1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÀNG XÃ VEN BIỂN MIỀN TRUNG QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM LÀNG HÀ THANH

16 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 518,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đặc điểm tự nhiên và xã hội đó, trong bối cảnh lịch sử phức tạp của các đợt di dân, người Việt đã cùng nhau khai phá, cố kết cộng đồng và hình thành nên những sắc thái văn hóa làng

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÀNG XÃ VEN BIỂN MIỀ N TRUNG QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM LÀNG HÀ THANH (Some problems of coastal villages in the Central of Vietnam through “Hán Nôm” data in the Ha Thanh village) *

1 Đặt vấn đề

Làng xã là đơn vị tụ cư, là cơ cấu kinh tế-xã hội-văn hóa nổi bật của người Việt trong xã hội Việt Nam truyền thống Từ cái nôi vùng đồng bằng Bắc Bộ, người Việt đi về phương Nam đến tận đồng bằng Nam Bộ Trong tiến trình Nam tiến diễn ra mạnh mẽ dưới thời quân chủ; miền Trung nói chung, Thừa Thiên Huế nói riêng, không chỉ là nơi định cư mới mà còn là địa bàn trung chuyển để người Việt tiếp tục đi vào Nam, khai phá đồng bằng sông Mê-kông trù phú Miền Trung với địa hình nhiều đồi núi, sông nhỏ ngắn, đồng bằng hẹp, nhiều đầm phá và cồn bãi, khí hậu khắc nghiệt, vốn là địa bàn sinh tụ của nhiều cộng đồng cư dân Chămpa Trước đặc điểm

tự nhiên và xã hội đó, trong bối cảnh lịch sử phức tạp của các đợt

di dân, người Việt đã cùng nhau khai phá, cố kết cộng đồng và hình thành nên những sắc thái văn hóa làng xã mới

Làng ven biển miền Trung như làng Hà Thanh (xã Vinh Thanh), huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách Huế 30 km là một làng Việt được lập nên trong bối cảnh như thế Bài viết này đề cập đến đặc điểm khai phá lập làng, cơ cấu kinh tế và các sắc thái văn hóa của làng Hà Thanh qua nhiều nguồn tư liệu, đặc biệt tư liệu văn bản Hán Nôm, như là một dẫn liệu chi tiết (monograph) về một làng miền Trung.1

* TS Nguyễn Văn Đăng, Phó Trưởng khoa, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế (Vice-Dean, Faculty of History, Hue University of Sciences)

1 Làng Hà Thanh có di sản Hán Nôm phong phú vào bậc nhất của tỉnh do được gìn giữ một cách thiêng liêng, nghiêm cẩn từ xa xưa; có đến 380 tập văn bản với 538 văn bản gồm hơn 2196 trang, được lưu giữ trong hòm bộ làng do ông Thủ bộ làng chịu trách nhiệm quản lý.

Trang 2

2 Một số đặc điểm tự nhiên

Hà Thanh là một làng lớn, hiện nay là xã Vinh Thanh rộng trên 8km2, nằm ở tọa độ 107o 10’ kinh đông, 16o 25’ vĩ bắc Hình thể làng gần như hình vuông, phân bố chiều dài theo hướng tây bắc - đông nam chừng 3km, chiều rộng tây nam - đông bắc giữa phá Tam Giang

và bờ biển chừng 2,7 km Giới hạn của làng ngày xưa được ghi lại một cách ngắn gọn là “Đông Đại Hải; Tây Đại Giang; Nam Hà Úc, Cang Lô Xứ; Bắc Xuân Thiên, Cây Lục, Bàu Nổ” Nằm trên dải cát hẹp hai phía đông nam - tây bắc bị bao bọc bởi biển và phá lớn; ở trung độ của vùng duyên hải, Hà Thanh nằm giữa cửa Thuận An (phía bắc) và cửa Tư Hiền (phía nam) (Xem sơ đồ 1)

