1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ NỢ XẤU Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ

18 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 439,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rõ ràng, với một chủ đề tưởng chừng rất cũ này, vẫn cần thiết có đánh giá lại cho đúng hơn thực trạng nợ xấu ngân hàng, vạch ra căn nguyên của vấn đề, trên cơ sở đó khuyến nghị một số gi

Trang 1

VẤN ĐỀ NỢ XẤU Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ

TS Trịnh Quang Anh

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam

DẫN NHẬP

Không còn phải bàn cãi, nợ xấu ngân hàng đang ở mức độ nghiêm trọng, gây đình trệ tín dụng và làm rủi ro hệ thống tăng cao Dù vấn đề thanh khoản hệ thống đã tạm ổn trở lại, nhưng nguy cơ đổ vỡ hệ thống vẫn luôn rình rập Rất nhiều giải pháp linh hoạt, mạnh mẽ và quyết liệt được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và một số bộ ngành liên quan đưa ra triển khai, tuy nhiên, do thường mang tính tình thế, thụ động và ngắn hạn, kết quả đạt được chắc chắn cũng nhất thời, chưa thể giải quyết được tận gốc vấn đề

Rõ ràng, với một chủ đề tưởng chừng rất cũ này, vẫn cần thiết có đánh giá lại cho đúng hơn thực trạng nợ xấu ngân hàng, vạch ra căn nguyên của vấn đề, trên cơ sở đó khuyến nghị một số giải pháp mang tính căn cơ hơn, đặt trong bối cảnh thực tiễn nền kinh tế và ngành ngân hàng, với kỳ vọng góp phần giải quyết triệt để vấn nạn nợ xấu, tạo tiền đề cho

sự phát triển lành mạnh và bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam Bài viết, trong khuôn khổ cho phép, cố gắng lần lượt giải quyết những vấn đề trên Những phân tích, nhận định được rút ra từ các phần Thực trạng và Nguyên nhân, sẽ là căn cứ để đề xuất các Giải pháp cho phần tiếp theo Một số hàm ý và thông điệp của tác giả sẽ được đưa ra thay cho Lời kết của bài viết

I NỢ XẤU “XẤU” ĐẾN MứC NÀO?

Cần thiết phải nói ngay, tất cả những con số đang sẵn có về nợ xấu ngân hàng, ở những chừng mực nhất định, chỉ phản ánh những khía cạnh

Trang 2

nhất định của vấn đề Một bức tranh toàn diện về thực trạng nợ xấu ngân hàng chưa bao giờ được đưa ra Một lý do dễ hiểu là ngay chính Cơ quan quản lý cũng không thể chắc chắn rằng nợ xấu chính xác hiện bao nhiêu Thực tế, nợ xấu ngân hàng là một biến số nhạy cảm, gắn chặt với tình hình kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh và diễn biến của thị trường

Nó thay đổi hàng giờ và phụ thuộc đáng kể vào góc nhìn của người báo cáo hay đánh giá, loại ra yếu tố chủ quan tiêu cực Chấp nhận thực tế này, tác giả tiến hành chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị cho căn bệnh

“nợ xấu ngân hàng” dựa trên số liệu tương đối nhưng hợp lý và đáng tin cậy, kết hợp với những kết quả định tính được cho là phản ánh đúng bản chất vấn đề

Hình 1 Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng

Nguồn: NHNN, Báo cáo từ các TCTD, Tác giả tổng hợp

Theo số liệu đến 31/12/2012 từ các tổ chức tín dụng (TCTD), nợ xấu toàn hệ thống ở tầm 120 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,1% so tổng dư nợ tín dụng.178 Số liệu này hiển nhiên thấp xa, bằng khoảng nửa so với con

số NHNN nắm được qua hệ thống thanh tra giám sát của mình Nếu cộng cả những khoản nợ xấu tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780/QĐ-NHNN179 và nợ được cơ cấu lại của

178 Nợ xấu cho vay nền kinh tế, hạch toán nội bảng, chưa bao gồm nợ xấu đầu tư trái phiếu do-anh nghiệp, ủy thác cấp tín dụng và mua trái phiếu dodo-anh nghiệp Các khoản nợ xấu lũy kế đến 31/12/2012 được các TCTD xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán cũng không được tính vào.

