cao hơn phải tổ chức đào tạo NNL tốt hơn; đã có rất nhiều bài học thất bạikhi một nước sử dụng công nghệ ngoại nhập trong khi trình độ chuyên mônngười lao động trong nước còn non yếu Nếu thiếu các chuyên gia giỏi về khoa
Trang 30học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề thìkhông thể ứng dụng được công nghệ mới, do đó phải đào tạo NNL Việc đào tạoNNL không chỉ đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng mà còn phải có sự cânnhắc kỹ lưỡng sao cho việc sắp xếp, phân công đó phải đảm bảo sự hợp lý, đúngngười đúng việc như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy "Xem người ấy xứng vớiviệc gì, nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ cũng không được việc"[16, tr.274-275].
Cơ chế chính sách tuyển dụng NNL: đây là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏđến kết quả đào tạo và khai thác, sử dụng NNL Trong cơ chế cũ Nhà nước chủtrương kế hoạch hoá từ việc đào tạo NNL, tuyển dụng, sử dụng cho đến khi thôiviệc Việc thực hiện kéo dài chính sách này đã làm nảy sinh những hiện tượngkhông tích cực như đào tạo và sử dụng không ăn khớp, dư thừa lao động trình độđại học, thiếu công nhân lành nghề, triệt tiêu động không kích thích người laođộng làm việc có hiệu quả, không khuyến khích nâng cao trình độ tay nghề, chạytheo số lượng trong tuyển dụng lao động mà không chú trọng đến hiệu quả Quanđiểm sử dụng hết nguồn lao động xã hội đã dẫn tới tình trạng tuyển dụng ồ ạt làmcho bộ máy làm việc trở nên cồng kềnh, kém hiệu lực Việc tuyển dụng theo cơchế phân công việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp, mỗi người đều đượcnhận một chỗ làm việc như nói trên đã không kích thích được ý thức động cơ của
Trang 31người được đào tạo và dễ rơi vào tình trạng không đúng người đúng việc, hiệuquả lao động thấp.
Với việc tuyển dụng lao động theo cơ chế thị trường, người lao động nàođáp ứng được yêu cầu của đơn vị tuyển dụng thì người đó có việc làm Cơ chếnày đã tạo điều kiện cho người lao động có thể nhận được công việc phù hợp vớitrình độ năng lực của mình nên hiệu quả lao động cao, đồng thời thông qua việcđược nhận thù lao lao động tương xứng với trình độ năng lực, người lao động có
ý thức cao hơn trong việc học tập, rèn luyện nâng cao trình độ và kỹ năng nghềnghiệp và do đó lại làm cho kết quả đào tạo NNL được nâng cao hơn nữa vềchất
Rõ ràng việc đổi mới cơ chế chính sách tuyển dụng lao động là một nhân tố
có tác động tích cực tới đào tạo NNL và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL trongquá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay
1.5 Những chỉ tiêu đánh giá về đào tạo và sử dụng NNL.
Theo Từ điển Tiếng Việt(Trung tâm từ điển, 1998 tr 424), hiệu quả là kếtquả đạt được như yêu cầu công việc mạng lại Hiệu quả là tính kết quả, là sự đạtđược kết quả mong muốn Để đạt hiệu quả cao phải tính đến những giải phápgiúp đạt mục tiêu đã đặt ra ở mức độ cao nhất
Hiệu quả đào tạo và sử dụng NNL là việc đào tạo và sử dụng NNL phải đạtđược mục tiêu đặt ra Việc chỉ ra tính hiệu quả của một hoạt động nào đó, phảichỉ ra kết quả mà hoạt động đó đạt được Có thể chia ra hiệu quả đầu vào, hiệuquả quá trình và hiệu quả đầu ra Những yếu tố tác động đến hiệu quả đầu vào cóthể là các chính sách, cơ chế ở cấp vĩ mô và vi mô về NNL, sứ mệnh, mục tiêucủa tổ chức cũng như các điều kiện sản xuất, kinh doanh(tài chính, công nghệ,NNL) Hiệu quả đầu ra có thể được đánh giá ở cấp cá nhân, cấp tổ chức, hay cấpquốc gia Hiệu quả đầu ra có thể là sự hài lòng của cá nhân, năng suất lao động,thu nhập, sự phát triển cá nhân v.v Ở cấp NNL một địa phương, một quốc gia là
sự linh động, khả năng đáp ứng, di chuyển của NNL, đặc biệt sự đáp ứng nhiệm
vụ phát triển KT-XH của NNL
Trang 32Như vậy, có thể nhận biết hiệu quả đào tạo và sử dụng NNL theo các tiêuchí sau đây:
