Nguồn gốc và sự tiến hóa của tiền tệ Thời Cổ đại - Aristote đã thấy được sự bằng nhau trong trao đổi hàng hóa và cho rằng đó là tiền tệ Aristote cho rằng tiền tệ không chứa đựng giá trị
Trang 1CHỦ ĐỀ 8
SỰ TIẾN HÓA CỦA KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
NỬA SAU THẾ KỶ XX
Trang 28.1 HỌC THUYẾT TRỌNG TIỀN
VÀ VIỆC PHÊ PHÁN HỌC THUYẾT KEYNES
1 Nguồn gốc và sự tiến hóa của tiền tệ
Thời Cổ đại - Aristote đã thấy được sự bằng nhau trong trao đổi hàng hóa và cho rằng đó là tiền tệ
Aristote cho rằng tiền tệ không chứa đựng giá trị, giá trị của tiền đúc là do Nhà nước đặt ra một cách có điều kiện và sự xuất hiện của tiền là do ý muốn chủ quan của con người
Xénophon lại đánh giá cao vai trò của tiền tệ Tiền bạc
có nhu cầu vô hạn, nên sử dụng nhiều nô lệ vào việc khai thác bạc
Trang 3Gắn sự xuất hiện của tiền với ý muốn của con người.
Trang 41 Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương
Trang 5Những người trọng thương nêu ra quy luật nổi tiếng gọi là “quy luật Gresham”: tiền tốt bị tiền xấu gạt ra khỏi lưu thông.
W Stapphot đề nghị những biện pháp để tăng tiền tệ; Chính phủ phải đình chỉ việc phát hành tiền đúc không đủ giá
W Petty: sự giàu có biểu hiện dưới hình thức tiền tệ (vàng, bạc) là sự giàu có muôn đời, vĩnh viễn Tuy nhiên trong những tác phẩm cuối cùng như “Bàn về tiền tệ” thì ông cho rằng, tiền không
Trang 62 W Petty
Thành quả to lớn của thương nghiệp là tích lũy, sự giàu có biểu hiện dưới hình thức tiền tệ (vàng, bạc) là sự giàu có muôn đời, vĩnh viễn
Những tác phẩm cuối cùng như “Bàn về tiền tệ” thì ông cho rằng, tiền không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có
Trang 7W Petty
Hai loại kim loại giữ vai trò của tiền là vàng và bạc
Quan hệ tỷ lệ giá trị giữa chúng dựa trên cơ sở số lao động bỏ vào việc khai thác chúng quyết định Ông ủng hộ chế độ đơn bản vị
Là người đầu tiên đưa ra quy luật lưu thông tiền tệ:
số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hóa và tốc độ chu chuyển của tiền
Ảnh hưởng của thời hạn thanh toán đối với lưu thông tiền tệ càng dài thì số tiền cần thiết cho lưu
Trang 8 Tiền tệ (vàng, bạc) không phải là của cải quốc dân, mà chỉ là phương tiện kỹ thuật của trao đổi, tiền làm trung gian cho trao đổi được thuận lợi
Trang 9A Smith
Tiền phát sinh là do những khó khăn về kỹ thuật trong việc trao đổi trực tiếp H – H
Hàng hóa nào trở thành phương tiện trao đổi, đó là tiền
tệ, do vậy tiền chỉ là môi giới giản đơn cho trao đổi mà không làm cho giá trị của cải tăng lên
Ông ủng hộ tiền giấy; chống lại việc giảm giá tiền đúc; chống lại thuyết số lượng tiền tệ, giải thích số lượng tiền cần thiết cho lưu thông như sau: “không phải số lượng tiền tệ quyết định giá cả mà giá cả quyết định số
Trang 10 Số lượng tiền tệ được quyết định bởi giá trị của khối lượng hàng hóa phải lưu thông Giá trị các hàng hóa mua vào bán ra hàng năm trong một nước đòi hỏi một số lượng tiền tệ nhất định lưu thông
Kênh lưu thông chỉ thu hút một cách tất yếu số lượng thích đáng tiền tệ cho đầy đủ và không thể chứa đựng hơn nữa
=> Tiền là một hàng hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa thông thường để làm chức năng phương tiện lưu thông.