179 Xem http://tranhung09.blogspot.com/2013/04/nuot-con-coc-i-ong-alan-phan.html

Trang 3

Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ngân hàng được ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng, tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống hay khoảng 17% GDP danh nghĩa 2012 Đây rõ ràng là một con số đáng sợ, một minh chứng mạnh mẽ để giải thích tại sao tín dụng cho nền kinh tế rơi vào đình trệ, thanh khoản hệ thống ngân hàng bất ổn và nền kinh tế chìm sâu hơn trong suy thoái Chưa hết, con

số này có thể sẽ không dừng lại ở đó Nó có thể ngày càng trở nên trầm trọng hơn bởi: (i) triển vọng kinh tế tiếp tục xấu đi làm các khoản nợ hiện đang được coi là đủ tiêu chuẩn hay chưa xấu nhanh chóng chuyển thành xấu; (ii) NHNN xiết chặt hơn các chuẩn mực về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, theo đó

nợ xấu được đánh giá lại sẽ tăng lên; (iii) các khoản nợ xấu được các TCTD che giấu trước đây, sẽ “bục” dần theo thời gian và sự tiến triển của chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng; và quan trọng hơn cả (iv) niềm tin của thị trường bị đổ vỡ, không thể dễ dàng được khôi phục bằng các gói giải pháp kích thích, hỗ trợ, tháo gỡ, giải cứu nhỏ lẻ, kém hiệu lực, kém hiệu quả và kém căn cơ của Chính phủ

Quay trở lại con số nợ xấu đến 31/12/2012 từ báo cáo của các TCTD, bức tranh sơ bộ về nợ xấu ngân hàng cụ thể như sau:

Xét theo từng khối ngân hàng, nợ xấu tập trung chủ yếu ở khối

(i)

ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), 40%, và khối ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), 41%180 Khối ngoại181 khả dĩ hơn cả với thị phần nợ xấu chỉ chiếm hơn 4% tổng nợ xấu toàn hệ thống Con

số này ở khối các TCTD còn lại (chủ yếu là các công ty tài chính, công

ty cho thuê tài chính) là 15% Xét tỉ lệ nợ xấu so dư nợ cấp tín dụng của từng khối, số liệu cho bốn khối này lần lượt là: 3,3%, 4,7%, 2,5%

và 8,8%

Như vậy, nhìn con số tương đối, tình trạng nợ xấu ở khối các TCTD khác là tệ nhất Thực chất, nhiều công ty tài chính, công ty cho thuê tài

180 Thị phần tín dụng của Khối NHTMNN và khối NHTMCP đến 31/12/2012 lần lượt là 49%

và 36%.

181 Gồm các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Trang 4

chính đang trong tình trạng tài chính nghiêm trọng với tỉ lệ an toàn vốn CAR ở mức âm sâu, đe dọa an toàn hoạt động của nhiều TCTD khác.182

Xét con số tuyệt đối, nợ xấu nằm chủ yếu ở nhóm NHTMNN, trước hết là Agribank rồi đến BIDV - chiếm tới gần 1/3 tổng nợ xấu toàn hệ thống183 So năng lực tài chính, mức độ nợ xấu ở nhiều NHTMCP cũng rất đáng lo ngại, trước hết là nhóm NH yếu kém nằm trong diện phải tái

cơ cấu năm 2012 - chiếm tới gần 1/5 tổng nợ xấu toàn hệ thống (chưa tính Habubank do đã được sáp nhập vào SHB)

