1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

27 5,8K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 703,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài này, người học sẽ được nghiên cứu 4 nội dung chính: • Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh hoàn hảo (CTHH) các đặc trưng của thị trường CTHH và của các hãng CTHH. • Phân tích các điều kiện lựa chọn mức sản lượng tối ưu của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn. • Xác định lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn. • Phân tích đường cung của hãng và của ngành CTHH trong ngắn hạn và dài hạn.

Trang 1

 Phân tích các điều kiện lựa chọn mức sản lượng tối ưu của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn

 Xác định lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn

 Phân tích đường cung của hãng và của ngành CTHH trong ngắn hạn và dài hạn

 Phân biệt được hãng CTHH, thị trường

hãng CTHH, và các đặc trưng của thị

trường CTHH

 Chứng minh được điều kiện tối đa hóa

lợi nhuận của hãng CTHH

 Xác định được khả năng sinh lợi của

hãng CTHH, tìm điểm hòa vốn, điểm

đóng cửa sản xuất của hãng CTHH

trong ngắn hạn và dài hạn

 Xác định được đường cung của hãng

trong ngắn hạn và của ngành CTHH

Thời lượng học

8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận

 Đọc giáo trình và tài liệu liên quan trước lúc nghe giảng và thực hành

 Sử dụng tốt các phương pháp và công

cụ trong toán học (bao gồm kiến thức đại số và hình học lớp 12) để phân tích và nghiên cứu bài học

 Thực hành thường xuyên và liên tục các bài tập vận dụng để hiểu được lý thuyết và bài tập thực hành

BÀI 5: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO

Trang 2

Các nhà kinh tế cho rằng thị trường cạnh tranh hoàn hảo có khả năng mang lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng, ngoại trừ các trường hợp đặc biệt (thường nhằm mang lại sự phát triển và công bằng xã hội, như kéo điện về miền núi chẳng hạn) bởi trong đó có rất nhiều người mua, người bán và họ không đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm Sản phẩm là đồng nhất, nguồn tài nguyên có khả năng di động hoàn hảo và các tổ chức kinh tế có kiến thức tốt về điều kiện thị trường Do đó các nhân tố tham gia thị trường sẽ sản xuất và mua bán dựa trên giá cả cân bằng giữa tổng nguồn cung ứng và tổng nhu cầu Thị trường từ đó có thể phục vụ tổng số lượng cao nhất với chi phí thấp nhất; có thể tự điều chỉnh, mang lại lợi ích công bằng giữa các ngành nghề

và nhân tố tham gia

Vậy thị trường canh tranh hoàn hảo có thể thấy trong thực tế hay không? Lý thuyết này được áp dụng thực tiễn qua việc xây dựng thị trường cạnh tranh tự do với sự can thiệp hợp lý của Chính phủ Chính phủ hướng tới sự hoàn hảo bằng cách tìm ra các biện pháp can thiệp phù hợp Họ cung cấp nguồn thông tin thị trường đầy đủ, đặt ra các chế tài để ngăn chặn sự phá hoại bất công,

hỗ trợ mang lại sự dịch chuyển cân bằng về tài nguyên giữa các khu vực, xác định các kế hoạch khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới,… nhằm liên tục nâng cấp thị trường và tránh những thiếu sót mà thị trường này mang lại Trong nội dung bài 5, chúng ta sẽ nghiên cứu về thị trường cạnh tranh hoàn hảo (CTHH) để thấy được đặc trưng của thị trường này cũng như các quyết định của các hãng CTHH cả trong ngắn hạn và dài hạn

5.1 Đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

5.1.1 Khái niệm thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Khi nghe tới thuật ngữ cạnh tranh đặc biệt là cạnh tranh kinh tế, chúng ta sẽ có sự liên hệ thực tế và cho rằng: cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân) nhằm giành lấy những vị thế trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình với các hình thức mà chúng ta có thể thấy như: cạnh tranh về giá, cạnh tranh phi giá cả như khuyến mại, quảng cáo, dịch vụ sau bán

Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp

Nhưng thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà chúng ta sẽ nghiên cứu là thị trường trong đó

có nhiều người mua, nhiều người bán và không người mua, người bán nào có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường

Ví dụ: Thị trường các mặt hàng nông sản, phế liệu, video cho thuê, đĩa trắng,…

Mặc dù thuật ngữ “cạnh tranh” có xuất hiện nhưng cạnh tranh giữa các hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo khác hẳn với khái niệm về cạnh tranh nói chung mà chúng ta thường thấy Vì họ không cạnh tranh thông qua giá và cũng không có ý định đánh bại những đối thủ của mình thông qua doanh số Để có thể lý giải rõ về điều này chúng ta sẽ

đi vào nghiên cứu các đặc trưng của thị trường CTHH Qua đó, chúng ta sẽ phân biệt rõ được thị trường CTHH và hãng CTHH

Trang 3

5.1.2 Đặc trưng của thị trường CTHH

Đặc trưng quan trọng nhất của thị trường cạnh tranh

hoàn hảo là mỗi một hãng trong một thị trường cạnh

tranh hoàn hảo đều cư xử như một người chấp nhận

giá Các hãng cạnh tranh chấp nhận mức giá thị

trường của sản phẩm, mức giá được xác định bởi

điểm giao của đường cung và đường cầu đã cho

Hành vi nhận giá này là dấu hiệu của một thị trường

cạnh tranh Trong tất cả các cấu trúc thị trường khác –

độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm, các hãng có được sức mạnh đặt

giá ở một mức độ nào đó Ba đặc trưng xác định cạnh tranh hoàn hảo:

 Các hãng cạnh tranh hoàn hảo là những người chấp nhận giá bởi vì mỗi một hãng cá biệt trên trên thị trường là quá nhỏ so với toàn bộ thị trường nên hãng không thể gây ảnh hưởng đến giá thị trường của hàng hoá hay dịch vụ hãng sản xuất ra khi thay đổi

sản lượng của hãng Tất nhiên, nếu tất cả các nhà sản xuất hành động cùng nhau,

những thay đổi về số lượng chắc chắn sẽ tác động đến giá thị trường Nhưng nếu là cạnh tranh hoàn hảo thì mỗi nhà sản xuất là quá nhỏ nên sự thay đổi của từng nhà sản xuất sẽ đều không quan trọng

 Tất cả các hãng sản xuất một loại hàng hoá đồng nhất hay được tiêu chuẩn hoá hoàn hảo Sản phẩm của một hãng này trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo giống với sản phẩm của mọi hãng khác Điều kiện này đảm bảo rằng những người mua bàng quan với hãng sản xuất ra sản phẩm họ mua Những sự khác biệt sản phẩm, cho dù là thực hay ảo, là không thể xảy ra trong cạnh tranh hoàn hảo

 Việc gia nhập và rút lui khỏi thị trường cạnh tranh

hoàn hảo là không hạn chế Không hề có những

rào cản nào ngăn cản các hãng mới gia nhập thị

trường và không có điều gì ngăn cản các hãng đang

tồn tại trên thị trường rút lui khỏi thị trường

Mặc dù có tồn tại thuật ngữ “tính cạnh tranh”, nhưng

các hãng cạnh tranh hoàn hảo không nhận thấy bất kỳ

sự cạnh tranh nào giữa họ; điều đó có nghĩa là không tồn tại sự cạnh tranh trực tiếp nào giữa các hãng Khái niệm cạnh tranh hoàn hảo về mặt lý thuyết hoàn toàn trái ngược với khái niệm cạnh tranh nói chung được thừa nhận Bởi vì các hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo sản xuất các sản phẩm giống nhau và đứng trước một mức giá do thị trường quyết định, nên các nhà quản lý của các hãng cạnh tranh hoàn hảo không có sự khích lệ nào để “đánh bại những đối thủ của họ” bằng doanh số vì mỗi một hãng có thể bán mọi thứ mà hãng muốn Các hãng chấp nhận giá không thể cạnh tranh bằng bất kỳ một loại chiến lược định giá nào

Các thị trường không hoàn toàn đáp ứng đủ cả ba điều kiện đã được nêu ra với cạnh tranh hoàn hảo lại thường gần giống với thị trường cạnh tranh hoàn hảo nên các hãng cư

xử như thể họ là những nhà cạnh tranh hoàn hảo Những nhà quản lý trong lớp MBA cho các viên chức cao cấp đã được tham khảo như đã giới thiệu trong phần mở đầu của bài này không hoạt động trong những thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nhưng họ phải đối mặt với một số lượng đủ lớn các hãng sản xuất hàng hoá gần như tương tự nhau trên