-Hiệu quả kinh tế: thể hiện ở đóng góp của NNL vào đạt mục tiêu của tổchức, thực hiện mục tiêu KT-XH của một vùng, một địa phương và một quốcgia; một cách cụ thể hiệu quả kinh tế thể hiện ở mức tăng năng suất lao động,tăng thời gian sử dụng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, sự chuyển đổi cơ cấu laođộng theo hướng phù hợp hơn với nhu cầu phát triển KT-XH;
-Hiệu quả xã hội: thể hiện sự tăng trưởng mức sống, trình độ người laođộng, sự tham gia vào các hoạt động KT-XH của người lao động;
-Theo phạm vi: + Hiệu quả chung của đào tạo và sử dụng NNL thể hiện sựđóng góp chung vào phát triển của tổ chức, của địa phương, của quốc gia; mức
độ linh hoạt của lực lượng lao động;
+Hiệu quả từng bộ phận, từng khâu, từng nội dung của quá trình đào tạo, sửdụng NNL thể hiện việc đạt được mục tiêu của từng khâu, từng nội dung đào tạo
và sử dụng NNL
-Theo đối tượng: + Hiệu quả cá nhân thể hiện ở: tăng khả năng, năng lựccủa người lao động như kỹ năng, trình độ, năng lực, sự hiểu biết; kết quả thựchiện công việc như tăng năng suất lao động, động cơ, thái độ tích cực hơn đối vớicông việc, mức độ hài lòng đối với công việc; mức sống và độ an toàn của cuộcsống
+Hiệu quả tổ chức: thể hiện ở năng suất lao động của tổ chức, chất lượng,lợi nhuận đạt được và mức độ đạt mục tiêu của tổ chức
+Hiệu quả khách hàng: mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng, thị phần,ảnh hưởng tới người sử dụng dịch vụ (xem phụ lục 1)
1.6 Vai trò của đào tạo và sử dụng NNL đối với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta.
Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, đội ngũ CNKT có đủ đứctài, có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trongquá trình CNH, HĐH Để khai thác tiềm năng to lớn của con người Việt Nam,
Trang 33cần tiếp tục triển khai mạnh trong thực tiễn quan điểm phát triển giáo dục và đàotạo, mà khâu then chốt là đào tạo NNL chất lượng cao và ứng dụng nhanh cáctiến bộ khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống Có thể nói đàotạo và sử dụng NNL qua đào tạo có vai trò to lớn về nhiều mặt.
-Thứ nhất, ở nước ta đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề góp phần quantrọng tạo ra lực lượng lao động và chuyên gia giỏi về công nghệ, kỹ thuật vàquản lý đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Với những kiến thức cơ bản, kỹnăng nghề nghiệp và phương pháp tư duy sáng tạo họ không chỉ là những người
tổ chức thực hiện các hoạt động trong quá trình sản xuất mà trong quá trình đó họcòn là những người quản lý và tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đáp ứngnhu cầu tăng khả năng sức cạnh tranh của hàng hoá trong kinh tế thị trường Mặtkhác việc thu hút sử dụng hợp lý NNL với các biện pháp kích thích người laođộng làm việc không chỉ năng suất, chất lượng, hiệu quả cao mà còn say mênghiên cứu tìm tòi sáng tạo để tạo ra các trang thiết bị kỹ thuật công nghệ mớigiúp sử dụng hợp lý NNL làm cho quá trình đổi mới trang thiết bị kỹ thuật côngnghệ không ngừng và lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển
-Thứ hai, Đào tạo NNL có chất lượng và sử dụng nó có hiệu quả sẽ tácđộng đến phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động từ đó đẩymạnh chất lượng và nhịp độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướngCNH, HĐH Quá trình chuyển dịch đó được thực hiện nhờ có sự đóng góp to lớncủa đào tạo và sử dụng NNL Nhờ đẩy mạnh hoạt động giáo duc, đào tạo NNL vàkhai thác sử dụng NNL trong thời gian qua, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ởnước ta đã có sự chuyển dịch đúng hướng, mặc dù tốc độ còn chậm Về cơ cấungành đã có sự chuyển dịch từ nông nghiệp-công nghiệp dịch vụ sang côngnghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Tỷ trọng của công nghiệp trong GDP ngày càngtăng lên và tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống (Xem bảng 1.1)
Trang 34Bảng 1.1 Cơ cấu GDP trong các ngành kinh tế nước ta thời kỳ 1995-2005.