Hiển nhiên, con số nợ xấu thực ở khối NHTMNN sẽ còn lớn hơn nhiều khi khối này cho vay hầu hết khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời

có động cơ và có điều kiện để che giấu nợ xấu mạnh mẽ nhất.184 Tiếp đến chắc chắn là nhóm các NHTMCP bị “lớn ép” trong hơn nửa thập kỷ qua

(ii) Phân nợ xấu theo mức độ “xấu” - tức nhóm nợ, 185 nợ dưới chuẩn (nhóm 3) chiếm 22%, nợ nghi ngờ (nhóm 4) 29%, còn lại là nợ

có nguy cơ mất vốn (nhóm 5) chiếm 49% tổng nợ xấu 186 Chi tiết hơn,

nợ nhóm 5 tập trung chủ yếu vào khối NHTMNN, với 42%, và khối NHTMCP, 32% Ngoài ra, nợ cần chú ý (nhóm 2), tuy chưa tính vào nợ xấu, nhưng bản chất đã là nợ có vấn đề, cũng chiếm tới 6,8% tổng dư

nợ cho vay hay gấp 1,6 lần tổng nợ xấu

(iii) Quan sát kết quả phân loại tín dụng theo đối tượng khách hàng, nợ xấu của nhóm doanh nghiệp nhà nước (DNNN), bao gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) và tổng công ty nhà nước (TCTNN), chiếm tỉ lệ khoảng 18% tổng nợ xấu toàn hệ thống Phần lớn

182 Tuy thuộc loại TCTD phi ngân hàng, trên thực tế, hoạt động của nhiều công ty tài chính, công

ty cho thuê tài chính đã vượt qua ranh giới luật định, hoàn toàn có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống như các NHTM Tình trạng nợ xấu liên ngân hàng đẩy thị trường tiền tệ rơi vào trầm lắng, đóng băng như vừa qua, có sự đóng góp quan trọng của các TCTD này, là một minh chứng

183 Hệ thống TCTD nói đến trong bài viết không bao gồm Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

184Đây là một trong những lý do thuyết phục để cần phải xem xét lại quan điểm “Nâng cao vai trò, vị trí chi phối của các NHTMNN; bảo đảm các NHTMNN thật sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các TCTD, có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có năng lực quản trị tiên tiến, khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế” (BI1 Đề án 254).

185 Nợ cấp tín dụng hiện được phân thành năm nhóm: (i) nợ đủ chuẩn; (ii) nợ cần chú ý; (iii)

nợ dưới chuẩn; (iv) nợ nghi ngờ; và (v) nợ có nguy cơ mất vốn Nợ xấu bao gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.

186 Nếu so tổng dư nợ cho vay, nợ nhóm 3, 4 và 5 lần lượt chiếm 0,9%, 1,2% và 2%.

Trang 5

số nợ xấu theo sổ sách còn lại thuộc về nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ,

cá nhân và hộ gia đình

Con số khiêm tốn 18% vừa đề cập, tất nhiên chưa bao gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines187 và của các DNNN còn lại Con số nợ xấu thực của nhóm khách hàng DNNN tiếp tục được nhân lên nếu ta bóc tách phần nợ thực chất đã “chết” đang còn “ẩn nấp” trong nhóm “nợ cần chú ý” để hạch toán sang đúng nhóm nợ Thực trạng nợ xấu của khu vực tổ chức kinh tế này giải thích tại sao một trong

ba nội dung trọng tâm của chương trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế chính là cơ cấu lại DNNN, chủ yếu là các TĐKT và TCTNN

(iv) Phân tín dụng theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế, nợ xấu tập trung chủ yếu ở ngành dịch vụ (66%) và ngành công nghiệp xây dựng (30%), cụ thể hơn là ở 7/21 ngành kinh tế cấp 2 sau đây (lần lượt tính

theo tỉ lệ so tổng nợ xấu - tổng cộng 91%/100%, và so tổng dư nợ - tổng 3,25%/4,1%):

