1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

23 279 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 764,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mô hình ngân hàng đa năng và chuyên doanh Với mô hình ngân hàng đa năng, các ngân hàng vừa hoạt động như một NHTM, với nghiệp vụ cho vay thương mại, đồng thời hoạt động như một

Trang 1

ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI

CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và Nhóm nghiên cứu

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội1

mở đầu

Vào đầu năm 2012 hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án được ban hành (Quyết định số 254/QÐ-TTG, ngày 1/3/2012 của Thủ tướng Chính

phủ: “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015")

Đề án 254 đã đưa ra các mục tiêu chung đến năm 2020 và các mục tiêu cụ thể đến năm 2015, xác định rõ các quan điểm, định hướng, giải pháp và lộ trình thực hiện tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCCD) Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 Riêng đối với các NHTM, đề án chia các ngân hàng thành 02 nhóm đối tượng: Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần, trong đó NHTM cổ phần lại được chia thành 03 nhóm: Nhóm ngân hàng lành mạnh, nhóm ngân hàng thiếu thanh khoản tạm thời và nhóm ngân hàng yếu kém Trên cơ sở đó, Đề án cũng đã đưa ra các định hướng và giải pháp tái cơ cấu khác nhau đối với từng nhóm ngân hàng83

Sau gần 3 năm thực hiện, các lộ trình của quá trình tái cơ cấu ngân hàng (NH) được đặt ra rất rõ ràng Đây là thời điểm cần thiết để các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo ngân hàng và nhà nghiên cứu đánh giá, tổng kết lại những kết quả đạt được ban đầu, đồng thời chỉ rõ những hạn chế còn chưa giải quyết được, dưới góc nhìn khách quan Để đánh giá kết quả tái cơ cấu NH, cũng có khá nhiều nghiên cứu và báo cáo đề

www.NHNN.gov.vn, trong bài viết này gọi là Đề án 254.

Trang 2

cập, trong đó, một trong những ẩn số của quá trình tái cơ cấu ngân hàng, được một số nghiên cứu trước đây (Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh

Tú, 2012, Nguyễn Đức Thành, 2012) đã chỉ ra là định dạng hệ thống

NH sau tái cơ cấu như thế nào chưa được đề cập một cách toàn diện và thấu đáo? Các NHTM Việt Nam sẽ hoạt động theo mô hình đa năng hay chuyên doanh? Mô hình ngân hàng đầu tư có phù hợp không? Cấu trúc về sở hữu của các nhóm NH sẽ như thế nào?

Bài viết sẽ tập trung trả lời các câu hỏi trên theo cấu trúc sau: Sau

phần mở đầu, phần II sẽ nghiên cứu thông lệ quốc tế về định dạng hệ thống NH, phần III sẽ phân tích, đánh giá cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó, phần IV sẽ đề xuất và đưa ra một số gợi ý

để định dạng hệ thống NHTM Việt Nam sau tái cơ cấu

i đỊnh dạng hệ Thống ngân hàng - Thông Lệ quốc Tế

1.1 mô hình ngân hàng đa năng và chuyên doanh

Với mô hình ngân hàng đa năng, các ngân hàng vừa hoạt động

như một NHTM, với nghiệp vụ cho vay thương mại, đồng thời hoạt động như một ngân hàng đầu tư với việc bảo lãnh phát hành chứng khoán và tham gia vào thị trường cổ phiếu sơ cấp và thứ cấp Ngoài ra, ngân hàng đa năng còn tham gia vào các dịch vụ tài chính khác như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn đầu tư, kinh doanh bất động sản… Một đặc điểm của mô hình này là quan hệ mật thiết và lâu dài giữa các ngân hàng và các công ty do các ngân hàng không chỉ là người vay vốn và giám sát các khoản vay mà đồng thời là cổ đông của các công ty thông qua việc mua cổ phiếu, hay tham gia vào các hoạt động khác Mô hình ngân hàng đa năng có ưu thế là thông tin và tính kinh tế theo quy mô, nhưng có nhược điểm là khi kết hợp các hoạt động kinh doanh này có thể gây

ra những xung đột về lợi ích và nếu những xung đột này không thể dung hòa có thể đe dọa tới sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng

Ngược lại, mô hình ngân hàng chuyên doanh là mô hình ngân

hàng thể hiện đặc trưng khác biệt về mặt pháp lý giữa hai ngành ngân

Trang 3

hàng và ngành chứng khoán, tiêu biểu là mô hình ở Mỹ sau năm 1929, Canada, Hàn Quốc và Nhật Bản Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận Các ngân hàng không được tham gia vào việc kinh doanh chứng khoán, hay nói cách khác, công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, không có nghiệp vụ ngân hàng