Trang 11Tự do thương nghiệp giữa các nước là có lợi
D Ricardo nghiên cứu tiền chủ yếu là ở chức năng
phương tiện lưu thông
D.Ricardo đã nói về vấn đề lưu thông tiền tệ
Ông theo trường phái tiền tệ phản bác lại phái ngân hàng Ricardo cho rằng cần phát hành ngân phiếu theo đúng mức tăng lên của dự trữ tiền tệ (vàng) Ricardo coi vàng là cơ sở của tiền tệ và đấu tranh chống lạm phát, phê phán chính sách lạm phát của ngân hàng Anh
Trang 12 Giá trị của tiền tệ do giá trị vật liệu làm ra tiền quyết định, bằng số lượng lao động đã hao phí để khai thác vàng bạc Giá cả là biểu hiện của giá trị Tổng giá cả hàng hóa phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ Nếu vật liệu làm ra tiền đắt thì giá cả hàng hóa tụt xuống.
Giá trị của tiền phụ thuộc vào số lượng của nó Nếu
số lượng tiền càng nhiều thì giá trị của tiền tệ càng ít
và ngược lại Còn bản thân của tiền tệ thì không có giá trị nội tại
Trang 13 Tiền là phương tiện kỹ thuật của lưu thông Với giá trị nhất định của tiền, số lượng tiền trong lưu thông tùy thuộc vào tổng giá cả hàng hóa
Sử dụng thuyết số lượng tiền tệ để giải thích cho sự thay đổi trong quan hệ quốc tế và điều tiết bảng cân đối thanh toán
Nếu trong một nước nào đó thừa vàng thì ở đó giá cả hàng hóa tăng và những hàng hóa nhập khẩu trở nên
có lợi
Thiếu hụt trong bảng cân đối thương nghiệp sẽ được trả bằng vàng
Trang 14 Tiền tệ có khả năng trao đổi trực tiếp để thỏa mãn mọi nhu cầu của những người có tiền, còn tất cả các hàng hóa khác thì chỉ có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó mà thôi.
Trang 15 Bản chất của tiền tệ là hàng hóa đặc biệt dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa; là sự thể hiện chung của giá trị.
Tiền có 5 chức năng: Thước đo giá trị Phương tiện lưu thông Phương tiện tích trữ Phương tiện thanh toán Tiền tệ thế giới
Quy luật phổ biến của lưu thông tiền tệ: Tổng số giá cả của hàng hóa chia cho số vòng lưu thông cùng loại trong một thời gian nhất định = khối lượng tiền tệ làm chức năng phương tiện lưu thông
Trang 16Trường phái tân cổ điển
Lý thuyết của K Wicksell (1851-1926, Thụy Sĩ)
Tiền tệ có chức năng phương tiện trao đổi, thước đo giá trị và dự trữ giá trị; chức năng phương tiện trao đổi là quan trọng nhất.
Khi tiền không phải là phương tiện trao đổi,
nó thực hiện chức năng cất trữ giá trị
Trang 17 Karl Gunnal Myrdal (1898, Thụy Sĩ), phát triển lý
thuyết tiền tệ của Wicksell, K Myrdal đi sâu phân tích cân đối tiền tệ trong một thời điểm nhất định
Dùng khái niệm “về trước” (Ex-ante) và “về sau” (Ex-post) để xây dựng hệ thống lý luận tiền tệ trong một thời điểm nhất định và theo trật tự cân đối động
Tính toán “về trước” là việc dự định, tính toán và
lập kế hoạch quá trình phát triển động
Tính toán “về sau” là đánh giá kết quả đã thực hiện
hoặc mức độ hoạt động đã diễn ra
Trang 18 Thuyết số lượng tiền tệ là lý luận cho rằng trong dài
hạn số lượngtiền tệ không phụ thuộc vào quy mô của GDP mà vào thay đổi của giá cả hoặc thay đổi của mức giá chung của nền kinh tế như lạm phát, tốc độ tăng số lượng tiền Có hai cách diễn giải thuyết số lượng tiền tệ Một cách sử dụng phương trình cân đối
tiền mặt, nên được gọi là Thuyết cân đối tiền mặt
Cách khác sử dụng phương trình trao đổi của Fisher,
nên được gọi là Thuyết số lượng giao dịch.