Công nghiệp chế biến, chế tạo: 19% và 1%;

Xây dựng: 10% và 0,5%;

Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động

cơ khác: 18% và 0,6%;

Vận tải kho bãi: 14% và 0,5%;

Hoạt động kinh doanh bất động sản: 7% và 0,3%;

Hoạt động dịch vụ khác: 15% và 0,5%;

Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất

sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình: 8% và 0,3%

Nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản (BĐS) và chứng khoán (trước đây được tính vào lĩnh vực phi sản xuất, bị hạn chế tăng

trưởng tín dụng) chỉ chiếm 8% tổng nợ xấu Đây rõ ràng là một con số rất

kém tin cậy Sự thực, rất nhiều khoản cấp tín dụng dưới các danh nghĩa khác nhau, được “luồn” vào lĩnh vực BĐS và chứng khoán hay “có liên

187 Ước tính đến cuối 2012, con số nợ xấu thực của riêng hai Tập đoàn kinh tế nhà nước này đã lớn gấp rưỡi con số báo cáo 18% của cả khu vực DNNN.

Trang 6

quan” đến lĩnh vực phi sản xuất này.188 Nợ xấu từ số dư nợ cho vay trên, hiển nhiên sẽ được “che giấu” kỹ nhất Đây là hệ lụy tất yếu của thị trường BĐS và thị trường chứng khoán bong bóng quá mức một thời

(v) Xét với toàn hệ thống đến 31/12/2012, nợ xấu sổ sách của các khoản cấp tín dụng được bảo đảm bằng BĐS và BĐS hình thành trong tương lai ước tính chiếm 64% tổng nợ xấu Như vậy, về danh nghĩa, tới

2/3 các khoản nợ xấu ngân hàng là có BĐS và BĐS hình thành trong tương lai bảo đảm, chưa tính đến các loại tài sản bảo đảm khác Tỉ lệ tổng giá trị tài sản bảo đảm ghi trên sổ sách so với số nợ xấu sổ sách có tài sản bảo đảm, đạt mức khá cao, tới 1,8 lần Tuy nhiên vấn đề ở chỗ, giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu cần được định giá lại theo thị trường Trong bối cảnh thị trường BĐS tiếp tục đóng băng, sụt giá

và chưa có dấu hiệu hồi phục ít nhất tới 2015, công việc định giá lại và phát mại tài sản thế chấp trở nên quá khó khăn, chưa tính đến yếu tố thủ tục, quy trình pháp lý Điều này có nghĩa, ngay cả với những khoản nợ xấu có BĐS và BĐS hình thành trong tương lai bảo đảm, tỉ lệ thu hồi vốn trong ngắn hạn sẽ vẫn ở mức rất thấp

(vi) Đánh giá khả năng chống đỡ nợ xấu bằng “vốn đệm” của hệ thống ngân hàng, tổng nợ xấu chiếm 20% tổng vốn chủ sở hữu cộng quỹ

dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD) toàn hệ thống, tính đến 31/12/2012

Tỉ lệ này ở các khối NHTMNN, NHTMCP, nước ngoài và các TCTD khác lần lượt là 25%, 19%, 6% và 21% Chi tiết hơn, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống đến cuối năm 2012 là 550 nghìn tỷ đồng, giảm gần

2 nghìn tỉ so cuối tháng 11/2012 và tăng 65 nghìn tỉ so cuối năm 2011 Chi phí trích lập DPRRTD 12 tháng năm 2012 của toàn hệ thống là 56 nghìn tỷ đồng, riêng tháng 12 là 12 nghìn tỉ, chiếm hơn 1/5 tổng chi phí DPRRTD cả năm 2012 Quỹ DPRRTD sau khi đã xử lý tích cực nợ xấu trong tháng 12/2012, sụt xuống còn 67 nghìn tỷ đồng từ số dư 81 nghìn tỉ tính đến cuối tháng 11/2012 Lượng nợ xấu ước tính được xử lý bằng quỹ DPRRTD riêng trong tháng 12 là 26 nghìn tỷ đồng Lợi nhuận

188 Ước tính đến cuối 2012, trên ½ tổng dư nợ cấp tín dụng cho nền kinh tế là có liên quan đến lĩnh vực BĐS.