Ưu điểm của mô hình này là sự tách biệt giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động kinh doanh chứng khoán, qua đó hạn chế được rủi

ro cho hệ thống ngân hàng Nhược điểm của mô hình kinh doanh này là không tận dụng được những dịch vụ tiện ích mà hệ thống ngân hàng có thể cung cấp cho công ty chứng khoán

1.2 mô hình cho hoạt động ngân hàng đầu tư

Về cơ bản, ngân hàng đầu tư có thể tồn tại ở dạng độc lập hoặc kết hợp với hoạt động NHTM, công ty bảo hiểm hình thành nên các tập đoàn tài chính tổng hợp Ở Mỹ, xu hướng hình thành các tập đoàn tài chính tổng hợp xuất phát từ sự ra đời của Đạo luật Gramm-Bliley 2000 thay thế Đạo luật Glass-Steagall 1933 Mỗi mô hình có những ưu nhược điểm nhất định và phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử

Khi cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ lên tới đỉnh điểm của sự tàn phá vào tháng 9/2008 với sự sụp đổ của Lehman Brothers và hàng loạt các định chế tài chính khác, các ngân hàng đầu tư độc lập còn sót lại bao gồm Goldman Sachs và Morgan Stanley đã phải chuyển sang mô hình ngân hàng tổng hợp với việc phát triển mảng ngân hàng thương mại Mô hình mới cho phép ngân hàng đầu tư tận dụng được nguồn vốn ổn định của ngân hàng thương mại để đối phó với khủng hoảng, đồng thời nhận được sự hỗ trợ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong trường hợp khó khăn Hiện tại, còn rất ít ngân hàng ở Mỹ đi theo mô hình ngân hàng đầu tư độc lập Tuy nhiên, có thực sự mô hình này không còn phù hợp nữa hay không và liệu các ngân hàng đầu tư sẽ đi theo mô hình nào trong tương lai vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp

Trang 4

Ngày nay, với xu thếtự do hóa tài chính tại nhiều quốc gia, mô hình ngân hàng đầu tư đã phát triển phức tạp và đa dạng Ngân hàng đầu tư có thể tồn tại dạng độc lập hoặc chỉ là một mảng kinh doanh của một ngân hàng tổng hợp Xét về các ngân hàng đầu tư độc lập, trên thế giới tồn tại 2 mô hình ngân hàng đầu tư: Ngân hàng đầu tư toàn diện và ngân hàng đầu tư chuyên sâu.

Ngân hàng đầu tư toàn diện: Cung cấp các dịch vụ đa dạng bao

gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán, đầu tư chứng khoán, cung cấp các khoản tín dụng, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, môi giới chứng khoán, quản lý đầu tư và nghiên cứu Có thể lấy ví dụ về mô hình ngân hàng đầu tư toàn diện thuộc nhóm các ngân hàng lớn như: Goldman Sachs, Merrill Lynch và Morgan Stanley Cả 3 ngân hàng này có doanh thu ròng trong năm 2006 khoảng 33-38 tỷ USD

Goldman Sachs tập trung phục vụ các khách hàng tổ chức, những người giàu có và chính phủ hơn là các dịch vụ bán lẻ cho khách hàng cá nhân thông thường Trong khi đó, Merrill Lyuch và Morgan Stanley lại có thiên hướng chung cấp các dịch vụ bán lẻ Cuối năm 2006, Merrill Lyunch mua 49% sở hữu của Tập đoàn Black Rock là tập đoàn quản lý đầu tư lớn nhất thế giới với số tài sản quản lý lên tới 1.100 tỷ USD