Bảng 1.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 1995 - 2005.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu lao động cũng có sự đổi mới Năm
1996 lao động qua đào tạo mới có 13%, năm 2000 đạt 20% và đến năm 2003khoảng 21,5% Về cơ cấu trình độ lao động: Từ năm 1996 đến 2000 tỷ lệ laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng số lực lượng lao động tăng từ12,31% lên 15,53% Cơ cấu trình độ cũng có sự thay đổi mặc dù còn chậm: năm
Trang 351996 CNKT 4,38%, cao đẳng, đại học 2,3%, sơ cấp 1,77%, trung cấp 3,84%.Đến năm 2000 tỷ lệ trong cơ cấu tương ứng là: 5,4/1,41/4,83 và 3,89.
-Thứ ba, Đào tạo NNL và sử dụng hiệu quả NNL đã góp phần thúc đẩy tăngtrưởng và phát triển kinh tế Nếu như trong những năm 50-60 của thế kỷ XX tăngtrưởng kinh tế chủ yếu do CNH, sự thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất làkhâu chủ yếu cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế, thì vài thập niên cuối thế kỷ XXtrở lại đây chỉ có một phần nhỏ thuộc về tăng trưởng kinh tế được giải thích bởikhía cạnh đầu vào là vốn; phần quan trọng gắn với chất lượng của lao động Chonên việc đầu tư cho con người sẽ là yếu tố góp phần rất quan trọng nâng caonăng suất lao động và được coi là đầu tư cho phát triển Thực tế lịch sử các nềnkinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia nào đạt được tỷ lệ tăng trưởngcao trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông Việt Nam tuy là mộtnước đang phát triển nhưng những kết quả về KT-XH trong thời gian qua đãchứng minh điều đó Theo đánh giá của tổ chức ngân hàng thế giới Việt Nam đãduy trì và đạt được tỷ lệ tăng trưởng khá cao và ổn định Điều đó có sự đóng góptích cực của đào tạo và sử dụng NNL Từ năm 1996 đến năm 2000 tốc độ tăngtổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm 7,5% Đến năm 2000 tổng sảnphẩm trong nước đã gấp 2,07 lần so với năm 1990 Từ năm 2001 đến nay tỷ lệtăng trưởng vẫn duy trì ở mức độ bình quân hơn 7% (Xem bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta thời kỳ 1996-2005
Trang 36Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy rằng: trong quátrình phát triển KT-XH nói chung và CNH, HĐH nói riêng, đào tạo và sử dụngNNL có vai trò rất quan trọng, song điều đó không có nghĩa một quốc gia có lựclượng dân số đông thì sẽ có lợi thế và gặt hái được nhiều thắng lợi và ngược lạimột quốc gia có lực lượng dân số ít thì không giành được thắng lợi mà vấn đề ởđây còn phụ thuộc vào việc quốc gia đó đã đào tạo NNL như thế nào và đã khaithác sử dụng nó ra sao Bởi vậy để phát triển KT-XH trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH cần phải coi trọng vấn đề đào tạo và sử dụng NNL phù hợp với điềukiện đặc thù của mình.
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH BẮC NINH(1997-NAY).
Như đã nói ở phần trước, môi trường đào tạo và sử dụng NNL của các địaphương có những nét riêng biệt Cùng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hộinhư nhau, nhưng có địa phương thu hút được NNL nhiều, có địa phương thu hútđược ít Chính điều này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và việcchủ động vận dụng chủ trương, chính sách vào việc đào tạo và sử dụng NNL củamột tỉnh
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến đào tạo và sử dụng NNL của tỉnh Bắc Ninh.
-Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá IX, thông qua ngày06/11/1996 và Chỉ thị số 857/CT-TTg ngày 15/11/1996 của Thủ tướng Chínhphủ về việc điều chỉnh địa giới, tỉnh Bắc Ninh được tái lập đi vào hoạt động theođơn vị hành chính từ 01/01/1997
-Vị trí địa lý: Tỉnh Bắc Ninh phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, phía đônggiáp tỉnh Hải Dương, phía Nam và tây giáp thành phố Hà Nội và là cửa ngõ củaThủ đô Hà Nội(trung tâm giáo dục và đào tạo lớn), nằm trong tam giác phát triểnkinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, đó là lợi thế đồng thời cũng là tháchthức, làm tăng sức cạnh tranh các mặt hàng sản xuất cũng như phát triển giáo dụcđào tạo và sử dụng NNL của tỉnh
-Kết cấu hạ tầng KT-XH ở tỉnh Bắc Ninh đã và đang được nâng cấp, cải tạo,đầu tư tập trung trên hầu hết các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, bưu điện
… tạo tiền đề cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá
-Cơ cấu kinh tế của tỉnh thay đổi: Năm 2000, công nghiệp-xây dựng cơ bản35,7%, nông nghiệp 38,0%, dịch vụ 26,3% thì năm 2005 cơ cấu kinh tế là: côngnghiệp - xây dựng cơ bản 47,1%, nông nghiệp 25,7%, dịch vụ 27,2%, rõ ràngđang có sự chuyển dịch cơ cấu chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệpmạnh mẽ có tác động tích cực đến đào tạo và sử dụng NNL
Trang 38Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh năm 2005 đạt 4.785 tỷ đồng (giá so sánh1994), bình quân đầu người tương đương 525,7 USD Nhịp độ tăng bình quânhàng năm 14% trong giai đoạn 2000-2005(xem phụ lục 2).
-Giá trị sản suất công nghiệp tăng bình quân 26,1%/năm Nếu so sánh năm
2005 với năm 1996 (trước ngày tái lập tỉnh) thì gấp gần 11 lần Tính đến nay trênđịa bàn có 20.000 hộ cá thể và 1.369 doanh nghiệp tham gia sản xuất trong ngànhcông nghiệp
-Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân 5,8%/năm(theo giá năm 1994)
-Dịch vụ có bước tiến bộ đáng kể: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụtiêu dùng xã hội tăng bình quân 22,4%/năm; khối lượng vận chuyển hàng hoátăng 21,2%/năm, vận chuyển hành khách tăng 9,25%/năm Bưu chính viễn thôngphát triển cả về số lượng và chất lượng, số máy điện thoại tăng từ 2,5 máy/100dân năm 2000 lên 17,2 máy/100 dân năm 2005, gấp 5,2 lần
-Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực: tỷ trọng laođộng trong ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 14% năm 2000 lên 29,12% năm
2005, các ngành dịch vụ tăng từ 12,4% lên 22,59%, ngành nông, lâm, thuỷ sản đãgiảm từ 73,6% xuống còn 48,29% Đây là điểm nổi bật nhất và có tính khác biệtcủa Bắc Ninh so với các tỉnh trong vùng trong cả nước
-Thu chi ngân sách nhà nước đạt khá: Tổng thu ngân sách nhà nước tăngbình quân hàng năm 34,7%, năm 2005 đạt 1.067 tỷ đồng, gấp 4,4 lần so với năm
2000 Chi cho đầu tư phát triển tăng 31,6%/năm Tập trung ưu tiên đầu tư chocác nhiệm vụ như giáo dục-đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao
-Đầu tư phát triển kinh tế xã hội được chú trọng, kết cấu hạ tầng kinh tế-xãhội được tăng cường, bộ mặt đô thị và nông thôn ngày cang đổi mới Tổng vốnđầu tư toàn xã hội trong 5 năm qua đạt trên 12 nghìn tỷ đồng, tăng bình quânhàng năm trên 26%, chiếm hơn 40% GDP, trong đó 95% là vốn đầu tư trongnước
Trang 39-Đời sống các tầng lớp dân cư được cải thiện một cách rõ rệt và đáp ứng tốthơn nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân, nâng cao chất lượngNNL GDP bình quân đầu người năm 2000 đạt 3,5 triệu đồng, năm 2005 đạt 8,3triệu đồng Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,8% năm 2000 xuống còn 3,5% năm 2005.(Chuẩn nghèo-Quyết định 1143/QĐ-LĐ-TBXH, ngày 1/11/2000 của Bộ trưởng