Trang 7

trước thuế năm 2012 toàn hệ thống, sau khi trích lập DPRRTD tháng

12 sụt xuống còn 33 nghìn tỷ đồng từ mức 39 nghìn tỉ lũy kế 11 tháng

đầu năm và chỉ còn bằng 1/2 mức lợi nhuận trước thuế của năm 2011

Sự sụt giảm lợi nhuận của hệ thống ngân hàng năm 2012 chủ yếu do bị sụt giảm thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng, trong khi chi phí DPRRTD tăng mạnh Lợi nhuận trước thuế của tất cả các khối đều giảm so với năm 2011, trong đó khối NHTMCP có mức giảm mạnh nhất, -79%, khối NHTMNN chỉ giảm -4%, còn khối nước ngoài giảm -27%

Như vậy, dù đã nghiêm túc hơn trong việc trích lập DPRRTD và tích cực hơn trong việc dùng quỹ này để xử lý nợ xấu theo tinh thần chỉ đạo của NHNN, lượng vốn đệm của hệ thống vẫn còn khá mỏng và lượng nợ xấu theo sổ sách vẫn đe dọa “xuyên thủng lớp đệm vốn”, cho

dù hệ số an toàn vốn CAR toàn hệ thống theo báo cáo vẫn vượt mức tối thiểu theo quy định Thực ra, với số liệu ước tính đến cuối 2012 của toàn hệ thống như đã đề cập ở đầu phần 1, lượng nợ xấu thực có thể sắp

“nuốt” trọn toàn bộ vốn của hệ thống ngân hàng189 Tức về lý thuyết, các ngân hàng đang tiến tới ranh giới mất khả năng thanh toán, nếu tỉ lệ thu hồi nợ xấu đạt mức quá thấp

II CĂN NGUyÊN CỦA TÌNH TRẠNG NỢ XẤU?

Rất nhiều nguyên nhân của tình trạng nợ xấu NH được các chuyên gia kinh tế hay các cơ quan quản lý nhà nước chỉ ra, như: (1) môi trường kinh tế quốc tế lẫn trong nước bất lợi; (2) sự yếu kém về năng lực quản trị điều hành lẫn chuyên môn và sự xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng; (3) tương tự như (2) nhưng đối với phía khách hàng vay vốn; (4) Lỗ hổng trong cơ chế, chính sách, quy định hiện hành và tính hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra giám sát;

… Bài viết thay vì đi tiếp vào các nguyên nhân đã được bàn thảo nhiều

và rất khó phủ nhận này, sẽ cố gắng gạn lọc, vạch ra một nguyên nhân được cho là cốt lõi, gốc rễ của vấn đề

Không thể chối bỏ một sự thật là suốt gần thập kỷ qua, kinh tế vĩ

mô Việt Nam luôn trong tình trạng bất ổn Sự mất cân đối nghiêm trọng

189 Hệ số đòn bẩy tài chính bình quân của hệ thống ngân hàng là 9,6 lần.

Trang 8

giữa tiết kiệm và đầu tư lâu nay đã đẩy nền kinh tế luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, thâm hụt ngân sách nhà nước

và nợ công tăng mạnh(xem “Thống đốc NHNN: Có cơ sở để đưa ra 3 gói bơm tiền”, tháng 2/2013) Hệ lụy tất yếu là lạm phát dâng cao, theo

đó là sự bất ổn của tỉ giá, lãi suất, rối loạn hoạt động ngân hàng và đình trệ kinh tế, tiếp theo là sự đổ vỡ lòng tin Những thành quả kinh tế hình thức hoặc nhất thời trong những năm gần đây, nhanh chóng bị xóa nhòa bởi sự bất ổn vĩ mô dai dẳng Nói cách khác, chính những nỗ lực “bóp lại cho tròn” những khuyết tật của nền kinh tế thời gian qua nhưng thiếu

