1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)

126 644 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Trước tình hình đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận và thực tiễn về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tố tụng hình sự Việt Na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẠNH

Ng-ời tiến hành tố tụng Thuộc Viện kiểm sát nhân dân

theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẠNH

Ng-ời tiến hành tố tụng Thuộc Viện kiểm sát nhân dân

theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác, trung thực, tin cậy Tôi đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 8 1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm

sát nhân dân 8

1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự 8 1.1.2 Các loại người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND 13

1.2 Nguyên tắc hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong

Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam 20 1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về

người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân đến trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 28 1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 28 1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 30 Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO BỘ LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2010-2014 35

Trang 5

2.1 Các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát

nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 35

2.1.1 Các quy định của BLTTHS năm 2003 về Viện trưởng, Phó Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân 36 2.1.2 Các quy định của BLTTHS năm 2003 về Kiểm sát viên 53

2.2 Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự của người tiến hành tố tụng

trong Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010-2014 70 2.3 Những khó khăn, vướng mắc về hoạt động của người tiến

hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố

Hà Nội 84

2.3.1 Những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết và kiểm sát

việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 84 2.3.2 Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các nhiệm vụ

và quyền hạn của VKS trong điều tra vụ án hình sự 87 2.3.3 Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các nhiệm vụ và

quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự 90 2.3.4 Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên 91

Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 93 3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt

Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành

tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân 93

3.1.1 Hoàn thiện các quy định về chức năng, thẩm quyền của Viện

kiểm sát 93 3.1.2 Hoàn thiện các quy định về quan hệ tố tụng giữa VKS với

CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra 97

Trang 6

3.1.3 Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện

trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên 99

3.2 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động của

người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân 102

3.2.1 Nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm sát 102 3.2.2 Xác định vị trí việc làm; xây dựng và thực hiện tốt đề án cơ cấu

công chức góp phần đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo Điều hành trong ngành Kiểm sát 103 3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát 106 3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và đổi mới chế

độ chính sách đối với cán bộ kiểm sát 108

KẾT LUẬN 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

ĐTV: Điều tra viên HĐXX: Hội đồng xét xử KSV: Kiểm sát viên KSND: Kiểm sát nhân dân TAND: Tòa án nhân dân TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn khởi

Bảng 2.2 Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn Điều tra của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn truy tố của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của Viện KSND hai cấp TP

Bảng 2.5: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm của Viện KSND TP Hà Nội trong

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng

và người tiến hành tố tụng khác nhau với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Nếu như Cơ quan tiến hành tố tụng là các cơ quan đại diện cho Nhà nước tiến hành các chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì người tiến hành tố tụng trong các

cơ quan đó có trách nhiệm thực thi các quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự có vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự cũng như trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tôi, không làm oan người vô tội góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động này, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị, đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh:

Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp… Nâng cao chất

Trang 10

2

lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam giữ, bảo đảm đúng pháp luật; Những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam

thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình [11]

Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trên, trong thời gian qua ngành Kiểm sát đã không ngừng nâng cao chất lượng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đặc biệt là việc giải quyết các vụ án hình sự, đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định, như: việc Tòa án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra lại nhiều lần; việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự còn xảy ra oan sai, vẫn còn một số trường hợp đã khởi tố bị can sau phải đình chỉ do không phạm tội không những gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị oan sai mà còn làm mất uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời làm giảm lòng tin của nhân dân đối với công lý và pháp luật Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên, trong đó có nguyên nhân từ nhận thức, trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân; từ các quy định của pháp luật có liên quan đến địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân

Trang 11

3

Trước tình hình đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn

đề lý luận và thực tiễn về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó đưa ra kiến giải lập pháp là

mô hình lý luận và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của những người này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng Đây là lý do luận chứng cho sự cần thiết để

tác giả lựa chọn đề tài "Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm qua việc nghiên cứu về người tiến hành tố tụng nói chung và người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và cán bộ thực tiễn, đã có một số công trình nghiên cứu về người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng như:

Ở cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà

Nội có các đề tài của các tái giả Trần Mạnh Đông, Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến tình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Hà Nội, 2009; Nguyễn Trọng Hải, Người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 2008;

Ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học có đề tài của tác giả Đào Hữu Dân, Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự,

Hà Nội, 2006; Nguyễn Duy Giảng, Các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp, Hà Nội, 2014

Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công

trình sau: GS TSKH Lê Cảm - PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại

Trang 12

4

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007; TS Dương Thanh Biểu, Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2007; PGS TS Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia,

Hà Nội, 2014; TS Lê Hữu Thể, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008;

Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề

cập đến người tiến hành tố tụng như: GS TSKH Lê Cảm, các mô hình lý luận về tổ chức hệ thống Viện công tố trong chiến lược cải cách tư pháp, kiểm sát, 2007; Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định nguyên tắc của luật

tố tụng hình sự, kiểm sát, 2004; PGS TS Trịnh Quốc Toản, Nguyên tắc tranh tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số kiến nghị, Tạp chí Khoa

học - ĐHQGHN, Kinh tế-Luật, Số 4/ 2003; Trần Văn Độ, “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, kỷ yếu