Bộ LĐ-TBXH) Các chương trình đào NNL, giải quyết việc làm, xoá đói giảmnghèo được thực hiện tốt
-Hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh đã hướng vào mụctiêu ‘nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’ Quy mô đào tạo ởcác cấp, ngành học được mở rộng, đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS năm
2002, đây là nền tảng quan trọng cho việc nâng cao chất lượng NNL của tỉnhtrong tương lai Mạng lưới trường, lớp được mở rộng đáp ứng quy mô tăng lêncủa các cấp học; trường học được kiên cố hoá, đến nay tỷ lệ kiên cố hoá cáctrường phổ thông là 72,1% Hệ thông trường chuẩn quốc gia được xây dựng vàhướng tới hiện đại hoá Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có nhà trẻ, mẫugiáo, trường tiểu học và THCS
-Bắc Ninh là một vùng đất địa linh nhân kiệt, có lịch sử văn hoá lâu đời,giàu truyền thống văn hiến, khoa bảng, một trung tâm văn hoá của người Việt cổ.nơi sinh ra các anh hùng hào kiệt cho đất Việt nghìn năm lịch sử như: Lý CôngUẩn, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt
-Văn hoá-xã hội có nhiều tiến bộ: Sinh hoạt văn hoá quần chúng được tổ
chức thường xuyên góp phần giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân
tộc, từng bước phát triển nền văn hoá tiên tiến
Do nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức cao, các lĩnh vực xã hội cónhiều tiến bộ nên chỉ số phát triển con người (HDI) ở tỉnh Bắc Ninh đều tăng lênmỗi năm Nếu như năm 2000 chỉ số phát triển con người của Bắc Ninh ngangbằng với chỉ số HDI của cả nước và xếp thứ 13 trong 61 tỉnh, thành phố (thuộcnhóm có trình độ phát triển trung bình khá) thì đến năm 2005 đạt 0,724 và caohơn bình quân chung cả nước Đáng chú ý, chỉ số tuổi thọ, chỉ số tri thức đều cao
Trang 40hơn hẳn mức bình quân chung của cả nước và đứng ở hàng các tỉnh, thành phốphát triển Đây chính là động lực để tỉnh Bắc Ninh cùng cả nước vững bước đitrên con đường CNH, HĐH.
-Hoạt động y tế, chăm sóc sức khoẻ, dân số, gia đình và trẻ em được thựchiện tốt Cán bộ y tế có bước phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng,100% trạm y tế có bác sỹ, trên 50% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã Ngành y
tế đã thực hiện đa dạng hoá hình thức khám, chữa bệnh theo Pháp lệnh hành nghề
y, dược tư nhân Góp phần đa dạng hoá loại hình chăm sóc sức khoẻ các tầng lớpdân cư, tạo cơ hội bảo đảm sự công bằng trong công tác khám và chữa bệnh,nhằm nâng cao chất lượng NNL
Như vậy, KT-XH tỉnh Bắc Ninh phát triển sẽ tác động tích cực đến đào tạo
và sử dụng NNL của tỉnh, thông qua các chính sách, chương trình cụ thể của địaphương về phát triển NNL
2.2 Chủ trương chính sách của trung ương và địa phương về đào tạo
và sử dụng NNL.
2.2.1 Về đào tạo NNL.
Sự phát triển NNL phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và sự quản lý củaNhà nước cũng như của các cơ sở đào tạo Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam xác định: “Nâng cao dân trí,bồi dưỡng và phát huy NNL to lớn của con người Việt Nam là nhân tốquyết định thắng lợi của công cuộc CNH và HĐH “ [5, tr.124)
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sảnViệt Nam xác định mục tiêu của chiến lược phát triển KT-XH 10 năm(2001-2010) là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõrệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lựccon người, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốcphòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN được hình thành về cơ bản; vị thế nước ta trên trường quốc tế đượcnâng cao” [8,tr.160] Phát huy nguồn lực trí tuệ, sức mạnh tinh thần của con