Các nội dung chính của bài này bao gồm: • Phân tích các đặc trưng cơ bản của thị trường yếu tố sản xuất. • Thị trường lao động. • Thị trường vốn. • Thị trường đất đai. Nghiên cứu bài này, người học sẽ: • Trình bày được các đặc điểm cơ bản của thị trường các yếu tố sản xuất. • Phân tích được thị trường lao động, bao gồm cung và cầu về lao động, trạng thái cân bằng của thị trường lao động, phân tích sự tác động của tiền công tối thiểu. • Xác định được cung và cầu về vốn trong ngắn hạn và dài hạn, trạng thái cân bằng của thị trường vốn. • Phân tích được thị trường đất đai, bao gồm: cung và cầu về đất đai, sự thay đổi trạng thái cân bằng của thị trường đất đai trong ngắn hạn và dài hạn.
Trang 10
Nội dung
Các nội dung chính của bài này bao gồm:
Phân tích các đặc trưng cơ bản của thị trường yếu tố sản xuất
Thị trường lao động
Thị trường vốn
Thị trường đất đai
Nghiên cứu bài này, người học sẽ:
Trình bày được các đặc điểm cơ bản của
thị trường các yếu tố sản xuất
Phân tích được thị trường lao động, bao
gồm cung và cầu về lao động, trạng thái
cân bằng của thị trường lao động, phân
tích sự tác động của tiền công tối thiểu
Xác định được cung và cầu về vốn trong
ngắn hạn và dài hạn, trạng thái cân bằng
của thị trường vốn
Phân tích được thị trường đất đai, bao
gồm: cung và cầu về đất đai, sự thay đổi
trạng thái cân bằng của thị trường đất đai
trong ngắn hạn và dài hạn
Thời lượng học
8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận
Đọc giáo trình và tài liệu liên quan trước lúc nghe giảng và thực hành
Sử dụng tốt các phương pháp và công
cụ trong toán học (bao gồm kiến thức đại số và hình học lớp 12) để phân tích
và nghiên cứu bài học
Thực hành thường xuyên và liên tục các bài tập vận dụng để hiểu được lý thuyết và bài tập thực hành
BÀI 7: THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT
Trang 2Chúng ta đã nghiên cứu rất nhiều về thị trường đầu ra – thị trường hàng hóa dịch vụ, trong đó nhà sản xuất đóng vai trò là nhà cung ứng còn người tiêu dùng đóng vai trò là người mua Trong nội dung chương này chúng ta sẽ nghiên cứu về thị trường mới, thị trường các yếu tố đầu vào Vai trò của nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ hoán đổi cho nhau Với sự hoán đổi như vậy, thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm những thị trường gì và có những đặc trưng nào? Cơ chế hoạt động của thị trường các yếu tố sản xuất này ra sao?
7.1 Đặc trưng cơ bản của thị trường các yếu tố sản xuất
7.1.1 Kinh tế học cổ điển phân biệt các yếu tố sản xuất được sử dụng trong sản
xuất hàng hóa
Đất hay các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) – các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên chẳng hạn như đất đai và khoáng chất Chi phí cho việc sử dụng đất là địa tô
Sức lao động – các hoạt động của con người được sử dụng trong sản xuất Chi phí thanh toán cho sức lao động là lương
Tư bản hay vốn – Các sản phẩm do con người làm ra hay công cụ sản xuất) được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm khác Vốn bao gồm máy móc, thiết bị và nhà xưởng Trong ý nghĩa chung, chi phí thanh toán cho vốn gọi là lãi suất
Các yếu tố này lần đầu tiên được hệ thống hóa trong các phân tích của Adam Smith (1776), David Ricardo (1817), và sau này được John Stuart Mill đóng góp như là một phần của lý thuyết chặt chẽ về sản xuất trong kinh tế chính trị Trong các phân tích
cổ điển, tư bản nói chung được xem như là các vật thể hữu hình như máy móc, thiết
bị, nhà xưởng Với sự nổi lên của kinh tế tri thức, các phân tích hiện đại hơn thông thường phân biệt tư bản vật lý này với các dạng khác của tư bản chẳng hạn như "tư bản con người" (thuật ngữ kinh tế để chỉ giáo dục, kiến thức hay sự lành nghề) Ngoài ra, một số nhà kinh tế khi nói tới các kinh doanh còn có khái niệm khả năng tổ