Về giao thông đường thủy, theo phá Tam Giang có thể đi về các ngả qua hệ thống các con đò Trước khi cầu Trường Hà qua phá vào làng được xây dựng (2004)2, từ bến đò ngang, dân làng có thể đi

2 Cầu dài 848m, là một trong 10 cây cầu đường bộ dài nhất Việt Nam đến thời điểm 2004.

Trang 3

sang làng bên kia phá Theo đò dọc, từ Hà Thanh có thể đến Thuận

An, lên Huế, ra Quảng Điền, qua đầm Cầu Hai, về cửa Tư Hiền, tiếp cận với quốc lộ 1A ở huyện Phú Lộc Về giao thông đường bộ, dọc theo chiều dài của làng là con đường Cái Quan (từ thị trấn Thuận An đến Tư Hiền - nay là tỉnh lộ 49)

Từ hệ thống giao thông đó, dân làng đã chú trọng việc giao lưu, trao đổi buôn bán với cư dân các làng xã ven đầm phá và cư dân trong tỉnh Vì thế, chợ Hà Thanh được hình thành sớm và trở thành trung tâm buôn bán phồn thịnh thời quân chủ

Tuy nhiên, sông biển bao quanh làng cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc đi lại cũng như giao lưu của địa phương với bên ngoài Theo thống kê, năm 2008, làng có diện tích 1.056,9 ha Trong đó, đất rừng 154 ha, đất canh tác 74 ha (2 vụ: 68ha, 1 vụ: 24ha), số còn lại là đất dành cho giao thông, thủy lợi và phi nông nghiệp Đất tự nhiên thuộc dạng địa hình bồi tụ do các trầm tích của sông, biển nên

c hủ yếu là cát và một phần bị nhiễm mặn, nên diện tích trồng trọt

ít Hoạt động khai phá của dân làng trong lịch sử đã tạo nên những cánh đồng lúa, nương, vườn trồng cây ăn quả trên vùng quê cát nắng gió Ruộng đất canh tác chủ yếu ở cánh đồng Trầm Niên và các xứ đồng cạnh phá Tam Giang, chạy dọc theo chiều dài của làng, bao quanh khu dân cư

Địa hình làng tương đối bằng phẳng, nằm trên nền cát nên việc xây dựng các công trình thủy lợi vô cùng khó khăn Nguồn nước cho cây lúa chủ yếu dựa vào mưa và khai thác các mạch nước ngầm (giếng, ao) để rồi dùng sức người gánh tưới

Khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm; mùa mưa lạnh đến muộn, thường từ tháng 12 và kết thúc sớm Hàng năm, trung bình có 160 ngày mưa và lượng mưa trung bình hàng năm là 3000mm Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%

Những đặc điểm trên đã tạo cho Hà Thanh những diều kiện thuận lợi để phát triển một cơ cấu các ngành nghề khá phong phú: nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và thương nghiệp như người dân đã tận dụng khai thác Bên cạnh đó, phần đất canh tác còn lại chủ yếu là đất cát pha hoặc đất cát, được nhân dân tận dụng để trồng hoa

Trang 4

màu, rau đậu, phát triển chăn nuôi, kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi “Trước sông sau biển” đã tạo nên ngư trường thuận lợi để dân làng phát triển nghề đánh bắt cá và các nguồn lợi thủy hải sản khác Cách khu dân cư khoảng 1km về phía biển xa xưa là bãi cát rộng, thường gọi là khu bạch sa chiếm gần một nửa diện tích tự nhiên của làng (gần 400ha) Ở đây có rừng cây hoang dại làm nguồn chất đốt quan trọng đồng thời cũng là bức rào tự nhiên ngăn cản gió bão Mấy thế kỷ qua, do sự khẩn hoang, chiến tranh, gió bão làm cho rừng cây bị thu hẹp Hiện nay khu vực này được dân làng trồng cây gây rừng để chắn gió cát tạo nên một vùng môi sinh tốt