đề tài cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội, 2003;

Như vậy, có thể nói cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về VKSND, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hình sự, nhưng mỗi công trình đó mới chỉ dừng lại ở một số lĩnh vực hoặc trên phạm

vi nghiên cứu chung về người tiến hành tố tụng ở tất cả các cơ quan tiến hành

tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra, mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhất là khi thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề này cần được làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về người tiến hành tố tụng nhưng chỉ giới

Trang 13

5

hạn ở người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Với những số liệu và thông qua thực tiễn của người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu cấp bách về cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Khi lựa chọn đề tài cho luận văn của mình, tác giả luận văn có mục đích tìm hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật

tố tụng hình sự Việt Nam và việc thực hiện chúng trong thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Thông qua sự tìm hiểu đó, tác giả luận văn đưa ra những nhận xét và đánh giá theo quan điểm cá nhân về sự phù hợp hay không phù hợp của pháp luật Việt Nam về vấn đề này Từ đó, luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân

- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp luật có liên quan đến người tiến hành tố tụng hình sự; các loại người tiến hành

tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề xung quanh việc quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân nhưng chỉ giới hạn ở người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự mà

Trang 14

6

không nghiên cứu về người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo hoạt động tố tụng hình

sự theo BLTTHS năm 2003, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình

áp dụng các quy định trong thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân thành phố Hà Nội, từ đó xác định những điểm hạn chế, vướng mắc về lý luận cũng như thực tiễn, để đề xuất kiến giải lập pháp bằng việc đưa ra mô hình lý luận của các quy phạm về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân, cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân khi giải quyết các vụ án hình sự

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động tố tụng hình sự của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của thành phố Hà Nội trong 05 năm (2010-2014)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài của luận văn, tác giả đã dựa trên các quan điểm của Đảng, của Nhà nước về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp… khi nghiên cứu đề tài

5 Đóng góp của luận văn

Với việc nghiên cứu đề tài này, luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng hình sự, các loại người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân Trên cơ sở đó đánh giá các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân; Làm rõ thực trạng hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật về

Trang 15

7

chức năng, thẩm quyền của Viện kiểm sát, về nhiệm vụ quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liêu tham khảo, nội dung của luận văn được thể hiện trong ba chương với nôi dung như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng trong

Viện kiểm sát nhân dân theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm

sát nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và thực tiễn hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2010-2014

Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt

Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân

Trang 16

8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự

Việc nghiên cứu về người tiến hành tố tụng trong Luật TTHS có thể xem xét dưới nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên tiếp cận theo chức năng tố tụng

có lẽ sẽ hợp lý vì mỗi chức năng tố tụng sẽ do một hoặc một số chủ thể tố tụng đảm nhiệm và chức năng của mỗi chủ thể sẽ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể đó Trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa các chức năng của TTHS đã hình thành niên các mô hình tố tụng khác nhau

Về chức năng của TTHS hiện vẫn còn những quan điểm khác nhau Theo PGS TS Nguyễn Thái Phúc thì:

Chức năng tố tụng là nghĩa vụ tố tụng chủ yếu của các chủ thể

mà thông qua đó thể hiện bản chất tố tụng và quyết định vai trò của các chủ thể đó trong hoạt động tố tụng Mỗi chủ thể chỉ thực hiện một chức năng vốn có của mình [47, 44]

Theo GSTS Võ Khánh Vinh thì:

Chức năng TTHS được hiểu là những phương hướng hoạt động được tiến hành trong phạm vi, giới hạn của việc giải quyết

vụ án hình sự Đó là chức năng điều tra, truy tố, bào chữa, xét xử

Ở dạng chung nhất, chức năng thứ nhất thuộc CQĐT; chức năng thứ hai thuộc VKS; chức năng thứ ba thuộc bị can, bị cáo; chức năng thứ tư thuộc Tòa án [49, 17]

Trang 17

9

Tác giả Nguyễn Tiến Châu cho rằng:

Chức năng TTHS là những định hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau, trong những phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tố tụng [48, 13]

Như vậy, có thể hiểu Chức năng TTHS là những định hướng cơ bản phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể khác nhau, có những mục đích khác nhau, có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự TTHS là một lĩnh vực hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, để duy trì trật tự pháp luật chung, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của người dân cũng như của nhà nước Mục tiêu chung của TTHS là giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, khách quan, công bằng Để đạt tới mục tiêu chung đó, TTHS được phân chia theo các phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu mang tính hệ thống, thống nhất nhằm thực hiện các chức năng chung của TTHS Mỗi chức năng cơ bản của TTHS được giao cho một hoặc một số chủ thể thực hiện

Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về các chức năng cụ thể của TTHS (Chẳng hạn hoạt động điều tra của CQĐT, hoạt động kiểm sát việc điều tra vụ án của VKS có được coi là những chức năng của TTHS hay không), nhưng đã có

sự thống nhất chung là TTHS có ba chức năng cơ bản là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử [48,19]

Mỗi chức năng đảm nhận một phương diện hoạt động cơ bản của TTHS,

có vị trí, vai trò khác nhau, có chủ thể thực hiện khác nhau và có sự độc lập với nhau Tuy vậy, giữa các chức năng này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và vận động của hai chức năng còn lại Có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa (gỡ tội) thì hoạt động tố tụng là hoạt động

áp đặt quyền lực, ý chí và rất dễ dẫn đến oan sai Chức năng bào chữa chỉ xuất

Trang 18

10

hiện, tồn tại khi có sự tồn tại, hoạt động của chức năng buộc tội Chức năng xét

xử sẽ không còn khi không có chức năng buộc tội và sẽ không thể thực hiện được tốt khi chỉ có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa cùng hoạt động Để hoạt động TTHS được vận hành hiệu quả, giải quyết các vụ án hình sự kịp thời, đúng pháp luật, không xảy ra oan sai thì các chức năng của TTHS đều phải được coi trọng, không nên quá nhấn mạnh chức năng này mà xem nhẹ chức năng khác Hiện nay, có nhiều quan điểm, xu hướng trái ngược nhau về vấn đề này Xu hướng thứ nhất quá đề cao vai trò và vị trí của chức năng buộc tội, quan tâm đến nhiệm vụ ”kiểm soát tội phạm” của TTHS, chưa nhận thức đầy đủ vai trò của chức năng bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Xu hướng ngược lại là quá đề cao vai trò và vị trí của chức năng bào chữa, xem việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

có ý nghĩa tuyệt đối, trong khi các lợi ích xã hội chưa được quan tâm đúng mức, việc xử lý vụ án chỉ chú trọng đến việc “không làm oan người vô tội”

Đặc điểm của quan hệ pháp luật TTHS là tính phức tạp, đa chiều về lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật Các chủ thể thuộc nhóm buộc tội thường có xu hướng cố gắng tìm mọi cách thức chứng minh người bị tình nghi, bị can, bị cáo đã phạm tội, phạm tội nặng hơn, phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng và phải chịu hình phạt; những thiệt hại của người bị hại phải được khôi phục, đền bù thỏa đáng Ngược lại, nhóm chủ thể bị buộc tội thường có xu hướng tìm cách gỡ tội như chứng minh mình không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ Các chủ thể khác có tính chất bổ trợ như người giám định, người làm chứng, người chứng kiến, người phiên dịch có xu hướng chung là hành động vô tư, khách quan; tuy nhiên sự vô tư, khách quan này bị phụ thuộc vào kiến thức, trình độ chuyên môn, trách nhiệm của từng cá nhân Kết quả hoạt động của nhóm này có thể được cả bên buộc tội và bên gỡ tội

sử dụng làm chứng cứ Chủ thể xét xử (tòa án) là đại diện cho công lý, trên cơ sở

Trang 19

11

đã xem xét đầy đủ chứng cứ, lý lẽ của bên buộc tội, bên bị buộc tội để ra phán quyết công bằng, tuy nhiên, việc ra được phán quyết (bản án) công bằng không phải lúc nào cũng dễ dàng vì bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố Toàn bộ hoạt động của các nhóm chủ thể nói trên có tạo ra “công lý” cho người dân hay không phụ thuộc vào sự đúng đắn, hợp lý trong các quy định của pháp luật hình sự và TTHS; năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án

Do vậy, pháp luật TTHS phải tạo ra được cơ chế để ”Kiểm soát” việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, qua

đó hạn chế oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm trong hoạt động TTHS

Như vậy, có thể khái quát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có các nhóm chủ thể như sau: chủ thể thuộc phía buộc tội (điều tra, truy tố/buộc tội) bao gồm người bị hại hoặc đại diện của họ, CQĐT, cơ quan công tố/VKS; chủ thể thuộc phía bị buộc tội (người bị tình nghi, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp, người bào chữa của họ); chủ thể có quyền xét xử là tòa án (phán quyết người bị cáo buộc có phạm tội hay không, phạm tội gì và mức độ hình phạt phải chịu) và một số chủ thể khác có liên quan như người làm chứng, người chứng kiến, người giám định, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Trong TTHS Việt Nam hiện hành về cơ bản không hình thành “các bên” tố tụng như bên buộc tội, bên gỡ tội và tòa án là trọng tài xét xử mà chủ thể tố tụng được phân định thành các chủ thể tiến hành tố tụng (gồm CQĐT, VKS, Tòa án cùng các chức danh tư pháp trong các cơ quan này là ĐTV, thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT; KSV, viện trưởng, phó viện trưởng VKS; Thẩm phán, chánh cán, phó chánh án, hội thẩm, thư ký TAND) và người tham gia tố tụng (bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)