Bảng 1 Các lĩnh vực kinh doanh chính của 3 ngân hàng đầu tư toàn diện

Goldman Sachs Merrill lynch Morgan Stanley

Ngân hàng đầu tư Ngân hàng đầu tư Ngân hàng đầu tư

Sản phẩm có thu nhập cố định Thị trường toàn cầu Sản phẩm có thu nhập cố định

Quản lý tài sản Quản lý tài sản Quản lý tài sản

Dịch vụ chứng khoán Dịch vụ nhà môi giới chính Dịch vụ nhà môi giới chính

Nguồn: www.goldmansachs.com, www.merrilllynch.com, www.morganstanley.com

Ngân hàng đầu tư chuyên sâu: Chỉ cung cấp một số mảng dịch vụ

lựa chọn nhất định hoặc tập trung khai thác một mảng thị trường nhất

Trang 5

định Một số ngân hàng chuyên về tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, một số tập trung phục vụ các khách hàng định chế tài chính, một số tập trung vào đầu tư mạo hiểm dựa công nghệ cao như ở thung lũng Silicon Ví dụ về các ngân hàng đầu tư chuyên sâu bao gồm Sandler O’Neill là ngân hàng đầu tư của Mỹ thành lập năm 1988 chuyên phục vụ các khách hàng là các định chế tài chính Lazard LLC là ngân hàng đầu tư của Mỹ thành lập năm 1848, chuyên về quản lý tài sản và tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Các ngân hàng đầu tư chuyên sâu không cung cấp đầy đủ các loại dịch vụ của ngân hàng đầu tư và thường không bị rơi vào tình huống xung đột lợi ích như các ngân hàng đầu tư toàn diện Dưới đây là 3 ví dụ về mô hình ngân hàng đầu tư chuyên sâu

Bảng 2 Chuyên môn hóa của 3 ngân hàng đầu tư chuyên sâu tiêu biểu

Sandler O’Neil Greenhill lazard

Chuyên cung cấp các dịch vụ cho

khách hàng là các định chế tài

chính và các công ty bảo hiểm

Chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tái cơ cấu tài chính và tham gia đầu

tư ngân hàng bán buôn.

Chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn về mua bán, sáp nhập và quản lý tài sản

Nguồn: www.sandler.com, www.greenhill.com, www.larzard.com

1.3 đánh giá cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt nam hiện nay

1.3.1 Vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hệ thống tài chính

Cũng giống như các quốc gia khác trong khu vực như Singapore, Malaysia, Việt Nam là một quốc gia mà hoạt động ngân hàng vẫn đang là hoạt động chủ chốt trong việc cung ứng và phân bổ vốn cho nền kinh tế Trong khi tỷ lệ về mức cung ứng tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân so với GDP của thế giới của các nước Đông Á Thái Bình Dương, cũng như của các nhóm nước có thu nhập thấp và trung bình đều ở mức trên dưới 40%, tỷ lệ này ở các nước Đông Nam Á đều trên 100% Điều này chứng tỏ vai trò rất lớn của khu vực ngân hàng đối với nền kinh tế các quốc gia này, trong đó có Việt Nam

Trang 6

Hình 1: Tín dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân/GDP

Nguồn: Worldbank Data, 2014.

Ở những quốc gia kể trên, lượng tiền gửi ngân hàng của dân cư và các tổ chức kinh tế cũng chiếm một tỷ lệ cao so với GDP: Việt Nam là 117%, Singapore là 131.4% và Malaysia là 114%, trong khi tỷ lệ trung bình của thế giới chỉ là 44.9% Các nhà đầu tư nói chung hay những người có nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế Việt Nam vẫn đang coi ngân hàng là kênh đầu tư an toàn và chủ yếu

Hình 2 cho thấy giá trị tài sản của các tổ chức phi ngân hàng của Việt Nam chưa được World Bank (2014) thống kê Hoạt động của các tổ chức phi ngân hàng là yếu tố làm tăng tính đa dạng cho hoạt động của hệ thống tài chính, sự phân bổ và cung ứng nguồn lực trong nền kinh tế được đa dạng hóa và có nhiều sự lựa chọn hơn Tỷ trọng tài sản của các tổ chức phi ngân hàng (thể hiện hoạt động và vai trò của của chúng trong hệ thống tài chính) rất khác nhau giữa các quốc gia và các nhóm nước, trong khi tỷ lệ của thế giới chỉ là 4.9% thì tỷ lệ này của các nước Đông Á Thái Bình Dương là 17.9%; Singapore chỉ là 2.7% và Malaysia lại là 74.7% Sự khác nhau trong phát triển và quy mô của các tổ chức phi ngân hàng phụ thuộc lớn vào đặc tính dân cư cũng như các thói quen đầu tư của người dân từng quốc gia

Trang 7

Hình 2 Một số chỉ số tài chính cơ bản của các quốc gia Đông Nam Á và trên thế giới

Nguồn: Worldbank Data, 2014.

Một chỉ số cũng giúp thể hiện sự phát triển đa dạng của các kênh huy động và phân phối vốn trong hệ thống tài chính của các quốc gia là giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động 14 năm nhưng vẫn chưa khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống tài chính Điều này đã được thể hiện thông qua giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ đạt mức 15.4% so với GDP, trong khi mức trung bình của thế giới là 31.5%, của nhóm nước thu nhập thấp và trung bình là 23.8%, của các nước Đông Á Thái Bình Dương là 58.7% Riêng đối với Singapore, một quốc gia hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á về hoạt động đầu tư chứng khoán, Sàn Giao dịch chứng khoán Singapore là sàn giao dịch được coi là ngưỡng chuẩn cho các đánh giá phân tích và niêm yết giao dịch của các quốc gia trong khu vực Chỉ số vốn hóa của thị trường chứng khoán Singapore đạt mức 145.2% so với GDP, trong khi Thái Lan có mức 81.7%

Trang 8

Hình 3 Giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán/GDP ở một số quốc gia

Đông Nam Á và trên thế giới

Nguồn: WorldBank data, 2014

Những phân tích ở trên cho thấy, ở nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, hệ thống tài chính đã có sự phát triển vượt bậc với sự đa dạng hóa trong các kênh đầu tư và phân phối Chẳng hạn, Singapore có sự phát triển mạnh về thị trường chứng khoán bên cạnh hoạt động ngân hàng; Malaysia có sự phát triển mạnh về hoạt động phi ngân hàng song song với hoạt động ngân hàng và hoạt động của thị trường chứng khoán Trong khi đó, cấu trúc hệ thống tài chính của Việt Nam chưa đa dạng, hoạt động ngân hàng vẫn là hoạt động chủ đạo và các hoạt động tài chính phi ngân hàng khác chưa phát triển Điều này dẫn đến những rủi ro và hạn chế đối với các hoạt động đầu tư và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế

Quy mô vốn cung ứng cho nền kinh tế của các tổ chức tài chính Việt Nam (06/2014) đạt 4.57 triệu tỷ đồng (xấp xỉ 152% GDP), trong đó hệ thống ngân hàng chiếm 80.5%, thị trường chứng khoán 18.5%, thị trường bảo hiểm 0.5%, bảo hiểm xã hội 1% (Xem bảng 3); Tổng

dư nợ tín dụng khoảng 3.5 triệu tỷ đồng (100% GDP), quy mô của thị trường chứng khoán khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng (28.6% GDP), quy

mô thị trường bảo hiểm khoảng 70 ngàn tỷ đồng (2% GDP) (Cấn Văn Lực,2014)

Trang 10

1.3.2 mức độ tập trung ngân hàng

Khái niệm mức độ tập trung ngân hàng (bank contrentration) được các chuyên gia của World Bank định nghĩa là tỷ trọng tài sản được nắm giữ bởi ba ngân hàng thương mại lớn nhất so với tổng giá trị tài sản của hệ thống NHTM Số liệu bảng 5 cho thấy, chỉ số phản ánh mức độ tập trung trong ngành ngân hàng ở Việt Nam có xu hướng giảm rõ rệt

từ 84.3% (năm 2001) còn 45.9% (năm 2011) Nếu so sánh với một số nước trong khu vực thì mức độ tập trung ngân hàng ở Việt Nam cũng tương đương với Thái Lan (45.3); Indonesia (44.0), Trung Quốc (50.8) và Nhật Bản (43.9)

Bảng 4 Chỉ số phản ánh mức độ tập trung ngân hàng của một số quốc gia

Quốc gia Năm 2001 Năm 2006 Năm 2011

Nguồn: World Bank Data, 2014.

Xu hướng sụt giảm của mức độ tập trung ngân hàng cũng phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam Đầu những năm 2000, một vài NHTM nhà nước nắm giữ thị phần cũng như chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị tổng tài sản của toàn hệ thống; mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào những ngân hàng này khá lớn Sau hơn 10 năm phát triển của hệ thống, cùng với sự gia tăng về số lượng và quy mô của hệ thống NHTMCP và ngân hàng nước ngoài (NHNg) - Chi nhánh NHNNg và chương trình cổ phần hóa hệ thống NHTM Nhà nước thì mức độ tập trung ngân hàng đã giảm xuống tương đối Đến năm 2011, mức độ nắm giữ tài sản của Top 3 ngân hàng có giá trị tổng tài sản lớn nhất (Vietinbank, Agribank

Trang 11

Rất khó để có thể đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa mức độ tập trung ngân hàng với khả năng xảy ra khủng hoảng Đây cũng là chủ đề còn nhiều ý kiến tranh luận trên thế giới Một số ý kiến cho rằng hệ thống ngân hàng ít tập trung (nhiều ngân hàng nhỏ lẻ) sẽ chịu nhiều tổn thương khi khủng hoảng xảy ra Lý do là những ngân hàng lớn thì khả năng đa dạng hóa rủi ro cao; hệ thống ngân hàng tập trung cao giúp gia tăng lợi nhuận từ đó giảm thiểu khả năng đổ vỡ; hệ thống ngân hàng với một vài ngân hàng lớn tập trung thì dễ giám sát hơn là một hệ thống có nhiều ngân hàng nhỏ lẻ Ngược lại, tồn tại quan điểm cho rằng hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung lớn thì khả năng xảy ra khủng hoảng cao hơn Lý do được đưa ra là những ngân hàng lớn thường nhận được nhiều hỗ trợ từ phía chính phủ - hiện tượng “quá lớn để đổ vỡ”; quy mô và hoạt động của những ngân hàng lớn cũng phức tạp hơn so với ngân hàng nhỏ (như tính chất phức tạp của hệ thống sản phẩm, mạng lưới, tính sở hữu chéo và sự chi phối đến những NHTM khác); những ngân hàng lớn có thể tận dụng sức mạnh thị trường của mình để đẩy chi phí cho vay lên cao khiến các doanh nghiệp phải chấp nhận những dự án có

tỷ suất lợi nhuận không cao hơn lãi suất vay NH

Tuy nhiên, một nghiên cứu khá uy tín của Beck và cộng sự (2003) cho thấy, khủng hoảng có xu hướng ít xảy ra hơn ở những hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung cao; đồng thời việc áp đặt ít quy định giới hạn về hoạt động hay sự gia nhập ngân hàng cũng làm giảm bớt sự bất ổn ngân hàng Nói cách khác, mức độ tập trung ngân hàng cao nhưng đi kèm sự cạnh tranh lành mạnh sẽ giúp giảm bớt sự bất ổn của hệ thống

Từ kết luận này cho thấy, mặc dù hệ thống NHTM Việt Nam chịu sự chi phối của một số ngân hàng lớn, thuộc sở hữu của nhà nước nhưng nếu hành lang pháp lý và quy định vẫn đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hệ thống với nhau, nhà nước giảm bớt những hỗ trợ mang tính hành chính đối với những ngân hàng thương mại nhà nước thì sẽ khó xảy ra khủng hoảng ngân hàng.

Ngày đăng: 10/03/2016, 05:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các lĩnh vực kinh doanh chính của 3 ngân hàng đầu tư toàn diện - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Bảng 1. Các lĩnh vực kinh doanh chính của 3 ngân hàng đầu tư toàn diện (Trang 4)
Hình 1: Tín dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân/GDP - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Hình 1 Tín dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân/GDP (Trang 6)
Hình 2. Một số chỉ số tài chính cơ bản của các quốc gia Đông Nam Á và trên thế giới - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Hình 2. Một số chỉ số tài chính cơ bản của các quốc gia Đông Nam Á và trên thế giới (Trang 7)
Hình 3. Giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán/GDP ở một số quốc gia - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Hình 3. Giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán/GDP ở một số quốc gia (Trang 8)
Bảng 3. Hệ thống các tổ chức tài chính Việt Nam Các tổ chức tài chínhTỷ trọng tổng tài sản trong hệ thống tài chínhCơ quan quản lý Ngân hàng và TCTC phi ngân hàng •5 NHTM nhà nước là chủ sở hữu chính •2 NH chính sách/NH phát triển •34 NHTMCP •4 NH Đầu tư; - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Bảng 3. Hệ thống các tổ chức tài chính Việt Nam Các tổ chức tài chínhTỷ trọng tổng tài sản trong hệ thống tài chínhCơ quan quản lý Ngân hàng và TCTC phi ngân hàng •5 NHTM nhà nước là chủ sở hữu chính •2 NH chính sách/NH phát triển •34 NHTMCP •4 NH Đầu tư; (Trang 9)
Bảng 4. Chỉ số phản ánh mức độ tập trung ngân hàng của một số quốc gia - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Bảng 4. Chỉ số phản ánh mức độ tập trung ngân hàng của một số quốc gia (Trang 10)
Hình 4: Số lượng TCTD 2006-2013 Hình 5: Số lượng các TCTD - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Hình 4 Số lượng TCTD 2006-2013 Hình 5: Số lượng các TCTD (Trang 13)
Hình 6: Giá trị tổng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2013 (tỷ đồng) - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Hình 6 Giá trị tổng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2013 (tỷ đồng) (Trang 14)
Bảng 7. Cơ cấu vốn sở hữu nhà nước tại 4 NHTM Nhà nước - ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Bảng 7. Cơ cấu vốn sở hữu nhà nước tại 4 NHTM Nhà nước (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w