3 Quá trình thành lập và tổ chức cộng đồng làng Hà Thanh

3.1 Quá trình thành lập

Trong “Bổn tộc hàn âm” và bia lăng của ngài Nguyễn Công

Chánh có ghi: “Đầu năm Mậu Ngọ hiệu Chính Trị, chúa Tiên Như

Nguyễn Công Chánh và Phan Bá Tùng vào trấn Thuận Hóa hộ giá bao chiếm địa bộ, lập nền cho đời sau” Gia phả hai họ Nguyễn,

Phan cũng cho biết hai ông có nguồn gốc từ “xã Thanh Đồng, tổng

Ngọc Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa”, đều là binh tướng

của Nguyễn Hoàng, tham gia chinh chiến lập được chiến công nên Nguyễn Công Chánh được thưởng 30 lạng bạc, Phan Bá Tùng được thưởng 10 nén bạc Nằm ở vùng đất cát ven bờ biển, hai vị này đã cùng gia đình và bà con canh phá được 17 mẫu 8 sào ruộng Đây

là thành quả ban đầu đặt cơ sở cho quá trình tụ cư của các dòng họ khác có nguồn gốc từ Thanh Hóa và các địa phương khác ở phía Bắc vào đây lập nghiệp sau đó

Từ hai họ đầu tiên, khoảng 50 năm sau, tiên tổ họ Trần đã tới đây lập nghiệp Đầu thế kỷ XVII, năm Chánh Hòa 26 (1705), vài gia đình

họ Đỗ, rồi sau đó một thời gian ngắn họ Dương, họ Lê cũng tụ tập về đây cùng khai phá đất hoang lập nên xứ đồng Long Nại Thế là những bãi bồi ven đầm phá thuận lợi cho việc gieo trồng dần dần được khai phá, tạo nên các xứ đồng: Trầm Niên, Nam Phổ, Tiền Miếu, Lôi Nai, Rành Rành Đó là kết quả của quá trình khai phá của nhiều thế hệ con cháu các dòng họ nói trên Triều đình đã sắc phong Tiền khai canh, khai canh, khai khẩn cho thủy tổ các họ này Hiện làng còn lưu giữ được 24

Trang 5

sắc phong ở 6 họ khai canh: Nguyễn, Phan, Trần, Đỗ, Nguyễn, Phan

và 3 họ khai khẩn là Dương, Nguyễn, Lê Trong đó, họ Nguyễn 10 sắc phong, Phan 6 sắc phong, Trần 2 sắc phong, Đỗ 2 sắc phong Bốn họ đầu tiên hiện nay đã có 17, 18 đời con cháu sinh sống

Trong văn bản của làng còn lưu lại 43 tờ khai của các họ và chi

họ vào tháng 9 năm Tự Đức 7 (1854)3, có thể thấy lúc này có 11 họ là Nguyễn, Phan, Trần, Đỗ, Lê, Dương, Huỳnh, Võ, Hồ, Nhậm (chuyển sang họ Dụng-gốc người Hoa), Đào Riêng họ Nguyễn, ngoài họ khai canh Nguyễn Công còn có 18 người khác cùng đứng kê khai Trong

số này, rõ ràng có một số họ Nguyễn từ các nơi khác chuyển tới, còn phần lớn là chi nhánh của dòng họ Nguyễn Công khai canh tách ra

Họ Đỗ cũng kê khai thành 5 phái riêng Tháng 2 năm Duy Tân 8 (1914), toàn xã lúc ấy có 23 họ và chi họ Hiện nay, theo số liệu của Hội đồng chư tộc, làng có tất cả 62 dòng họ sinh sống

Về dân số, bộ đinh năm Cảnh Thịnh 3 (1795) do Xã sử Đỗ Văn Thuận kê khai, các hạng dân của phường là 73 người (không tính phụ nữ)4 Sau đó, tờ kê khai dân đinh vào năm Gia Long 12 (1813) cho biết khi ấy Hà Thanh chỉ có 21 đinh (nam từ 18-60 tuổi)5 Đến năm Minh Mạng 18 (1837) theo tờ khai dân số của Lý trưởng Nguyễn Văn Thông ngày 29-10, số dân đinh là 77 người