1 Living Fischer (1867-1947)
Ông nghiên cứu về lý thuyết số lượng tiền tệ và được coi là người sáng lập trường phái trọng tiền
Trang 19 Lý thuyết lượng tiền trong giao dịch
Tiền có nhiệm vụ làm môi giới trong lưu thông, cho trao đổi được dễ dàng hơn, được sử dụng vào các hoạt động giao dịch
Sức mua của tiền được quyết định bằng số lượng hàng hóa và dịch vụ mà nó mua được
Là nghịch đảo của tổng số giá cả hàng hóa
Trang 20 Sức mua của tiền phụ thuộc vào:
- Tốc độ lưu thông tiền séc của ngân hàng Số lượng tiền tệ Tốc độ lưu thông tiền tệ Toàn bộ khối lượng của các giao dịch
Là ngưởi ủng hộ lý thuyết số lượng tiền tệ
Phương trình trao đổi: MV = PQ = GNP
Trang 21A.C Pigou (1877-1959) là một trong những đại biểu của phái Cambridge.
tiền Tiền dùng để tích trữ sức mua, để mua hàng hóa là luôn luôn cần thiết.
hàng hóa (là lượng tiền dư rỗi) Được gọi là “
lý thuyết lượng dư tiền mặt”
Trang 22 Phương trình lượng dư tiền mặt: Md = K.P.Q
Trong đó:
Md: cầu về số dư tiền mặt
K: hệ số chỉ có phần trong tài khoản của dân cư dưới hình thức tiền tệ
P: mức giá cả
Q: sản lượng hàng hóa lưu thông
Phương trình này còn gọi là phương trình “cân bằng Cambridge”
Trang 23 Giá trị của tiền do cung và cầu về tiền quyết định, sự tăng giảm lượng dư tiền mặt ảnh hưởng tới giá trị của đồng tiền chủ yếu là do tốc độ lưu thông của tiền có sự thay đổi Mức dư tiền mặt tăng, tức là tốc độ lưu thông tiền tệ chậm.
Người ta dùng tiền vào 3 mục đích:
- Chuyển thành hình thái vật chất để SXKD thu lợi nhuận hay lợi tức.
- Tiêu dùng để hưởng thụ.
- Giữ tiền mặt trong túi cho an toàn Tiền trở thành
Trang 24 Cả 3 mục đích này đều có cả những cái lợi và hại Việc sử dụng tiền vào mục đích gì, trước hết
ta phải xem xét lợi hại rồi mới quyết định
Nếu việc giữ tiền mặt lợi nhiều hơn hại thì lượng dư tiền mặt sẽ tăng lên và ngược lại Đó
là nguyên nhân làm tăng, giảm số dư tiền mặt, đồng thời cũng là nguyên nhân làm tăng, giảm giá trị tiền tệ
Trang 25Chủ nghĩa tự do mới
Xuất hiện từ sau những năm 30 của thế kỷ XX
Khẩu hiệu của họ là thị trường nhiều hơn, nhà nước can thiệp ít hơn
Lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới phát triển dưới nhiều tên gọi khác nhau ở nhiều nước: Đức, Anh,
Mỹ, Áo, Thụy Điển…
Trang 26 J.B Hicks (1904-1989), nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 1972
Tiền tệ là một chứng khoán, một hứa hẹn chi trả hoàn hảo nhất vì ở mọi nơi, mọi người đều chấp nhận tiền là thứ để thanh toán, hơn nữa nó có một quyền lực rất mạnh
Giá trị danh nghĩa của tiền ngang bằng với giá trị hiện hành
Trang 27Số lượng tiền trong lưu thông
không chỉ phụ thuộc vào khối lượng và sự thất thường trong giao dịch, mà còn phụ thuộc vào những
dự kiến chi tiêu và trữ lượng hiện
có của các chứng khoán.