Cuộc đua chưa thấy điểm dừng

Cạnh tranh hoàn hảo

Một cấu trúc thị trường tồn tại khi (1) các hãng là người chấp nhận giá, (2) tất cả các hãng sản xuất một sản phẩm đồng nhất, và (3) việc gia nhập và rút lui là không hạn chế

Trang 4

thị trường Trong đó sự hạn chế gia nhập yếu ớt không lớn, và do vậy họ tự xem bản thân như là những người chấp nhận giá Mặc dù chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy trong phần tiếp theo và trong chương tiếp theo, nhưng mức độ cạnh tranh các nhà quản lý phải đối mặt được phản ánh trong hệ số co dãn của cầu của hãng Các quyết định tối đa hoá lợi nhuận được phát triển trong chương này được áp dụng ngay cả với các hãng không hoàn toàn cạnh tranh hay cạnh tranh hoàn hảo

5.2 Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo

Hãng CTHH không có sức mạnh thị trường, là người “chấp nhận giá” Hãng không thể bán với giá cao hơn mức giá trên thị trường và không có lý do để bán với mức giá thấp hơn mức giá thị trường Nếu hãng bán với giá cao hơn sẽ không ai mua sản phẩm của hãng, vì sản phẩm của các hãng cũng giống hệt và người tiêu dùng sẽ mua của hãng khác Khi hãng bán giá thấp hơn vì số lượng cung ứng của hãng là rất nhỏ so với cầu thị trường Hãng bán với giá thấp hơn sẽ bị thiệt, lợi nhuận giảm Hãng phải hoạt động tại mức giá được ấn định trên thị trường nhưng hãng có thể bán bất cứ mức sản lượng nào

mà hãng muốn ở mức giá thị trường Do đó như chúng ta đã phân tích từ mối quan hệ giữa giá và doanh thu biên Đường cầu của hãng là đường cầu nằm ngang và trùng với đường doanh thu biên và doanh thu bình quân như đồ thị

Hình 5.1 Đường cầu của hãng CTHH và của thị trường CTHH

Mức giá được xác định ở đây là mức giá cân bằng của thị trường Do hãng CTHH là hãng chấp nhận giá thị trường

Ghi nhớ

Đường cầu của một hãng cạnh tranh chấp nhận giá là đường nằm ngang hay hoàn toàn co dãn ở mức

giá được xác định bởi điểm giao của các đường cung và đường cầu thị trường Vì doanh thu cận biên

bằng với giá của một hãng cạnh tranh, nên đường cầu cũng đồng thời là đường doanh thu cận biên (nghĩa là D = MR) Các hãng chấp nhận giá có thể bán mọi thứ họ muốn ở mức giá thị trường Mỗi đơn

vị được bán thêm sẽ làm tăng tổng doanh thu thêm một lượng bằng với giá bán

5.3 Xác định lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn

5.3.1 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận

Qua việc phân tích nội dung bài 4, chúng ta có điều kiện chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp: MR = MC Đối với hãng cạnh tranh hoàn hảo, như chúng ta đã phân tích trong thị trường CTHH là hãng chấp nhận giá và sản lượng bán ra không phụ thuộc vào giá Nên đối với hãng CTHH giá và doanh thu cận biên trùng nhau Vì vậy, đối với hãng cạnh tranh hoàn hảo thì điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng sẽ là: P = MC

Trang 5

Tối đa hóa lỗ

Tối đa hóa lợi nhuận

Hình 5.2 Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH

Qua việc phân tích tương tự trường hợp tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp Đối với hãng CTHH, không phải mọi mức sản lượng có P = MC, hãng CTHH đều tối đa hóa lợi nhuận Mà hãng tối đa hóa lợi nhuận tại điểm mà đường doanh thu biên cắt với chi phí biên khi MC có độ dốc dương hay đang đi lên Trên đồ thị chúng ta có thể thấy được

là điểm A Ngoài cách chứng minh thông qua hình học chúng ta có thể minh chứng thông qua khảo sát đồ thị hàm lợi nhuận Chúng ta sẽ công nhận các kết quả nghiên cứu trước của các nhà kinh tế về đường chi phí TC mà chúng ta vẫn vẽ