Hơn 40 năm sau, năm Tự Đức 34 (1880), dân đinh là 81 người Rõ ràng mức độ phát triển dân đinh trong làng thế kỷ XIX

là khá lớn Mãi đến năm 1916, mới có con số chính thức dân số của phường là 650 người, trong đó dân đinh là 135, lão nhiêu 38, còn lại

là phụ nữ và trẻ em Sang thế kỷ XX, tốc độ tăng dân số của làng rất nhanh Trước Cách mạng tháng Tám, dân số làng hơn 1000 người nhưng năm 1975, làng có 6.800 người.6 Qua 3 đợt phân bố lại lao động vào các năm 1976, 1977, 1978 khi vận động bà con đi kinh tế

3 Bản dịch của Trần Đại Vinh.

4 Bản dịch của Trần Đại Vinh.

5 Dưới thời phong kiến, việc kê khai dân số của các làng với cấp trên thường ít chính xác Hầu như làng nào cũng khai giảm số đinh và số ruộng để đỡ bớt gánh nặng tô thuế, sưu dịch Thông thường từ số đinh có thể tính ra số dân theo tỷ lệ từ 4 đến 5 dân/đinh.

6 Theo tập Lịch sử Vinh Thanh từ khi lập làng đến trước Cách mạng tháng

Tám-1945, bản đánh máy, tr.20.

Trang 6

mới, dân số giảm xuống còn 5700 người Đến nay, theo Tổng điều tra tháng 4/2009 thì xã có 9.800 người, 2064 hộ (số liệu thống kê của xã)

Gắn với việc gia tăng nhân khẩu là nhu cầu tăng diện tích canh tác và cư trú Văn bản của làng cho biết, năm 1812, riêng số ruộng

tư của Hà Thanh là 66 mẫu 1 sào 7 thước 5 tấc, chủ yếu là loại 3 và

4 Xung quanh làng khi ấy còn 7 khoảnh đất hoang bao gồm bãi cát trắng, rừng rú, đất nghĩa trang với diện tích là 182 mẫu 3 sào 9 thước

1 tấc Hàng năm ai muốn vỡ hoang, phải có đơn xin phép hội đồng hương chức của làng rồi báo cấp trên Nhờ đó, diện tích đất hoang bị thu hẹp dần Sự biến đổi đó thể hiện rõ ở xứ đồng Trầm Niên Năm

1811, xứ đồng này có 12 mẫu 2 sào ruộng; 8 năm sau (1819) đã tăng lên 19 mẫu 4 sào 5 thước 6 tấc Ruộng đất khai phá được đều là của

tư nhân, chỉ sau chưa đầy một thế kỷ (1891), theo bộ điền, số ruộng

tư của xã là 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc 5 phân 2 ly, tăng gấp đôi năm 1812 Bãi cát đồi đất hoang bị thu hẹp lại chỉ còn 159 mẫu 4 sào

14 thước 1 tấc Các bản kê ruộng đất cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ

XX không ghi số ruộng đất công nên chúng ta không biết chính xác tổng số đất đai toàn phường diễn biến thế nào Năm 1988, theo số liệu thống kê của xã diện tích đất canh tác là 321,69 ha

Phần lớn cư dân đều có gốc từ Thanh Hóa vào Ngoài 2 họ Nguyễn, Phan, phần lớn các họ cũng ghi là ở Thanh Hóa vào Họ là những người nghĩa dũng, dân nghèo theo Nguyễn Hoàng Khi lập làng mang tên phường Hà Thanh Hà là sông, Thanh là xanh trong hoặc để chỉ xứ Thanh quê đất tổ Hà Thanh có thể được hiểu là làng bên con sông xanh trong hoặc làng ven sông từ Thanh Hóa vào

3.2 Tổ chức hành chính của làng

- Phường Hà Thanh buổi đầu thuộc tổng Kế Thống, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong 7 Cuối thế kỷ XVIII, theo Phủ biên

tạp lục thì Hà Thanh thuộc tổng Kế Thực Thời bấy giờ, Hà Thanh

thuộc Nội phủ (tức phủ chúa Nguyễn), nghĩa là phải nộp thuế trực

7 Dựa theo tờ cúng 4 sào đất cho chùa của ngài khai canh Nguyễn Công Chánh năm 1635 và tờ thị năm Cảnh Hưng thứ 31 (1770).

