• Lý thuyết cân bằng tổng thể Là một nhánh của Kinh tế học lý thuyết, được xem là thuộc Kinh tế học vi mô và được Léon Walras phát triển từ những năm 1870.. Lý thuyết này tìm cách giải t
Trang 1CHỦ ĐỀ 7
SỰ TIẾN HÓA CỦA KINH TẾ HỌC VI MÔ
TRONG NỬA SAU THẾ KỶ XX
Trang 27.1 LÝ THUYẾT CÂN BẰNG KINH TẾ TỔNG THỂ
KENNETH ARRAW GENERARD DEBREU
Lợi ích kinh tế biểu hiện tập trung ở thu nhập Thu nhập là động lực kinh tế kích thích con người nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực tiễn
Sự đa dạng trong đời sống KT-XH làm cho các nguồn thu nhập cũng đa dạng; quan điểm về chất và về lượng của các nhà kinh tế đối với các nguồn thu nhập cũng khác nhau
Trang 3• Lý thuyết cân bằng tổng thể
Là một nhánh của Kinh tế học lý thuyết, được xem là thuộc Kinh tế học vi mô và được Léon Walras phát triển từ những năm 1870.
Lý thuyết này tìm cách giải thích cung, cầu
và giá của tổng thể một nền kinh tế với rất nhiều thị trường của rất nhiều mặt hàng Khi giá thị trường của tất cả các mặt hàng đạt tới trạng thái cân bằng thì nền kinh tế đó đạt tới cân bằng tổng thể
Trang 4• Trạng thái cân bằng tổng thể là trái ngược với trạng thái cân bằng từng phần
• Lý thuyết này là có tính chất trừu tượng, nhưng
là một lý thuyết có ích nếu xét các giá cả cân bằng trong dài hạn và nhìn nhận giá cả thật như
là một độ lệch của điểm cân bằng.
• Lý thuyết cân bằng tổng thể định nghĩa hàng
hóa khác biệt nhau bởi vị trí của nó (như trong giao dịch quốc tế), thời điểm cung cấp và tình trạng môi trường kinh doanh.
Trang 5Tổng quát
Giả thiết các tác nhân của nền kinh tế
là những người chấp nhận giá đưa đến hai khái niệm về sự tồn tại của điểm cân bằng:
Cân bằng Walras hay cân bằng cạnh tranh và cân bằng giá (có tính đến chuyển nhượng).
Trang 6• Những hướng phát triển gần đây của lý thuyết cân bằng tổng thể, cụ thể:
Những khái niệm mới về cân bằng tổng thể được phát triển bởi Kenneth Arrow, Gerard Debreu và Lionel W McKenzie vào những năm 1950
Debreu giới thiệu mô hình này trong "Lý thuyết về giá trị" (1959) như là một mô hình tiền đề suy ra từ công trình toán học của Bourbaki
Trang 7• Các phát triển gần đây của lý thuyết này chú ý đến các thị trường không hoàn hảo mà không có các hợp đồng với đầy đủ chi tiết để hoàn toàn tạo thuận lợi cho các tác nhân kinh tế phân bổ tiêu dùng và nguồn lực giữa các thời kỳ Với loại thị trường này, tuy rằng vẫn tồn tại điểm cân bằng, nhưng điểm này không phải là điểm tối ưu Pareto
• Các câu hỏi cơ bản của lý thuyết cân bằng tổng thể là với điều kiện nào thì điểm cân bằng là hiệu quả, tức là khi nào điểm cân bằng tổng thể tồn tại, là duy nhất và ổn định
Trang 8- Lý thuyết cơ bản thứ nhất của Kinh tế học phúc lợi
• Kinh tế học phúc lợi khẳng định rằng các điểm cân bằng thị trường là hiệu quả Pareto Trong một nền kinh tế trao đổi, điều kiện đủ để định lý thứ nhất đúng đó là ý thích được thỏa mãn với mọi mức độ
• Định lý thứ nhất cũng đúng đối với mọi nền kinh tế sản xuất với những hàm sản xuất có tính chất khác nhau Đối với các thị trường chịu ảnh hưởng bởi tác động bên ngoài, vẫn đạt điểm cân bằng nhưng điểm này không hiệu quả.
• Định lý này chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến không hiệu quả của các thị trường Với các giả thiết ở trên, bất cứ điểm cân bằng thị trường nào cũng hiệu quả Điểm cân bằng nào không hiệu quả là do thất bại thị trường.