“thế, lực và tầm”, càng đẩy nền kinh tế chìm sâu hơn trong khó khăn, bế

tắc (xem Góc nhìn Alan Phan và Vũ Quang Việt 2013) Trước bối cảnh

này, các nhà hoạch định chính sách và các nhà chính trị đã chỉ ra được

sự bất cập, lạc hậu của cấu trúc nền kinh tế và mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam Kết luận của Hội nghị Trung ương 3, Khoá XI họp

từ ngày 6-10/10/2011 tại Hà Nội và Nghị quyết số 11/2011/QH13 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2012, đã ra đời kịp thời, tiếc là công tác triển khai vẫn hầu như “giậm chân tại chỗ”

Những yếu kém, bất cân đối nội tại của nền kinh tế trong nước do năng lực bất cập trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ những năm qua, chính là căn nguyên của thực trạng nợ xấu ngân hàng ngày nay.

Bảng 1 Tốc độ tăng cung tiền, tín dụng và lạm phát giai đoạn 2006-2011

Tốc độ tăng tín dụng 25% 49% 23% 38% 31% 14% 8.91% Tín dụng/GDP danh nghĩa 63% 90% 86% 105% 115% 103% 97% Tốc độ tăng M2 32% 41% 20% 28% 30% 12% 22.4% M2/GDP danh nghĩa 97% 116% 108% 123% 134% 115% 131% Lạm phát 6,6% 12,6% 19,9% 6,5% 11,8% 18,1% 6,81%

Nguồn: GSO, NHNN, Tác giả tổng hợp

Trang 9

Hình 2 Tăng trưởng tín dụng và lạm phát

Nguồn: GSO, NHNN, Tác giả tổng hợp.

Đi sâu thêm, Bảng Tốc độ tăng cung tiền, tín dụng và lạm phát giai đoạn 2006-2012 và Hình Tăng trưởng tín dụng và lạm phát của Việt Nam giai đoạn từ đầu năm 2008 tới nay cùng chỉ ra, khi tín dụng tăng trưởng “nóng” vượt xa khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, lạm phát tất yếu sẽ bùng phát sau một “độ trễ” nhất định Ngược lại, khi tín dụng suy giảm, nếu trầm trọng và kéo dài, sẽ dẫn tới nguy cơ giảm phát và đình trệ kinh tế, đi kèm là tình trạng nợ xấu nổi lên

Thực tế những năm trước đây, khi chính sách tiền tệ (CSTT) khá lỏng lẻo, tín dụng tăng trưởng với tốc độ bình quân gần 30%/năm trong suốt thập kỷ 2000-2010, thậm chí đạt tới mức trên 50% trong năm 2007

và nửa đầu năm 2008, thành tích “tăng trưởng kinh tế thần kỳ” chủ yếu nhờ đó có được, đã phải trả giá bằng mức lạm phát cao và kinh tế vĩ mô bất ổn kéo dài sau đó Nguồn vốn tín dụng dồi dào, dễ dãi, trong bối cảnh khả năng hấp thụ của nền kinh tế có hạn, tất yếu đã giúp thổi phồng

“bong bóng” BĐS và chứng khoán Một khi tốc độ tăng trưởng tín dụng tiếp tục cao từ năm này qua năm khác, nợ vay được “luân chuyển” và dòng tiền ra vào ngân hàng vẫn “bình thường” nên căn bệnh thanh khoản, đằng sau là nợ xấu, chưa bị bùng phát Nó chỉ tạo nên những “cơn sốt” nhất thời trên thị trường tiền tệ và sớm thuyên giảm khi NHNN cho uống thuốc “hạ sốt” bằng cách tăng mạnh cung tiền qua các kênh như nghiệp

vụ thị trường mở, tái cấp vốn, cho vay qua đêm, cung ra VND để mua vào ngoại tệ v.v hoặc khi có dòng tiền quay lại hệ thống NH