Trang 7

tiếp vào nội cung; còn hàng năm có thuyền ghe của phường lên đầu nguồn xuống cửa biển hái củi nếu đi qua các trạm kiểm soát thì không phải nộp thuế8 Dưới thời Tây Sơn lại thuộc tổng Kế Chủng (Bộ đinh năm Cảnh Thịnh 3, 1795)

Thời Gia Long (1802-1819), Hà Thanh được gọi là phường khách hộ thuộc tổng Kế Thống, Hương Trà nhưng đến năm 1835 lại gọi là ấp, tổng Kế Mỹ, huyện Phú Vang Đơn vị hành chính này tồn tại cho đến năm 1945.9

Từ năm 1945 có hai tên gọi hành chính của làng:

1) Chính quyền cách mạng gọi là thôn Hà Thanh, xã Phú Hương (bao gồm Hà Thanh, Hà Úc, An Bằng), Phú Vang Từ năm

1949, làng thuộc xã Phú Ngạn

2) Chính quyền thân Pháp vẫn gọi ấp như trước 1945 Năm

1951, đổi gọi là Khu vực hành chính Hà Thanh, rất rộng bao gồm 2 tổng (Kế Mỹ, Diêm Trường cũ)

Từ năm 1954, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có một số thay đổi về cách gọi tên Xã Đức Thanh ra đời (tháng 4-1956) bao gồm làng Hà Thanh và vạn đò Hà Mỹ (sống trên phá Tam Giang) Ngày 17-5-1958, xã Đức Thanh thành xã Vinh Thanh, quận Vinh Lộc Đối với chính quyền cách mạng (1963-1975), Hà Thanh vẫn thuộc xã Phú Ngạn

Sau năm 1975, xã Vinh Thanh vẫn tồn tại nhưng lại thống thuộc nhiều huyện khác nhau: Phú Vang (1975-1977), Phú Lộc (đến 5-1981), Hương Phú (đến 6-1989) và quay về huyện Phú Vang từ

1989 cho đến nay

Trải qua các thời kỳ, tên gọi Hà Thanh tồn tại lâu dài nhất với các tổ chức hành chính phường, ấp, thôn rồi đến xã (Đức Thanh - 1956; Vinh Thanh - 1958) Dân gian xưa nay vẫn gọi bằng cái tên thân thương làng Hà Thanh Đây là loại làng lớn, “nhất làng nhất xã”, tương đối ít trên đất Thừa Thiên Huế

8 Dựa theo tờ thị truyền của chúa Nguyễn Phúc Lan gửi cho làng năm Dương Hòa thứ 2 (1636).

9 Dựa theo bộ đinh năm Minh Mạng thứ 19 (1838) và bản khai của các họ về tổ tiên năm Tự Đức thứ 7 (1854)

Trang 8

- Về tổ chức bộ máy, trong buổi đầu của phường Hà Thanh thời chúa Nguyễn, quan viên đứng đầu phường là chức Tướng thần, Hương trưởng.10 Thời Tây Sơn có chức Xã sử, thời Gia Long có 2 chức Trùm thuộc và sau đó là Xã trưởng Từ thời Minh Mạng, người đứng đầu

là Lý trưởng, đến Phó lý Lý trưởng do dân bầu nhưng được cấp trên chuẩn y, thường nằm trong các dòng họ lớn (4 họ khai canh)