chức, tư bản cá nhân hoặc đơn giản chỉ là "khả năng lãnh đạo" như là yếu tố thứ tư
Tuy nhiên, điều này dường như là một dạng của sức lao động hay "tư bản con người" Khi có sự phân biệt, chi phí cho yếu tố này của sản xuất được gọi là lợi nhuận Học thuyết kinh tế cổ điển sau này đã được phát triển xa hơn nữa và vẫn giữ được tác dụng cho tới ngày nay như là nền tảng cho kinh tế vi mô
Trong thị trường các yếu tố sản xuất, các doanh nghiệp lại đóng vai trò là người mua (lực lượng cầu), còn các hộ gia đình và người lao động đóng vai trò của người cung cấp các nguồn lực (lực lượng cung) Dựa vào nhu cầu về hàng hóa dịch vụ thông thường trên thị trường, các doanh nghiệp tính toán mức cầu về các yếu tố đầu vào
Do đó, đặc trưng nổi bật của thị trường các yếu tố đầu vào là cầu về các yếu tố đầu vào là cầu thứ phát, cầu phái sinh, hay cầu dẫn suất Để tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp cũng phải so sánh giữa chi phí cận biên của một yếu tố với doanh thu cận biên mà yếu tố đó tạo ra
7.2 Thị trường lao động
Lao động là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất Do bất kỳ một yếu tố xuất nào cũng cần phải có lao động, các nhà kinh tế học đã khẳng định lao động là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của quá trình sản xuất
Trang 37.2.1 Cầu về lao động
a Khái niệm cầu lao động
Cầu về lao động là số lượng lao động mà doanh nghiệp muốn thuê và có khả năng thuê
tại các mức tiền công khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định
Cầu về lao động có đặc điểm giống với cầu về các yếu tố đầu vào chung là cầu thứ phát,
nó phụ thuộc vào cầu về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Nguyên tắc ở đây là nếu người tiêu dùng cần nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thì doanh nghiệp sẽ thuê thêm nhiều lao động để tạo ra số lượng hàng hoá và dịch vụ đó nếu các điều kiện khác không đổi
Ví dụ, để sản xuất thêm được nhiều quần áo hơn, công ty Tiến An cần phải thuê thêm lao động để có thể vận hành những chiếc máy may cũng như thực hiện các công đoạn trong việc hoàn thiện sản phẩm được may
Cầu về lao động còn phụ thuộc vào mức tiền công các doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng trả cho họ Khi giá của việc thuê lao động là cao thì các doanh nghiệp sản xuất sẽ
có lượng cầu đối với lao động thấp và ngược lại
Đường cầu về lao động là một đường dốc xuống về bên phải, có độc dốc âm Điều này cũng tuân thủ luật cầu, với mức tiền công cao w1 thì lượng cầu đối với lao động là L1
nhưng nếu mức tiền công giảm xuống chỉ còn là w2 thì lượng cầu đối với lao động sẽ cao hơn, đạt tới L2
Cầu lao động trong dài hạn thoải hơn cầu lao động trong ngắn hạn Vì trong dài hạn các doanh nghiệp sản xuất có thể thay đổi được tất cả các yếu tố đầu vào nên trong dài hạn một sự thay đổi nhỏ của tiền công lao động cũng có tác động lớn tới lượng cầu về lao động
Trang 4Với những tính chất và đặc trưng của cầu về lao động, chúng ta sẽ đi vào việc nghiên cứu và xem xét sự hình thành đường cầu và số lượng lao động tối ưu mà hãng sẽ lựa chọn:
Thứ nhất, căn cứ để hãng xác định số lượng lao động cần thuê
Một số khái niệm liên quan
o Sản phẩm cận biên của lao động (MPL) là sự thay đổi trong tổng số sản phẩm đầu ra
do sử dụng thêm một yếu tố đầu vào là lao động Nó được xác định bằng công thức:
o Sản phẩm doanh thu cận biên của lao động (MRPL) là phần doanh thu tăng thêm
do sử dụng thêm một đơn vị lao động đầu vào Công thức xác định MRPL như sau:
o Sản phẩm giá trị biên của lao động (MVPL) là giá trị bằng tiền được tính ra từ các đơn vị sản phẩm tăng thêm do sử dụng thêm một đơn vị đầu vào là lao động
MVPL = P MPL
Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo ta luôn có P = MR nên MRPL = MVPL Khi thị trường không phải là CTHH ta luôn có MR < P nên MRPL < MVPL Dựa trên những khái niệm và những yếu tố có liên quan đó, chúng ta sẽ tiến hành xem xét số lao động được thuê tối ưu Để nghiên cứu được chúng ta phải dựa trên một số giả thiết sau:
o Hãng chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với số vốn là cố định
Do vậy, chi phí cận biên tăng lên thì chi phí cho lao động tăng thêm (MCL) hay
MC = MCL
o Thị trường đầu vào là thị trường cạnh tranh hoàn hảo
o Hãng cũng theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Một doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận quyết định thuê bao nhiêu đơn vị lao động
là phụ thuộc vào lợi nhuận mà họ có được từ việc thuê số lao động đó Tuy nhiên, đối với các loại thị trường khác nhau thì chi phí tiền lương cho lao động là khác nhau
Đối với hãng CTHH trên thị trường lao động và thị trường hàng hóa
Hãng chấp nhận mức giá trên thị trường hàng hóa và thị trường lao động Thị trường lao động rất dồi dào, và hãng không phải trả tiền thêm để có thể thu hút thêm lao động cho mình Vì vậy tiền lương trả cho người lao động là không đổi theo lượng công nhân được thuê Giả sử w0 là mức tiền lương thị trường
Trang 5w = P x MPL = MRPL
Theo phương trình trên, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ tiếp tục thuê lao động cho đến khi lao động tại điểm đó tạo ra được doanh thu cận biên cho doanh nghiệp bằng với tiền lương danh nghĩa (thị trường)
Ứng với mỗi mức lương hãng sẽ quyết định thuê số lao động sao cho tiền lương trả cho lao động đó phải bằng sản phẩm doanh thu cận biên do lao động đó tạo ra (MRPL)
Vì vậy, đường doanh thu cận biên của lao động (MRPL) là đường cầu của doanh nghiệp về lao động và trùng với đường sản phẩm giá trị cận biên của lao động
MRPL, w
0
w01
Doanh nghiệp CTHH trên thị trường lao động nhưng là độc quyền trên thị trường đầu ra
Chúng ta có thể chứng minh bằng cách tương tự và thấy được đường cầu lao động của hãng là đường MRPL
Do khi hãng là độc quyền trên thị trường hàng hóa ta có: MRPL = MR*MPL = w0.
Lúc này đường cầu lao động không trùng với đường MVPL
Doanh nghiệp độc quyền trên thị trường lao động và độc quyền trên thị trường hàng hóa Hãng độc quyền trên thị trường lao động sẽ thể hiện sức mạnh của mình thông qua việc đưa ra mức giá cao hơn hay trả mức tiền lương cao hơn để có thể thu hút lao động về cho doanh nghiệp mình Do đó chi phí cận biên cho số lao động được thuê thêm là:
MCL = w0 + L ∆w/∆L Với w0 là mức tiền lương cân bằng của thị trường
Trang 6Như vậy, nếu chi phí cận biên của lao động được thuê thêm của hãng cạnh tranh hoàn hảo, hãng chấp nhận giá trên thị trường lao động là đường thẳng song song với trục hoành và đi qua điểm có tọa độ (0, w0) thì với hãng độc quyền MCL là đường thẳng dốc lên và điểm xuất phát từ điểm có tọa độ (0, w0)
Doanh nghiệp là độc quyền trên thị trường sản phẩm, giá bán của doanh nghiệp thay đổi theo lượng hàng bán ra nên:
Vì vậy, đường doanh thu cận biên của lao động (MRP L ) là đường cầu của doanh nghiệp về lao động
Thị trường đầu
ra độc quyền
Trường hợp doanh nghiệp độc quyền trên thị trường hàng hóa và CTHH trên thị trường hàng hóa
Ta có: MRPL = MPL.MR = MPL.P = MVPL
∆π = ∆TR – ∆TC = MPL.MR – (w0 + L ∆w/∆L) Lúc này, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ lựa chọn thuê lao động tại mức:
MRPL = MPL.MR = MPL.P = MVPL = w0 + L ∆w/∆L Hay MRPL = MCL
Như vậy, nhìn chung qua các phân tích cho thấy lượng lao động mà hãng lựa chọn ở mỗi mức tiền lương sẽ phải thỏa mãn MCL = MRPL Tương tự như đường cầu về một loại hàng hóa, ứng với một mức giá sẽ có một lượng cầu về hàng hóa nằm trên đường cầu Vậy đường MRPL là đường cầu về lao động của hãng
Trang 7Đường MRPL cũng tuân theo luật cầu vì nó có độ dốc âm, như đồ thị chúng ta thấy khi tiền lương tăng cầu về lao động của doanh nghiệp giảm Ngoài ra chúng ta có thể chứng minh độ dốc của đường MRPL là độ dốc âm như sau:
MRPL = MR.MPL
Do khi số lượng lao động tăng lên theo quy luật hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào có
xu hướng giảm dần nên ta có MPL giảm dần Giá trị MR sẽ là không đổi đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo và có xu hướng giảm dần khi thị trường không phải là CTHH vì MR giảm khi sản lượng tăng lên
b Các yếu tố tác động đến cầu về lao động
Giá của sản phẩm đầu ra
Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo về lao động:
MRPL = P.MPL P↑ MRPL↑ Khi đó đường cầu về lao động dịch chuyển sang phải
Đối với thị trường độc quyền về lao động:
Thay đổi công nghệ
Tiến bộ công nghệ làm tăng sản phẩm cận biên của lao động (MPL), do đó làm tăng MRPL, đường MRPL (đường cầu) dịch chuyển sang phải, nhu cầu lao động tăng
P↓, công nghệ ↓, NSLĐ ↓
Mức tiền lương trả cho người lao động thay đổi
Khi tiền công của lao động tăng lên, số người lao động sẵn sàng tham gia lao động tăng lên nhưng doanh nghiệp lại thuê ít lao động hơn Mức tiền lương trả cho người lao động thay đổi sẽ dẫn tới sự trượt dọc trên đường cầu về lao động
Ví dụ, sự trượt dọc từ B đến A như trên đồ thị đường cầu lao động DL
Trang 87.2.2 Cung về lao động
Cung lao động được định nghĩa là lượng lao động mà người lao động sẵn sàng và có khả năng cung ứng tại các mức tiền công khác nhau trong một giai đoạn nhất định (giả định tất cả các yếu tố đầu vào khác không đổi)
Để hiểu rõ về cung lao động, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là lực lượng lao động Lực lượng lao động là những người ở trong độ tuổi lao động, đang làm việc hoặc đang tìm kiếm việc làm trong xã hội
Cũng giống như định nghĩa về cung hàng hóa và dịch vụ, cung lao động cũng bao gồm hai hành vi của người bán sức lao động là sẵn sàng và có khả năng cung ứng Chúng ta cũng phải xem xét đến bối cảnh thời gian và không gian khác nhau khi xác định cung về lao động vì tại những khoảng thời gian và không gian khác nhau thì cung về lao động có thể là khác
a Cung về lao động của cá nhân
Mỗi người lao động là một chủ thể cung ứng sức lao
động trên thị trường Cung về lao động của cá nhân
phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Các áp lực về mặt tâm lý, xã hội Các áp lực về
mặt tâm lý, xã hội làm cho con người cần lao
động, đấu tranh đòi quyền được lao động
Áp lực về mặt kinh tế Áp lực về mặt kinh tế buộc
con người phải lao động để có tiền trang trải cho
những nhu cầu mà họ cần
Phạm vi thời gian Khả năng lao động của một cá
nhân bị chi phối rất nhiều bởi phạm vi thời gian Giới hạn về thời gian giới hạn cao nhất mà người lao động phải phân chia cho cả lao động và nghỉ ngơi có thể là thời gian của một ngày, một tuần, một tháng,…
Lợi ích cận biên của lao động Lợi ích cận biên của người lao động là lợi ích của các hàng hóa, dịch vụ mua được bằng tiền lượng của một thời gian lao động thêm Lợi ích cận biên của lao động cũng tuân theo quy luật giảm dần Khi thời gian lao động tăng lên thì lợi ích cận biên giảm dần Khi MUL < MUF (lợi ích cận biên của nghỉ ngơi) người lao động có xu hướng thay thế lao động bằng nghỉ ngơi
Tiền công: Tiền công là giá cả của sức lao động, là giá trị thu nhập trả cho một thời gian lao động Tiền công quyết định đến lợi ích của lao động, do đó nó ảnh hưởng đến quyết định cung ứng sức lao động của mỗi người lao động
Mức tiền công cao hơn và nếu được tự do trong việc lựa chọn số giờ làm việc, thì tác động tới cung lao động có thể xảy ra hiệu ứng:
o Hiệu ứng thay thế: Khi tiền công ở mức thấp và bắt đầu có sự tăng lên sẽ thúc đẩy người lao động làm việc nhiều hơn vì mỗi giờ làm việc thêm bây giờ họ được trả nhiều hơn Điều này có nghĩa là mỗi giờ nghỉ sẽ trở nên đắt hơn, người lao động
có động cơ làm việc thay cho nghỉ ngơi, tương ứng với đoạn AB trên đường SL