Trang 28Trong trường hợp các dự kiến không co giãn, giả sử ở cả 3 thị trường: hàng hóa, chứng khoán, tiền tệ
Cầu về hàng hóa nâng cao sẽ làm cho giá cả bằng tiền của chúng nâng cao Cầu tăng -> giá cả chứng khoán tăng -> tỷ suất lợi tức hạ xuống.
Sự nâng cao cầu hàng hóa – chứng khoán, làm giá cả tín phiếu tăng lên tương ứng với giá cả hàng hóa.
Trang 29 Nội dung cơ bản của thuyết trọng tiền hiện đại:
Một là Mức cung tiền tệ là nhân tố có ảnh hưởng tới việc tăng sản lượng quốc gia
Hai là Giá cả hàng hóa phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ => quan tâm đến vấn đề ổn định giá cả và chống lạm phát
Phái trọng hiện đại tiền tệ ở Mỹ Miltol Friedman, Henry Simons, Geogrye Stigler…
Trang 30 Sử dụng MV = PQ, vì V ổn định, nên các biến số của kinh tế vĩ mô như giá cả, sản lượng, việc làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ Mức cung tiền tệ tỉ lệ thuận với sản lượng quốc gia, việc làm…
Khái niệm “tính ổn định cao” của cầu tiền tệ: cầu tiền tệ
có liên quan chặt chẽ với sự vận động của các chỉ tiêu chính, trước hết là thu nhập
Mức cầu danh nghĩa về tiền như sau: Md = f (yn,i)
yn là thu nhập danh nghĩa
i là lãi suất danh nghĩa
Trang 31 Nếu trong lí thuyết Keynes, tính chất của cầu về tiền được dựa trên cơ sở xem xét nó như là nhân tố nội sinh của sản xuất
Việc phân tích động lực chủ quan của việc gửi tiền dưới hình thức “sở thích chi tiêu”, tức phân tích cầu tiền tệ được thực hiện trên cơ sở chức năng của sản xuất
Keynes đặt ra nhiệm vụ là phải giải thích mối quan
hệ lẫn nhau giữa cầu về tiền tệ và lãi suất; cầu là một trong những nhân tố quyết định cơ cấu tái sản xuất của nền kinh tế
Trang 32 Miltol Friedman nghiên cứu dựa vào các tài liệu thống kê trong thời gian dài và đi đến kết luận rằng, việc thay đổi mức cầu về tiền là kết quả của việc thay dổi mức thu nhập, còn lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu về tiền
Tiền và cầu về tiền được xem xét không phải là nhân
tố hoạt động của quá trình sản xuất, mà như là một trong những nhân tố cầu về kết quả sản xuất, một bộ phận cầu về của cải
Trang 33 Mức cầu này được hình thành trên cơ sở lựa chọn giữa những loại tiền: vàng, bạc, trái khoán, cổ phiếu; các hàng hóa sử dụng lâu bền, những nhân tố của tư bản sản xuất…
Mức cầu về tiền được hình thành phù hợp với nguyên tắc chung của cầu về giá trị sử dụng
Chi tiêu tốc độ lưu thông tiền tệ trở thành một nhân
tố quyết định hình thành các khoản tồn quỹ
Các cá nhân tiêu dùng hay công ty khi quyết định các khoản tồn quỹ, luôn muốn bảo đảm cho mình mức thu nhập có thể lớn nhất trên cơ sở lựa chọn giữa những của cải khác nhau
Trang 34 Biểu hiện sự cân bằng tiền tệ dưới công thức:( M/P ) d = f (rb, rc, P, h, y)
Trong đó:
M/P : là tổng số tồn quỹ thực tế
Rb : tỷ suất thu nhập mong đợi danh nghĩa từ trái khoán
Rc : tỷ suất thu nhập mong đợi từ cổ phiếu
P : sự thay đổi mong đợi về giá cả
H : kết quả mong đợi đầu tư vào tư bản con người
Y : thu nhập thực tế
Trang 35 Khi xác định lượng cầu tiền tệ xuất phát từ tổng thể các nhân tố mong đợi hợp lý hình thành bên ngoài lĩnh vực sản xuất, biểu hiện như là kết quả của sản xuất chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp của nó.