Trang 20

12

Theo quy định của BLTTHS thì người tiến hành tố tụng bao gồm: ĐTV, Thủ trưởng, Thó Thủ trưởng CQĐT; KSV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án, Hội thẩm, Thư ký TAND và người tham gia tố tụng bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Ngoài ra, trong từng trường hợp

cụ thể còn có những người như: người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ; của bị can, của bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, của bị đơn dân sự, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng là rất quan trọng, vì nó liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong vụ án hình sự Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp do xác định không đúng tư cách tố tụng nên dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài, phải xét xử nhiều lần, xâm phạm đến quyền

và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng

Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều là các chủ thể của

tố tụng hình sự, quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được quy định trong luật Người tiến hành tố tụng là những chủ thể đại diện cho công quyền, trực tiếp thực hiện các chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng Còn người tham gia

tố tụng là những người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án hoặc có nghĩa vụ tham gia để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án thông qua việc cung cấp chứng

cứ, đưa ra các yêu cầu, lập luận về tội phạm và người phạm tội [9, tr.185]

Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người bị tình nghi phạm tội; thì người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự tham gia tố tụng để đòi hỏi khôi phục lại những thiệt hại của họ do hành vi phạm tội gây ra, thì giữa hai nhóm người này luôn có sự mâu thuẫn về lợi ích cần được giải quyết trong

Trang 21

13

vụ án Do vậy, các hoạt động của người tiến hành tố tụng cần phải đảm bảo chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong nhóm người tham gia tố tụng còn có người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ, họ không

có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án nhưng sự tham gia tố tụng của họ góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án thông qua việc cung cấp chứng cứ, cơ

sở, thông tin về vụ án cho người tiến hành tố tụng [9, tr.186]

Do vậy, khi tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự như sau: Người tiến hành tố tụng hình sự là người thực hiện chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.1.2 Các loại người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND

Hành chính và tư pháp là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Đặc trưng của hành chính là thừa hành, căn cứ vào pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật, mang đặc thù chỉ huy – phục tùng, ban hành những mệnh lệnh có tính điều hành, quản lý để mọi người chấp hành Tư pháp là quá trình áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật nên đòi hỏi tính độc lập, tính công bằng cao

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có hai loại thẩm quyền cơ bản

là thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng Thẩm quyền quản

Trang 22

14

lý hành chính do người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để tổ chức, quản lý, điều hành, phân công, kiểm tra, đôn đốc người bị quản lý như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc thụ lý, giải quyết vụ án, được thực hiện bằng phương pháp quyền uy – phục tùng Thẩm quyền tố tụng

là quyền hạn của người tiến hành tố tụng được thực hiện một cách độc lập và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình Các thẩm quyền tố tụng chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các quy định của luật

tố tụng hình sự trong khi các thẩm quyền quản lý hành chính chịu sự điều chỉnh và phải tuân theo luật hành chính

Thẩm quyền tố tụng phải được độc lập với thẩm quyền quản lý hành chính, nhưng giữa hai thẩm quyền này có mối quan hệ biện chứng, tương tác lẫn nhau Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thẩm quyền quản lý hành chính có tác động rất lớn, thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện các thẩm quyền tố tụng Nếu người có chức danh quản lý phân biệt rõ ranh giới, phạm

vi giữa hai thẩm quyền này sẽ tạo điều kiện cho người tiến hành tố tụng thực hiện thẩm quyền của mình để xử lý vụ án được khách quan, kịp thời, toàn diện và đúng đắn Nếu sử dụng thẩm quyền quản lý hành chính lấn át thẩm quyền tố tụng sẽ phát sinh tình trạng làm thay, bao biện, biến người tiến hành

tố tụng thành những cỗ máy chỉ biết làm theo, thụ động, không phát huy hết trách nhiệm đối với công việc, dựa dẫm Thẩm quyền tố tụng cũng tác động đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính Nếu người bị quản lý mà không chấp hành đầy đủ, đúng các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị hành chính của người có thẩm quyền quản lý hành chính, tất yếu phát sinh tình trạng vô chính phủ, trên bảo dưới không nghe, như vậy sẽ hạn chế chất lượng giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng

BLTTHS năm 2003 quy định Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của lãnh đạo Viện kiểm sát Sau khi được phân công thụ lý vụ án,

Trang 23

15

quan hệ giữa các chức danh này với lãnh đạo của họ chỉ là mối quan hệ tố tụng chứ không còn là mối quan hệ hành chính Do đó, nếu lãnh đạo dùng quyền hành chính tác động, chi phối hoạt động tố tụng của kiểm sát viên sẽ hạn chế hoặc làm mất đi tính độc lập của những người này trong việc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án hình sự

Hoạt động của ngành kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

là một loại hoạt động đặc thù được quy định bởi cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định theo luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

Theo quy định tại Điều 33 BLTTHS, các loại người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên

Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là những người tiến hành tố tụng

có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đảm bảo yêu cầu giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình theo quy định của pháp luật