TC = aQ3 – bQ2 + cQ + d Trong đó chúng ta hoàn toàn giải thích được về dấu của các tham số khi tiến hành khảo sát hàm lợi nhuận hệ số a > 0 do hàm MC là hàm bậc hai có hình lòng chảo Ngoài ra, với hình dạng của đường MC, ta có MC đạt cực trị tại Q = 2b/(3a) do Q > 0, a > 0 nên

b > 0 Ngoài ra đường MC không cắt trục hoành điều này cho thấy phương trình MC = 0

là vô nghiệm và chúng ta xác định được dấu của c > 0 thông qua ∆’ = b2 – 3a.c < 0 Vậy

c > 3a/b Hệ số d mang dấu dương thể hiện cho chi phí cố định trong doanh nghiệp

b a

Hình 5.3 Đường chi phí cận biên

Qua việc xem xét dấu của các hệ số chúng ta có thể khảo sát hàm lợi nhuận và tìm ra được điểm tối đa hóa lợi nhuận qua đồ thị sau:

Trang 6

Q1 Q* Q2

TC

TRC,R

π max

Hình 5.4 Xác định lợi nhuận cực đại của hãng CTHH

Ngoài ra chúng ta có, lợi nhuận của hãng CTHH:

 = TR – TC = P.Q – TC Điều kiện cần để tối đa hóa lợi nhuận (πmax):

5.3.2 Khả năng sinh lợi của hãng CTHH trong ngắn hạn

a Xét giá thị trường P 0 > ATC min

Khi giá thị trường P0 > ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q* Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: *

Trang 7

TCLN

Hãng có lãi

Hình 5.5 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 > ATC min

b Xét giá thị trường P 0 = ATC min

Khi giá thị trường P0 = ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q* Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: *

Hình 5.6 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 = ATC min

c Xét giá thị trường AVC min < P 0 < ATC min

Khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q* Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: TR = P × Q* = *

0

OP EQSTổng chi phí của hãng là TC = ATC x Q* = SOABQ *

Trang 8

Vậy khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin thì hãng bị lỗ

Khi bị lỗ hãng có tiếp tục sản xuất?

So sánh phần thua lỗ và chi phí cố định:

OMNQTVC AVC Q  NQ Q S

 Chi phí cố định: TFC TC TVC S   ABNM

Nếu hãng sản xuất thì hãng lỗ

0 ABEP

S Nếu ngừng sản xuất hãng bị thua lỗ bằng chi phí

cố định là

0 ABNM ABEP

thua lỗ

AVCAC

P0

Tối thiểulỗ

Hình 5.7 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường AVC min < P 0 < ATC min

d Xét giá thị trường P ≤ AVC min

Giả sử giá thị trường P0 AVCmin Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là:

0 ABEP

S So sánh phần thua lỗ với chi phí cố định:

0

OP EQTVC AVC Q  EQ Q S

 Chi phí cố định:

0 ABEPTFC TC TVC S   = phần thua lỗ nếu hãng tiếp tục sản xuất

Do đó, hãng lỗ toàn bộ chi phí cố định

Trang 9

Hình 5.8 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 = AVC min

Giả sử lúc này giá thị trường giảm xuống P0 < AVCmin thì hãng không chỉ lỗ toàn bộ chi phí cố định mà còn mất một phần chi phí biến đổi Chúng ta bắt đầu từ P0 AVCminthì hãng bắt đầu tính đến việc đóng cửa Vì thế, E là điểm đóng cửa của hãng Sở dĩ gọi E là điểm đóng cửa vì nếu giá nhỏ hơn mức giá ở E hay P < AVCmin, khi đó hãng không chỉ