Từ thời Minh Mạng cho đến năm 1945, giúp việc cho Lý trưởng và Phó lý có Hội đồng Ngũ hương Mỗi người phụ trách một công việc chuyên biệt là Hương bộ (giữ sổ sách), Hương bản (thủ quỹ), Hương kiểm (an ninh), Hương mục (công trình công cộng), Hương dịch (tổ chức lễ hội)

Ngoài tổ chức hành chính, trước 1945, làng có các tổ chức

tự quản đại diện cho lệ làng trước “phép nước” Đứng đầu tổ chức

này là Hương lão - những người nhiều tuổi nhất trong hạng dân

“lão nhiêu” Về danh nghĩa, họ có quyền hành, được tham gia bàn bạc những công việc lớn trong phường như bán ruộng công, lập chợ bên cạnh các công việc hành chính của Xã trưởng, Lý trưởng Hương lão được dân kính trọng, được biếu lễ lạc trong tế lễ Vai trò của Hương lão giống như Tiên chỉ, Thứ chỉ ở các làng phía Bắc Bên

cạnh Hương lão là Hội đồng bô lão gồm các lão ông từ 60 tuổi trở

lên (có cả chức sắc, khoa bảng về hưu) Hội đồng thường được mời bàn bạc công việc phường ấp và được tôn trọng theo truyền thống trọng lão của người Việt

Các hoạt động lễ hội như hội làng, tế thần linh, thờ cúng tổ tiên là nội dung quan trọng trong đời sống của dân làng Phường

bầu lên người Hội chủ để tổ chức và lo toan việc này Hội chủ là

người có uy tín và thông hiểu tập tục lễ nghi Hội chủ của phường luôn thuộc dòng họ lớn (Nguyễn, Phan), thường do tộc trưởng của

họ kiêm quản Muốn được bầu làm Hội chủ, họ phải trải qua chức

Thủ bộ, có học vấn, có đức hạnh và phải là người giàu có Hội chủ là người đứng đầu Hội đồng chư tộc làng Hội đồng này tập hợp những

Tộc trưởng của các tộc lớn trong làng, các họ khai canh, khai khẩn

và nhiều họ khác có lịch sử định cư sớm và dân số đông

10 Dựa theo các tờ thị truyền của chúa Nguyễn trong các năm Dương Hòa thứ 2 (1636), thứ tư (1638), Chánh Hòa 26 (1705), Cảnh Hưng 31 (1770).

Trang 9

Hà Thanh trước đây thường có hai phường (Đông và Tây) với

4 xóm Phường Tây tập trung 2 họ khai canh Nguyễn Công và Phan; phường Đông chủ yếu là địa bàn sinh sống hai họ Trần, Đỗ Xóm quy tụ những người cùng tụ cư hoặc cùng nghề Xóm Chợ chính là xóm Vọng Dương trước đó, cư dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán Xóm Biển sống gần biển, hơi tách biệt với các xóm khác Đứng

đầu xóm là Trùm xóm Công việc của ông là duy trì trật tự, phân xử

các bất đồng, giữ gìn nề nếp, gia phong và không khí hòa hợp trong thôn xóm

4 Đời sống kinh tế của làng

4.1 Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp

- Ruộng đất công thuộc quyền quản lý của phường chiếm tỷ

lệ nhỏ, không có để quân cấp cho dân đinh cày cấy như nhiều địa phương khác Trong các tờ khai về ruộng đất chịu thuế thời Gia Long không thấy nói đến bộ phận công điền công thổ Có lẽ số ruộng đất công ít ỏi đã dành để cấp cho một số họ có công đầu trong việc khai phá lập ấp và các hội tập thể Chẳng hạn, hai họ Nguyễn, Phan đều được mỗi họ 3 mẫu ở xứ Trầm Niên để chi phí cho việc thờ cúng tổ tiên và cũng là các vị “tiền khai canh” của phường; đình, chùa cũng chỉ được cấp mỗi nơi không quá 2 sào