Trang 10

Năm 2011, CSTT chặt chẽ để kiềm chế lạm phát của NHNN (theo Nghị quyết 11/2011/NQ-CP) đã khiến cho vấn đề thanh khoản của các

NH “nóng” hầu hết năm và trở nên “sốt cao” từ khi có sự kiện NHNN tái áp đặt trần lãi suất (Chỉ thị 02/CT-NHNN, tiếp theo là Thông tư 30/2011/TT-NHNN) Sau hơn 5 tháng thanh khoản hệ thống trao đảo,

từ khoảng tháng 3/2012 tới nay, một tình trạng đối nghịch với “sốt cao”

là “cảm lạnh” bất ngờ diễn ra Thay vì phải cho uống thuốc “hạ sốt”, NHNN đã buộc phải cấp tập dùng thuốc “tăng huyết áp” nhằm ổn định lại “thể trạng” hệ thống

Đằng sau hiện tượng “thanh khoản” trồi sụt vừa qua thực chất là vấn đề chất lượng tài sản ngân hàng - nợ xấu Rõ ràng, “khối u” hay

“cục máu đông” này đã làm ngẽn “mạch” tín dụng cho nền kinh tế Ngược lại, khi thanh khoản của nền kinh tế bị ách tắc (thể hiện ở chỉ

số hàng tồn kho tăng cao, tình trạng nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau gia tăng v.v ) lại làm cho các dòng tiền ra vào hệ thống NH trở nên bất bình thường

Dấu hiệu rõ nét của sự “bất bình thường” ở trên là, tín dụng tăng trưởng âm suốt nửa đầu năm 2012 và vẫn trong tình trạng đình trệ tới nay, trong khi nhiều ngân hàng bị ứ thừa vốn khả dụng và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm được NHNN giao cho gần như không được sử dụng190 Những ngân hàng bị bế tắc “đầu ra” trên thị trường tín dụng và cả trên thị trường liên gân hàng này, buộc phải tìm đến kênh đầu tư trái phiếu chính phủ (TPCP) và các loại giấy tờ có giá (GTCG) ít rủi ro khác

Đáng lưu ý là hệ thống ngân hàng hiện đang nắm giữ ước tính tới trên 80% tổng lượng TPCP đang lưu hành Điều này có 3 hàm ý: (1) Chính phủ đã động viên một nguồn tài lực lớn ngay từ hệ thống NHTM, thay vì từ các định chế tài chính khác, các tổ chức kinh tế và dân cư, để đầu tư cho khu vực công, làm nguồn vốn tín dụng dành cho khu vực tư

bị thu hẹp;191 (2) NHNN, ở mức độ nhất định và giác độ nhất định, thực chất đã phải tài trợ gián tiếp cho thâm hụt ngân sách nhà nước (thông

190 Kết quả tăng trưởng tín dụng năm 2012 đạt được 8,91% chủ yếu nhờ nhóm “tứ đại” bốn NHTMNN với sự hậu thuẫn của NHNN.

191 Cái gọi là “hiệu ứng chèn lấn - crowding out effect”.

Ngày đăng: 10/03/2016, 05:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng - VẤN ĐỀ NỢ XẤU Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Hình 1. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng (Trang 2)
Bảng 1. Tốc độ tăng cung tiền, tín dụng và lạm phát giai đoạn 2006-2011 - VẤN ĐỀ NỢ XẤU Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Bảng 1. Tốc độ tăng cung tiền, tín dụng và lạm phát giai đoạn 2006-2011 (Trang 8)
Hình 2. Tăng trưởng tín dụng và lạm phát - VẤN ĐỀ NỢ XẤU Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Hình 2. Tăng trưởng tín dụng và lạm phát (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w