bị lỗ hết chi phí cố định mà một phần của chi phí biến đổi

AVC AC

Hình 5.9 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 < AVC min

Vậy hãng cạnh tranh không sản xuất nếu giá thấp hơn

chi phí biến đổi trung bình tối thiểu Khi sản xuất, hãng

tối đa hóa lợi nhuận bằng việc lựa chọn mức sản lượng ở

đó giá bằng chi phí biên, ở mức sản lượng này, lợi nhuận

là số dương nếu giá cao hơn chi phí trung bình Hãng có

thể sản xuất và chỉ lỗ trong ngắn hạn Tuy nhiên, nếu

hãng dự kiến sẽ tiếp tục bị lỗ trong dài hạn thì nên rời bỏ kinh doanh

Đóng cửa được dùng để chỉ quyết định ngắn hạn trong đó doanh nghiệp không sản xuất

gì cả trong một thời kỳ nhất định do điều kiện hiện tại của thị trường không thuận lợi Rời bỏ được dùng để chỉ quyết định dài hạn của doanh nghiệp về việc rút khỏi thị trường Quyết định ngắn hạn và dài hạn khác nhau vì hầu hết các doanh nghiệp không thể tránh được chi phí cố định trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn họ lại làm được điều

đó Nghĩa là doanh nghiệp tạm thời đóng cửa vẫn chịu chi phí cố định trong khi doanh nghiệp rời bỏ thị trường có thể tiết kiệm được cả chi phí cố định và chi phí biến đổi

Đóng cửa

Điều kiện trong đó một hãng sản xuất sản lượng bằng 0 nhưng vẫn cần phải thanh toán những đầu vào cố định.

Trang 10

Các chi phí nghiên cứu và phát triển có ảnh hưởng đến giá dược phẩm?

Vào tháng 8 năm 1997, chính quyền Clinton tuyên bố rằng các công ty dược được yêu cầu phải kiểm tra xem liệu những loại dược phẩm họ bán cho người lớn cũng an toàn và hiệu quả với trẻ em và buộc phải ghi những liều chỉ định cho trẻ em trên nhãn Người ta đã ước tính được rằng những yêu cầu mới có thể làm tăng chi phí phát triển dược phẩm lên hơn

200 triệu đôla hàng năm Một cựu quan chức của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) trong một bài xã luận trên tờ Wall Street, lưu ý rằng quy định này có thể làm đình lại việc giới thiệu các loại dược phẩm mới và rằng “luật lệ của Chính phủ đặt ra những khoản chi phí khổng lồ cho việc phát triển dược phẩm, những chi phí được chuyển qua cho người tiêu dùng gánh chịu dưới những mức giá cao hơn.” a

Một nhà kinh tế nổi tiếng, trong một bức thư tiếp theo gửi cho WSJ, đồng tình rằng những yêu cầu nghiêm ngặt hơn sẽ làm tăng những chi phí nghiên cứu dự tính trên mỗi đơn vị sản phẩm được giới thiệu b Tuy nhiên, ông không đồng ý rằng những chi phí phát triển dược phẩm được gia tăng sẽ được chuyển qua cho người tiêu dùng gánh chịu dưới những mức giá cao hơn Ông chỉ ra, “Gần như tất cả các chi phí nghiên cứu và phát triển dược phẩm đã phát sinh trước khi có sự chấp thuận của FDA và trước khi liều thuốc đầu tiên từng được bán” Những chi phí như vậy sẽ phải là những chi phí cố định hay chi phí chìm

và không ảnh hưởng đến các quyết định giá hay sản lượng của hãng “Giá trị của một sản phẩm tuỳ thuộc vào khả năng sản phẩm được chấp nhận trên thị trường và các chi phí sản xuất ra một đơn vị sản lượng khác, nhưng không hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc liệu sản phẩm đó được phát minh ra hoặc là sau một nỗ lực lâu dài và gian khổ hoặc là xảy ra một cách tình cờ ngay trong lần thử đầu tiên”

Theo bức thư, việc đặt giá sản phẩm là dựa trên các điều kiện tương lai dự kiến và không phải dựa vào những điều kiện trong quá khứ, mặc dù những chi phí nghiên cứu dự tính có thể ảnh hưởng đến ngân sách nghiên cứu và do đó ảnh hưởng đến số lượng sản phẩm mới trong tương lai Những chi phí đó sẽ không ảnh hưởng đến mức giá phải trả cho các sản phẩm vừa mới được phát minh