Trong văn bản Hán Nôm còn lưu được tờ đơn xin bán “4 sào

ruộng công” do quan chức của làng làm năm Cảnh Hưng 37 (1776)

với lý do “dùng vào việc tô thuế” Đến năm Gia Long 11 (1812) văn bản có ghi “Tư điền thực trưng của phường 66 mẫu 1 sào 7 thước 5

tấc” mà không đề cập gì đến công điền nữa Trong tờ đơn xin miễn

lao dịch năm 1903 nêu rõ: “Ấp chúng tôi ở gần sát bờ biển, không

có một tấc công điền Mọi việc cúng tế, miếu đền, thảy đều do dân đóng góp thật là khổ sở” Đó là nét khác biệt của Hà Thanh so với

nhiều làng quê trong vùng thuở ấy

Điều đáng chú ý ở đây là ruộng đất khá tập trung, không có địa chủ lớn (hàng chục, hàng trăm mẫu) và cũng không có sự manh mún 1 hoặc 2 sào như nhiều làng quê khác Theo thống kê ruộng đất năm 1811, phường có 66 mẫu 1 sào 7 thước 5 tấc ruộng tư phân bố

Trang 10

trên 6 xứ đồng Lôi Nai, Ruộng Nại, Đồng Ngoài, Trước Miếu, Rành Rành và Trầm Niên Số này thuộc quyền sở hữu của 18 chủ ruộng

mà người ít nhất có 1 mẫu, người nhiều nhất là 11 mẫu 1 sào Cuối thế kỷ XIX, ruộng đất tư phường có 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc

5 phân 2 ly 11

- Trước sau làng bị nước mặn của biển cả, đầm phá bao bọc Đất đai nhiều nhưng độ màu mỡ ít nên dân làng sử dụng những cánh đồng trũng gần đầm lạch, tiện nguồn nước hoặc bãi bồi trước phá

có độ ẩm lớn, màu mỡ để cấy lúa Những cánh đồng cao không có nước được người dân dùng đôi thùng gánh nước để tưới cho cây lúa

Để khai thác hết đất đai, tăng thêm nguồn lương thực, người dân trồng thêm các loại hoa màu: ngô, khoai, sắn, đậu mà nhiều nhất

là khoai trên ruộng 1 vụ lúa (luân canh) để vừa tăng thu nhập vừa cải tạo đất Ngoài ra, trong mảnh vườn nhà, đều được trồng các loại rau quả, cây gia vị, cây ăn quả Những năm đầu thế kỷ XX, dân làng còn học thêm nghề trồng dâu nuôi tằm nhưng không phát triển được nghề ươm tơ dệt vải lụa mà phải bán tằm và kén cho làng Mỹ Lợi Trước năm 1975, dân làng còn trồng cây thuốc lá cung cấp cho nhu cầu địa phương và các làng lân cận

Nghề chăn nuôi chủ yếu là trâu bò lợn gà để hỗ trợ cho việc làm ruộng và cung cấp thực phẩm Theo thống kê của làng năm

1916, cả ấp khi ấy có 201 gia đình nuôi được 39 con trâu, 63 con bò, bình quân hai nhà có 01 con.12 Lợn thì được nuôi phổ biến hơn, hầu như gia đình nào cũng nuôi, có khi đến 5-6 con Hà Thanh là nơi cung cấp lợn giống cho nhiều làng xã trong tỉnh

4.2 Nghề ngư

Bờ biển bãi ngang và phá Tam Giang rộng là ngư trường thuận lợi cho việc đánh bắt thủy hải sản Gia phả các họ khai canh Nguyễn

Công và Phan đều ghi: “Năm Mậu Ngọ, triều Lê Chính Trị, bao chiếm

11 Theo tập Lịch sử Vinh Thanh từ khi lập làng đến trước Cách mạng tháng

Tám-1945, Bản đánh máy, tr.32.

12 Theo tập Lịch sử Vinh Thanh từ khi lập làng đến trước cách mạng tháng

Tám-1945, Bản đánh máy, tr.36.

Ngày đăng: 10/03/2016, 05:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w