Theo Điều 36 BLTTHS thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là chức danh pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng VKS được quy định rất cụ thể, trong đó phân biệt rõ chức năng quản lý hoạt động tố tụng hình sự và chức năng tiến hành tố tụng

Viện trưởng VKS là người đứng đầu VKS có những nhiệm vụ, quyền

hạn rất quan trọng, khi thực hiện chức năng quản lý hoạt động tố tụng của VKS, Viện trưởng VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS; quyết định phân công Phó Viện trưởng, KSV thực

Trang 24

16

hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động TTHS của Phó Viện trưởng và KSV; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của pháp luật; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng và KSV; quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới; quyết định thay đổi KSV; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKS

Khi thực hiện chức năng tiến hành tố tụng, trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với

vụ án hình sự, Viện trưởng VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn: quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu CQĐT truy

nã bị can; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định chuyển vụ án; quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của VKS

Về trách nhiệm của Viện trưởng VKS: cũng như những người tiến hành

tố tụng khác, Viện trưởng VKS có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình

Trang 25

17

Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền về hành chính và một số nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều 36 BLTTHS của Viện trưởng VKS khi được Viện trưởng ủy quyền (trường hợp Viện trưởng vắng mặt) và trong trường hợp này chỉ một Phó Viện trưởng được ủy quyền mới có các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đó mà thôi và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện ủy quyền đó

Khi được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án hình sự, Phó Viện trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn giống như Viện trưởng trong việc thực hiện chức năng tiến hành tố tụng

Về trách nhiệm, ngoài trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình, Phó Viện trưởng VKS còn phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao

Mối quan hệ giữa Viện trưởng và Phó Viện trưởng VKS trong các hoạt động tố tụng là mối quan hệ tố tụng Nếu trong quan hệ quản lý hành chính được thực hiện theo chế độ ký thay thì trong hoạt động thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự được thực hiện theo chế độ ủy quyền Với tư cách là người giúp Viện trưởng trong việc quản

lý hoạt động tố tụng của VKS thì trường hợp Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy quyền thực hiện quyền hạn của Viện trưởng Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng VKS với tư cách là một chức danh tố tụng độc lập có những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định như đối với Viện trưởng VKS

Theo quy định của BLTTHS thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là chức danh tố tụng, đồng thời cũng là Kiểm sát viên Như vậy, khi tiến hành tố

Trang 26

18

tụng thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS phải chịu sự điều chỉnh của chế định về Kiểm sát viên và chế định Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS

Kiểm sát viên là người THTT trong VKS, được bổ nhiệm theo quy

định của pháp luật, thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS Khi thực hiện những chức năng này, Kiểm sát viên có các quyền hạn và trách nhiệm pháp luật quy định trong quá trình giải quyết vụ án Như vậy, có thể hiểu Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

KSV là một chức danh tố tụng, là người tiến hành tố tụng Những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự

Pháp luật TTHS quy định, Kiểm sát viên chỉ có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với

vụ án hình sự khi được phân công Vì vậy, quyền của Kiểm sát viên theo pháp luật tố tụng hình sự nước ta chỉ phát sinh khi họ được phân công

Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT; đề ra các yêu cầu điều tra; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra những chứng cứ và thực hiện việc luận tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ

án, tranh luận với những người tham giam tố tụng tại phiên tòa; kiểm sát việc

Trang 27

19

tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa và kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của VKS theo sự phân công của Viện trưởng

Về trách nhiệm, Kiểm sát viên có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình giống như những người tiến hành tố tụng khác Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về các hành vi, quyết định của mình

Theo quy định của BLTTHS, Kiểm sát viên là người thực hiện chủ yếu

và phần lớn các hoạt động tố tụng, nhưng chịu sự quản lý về hành chính và hoạt động nghiệp vụ trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Do vậy, Kiểm sát viên bị điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính như: Luật tổ chức Viện KSND, Pháp lệnh về công chức, các quy định của ngành Ngoài ra, trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Kiểm sát viên vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng thoe quy định của pháp luật TTHS gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội và gây thiệt hại thì có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và Luật bồi thường thiệt hại

Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp luôn có sự đan xen giữa thẩm quyền tố tụng và thẩm quyền quản lý hành chính trong mối quan hệ giữa các chức danh quản lý và đối tượng bị quản lý

Để thực hiện được thẩm quyền tố tụng của mình, các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng phải có mối liên hệ tác động qua lại một cách chặt chẽ với KSV thông qua mối quan hệ về tổ chức

Do tính chất đặc thù của việc quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức

Trang 28

Từ những phân tích đã nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND như sau:

Người tiến hành tố tụng hình sự trong VKSND bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, là những người được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định nhằm phát hiện, xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.2 Nguyên tắc hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