Trang 9• Định lý thứ hai của kinh tế học phúc lợi
Với mọi điểm cân bằng hiệu quả, ta có thể kết luận ngược lại rằng mọi sự phân bổ nguồn lực hiệu quả đều đạt tới điểm cân bằng, trong điều kiện phân bổ lại của cải sẵn có trước khi phân bổ nguồn lực bằng các lực cạnh tranh của thị trường.
Có nghĩa là hiệu quả và công bằng là hai khái niệm tách rời và không nhất thiết phải đánh đổi hiệu quả lấy công bằng và ngược lại
Trang 10Như vậy, định lý thứ hai chặt chẽ hơn định lý thứ nhất vì chỉ ra sở thích của người tiêu dùng phải là hàm lồi (gần như tương đương với khái niệm tỷ lệ thay thế biên giảm dần và khái niệm "sở thích vừa phải thì tốt hơn sở thích cực độ")
Mặc dù nếu như tất cả các điểm cân bằng đều đã hiệu quả, hai định lý trên vẫn không phát biểu gì về
sự tồn tại của điểm cân bằng Điều kiện đủ để đảm bảo điểm cân bằng tổng thể tồn tại là hàm sở thích tiêu dùng là hàm lồi Tính lồi không bao gồm hiệu quả kinh tế theo quy mô
Trang 11• Hàm sản xuất là một hàm số biểu thị sự phụ thuộc
của sản lượng vào các yếu tố đầu vào Nói cách khác, trong hàm sản xuất, biến số phụ thuộc (hay biến số được thuyết minh) là sản lượng, còn biến số độc lập (hay biến số thuyết minh) là các mức đầu vào
• Trong kinh tế học vi mô, hàm sản xuất biểu thị lượng sản phẩm được nhà sản xuất tạo ra từ những yếu tố sản xuất mà anh ta có như vốn, lao động v.v Trong kinh tế học vi mô, hàm sản xuất biểu thị giá trị GNP phụ thuộc vào số lượng lao động, lượng vốn, công nghệ của một nền kinh tế
Trang 12• Chủ nghĩa đế quốc kiểu cũ
Là sự thành lập và duy trì một nền kinh tế, văn hóa, lãnh thổ bất bình đẳng giữa những quốc gia và thường là hình thức của các đế quốc dựa trên sự thống trị và lệ thuộc
Thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc thường đề cập đến những lãnh thổ địa lý và chính trị như Đế quốc Ba
Tư, Đế quốc La Mã, Đế quốc Ottoman, Đế quốc Bồ Đào Nha, Đế quốc Tây Ban Nha, Đế quốc Đế quốc
Đế quốc Đế quốc Đế quốc Đế quốc Đế quốc Đế quốc
Hà Lan, Đế quốc thực dân Pháp, Đế quốc Nga, Đế quốc HT, Đế quốc Anh, Đế quốc Mỹ, Đế quốc Nhật
Trang 13• Chủ nghĩa đế quốc kinh tế
Trong kinh tế đương đại, đề cập đến các khía cạnh như phi kinh tế, trong đó phân tích những vấn đề ngoài cuộc sống, như tội phạm, pháp luật, gia đình, thành kiến, thị hiếu, …
• Sự xuất hiện phân tích những vấn đề tưởng như phi kinh tế nhưng thật ra lại ảnh hưởng đến kinh tế trên nhiều phương diện khác nhau, nhất là yếu tố nguồn lực con người
• Người ta đã khẳng định những điều này và tập trung vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của nó đến hiệu quả kinh tế và “cho phép” dùng kinh tế để xâm chiếm lãnh thổ trí tuệ mà trước đây được coi là bên ngoài lĩnh vực của ngành kinh tế học
Trang 14• Gary Stanley Becker (02 tháng 12 năm 1930)
Ông có đóng góp quan trọng đối với kinh tế gia đình, ông còn là một trong những nhà kinh tế đầu tiên
đi vào nghiên cứu các chủ đề truyền thống được coi là thuộc về xã hội học, trong đó có phân biệt chủng tộc, tội phạm, tổ chức, gia đình, nghiện ma túy
Ông được biết đến với lập luận rằng nhiều loại hành vi khác nhau của con người có thể được coi là hợp lý và tiện ích tối đa Cách tiếp cận của ông có thể bao gồm các hành vi vị tha bằng cách xác định lợi ích
cá nhân thích hợp Ông cũng nghiên cứu về nguồn nhân lực
HET