o Hiệu ứng thu nhập: Với mức tiền công cao hơn, thu nhập của người lao động cũng cao hơn Với mức thu nhập người lao động lại muốn tiêu dùng nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, người tiêu dùng cũng muốn có nhiều thời gian hơn để nghỉ
Tuyển dụng việc làm
Trang 9ngơi Vì nghỉ ngơi mới tiêu dùng được nhiều hàng hóa dịch vụ như đi mua sắm,
du lịch, giải trí,… Điều này làm cho cung lao động giảm, tương ứng với đoạn BC trên đường SL
w
L 0
A
B C
(2) (1)
(2)
(1)
b Cung lao động của ngành
Cung lao động của ngành cũng tuân theo cách xác định cung lao động thị trường, là sự cộng theo chiều ngang đường cung lao động của các cá nhân Nói chung trên thị trường lao động do hiệu ứng thay thế lấn át hiệu ứng thu nhập nên tong thực tế, đường cung lao động của ngành là đường dốc lên về phía phải và có độ dốc dương Tuy nhiên, tùy thuộc vào ngành yêu cầu trình độ của người lao động như thế nào và tùy thuộc vào thời gian
mà cung lao động của ngành là khác nhau
Đối với ngành yêu cầu lao động trình độ phổ thông, khi mức lương được trả tăng lên thì
sẽ có một lượng lớn lao động muốn tham gia lao động Đường cung về lao động của ngành là đường tương đối thoải Tuy nhiên, đối với ngành yêu cầu trình độ lao động đặc biệt thì một sự thay đổi nhỏ trong mức lương không làm tăng đáng kể lượng lao động muốn tham gia cung ứng Vì vậy, đường cung lao động của ngành này tương đối dốc
w
L 0
SL
w1
w2
L2 L1Ngành yêu cầu lao động
phổ thông
Ngành yêu cầu lao động trình độ cao
Thị trường lao động có đường cung trong ngắn hạn và dài hạn là khác nhau Trong ngắn hạn, cung về lao động cho một ngành là tương đối ổn định, đường cung có chiều hướng dốc hơn như SLN Trong dài hạn, nguồn cung của một nghề kỹ thuật nào đó có thể thay
Trang 10đổi và có sự dịch chuyển về lao động giữa các ngành khiến cung về lao động cho một ngành thay đổi Do đó, đường cung dài hạn có chiều hướng thoải hơn, được biểu diễn bằng hình SLD
w
L
SLN
SLD
Như vậy, cung về lao động cho một ngành phụ thuộc chủ yếu vào tiền lương thực tế của ngành đó; mức độ khan hiếm và trình độ của lao động thuộc một ngành cụ thể quyết định đến độ dốc của đường cung về lao động của ngành đó
7.2.3 Cân bằng thị trường lao động
Tương tự như thị trường về hàng hóa và dịch vụ, giá của lao động phụ thuộc vào cung và cầu về lao động Khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng, doanh nghiệp sẽ thuê số lao động mà họ cho rằng sẽ đem lại lợi nhuận tại mức tiền công cân bằng Nghĩa là doanh nghiệp sẽ thuê lao động theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận “họ sẽ thuê cho đến khi doanh thu cận biên của lao động bằng với tiền lương thị trường” Cho nên tiền công
w phải bằng doanh thu cận biên (MRPL = DL) của lao động khi cung và cầu ở trạng thái cân bằng
w
L
SL
DL0
w0
L0E
Khi cung, cầu thay đổi sẽ làm cho điểm cân bằng trên thị trường lao động thay đổi, và tiền lương cũng như mức lao động được thuê cũng thay đổi Chúng ta có thể xem xét sự thay đổi của trạng thái cân bằng trên thị trường lao động thông qua các trường hợp như
sự thay đổi trạng thái cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa
Trang 11Thị trường lao động có dấu hiệu phục hồi
Trong xu hướng các doanh nghiệp đang nỗ lực vượt
khó để ổn định sản xuất, nhu cầu tuyển dụng lao động
đã có dấu hiệu gia tăng Các trung tâm giới thiệu việc
làm, sàn giao dịch việc làm và web tuyển dụng đang
nhộn nhịp trở lại sau một thời gian dài trầm lắng
Cầu lao động tăng
Theo báo cáo của vietnamworks.com, cầu nhân lực
trực tuyến trong quý II đã tăng 36% so với quý I, nhu
cầu tuyển dụng trong quý III cũng đang có những dấu
hiệu đáng khích lệ Cùng chung nhận định này, Trung
tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM (FALMI) cũng khẳng định thị trường lao động đang có những dấu hiệu khởi sắc khá chắc chắn Trong 6 tháng cuối năm, TPHCM cần tuyển dụng khoảng 130.000 lao động
Những dấu hiệu khởi sắc trên thị trường lao động được củng cố thêm bởi kết quả khảo sát
kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong 6 tháng còn lại của năm
2013 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành, theo đó dự kiến có 66,7% doanh nghiệp giữ nguyên quy mô, 22% có thể mở rộng quy mô, 10,9% giảm quy mô
và chỉ có 0,3% có thể ngừng hoạt động
Những chính sách của Chính phủ nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn như tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, giảm lãi suất vay, gói hỗ trợ 30.000 tỉ nhằm cứu ngành bất động sản, đang chặn đà xuống dốc của nền kinh tế, tiếp thêm sinh lực cho các doanh nghiệp và gián tiếp tạo ra những chuyển biến tích cực cho thị trường lao động
Khảo sát gần 1.500 doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng trong tháng 7, FALMI nhận thấy cầu lao động tăng 38% so với tháng 6 Mức tăng ở tất cả các trình độ lao động, nhưng tăng mạnh nhất là trình độ lao động trung cấp (tăng 72%) Nhu cầu tuyển dụng tập trung ở một
số ngành như marketing, nhân viên kinh doanh, bán hàng, dịch vụ phục vụ, công nghệ thực phẩm, du lịch, nhà hàng, khách sạn, kho vận, xuất nhập khẩu, công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử 5 ngành nghề có nhu cầu nhân lực tăng cao nhất là kế toán – tài chính, hành chính – thư ký, kỹ thuật ứng dụng, bán hàng và công nghệ thông tin
Một dấu hiệu nữa là số doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch việc làm tại Hà Nội tăng mạnh Phiên ngày 10.8 có tới 102 đơn vị, đăng ký tuyển dụng trên 3.200 người, trong khi mức trung bình trong quý I chỉ đạt 70 doanh nghiệp với mức tuyển dụng rất thấp
Ông Vũ Trung Chính – Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội – cho biết: “Thị trường lao động có dấu hiệu phục hồi, nhu cầu tuyển dụng đang tăng, nhưng mức độ còn chậm Hiện tham gia sàn giao dịch việc làm chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên nhu cầu tuyển còn ít Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tập đoàn kinh tế lớn trước đây tuyển vài trăm lao động trong mỗi phiên, giờ vẫn đang gặp khó nên chưa thấy quay lại sàn”
Cung lao động cũng tăng nhẹ (tăng 1,8%), tập trung chủ yếu ở các ngành kế toán – kiểm toán (42,6%), nhân viên kinh doanh – bán hàng (11,6%), Mức tăng được tạo ra chủ yếu
từ nguồn sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp mới ra trường.
Doanh nghiệp vẫn thận trọng
Theo UBND TPHCM, mặc dù tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, song sản xuất kinh doanh
đã phục hồi khá tốt trong 6 tháng đầu năm nay Trong 26 ngành sản xuất, có tới 22 ngành
có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung GDP toàn thành phố 6 tháng đầu năm tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tăng 6,2%, chỉ số phát triển công nghiệp tăng 5,2%, chỉ số tồn kho giảm 0,26%
Tuy nhiên, bên cạnh đà phục hồi nói trên, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp loay hoay trong tình trạng khó khăn, phải tạm ngừng sản xuất hoặc giải thể Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm
Ứng viên tìm việc tại một trung tâm giới thiệu việc làm
Trang 12đã có 26.324 doanh nghiệp ngừng hoạt động, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước Các chuyên gia dự đoán 6 tháng vừa qua chính là điểm đáy của thị trường và những dấu hiệu cho thấy 6 tháng tiếp theo sẽ có những chuyển biến tích cực hơn
Những tín hiệu đáng mừng này khiến thị trường lao động rục rịch Tuy nhiên, theo ông Trần Anh Tuấn – Phó Giám đốc FALMI – thì hiện các doanh nghiệp đang từng bước sắp xếp, tuyển dụng lại lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp mới thành lập cũng cân nhắc chặt chẽ cơ cấu lao động để tuyển dụng cho hợp lý Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể ổn định sản xuất nên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tuyển dụng lao động Không
có sự “khát” lao động như trước đây Trái lại các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân lực chứ không tuyển dụng ồ ạt
Nguồn: http://laodong.com.vn/viec–lam/thi–truong–lao–dong–co–dau–hieu–phuc–hoi–
133729.bld
7.2.4 Tiền công tối thiểu
Để đảm bảo cho một số lực lượng lao động trên thị trường không phải nhận mức lương quá thấp, vì mục tiêu công bằng xã hội và đảm bảo cuộc sống cho người lao động, Chính phủ một số nước đưa ra quy định về tiền lương tối thiểu
Tiền lương/ tiền công tối thiểu là mức lương thấp nhất mà Chính phủ quy định người sử dụng lao động phải trả cho người lao động Các doanh nghiệp trả công cho lao động không được thấp hơn mức giá quy định này Thông thường thì mức lương tối thiểu cao hơn mức giá cân bằng trên thị trường lao động Tương tự như trường hợp giá sàn:
w1
Ban đầu, thị trường lao động cân bằng tại E0 với lượng lao động cân bằng là L0 còn mức lương cân bằng trả cho người lao động là w0 Khi chính phủ quy định tiền lương tối thiểu, giả sử w1, cầu lao động là L1 nhưng cung là L2, thị trường dư thừa 1 lượng lao động, một bộ phận người lao động bị thất nghiệp
Như vậy, với mục đích tốt nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động, Chính phủ phải
áp dụng mức lương tối thiểu, nhưng quy định này lại khiến cho một bộ phận người lao động trên thị trường bị thất nghiệp
7.3 Thị trường vốn
7.3.1 Vốn và các hình thức của vốn
Vốn là lượng trang thiết bị và cơ sở hạ tầng sử dụng trong quá trình sản xuất, nó được hiểu là vốn hiện vật của doanh nghiệp Như vậy, trong nền kinh tế thì vốn thể hiện sự
Trang 13tích lũy hàng hóa được sản xuất ra trong quá khứ, hiện đang được sử dụng để sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ mới
Vốn hiện vật là những hàng hóa được sản xuất ra không vì mục đích tiêu dùng cuối cùng
mà được làm ra để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác Vốn hiện vật bao gồm: Máy móc, thiết bị, đường ray xe lửa, trường sở, nhà làm việc, kể cả những đồ dùng lâu bền, các nguyên nhiên, vật liệu dự trữ cho quá trình sản xuất và kinh doanh
Đặc điểm cơ bản nhất của vốn hiện vật thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất Vốn hiện vật có thể mua, bán hay cho thuê nên nó phải có giá Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình, nó chỉ là phương tiện được sử dụng để mua các yếu tố sản xuất, nhằm tạo ra hàng hóa và dịch vụ Đây chính là tiền và các tài sản khác tương đương tiền (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi )
Để đảm bảo đủ vốn cung cấp cho quá trình sản xuất, doanh nghiệp có thể tự mua sắm toàn bộ hoặc đi thuê vốn hiện vật và cả vốn tài chính Đối với vốn tài chính, để thuê được nó, người đi thuê phải trả cho người cho thuê một khoản tiền thuê được gọi là lãi suất mà chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể trong phần tiếp theo
7.3.2 Lãi suất và giá trị hiện tại của vốn
Tiền lãi là số tiền phải trả để sử dụng một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định Đây là số tiền phải trả khi đi thuê vốn tài chính Để đơn giản khi xác định lượng tiền này, người ta sử dụng thuật ngữ “lãi suất” Lãi suất là tỷ lệ giữa số tiền lãi và lượng tiền vay tính theo phần trăm Nó chính là giá của vốn
Giả sử chúng ta vay K đồng với lãi suất hàng năm là i, ta có thể biểu diễn lượng tiền mà người cho vay vốn thu được khi cho vay K đồng sau n năm với lãi suất i bằng biểu thức:
X = K.(1 + i)nHay số tiền lãi mà người đi vay phải trả là: K.(1 + i)n – K Từ biểu thức
Giá trị hiện tại của vốn:
Giá trị hiện tại của một khoản tiền tại một ngày nào đó trong tương lai là số tiền nếu đem gửi hoặc cho vay hôm nay sẽ thu được đúng khoản tiền vào ngày tương lai đó
Ví dụ: Có 100 triệu USD đem cho vay, sau 1 năm thu được cả gốc lẫn lãi là 110 triệu USD, thì 100 triệu USD được gọi là giá trị hiện tại của 110 triệu USD sau 1 năm Giá trị
110 được gọi là giá trị tương lai của 100 triệu USD sau 1 năm
Gọi NFV là giá trị tương lai của khoản đầu tư và NPV là giá trị hiện hành của luồng thu nhập trong tương lai (giá trị hiện tại của vốn), ta có thể viết lại công thức tính giá trị hiện tại của vốn như sau:
Trang 147.3.3 Cung và cầu trên thị trường vốn
a Cầu về dịch vụ vốn
Cũng giống như cầu về lao động, cầu về vốn là số lượng đơn vị vốn mà người thuê sẵn sàng và có khả năng thuê ở các mức tiền thuê khác nhau trong một thời gian nhất định và các yếu tố khác là không đổi
Cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp
Cũng giống như yếu tố đầu vào lao động, doanh nghiệp quyết định thuê bao nhiêu vốn phải so sánh giữa chi phí cận biên của dịch vụ vốn và doanh thu cận biên họ thu được từ dịch vụ vốn Nếu mức chênh lệch này là tối ưu thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận tối đa Để hiểu rõ hơn về cầu dịch vụ vốn chúng ta nghiên cứu một số khái niệm sau: Doanh thu cận biên của dịch vụ vốn là mức gia tăng về tổng doanh thu do sự gia tăng một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng
K
TRMRP
K
Chi phí cận biên của việc sử dụng vốn là mức gia tăng của tổng chi phí do sự gia tăng một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng
K
TCMC
K
Theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận nói chung, nếu doanh nghiệp là cạnh tranh trên thị trường vốn thì chi phí cận biên của vốn luôn bằng tiền thuê vốn (R)
MCK = R Tương tự như cách phân tích về cơ sở của đường cầu lao động, đường cầu về dịch vụ vốn là đường MRPK
Vì với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo trên thị trường vốn thì nguyên tắc thuê vốn tối
ưu tại điểm:
MRPK = R Nếu doanh nghiệp là độc quyền trên thị trường về dịch vụ vốn thì doanh nghiệp sẽ thuê dịch vụ vốn cho đến khi doanh thu cận biên thu được từ việc sử dụng dịch vụ vốn này đúng bằng với chi phí biên mà doanh nghiệp đã phải trả khi sử dụng dịch vụ vốn
MRPK = MCK
Như vậy, cũng giống như đường cầu về lao động, đường cầu về vốn của hãng cũng chính là đường doanh thu biên về dịch vụ vốn MRPK)
MRPK, r
Trang 15Đường cầu này có thể thay đổi sang phải hoặc sang trái (cầu tăng hoặc giảm) Nó phụ thuộc vào các yếu tố:
Giá của hàng hóa hay dịch vụ đầu ra: Giá sản phẩm của hãng tăng giá sẽ làm tăng tổng doanh thu, làm cho doanh thu biên từ việc sử dụng vốn có giá trị lớn hơn Đường cầu dịch vụ vốn dịch chuyển sang phải
Sự tăng mức độ các yếu tố sản xuất khác (chủ yếu là lao động) mà vốn kết hợp với chúng để tạo ra sản phẩm, làm tăng năng suất của vốn
Ví dụ, tăng lao động để sản xuất ra sản phẩm trong khi doanh nghiệp muốn giữ nguyên sản lượng đầu ra sẽ khiến cho cầu về dịch vụ vốn giảm
Tiến bộ kỹ thuật làm tăng năng suất của vốn hiện vật đối với các yếu tố kết hợp khác, các đầu vào của doanh nghiệp, khiến cầu về vốn hiện vật tăng
Ngoài ra sự tăng lên của lãi suất sẽ dẫn tới sự trượt dọc trên đường cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp
Đối với cầu về dịch vụ vốn của ngành cũng được xác định tương tự như cầu lao động của ngành là tổng cầu về dịch vụ vốn của các doanh nghiệp trong ngành Nó được xác định bằng cách cộng theo chiều ngang đường MRPK của các doanh nghiệp
b Cung về dịch vụ vốn
Trong ngắn hạn, cung của các tài sản vốn như máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị với các dịch vụ vốn được cung cấp là cố định do không thể thay đổi ngay được những tài sản vốn này trong ngắn hạn Bởi vậy, đường cung của các dịch vụ vốn trong ngắn hạn là đường thẳng đứng Nó thể hiện mức cung về các dịch vụ vốn trong ngắn hạn là cố định