Các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự trong hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự chiếm một vị trí quan trọng, thể hiện bản chất của tố tụng hình sự, là cơ sở cho mọi hoạt động tố tụng hình sự Nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó [4, tr.13] Do đó, người tiến hành tố tụng trong VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ giải quyết các vụ án hình sự cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc đó, trong đó cần chú trọng các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình

sự (Điều 3 BLTTHS năm 2003)

Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan nhà

Trang 29

21

nước và công dân Nguyên tắc này là nguyên tắc bao trùm, được thể hiện trong tất cả các giai đoạn giải quyết một vụ án hình sự từ kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho đến giai đoạn cuối cùng là kiểm sát xét xử và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được quán triệt trong toàn bộ quá trình lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS Nó có ý nghĩa bảo đảm cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, có hiệu quả, đồng thời cũng đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hoạt động TTHS là hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các

cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khác Đề thực hiện nhiệm vụ giải quyết vụ

án, một mặt Nhà nước phải quy định quyền hạn, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng, quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng, mặt khác đòi hỏi họ phải tuân thủ triệt để các quy định đó [9, tr.80-81]

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm được kiên quyết, triệt để, kịp thời, bảo đảm giáo dục người thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời ngăn chặn việc làm oan sai cho người vô tội và ngăn ngừa việc hạn chế các quyền tự do dân chủ của công dân một cách trái pháp luật

Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLHS và BLTTHS, bảo đảm tất cả các hành vi tội phạm phải được truy cứu trách nhiệm hình sự; việc truy tố, buộc tội phải bảo đảm tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án của cơ quan điều tra, Tòa án và cơ quan thi hành án, người tiến

Trang 30

22

hành tố tụng trong VKSND không chỉ tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà còn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc định tội danh, quyết định hình phạt và các hình thức trách nhiệm hình sự khác Người tiến hành tố tụng trong VKSND không chỉ tự mình phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, mà còn đảm bảo để những người tiến hành tố tụng khác cũng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tuân thủ nghiêm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS năm 2003)

Theo quy định của BLTTHS năm 2003, khi tiến hành tố tụng, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa

Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên chỉ được áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khi có căn

cứ pháp luật Khi kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam, nếu thấy lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra không có căn cứ pháp luật thì VKS kiên quyết không phê chuẩn hoặc ra quyết định hủy bỏ, đồng thời phải trả tự do ngay cho người bị bắt, tạm giữ, tạm giam

Trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, VKSND mà đại diện là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên phải thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, Tòa án để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng và của cá nhân khác không

bị xâm phạm Kiểm sát việc giải thích quyền và nghĩa vụ của những người

Trang 31

Tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc có tính chất bao trùm, xuyên suốt trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm không một công dân nào bị xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp [9, tr.83] Việc tôn trọng và đảm bảo các quyền

cơ bản của công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng được nhà nước giao

- Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 5 BLTTHS năm 2003)

Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật xác định vị trí của mọi người như nhau trong lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong hoạt động TTHS, không phân biệt đối xử

Pháp luật TTHS quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phải bảo đảm rằng: Bất cứ người nào thực hiện hành vi phạm tội đều bị xử lý theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Pháp luật không quy định cho từng công dân cụ thể mà quy định chung

và được áp dụng cho tất cả mọi người Tài sản và địa vụ xã hội không mang

Trang 32

24

lại đặc quyền trước Tòa án và trước pháp luật Do vậy, người tiến hành tố tụng trong VKSND phải “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” để việc giải quyết vụ án và hậu quả pháp lý của những người thực hiện hành vi trái pháp luật giống nhau phải chịu mức hình phạt như nhau

Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong TTHS còn được thể hiện cụ thể hơn như: bất kỳ người nào khi tham gia tố tụng với

tư cách là bị can, bị cáo thì họ đều có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 49, Điều 50 BLTTHS Nếu họ tham gia TTHS với tư cách là người bị hại thì họ đều có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 51 BLTTHS

- Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7 BLTTHS)

Tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản của công dân là những giá trị xã hội cao nhất được ghi nhận trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Hiến pháp nước ta quy định “công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm” BLTTHS nước ta quy định đó là nguyên tắc quan trọng của TTHS

Hoạt động TTHS phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản của công dân Việc hạn chế quyền nói trên chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở và trong sự phù hợp của pháp luật [47, tr.30]

Khi giải quyết vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên VKSND căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ khi tính mạng, sức khỏe của người đó bị đe dọa, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ bị xâm phạm

- Xác định sự thật khách quan của vụ án (Điều 10 BLTTHS)

Theo nội dung nguyên tắc này, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên VKSND phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ

Trang 33

25

án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Kiểm sát viên không được thiên vị, để tình cảm cá nhân chi phối khi làm nhiệm vụ Nếu không đảm bảo tính vô tư khách quan khi giải quyết một vụ án hình sự thì Kiểm sát viên đó phải được phân công, thay đổi bằng một Kiểm sát viên khác

Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

- Nguyên tắc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 12 BLTTHS)