Câu trả lời này tăng thêm sự nhấn mạnh của chúng ta trong bài này là các chi phí chìm, vừa phát sinh, và các chi phí cố định, những chi phí cần phải được thanh toán dù cho quyết định nào được đưa ra, không cần được quan tâm đến trong các quyết định giá cả và sản lượng Tuy nhiên, còn có nhiều điều hơn trong câu chuyện này, những điều sẽ được chúng tôi tiếp tục đề cập trong khung minh hoạ 11.2 sau khi chúng tôi giới thiệu lý thuyết về hãng trong dài hạn

a Henry I.Miller, “FDA Loves Kids So Much, It’ll Make You Sick,

”The Wall Street Journal, Aug.18,1997.

b William S.Comanor, “Higher Price Means Better Medicine,”

The Wall Street Journal, Sept.9,1997

5.3.3 Đường cung của hãng CTHH trong ngắn hạn

Đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo cho biết hãng sẽ sản xuất bao nhiêu sản phẩm

ở mỗi mức giá Xét một hãng cạnh tranh hoàn hảo quyết định mức sản lượng cung ứng cho thị trường như thế nào? Vì hãng cạnh tranh là người chấp nhận giá nên MR = P Tại bất kỳ mức giá nào cho trước, sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo cũng được xác định bởi giao điểm của đường giá cả và đường chi phí cận biên Với mức giá P1: ta có P = MC tại A: sản lượng Q1 Với mức giá P2: ta có P = MC tại B: sản lượng Q2 Điểm A và B phản ánh tùy thuộc vào mức giá trên thị trường là bao nhiêu

Trang 11

hãng sẽ sẵn sàng cung ứng tại mỗi mức giá Điểm A, B hay các điểm nằm trên MC phản ánh lượng hàng hóa mà hãng sẵn sàng cung ứng với từng mức giá Tuy nhiên, hãng chỉ sản xuất tại điểm hãng đóng cửa trở lên, tức giá tại mức giá P < AVC min thì sản lượng tối đa hóa lợi nhuận = 0 Do đó, cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo xuất phát từ điểm hãng đóng cửa Vậy đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo là 1 phần đường MC tính

từ điểm đóng cửa trở lên

Giả sử ngành có hai hãng CTHH có hai đường cung của mỗi hãng tương ứng là MC1

và MC2 được thể hiện trên đồ thị Tại mức giá P1 thì hãng 1 bắt đầu cung cấp sản phẩm (Q0 = 0), còn hãng 2 chưa cung cấp sản phẩm Do đó, tổng sản lượng trên thị trường tại mức giá P1 là 0, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (0, P1)

Tại mức giá 5, hãng 1 cung ứng 2, hãng 2 cung ứng 0 Do đó, tổng sản lượng trên thị trường tại mức giá 5 là 2, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (2,5) Tại mức giá 6, hãng 1 cung ứng 3, hãng 2 cung ứng 1 Do đó, tổng sản lượng trên thị trường tại mức giá

6 là 4, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (4,6) Tại mức giá 7, hãng 1 cung ứng

4 hãng hai cung ứng 2 vì vậy đường cung thị trường đi qua điểm (6,7) Trong mức giá từ

3 < P < 5 chỉ có hãng 1 cung ứng, vì vậy mà đường cung thị trường ở mức giá này là đường cung của hãng 1 Khi mức giá lớn hơn 5, đường cung của thị trường sẽ thoải hơn đường cung của hai hãng và lượng cung của thị trường tại mỗi mức giá bằng tổng lượng cung của hai hãng Nối các điểm tìm được ta có đường cung thị trường MCTT như trên

đồ thị

Trang 12

0 1 2 3 4 5 6

MC TT

0 1 2 3 4 5 0 1 2 3

8 7 6 5 4 3 2 1

MC 2

8 7 6 5 4 3 2 1

8 7 6 5 4 3 2 1

5.4.1 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài hạn

Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của mình, do đó không

có chi phí cố định trong dài hạn Tổng chi phí biến đổi giờ đây cũng chính là tổng chi phí của hãng Để lựa chọn mức sản lượng tối ưu để sản xuất, các hãng sẽ phải so sánh giữa tổng doanh thu có được từ việc bán toàn bộ sản phẩm sản xuất ra và tổng chi phí để sản xuất ra mức sản lượng đó tương tự như điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng trong ngắn hạn Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn:

P = MR = LMC Trong dài hạn, hãng CTHH sẽ điều chỉnh quy mô sao cho:

SMC = LMC = P

 Nếu P > LACmin  hãng có lợi nhuận kinh tế dương

 Nếu P = LACmin  hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0

 Nếu P < LACmin  hãng có lợi nhuận kinh tế âm, sẽ có động cơ rời bỏ ngành

Hình 5.12 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài hạn khi giá thị trường thay đổi

Trang 13

Ngoài việc nghiên cứu điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng trong dài hạn, chúng ta sẽ nghiên cứu khả năng sinh lời của hãng trong dài hạn Trong dài hạn, doanh nghiệp có khả năng thay đổi được tất cả các đầu vào, kể cả quy mô sản xuất Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ta luôn có giả định rằng các hãng có thể tự do gia nhập hoặc rời bỏ ngành Vì vậy, hãng có thể là người bắt đầu sản xuất (gia nhập ngành) hoặc đóng cửa sản xuất (rút khỏi ngành)

0

LMC LAC

Hình 5.13 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn

Trong ngắn hạn hãng lựa chọn sản lượng Q1 tại điểm A: P = MC Tại Q1 có:

TR = P × Q1 =

1 OPAQ

S và TC = AC × Q1 =

1 OCBQS

3

OC FQ

S  = SPEFC’ DHmax = SPEFC’

Vì SPABC < SPEFC’ Lợi nhuận trong dài hạn lớn hơn trong ngắn hạn

Do thời gian trong dài hạn đủ để 2 đầu vào biến đổi nên hãng dễ lựa chọn quy mô sản xuất, vì vậy hãng CTHH trong dài hạn có ưu thế hơn trong ngắn hạn

5.4.2 Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành

Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành là trạng thái mà các hãng không chỉ tối đa được lợi nhuận của mình mà ở đó còn không có sự gia nhập hay rút lui khỏi thị trường của các hãng (lợi nhuận kinh tế của hãng phải bằng 0)

Giả sử ban đầu thị trường cân bằng tại E1 với mức giá thị trường là P1, xác định được đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là D1 Ở mức giá P1, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo thu được lợi nhuận kinh tế cao Điều này sẽ kích thích các hãng mới gia nhập ngành này Khi đó cung thị trường tăng làm cho giá giảm

Khi giá giảm các hãng sẽ điều chỉnh quy mô của mình để có thể đạt được lợi nhuận tối

đa (sản lượng bán giảm đi, theo luật cung do đường cung của hãng là LMC từ điểm đóng cửa đi lên)

P

C C’

Ngày đăng: 10/03/2016, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.1. Đường cầu của hãng CTHH và của thị trường CTHH - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.1. Đường cầu của hãng CTHH và của thị trường CTHH (Trang 4)
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH (Trang 5)
Hình 5.3. Đường chi phí cận biên - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.3. Đường chi phí cận biên (Trang 5)
Hình 5.4. Xác định lợi nhuận cực đại của hãng CTHH - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.4. Xác định lợi nhuận cực đại của hãng CTHH (Trang 6)
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0  &gt; ATC min - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 &gt; ATC min (Trang 7)
Hình 5.7. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường AVC min  &lt; P 0  &lt; ATC min - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.7. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường AVC min &lt; P 0 &lt; ATC min (Trang 8)
Hình 5.8. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0  = AVC min - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.8. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 = AVC min (Trang 9)
Hình 5.10. Đường cung của hãng CTHH (đường MC) trong ngắn hạn - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.10. Đường cung của hãng CTHH (đường MC) trong ngắn hạn (Trang 11)
Hình 5.11. Đường cung của ngành CTHH trong ngắn hạn - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.11. Đường cung của ngành CTHH trong ngắn hạn (Trang 12)
Hình 5.12. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài hạn khi giá thị trường thay đổi - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.12. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài hạn khi giá thị trường thay đổi (Trang 12)
Hình 5.13. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.13. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn (Trang 13)
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành (Trang 14)
Hình 5.15. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí không đổ i - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.15. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí không đổ i (Trang 16)
Hình 5.16. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí tă ng - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.16. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí tă ng (Trang 17)
Hình 5.17. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giả m - Giáo trình kinh tế Vi mô chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Hình 5.17. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giả m (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w