Vì tính chất của cầu tiền tệ là nhân tố ngoại sinh nên từ công thức Md = f (yn,i) có thể viết đơn giản hơn là: Md = f (yn).
Trang 36 Mức cầu về tiền biểu
hiện hàm lãi suất (r)
Động lực duy nhất của việc giữ tiền là việc đưa khối lượng hàng hóa ra thị trường
Khối lượng hàng hóa
có tính ổn định nên mức cầu về tiền có tính
ổn định cao.
Trang 37Mức cung về tiền tệ có tính chất không ổn định Phụ thuộc vào các quyết định chủ quan của các
cơ quan quản lý tiền tệ, của hệ thống dự trữ liên bang (FED)
Nếu FED phát hành ra quá nhiều hay ít tiền tệ
sẽ dẫn đến lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế
Trang 38Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế Mỹ (1929-1933) là do FED đã phát hành một khối lượng tiền tệ ít hơn so với mức cầu
về tiền tệ -> không đủ tiền để mua hàng
và dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa
=> M ức cung tiền tệ có ảnh hưởng quyết định đến tình trạng của nền kinh tế Đề nghị thực tiễn về chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân
Trang 39 Tư tưởng cơ bản này là chủ động điều tiết mức cung tiền tệ trong thời kỳ phát triển
Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nên tăng khối lượng tiền tệ, còn thời kỳ ổn định nên giảm mức cung tiền
Mức cung tiền tệ cần tăng lên theo một tỷ lệ ổn định từ 3 – 4% /năm, làm GNP cũng tăng lên một cách ổn định
Ngăn chặn những xáo trộn trong nền kinh tế, ổn định giá cả và đạt được tốc độ tăng trưởng ổn định
Trang 40 Hai là Giá cả hàng hóa phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ => quan tâm đến vấn đề ổn định giá cả và chống lạm phát.
Xuất phát từ công thức: MV = PQ.
V= PQ/M
Vì giả định V ổn định; Q phụ thuộc rất ít vào M, nên sự thay đổi M sẽ làm thay đổi P Nếu M tăng thì giá cả tăng và ngược lại
=> lạm phát là căn bệnh nan giải của xã hội chứ không phải là thất nghiệp
Trang 41 Thất nghiệp chỉ là hiện tượng bình thường diễn
ra trên thị trường Ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, xã hội có thể chấp nhận được
Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm nhất Tính chất không ổn định của lạm phát là một nhân tố mất
ổn định chung, ảnh hưởng đến giá cả và sinh ra thất nghiệp Do vậy điều chính yếu là phải chống lại lạm phát.
Trang 429 Trường phái chính hiện đại
Quan điểm về nguồn gốc ra đời và chức năng của tiền tệ của trường phái này thống nhất với quan điểm của K Marx
Tiền quy ước có giá trị cao hơn với tư cách là phương tiện trao đổi so với bất kỳ cách sử dụng nào khác Bởi vì giá trị của tiền vượt xa chi phí sản xuất
ra nó và tiền được đánh giá theo sức mua của nó
Trang 43 Quan điểm về nguồn gốc ra đời và chức năng của tiền tệ của trường phái này thống nhất với quan điểm của K Marx.
Tiền quy ước có giá trị cao hơn với tư cách là phương tiện trao đổi so với bất kỳ cách sử dụng nào khác
Giá trị của tiền vượt xa chi phí sản xuất ra nó được đánh giá theo sức mua => được đánh giá gián tiếp qua những thứ nó mua, không phải qua ứng dụng trực tiếp