Để nâng cao trách nhiệm của KSV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, BLTTHS quy định nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật

và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình

Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý

kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Có thể nói đây là một đảm bảo pháp lý hết sức quan trọng giúp cho hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành đúng pháp luật, đặc biệt là với những người bị tạm giữ, tạm giam khi mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị vi phạm nếu hoạt động tố tụng không được tiến hành đúng pháp luật [48, tr.30]

- Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra

Nguyên tắc này thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước

Trang 34

26

ta trong việc thực hiện một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp là kiên quyết khắc phục các trường hợp oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự và bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra [9, tr.109]

Theo quy định của BLTTHS, người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người

có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Để nâng cao trách nhiệm của VKS trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS, tại nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới, cũng đã xác định: Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình Cụ thể hóa nội dung này, Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009, có hiệu lực từ 01/01/2010 cũng quy định rõ những trường hợp VKSND phải bồi thường khi người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự ở cơ quan mình để xảy ra oan sai

- Các nguyên tắc hoạt động đặc thù của ngành kiểm sát nhân dân

Ngoài những nguyên tắc trên, thì người tiến hành tố tụng trong VKSND còn phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù của ngành đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không

lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương Cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện kiểm sát cấp trên có trách

Trang 35

27

nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới

Các Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khi hoạt động, các Viện kiểm sát nhân dân chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ những nguyên tắc chung khi tiến hành tố tụng còn phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù của ngành Đối với ngành tòa án, đó là các nguyên tắc: xét

xử có hội thẩm tham gia; thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập; xét xử tập thể; xét xử công khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo

vệ lợi ích hợp pháp của đương sự; tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; Chế

độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm Đối với ngành Công an nhân dân: được tổ chức và hoạt động đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an Công an nhân dân được tổ chức tập trung, thống nhất và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở; Hoạt động của Công an nhân dân phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Trang 36

28

1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân đến trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988

Ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp mới, lần đầu tiên ghi nhận chế định VKSND là một chế định độc lập của Hiến pháp Tại phiên họp ngày 15/7/1960, kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa II đã thông qua Luật tổ chức VKSND và ngày 26/7/1960 Chủ tịch nước

đã ký lệnh công bố Luật này, thành lập một hệ thống cơ quan mới, hệ thống VKSND trong bộ máy nhà nước ta Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố chuyển sang thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND

Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND năm 1960, VKSND là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước VKSND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ quốc hội Do hệ thống Viện KSND được tổ chức theo nguyên tắc, đặc thù riêng, nên nguyên tắc hoạt động của người tiến hành tố tụng trong VKSND đó là nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất

cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào của nhà nước ở địa phương và thực hiện chế

độ thủ trưởng Người tiến hành tố tụng trong VKSND có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế được giữ vững

Điều 3, Luật tổ chức VKSND năm 1960 quy định trong lĩnh vực tư pháp VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng các công tác: điều tra những việc phạm pháp về hình sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan công an và của CQĐT khác, kiểm sát việc tuân theo pháp l uật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân và trong việc chấp

Trang 37

29

hành án, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của trại giam, khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và nhân dân Đáng lưu ý là trong khi thực hành quyền công tố VKSND có quyền khởi tố, yêu cầu điều tra; tham gia việc điều tra hoặc tự mình điều tra khi xét thấy cần thiết; có quyền truy tố, miễn tố, đình cứu các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật; việc bắt giam bất cứu công dân nào phải được VKSND phê chuẩn, trừ trường hợp do Tòa án bắt giam

Về tổ chức bộ máy của VKSND, hệ thống VKSND bao gồm: VKSND tối cao, các VKSND địa phương và các VKS quân sự trung ương Các VKSND địa phương gồm có: Các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; các VKSND huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương

Cơ cấu của VKSND các cấp đều có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng

và các Kiểm sát viên Riêng VKSND tối cao còn có một số Kiểm sát viên dự khuyết Tại VKSND tối cao và các VKSND cấp thứ hai đều có Ủy ban Kiểm sát để bàn bạc, giải quyết những công việc quan trọng dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng

Thời kỳ này, về TTHS chưa có văn bản quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, KSV; chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS Viện trưởng, Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động kiểm sát điều tra, truy tố, có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng quan trọng, KSV chỉ thực hiện các hoạt động tố tụng theo sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng

Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức VKSND năm 1981 của Nhà nước

ta tiếp tục có những bổ sung quan trọng về chức năng, nhiệm vụ của VKSND, ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực (kiểm

Trang 38

30

sát chung), còn nhấn mạnh chức năng thực hành quyền công tố, tiếp tục khẳng định các nguyên tắc cơ bản, đặc thù trong tổ chức và hoạt động của VKSND như nguyên tắc tập trung thống nhất trong toàn ngành, VKSND độc lập không trực thuộc cơ quan nhà nước ở địa phương Trong lĩnh vực tố tụng

tư pháp, Luật tổ chức VKSND năm 1981 tiếp tục quy định cụ thể hơn, chi tiết

rõ ràng hơn các quyền của VKSND được thực hiện trong công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát chấp hành án và kiểm sát việc giam giữ, cải tạo Trong đó, thẩm quyền trực tiếp kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác tội phạm, thẩm quyền trực tiếp khởi tố hình sự, khởi tố bị can; thẩm quyền trực tiếp điều tra vụ án của VKS tiếp tục được khẳng định So với giai đoạn trước đây thì thẩm quyền miễn tố của Viện kiểm sát không còn [19, tr.45]

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

BLTTHS năm 1988 là BLTTHS đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Bộ luật được xây dựng trên

cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của pháp luật TTHS truyền thống, quán triệt và thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhất là pháp luật TTHS của liên xô (cũ) Sau khi ra đời bộ luật đã góp phần quan trọng vào

sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Bộ luật TTHS năm 1988 (Điều 27) quy định VKS là cơ quan tiến hành

tố tụng, KSV là người tiến hành tố tụng

Theo quy định tại Điều 141 BLTTHS 1988, Khi thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra, VKS có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

… 3- Viện kiểm sát có quyền:

Trang 39

31

a) Kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự và chuyển đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 92;

b) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra đã được quy định;

c) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can;

d) Đề ra yêu cầu điều tra, trả lại hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra

bổ sung; yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật của ĐTV, nếu có;

đ) Kiểm sát việc khám xét, khám nghiệm, việc hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác của cơ quan điều tra; trực tiếp hỏi cung bị can khi thấy cần thiết;

e) Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, chuyển vụ án, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;

g) Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra, chuyển vụ án, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật trong khi tiến hành điều tra [26, Điều 141]

Khi thực hiện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn [26]: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp; Trong trường hợp quyết định khởi của cơ quan điều tra, đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan và cơ quan kiểm lâm không có căn cứ thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó; nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ, thì VKS hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án; trong trường hợp quyết định khởi tố của Tòa án không có căn cứ thì VKS kháng nghị lên Tòa án cấp trên

Trang 40

32

Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển sang, trong thời hạn quy định, VKS phải ra một trong các quyết định Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng; Trả lại hồ sơ để điều tra

bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Nếu có một trong những căn cứ xác định bị can không phạm tội; bị can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi

tố theo yêu cầu của người bị hại và người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can thì VKS ra quyết định đình chỉ vụ án

Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can và người bào chữa biết những quyết định nói trên Bản cáo trạng, quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra phải được giao cho bị can Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép những điều cần thiết và đề xuất yêu cầu

Với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, VKS vừa là người quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án dể xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, vừa bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định của pháp luật

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKS có các nhiệm vụ và quyền hạn: đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; tham gia xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm tái thẩm; tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án theo quy định

Ngày đăng: 10/03/2016, 10:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tư pháp (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb bản tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Bộ tư pháp
Nhà XB: Nxb bản tư pháp
Năm: 2005
2. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
3. Lê Cảm – Nguyễn Ngọc Chí (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm – Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Lê Cảm (2004), “Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát (5, 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
5. Lê Cảm (2007), “Các mô hình lý luận về tổ chức hệ thống Viện công tố trong chiến lược cải cách tư pháp”, Tạp chí kiểm sát, (4), tr 28-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình lý luận về tổ chức hệ thống Viện công tố trong chiến lược cải cách tư pháp”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2007
6. Lê cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
7. Lê Cảm (2010), “Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền - vấn đề pháp điển hóa lần thứ ba”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, (26), tr.81-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền - vấn đề pháp điển hóa lần thứ ba”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2010
8. Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, (24), tr. 239-253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, "Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2007
9. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2014
10. Đào Hữu Dân (2006), Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
Tác giả: Đào Hữu Dân
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2014
16. Trần Văn Độ (2003), “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, Kỷ yếu đề tài cấp bộ: “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, "Kỷ yếu đề tài cấp bộ": “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2003
17. Trần Mạnh Đông (2009), Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đai học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Tác giả: Trần Mạnh Đông
Năm: 2009
18. Đỗ Văn Đương (2008), “Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền han tố tụng trong TTHS”, Tạp chí kiểm sát, (18), tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền han tố tụng trong TTHS”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 2008
19. Nguyễn Duy Giảng (2014), Các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Duy Giảng
Năm: 2014
20. Nguyễn Trọng Hải (2008), Người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Trọng Hải
Năm: 2008
21. Phạm Mạnh Hùng (2011), “Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo - Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.1 Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo (Trang 8)
Bảng 2.1: Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp  luật trong hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn khởi tố của Viện - Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.1 Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn khởi tố của Viện (Trang 80)
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân  theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn Điều tra  của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội trong 05 năm (2010 - 2014) - Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn Điều tra của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội trong 05 năm (2010 - 2014) (Trang 83)
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân  theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ  thẩm của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội trong 05 năm (2010 - 2014) - Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội trong 05 năm (2010 - 2014) (Trang 88)
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân  theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm của - Người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm của (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm