1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Những tác động ảnh hưởng tới đa dạng sinh học

35 1,6K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Tác Động Ảnh Hưởng Tới Đa Dạng Sinh Học
Tác giả Vũ Thị Hà, Nguyễn Thị Hoài, Nguyễn Thị Kim Hoa, Phạm Thị Hồng Lưu, Thảo Linh, Nguyễn Thị Thùy Linh, Hàn Thị Phúc, Đinh Thị Thanh Tâm, Bùi Thị Thanh, Nguyễn Thị Hồng Thương, Lưu Thị Trang, Lê Thị Xuân
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Hữu Tôn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 332,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác động ảnh hưởng tới đa dạng sinh học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC

TIỂU LUẬN “Những tác động ảnh hưởng tới đa dạng sinh học”

G/V hướng dẫn : PGS.TS Phan Hữu Tôn

Nhóm SV thực hiện: Nhóm 2:

Vũ Thị Hà - Nguyễn Thị Hoài Nguyễn Thị Kim Hoa – Phạm Thị Hồng Lưu Thảo Linh – Nguyễn Thị Thùy Linh Hàn Thị Phúc – Đinh Thị Thanh Tâm Bùi Thị Thanh – Nguyễn Thị Hồng Thương Lưu Thị Trang – Lê Thị Xuân

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thế giới chúng ta đang sống rất phong phú và đa dạng về các loài sinh vật

Sự đa dạng sinh học trên thế giới có chịu nhiều tác động ảnh hưởng tới nó Vậy cónhững tác động nào ảnh hưởng tới sự đa dạng sinh học?Với mục đích làm sáng tỏ

vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Những tác động ảnh hưởng tới đa dạng sinh

học”

Trang 3

NỘI DUNG

I – Hiện trạng mất mát đa dạng sinh học và sự tuyệt chủng

1 Sự tuyệt chủng

Tuyệt chủng là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách

đỏ IUCN Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứngchắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết

Hầu hết động vật từng sống trên Trái Đất ngày nay đã bị tuyệt chủng Chúng

ta chỉ biết chúng qua mẫu hoá thạch xương hoặc vỏ của chúng Nếu chúng vừatuyệt chủng thì ta có thể biết qua các bức tranh cũ Những loài tuyệt chủng phổbiến là voi ma mút, khủng long, mèo răng kiếm

Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức báo động, nhiều khả năngloài sẽ bị tuyệt chủng Đối với một số quần thể trong tự nhiên, một vài cá thể vẫncòn có thể sống sót dai dẳng vài năm, vài chục năm, có thể vẫn sinh sản nhưng sốphận cuối cùng vẫn là sự tuyệt chủng (nếu không có sự can thiệp của công nghệsinh học) Để bảo tồn một loài nào đó trước hết phải tìm được nguyên nhân chủyếu dẫn đến sự tuyệt chủng, phải xác định được con người đã làm gì ảnh hưởngđến sự ổn định quần thể của loài và làm cho loài bị tuyệt chủng

Động vật trở nên tuyệt chủng bằng 3 cách:

- Tuyệt chủng giả tạo: Một số loài vật tiến hoá sang các loài khác và thực sự

không tuyệt chủng hoàn toàn Ví dụ qua dòng thời gian, nhiều loài ngựa và loàingười dần thay đổi bằng cách biến thành các loài khác Các loài cũ không đổi màchỉ chết đi

Trang 4

- Do môi trường sống: Cách thứ 2 là động vật tuyệt chủng là 1 loài đơn độc bị

biến mất do môi trường sống thay đổi Ví dụ nhiều loài có chế độ ăn quá đặc biệt

có thể dễ tuyệt chủng hơn so với các loài ăn tạp Ví dụ như gấu trúc chỉ ăn măngnon thì dễ tuyệt chủng hơn chuột có thể ăn bất cứ thứ gì

Cách sống đặc biệt cũng có thể gây nên sự tuyệt chủng Voi mamút và loài

tê giác lông mịn sống trong môi trường thời tiết lạnh của thời kỳ Băng hà Khibăng tan dần, khí hậu ấm hơn, và chúng chết dần

- Tuyệt chủng hàng loạt: Con đường tuyệt chủng thứ ba là sự tuyệt chủng

hàng loạt khi có hàng trăm loài tuyệt chủng ở khắp mọi nơi Đã có sự tuyệt chủnghàng loạt trong quá khứ cách đây khoảng 600 triệu năm Các nhà khoa học đangtìm nguyên nhân, nhưng vào 2 giả thiết chính là do mưa sao chổi và tuyệt chủng

gần giống theo kiểu của khủng long

2.Hiện trạng mất mát đa dạng sinh học và sự tuyệt chủng.

a Trên thế giới

Cuộc khủng hoảng các loài động, thực vật hoang dã còn tồi tệ hơn cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay Đó là cảnh báo củaPhó Giám đốc chương trình về các loài vật của Nhóm bảo tồn đa dạng sinh họcthuộc Liên đoàn quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN) G.Cri-xtốp-phơ Vi khi ông vívon đây là thời điểm để thừa nhận rằng thiên nhiên là "công ty" lớn nhất thế giớiđang đem lại lợi nhuận 100% cho con người Vậy mà thiên nhiên đang bị tàn phánặng nề, để lại những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường Ông kêu gọi cácchính phủ nỗ lực trong việc cứu lấy thiên nhiên như họ đã làm đối với các lĩnh vựckinh tế và tài chính

Trang 5

Theo một nghiên cứu mới đây về đa dạng sinh học quốc tế, các nhà khoahọc cảnh báo, hơn một phần ba loài động vật trên thế giới có nguy cơ tuyệt chủng.Ngoài 47.677 loài nằm trong danh sách Đỏ, một đánh giá có thẩm quyền nhất củacác nước về các loài vật trên Trái đất có nguy cơ tuyệt chủng và được đưa ra dựatrên nghiên cứu của hàng nghìn nhà khoa học, hiện nay 17.291 loài đang bị đe dọa,trong đó 21% là động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 70% thực vật và 35% loàikhông xương sống Các loài động vật lưỡng cư là nhóm sinh vật bị ảnh hưởngnghiêm trọng nhất trên Trái đất với 1.895 trong số 6.285 loài nằm trong danh sách

bị đe dọa Trong số này, 39 loài tuyệt chủng, 484 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao,

754 loài bị đe dọa và 657 loài không được bảo vệ Các nhà khoa học cảnh báo, thếgiới không những lo ngại số loài vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà còn bị đe dọaphá vỡ hoàn toàn hệ sinh thái Những con số trên báo động nguy cơ các loài sinhvật biến mất vĩnh viễn mặc dù các nhà lãnh đạo trên thế giới đều cam kết sẽ hànhđộng để đảo ngược xu hướng đó

Theo LHQ, khi các hệ sinh thái tự nhiên như rừng và đầm lầy biến mất, conngười cũng không còn được hưởng những “dịch vụ miễn phí” như nước và khôngkhí được lọc sạch; được bảo vệ trước những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt; đượccung cấp vật liệu xây nhà và sưởi ấm…

Trước tỉ lệ biến mất quá nhanh của các loài, một số nhà sinh vật học tuyên

bố con người đang ở giữa đợt đại tuyệt chủng thứ sáu của Trái đất.“Chúng ta đangđối mặt với một cuộc khủng hoảng tuyệt chủng”, Jane Smart - giám đốc nhóm bảotồn đa dạng sinh học thuộc Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN) - nói

“Sự mất mát hệ sinh thái đa dạng đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối với nhânloại hôm nay và mai sau”

Hiện nay trên trái đất có khoảng 30 – 40 triệu loài thực vật và động vật, songmới chỉ kiểm kê được 1,7 triệu loài Tỷ lệ diệt vong gây ra do con người lớn gấp

Trang 6

1.000 lần so với tỷ lệ diệt vong tự nhiên, con người đã làm tuyệt chủng khoảng 120loài có vú, 187 loài chim, 13 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư và khoảng 30 ngàn loài cá.Những môi trường có số loài phong phú nhất thường được quan tâm khai thácnhiều nhất mà thường là môi trường đời sống hoang dại bị phá huỷ nhiều nhất nhưrừng nhiệt đới, những bãi ám tiêu san hô và những nơi bằng phẳng cách độ sâukhoảng 0 - 2000m trong biển

Qua 4 thế kỷ gần đây, trên toàn cầu có toàn bộ hơn 700 loài bị tuyệt chủngđược biết đến, bao gồm một trăm loại động vật có vú 160 loại chim.Số lượng sựtuyệt chủng loài đã được ghi nhận những thế kỷ vừa qua là nhỏ hơn rất nhiều sovới sự dự đoán cho những thập kỷ sắp tới Sự khác biệt này, một phần là do sự giatăng tốc độ mất nơi cư trú trong những thập kỷ gần đây, một phần cũng do nhữngkhó khăn của việc ghi nhận sự tuyệt chủng Phần lớn các loài vẫn chưa được miêu

tả, và nhiều loài có thể đã biến mất trước khi chúng được các nhà khoa học biếtđến Hơn thế nữa, các loài nói chung thường không được công bố bị tuyệt chủngcho đến sau khi chúng được nhìn thấy lần cuối cùng - do đó những tính toán đốivới sự tuyệt chủng là chỉ có mức độ Cuối cùng, một số loài mà quần thể của chúng

bị giảm sút do việc mất nơi cư trú dưới ngưỡng cần thiết để suy trì sự sống sót lâudài có thể vẫn tồn tại trong vài thập kỷ mà không có hy vọng phục hồi khi quần thểcủa chúng bị suy thoái, chúng được gọi là "living dead"

Mất đi môi trường sống ảnh hưởng đến 40% động vật có vú Giám đốcIUCN, bà G.Xmát cảnh báo, hiện có những bằng chứng khoa học về một cuộckhủng hoảng tuyệt chủng nghiêm trọng

Sự mất đa dạng sinh học xảy ra nghiêm trọng nhất ở khu vực Trung và NamMỹ; Đông, Tây và Trung Phi, nhất là ở Ma-đa-ga-xca; Nam và Đông-Nam Á Mất

đa dạng sinh học là một trong những cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất thế giớikhi số các loài sinh vật giảm xuống mức thấp Các nước châu Phi cảnh báo rằng,

Trang 7

hệ sinh thái của châu lục này dễ tổn thương nhất thế giới trước những biến độngcủa thời tiết Nạn đói, khan hiếm nước, tình trạng sa mạc hóa, năng suất nôngnghiệp giảm khiến chất lượng cuộc sống con người ở châu Phi xuống thấp ChâuPhi chiếm khoảng một phần năm diện tích đất toàn cầu và có khoảng một phầnnăm các loài cây, động vật có vú và chim trên thế giới, chiếm một phần sáu loàilưỡng cư và bò sát Khoảng một phần năm số loài chim ở miền nam châu Phi đã di

cư theo mùa ở châu Phi và một phần mười di cư giữa châu Phi và các châu lụckhác trên thế giới

Sự tuyệt chủng, đặc biệt các quần thể riêng biệt, là quá nhiều Năm 1990,rái cá đã biến mất ở Hà Lan, và đến 1991 nước Anh đã công bố loài dơi tai chuột bịtuyệt chủng Tại đông Thái Bình Dương, nhiệt độ nước biển nâng cao trong nhữngnăm 1980 đã dẫn đến sự tuyệt chủng của một loài san hô thuỷ tức Trong thập kỷqua, ít nhất 34 loài thực vật và động vật có xương sống hoặc các quần thể độc lậpcủa chúng đã bị tuyệt chủng ở Mỹ trong khi đang chờ sự bảo vệ của chính phủ.Trên toàn thế giới, trên 700 sự tuyệt chủng động vật có xương sống, không xươngsống và thực vật có mạch đã được ghi nhận từ năm 1600 Còn bao nhiêu loài đã bịtuyệt chủng nữa bị bỏ qua ?

Việc mất nơi cư trú không chỉ làm gia tăng sự tuyệt chủng loài, mà còn chothấy sự suy giảm đa dạng sinh học nơi đó Ở nhiều nước, chỉ còn tương đối ít cácthảm thực vật tự nhiên chưa bị bàn tay con người đặt tới Tại Bangladesh, chỉ có6% thảm thực vật nguyên thuỷ còn tồn tại Các cánh rừng xung quang Địa TrungHải đã từng có diện tích gấp 10 lần diện tích hiện nay, và ở Hà Lan, Anh chỉ còn íthơn 4% vùng đầm lầy đất thấp là chưa bị phá huỷ

Suy giảm loài và hệ sinh thái đều đe doạ nghiêm trọng đến đa dạng ditruyền Trên toàn thế giới, có khoảng 492 quần thể các loài cây khác biệt về ditruyền (bao gồm cả những loài trọn vẹn) đang bị đe doạ Ở đông bắc Mỹ, 159 quần

Trang 8

thể cá đại dương di cư khác biệt về di truyền đang ở các mức đe doạ tuyệt chủngcao hoặc vừa phải, nếu không muốn nói chúng đã rơi vào lãng quên.Theo dự báo,nếu tỉ lệ thất thoát đa dạng sinh học vẫn tiếp diễn như hiện nay thì đến năm 2020trên toàn trái đất sẽ có khoảng 1,3 tỉ ha đất mất hoàn toàn các cấp độ đa dạng sinhhọc nguyên thủy Điều này dẫn đến sự mất mát trầm trọng các nguồn tài nguyênthiết yếu cùng với sự kiệt quệ về di truyền

Suy giảm đa dạng di truyền có thể đẩy nông nghiệp vào tình trạng nguyhiểm Rất khó có thể nói bao nhiêu cơ sở di truyền đã bị suy giảm, nhưng từ nhữngnăm 1950, việc phổ cập các giống ngô, lúa mì, lúa gạo và các giống cây trồng kháctrong "cách mạng xanh" hiện đại đã thực sự gây sức ép đối với các giống cây trồngbản địa Các giống hiện đại được chấp nhận trên 40% các đồng lúa châu á trong 15năm mà chúng được đưa ra, và ở Philippin, Indonesia và một số nước khác, hơn80% người nông dân hiện nay đã trồng các giống mới Tại Indonesia, 1500 giốnglúa gạo địa phương đã bị tuyệt chủng từ 15 năm trước Một điều tra hiện nay ở cácvùng của Kenya về giống cà phê hoang dã đã cho thấy rằng các cây cà phê ở haivùng đã biến mất, ba vùng đang bị đe doạ nghiêm trọng, và sáu vùng khác có thể

bị đe doạ Chỉ có hai vùng là được an toàn

Ảnh hưởng của suy giảm đa dạng di truyền như vậy thường được ghi nhậnngay lập tức Năm 1991, sự giống nhau về di truyền của các cây cam Braxin đãgây ra sự bùng nổ tồi tệ nhất của bệnh thối mục thân cây đã được ghi nhận ở nướcnày Năm 1970, các nông dân Mỹ đã mất khoảng 1 tỷ đô la cho một dịch bệnh lantruyền ở các giống ngô nhạy cảm và đồng nhất về di truyền Cũng tương tự nhưvậy, sự khan hiếm khoai tây Irish năm 1846, sự mất mùa của lúa mì Sô viết trênmột vùng rộng lớn năm 1972, và sự bùng nổ bệnh thối mục cây cam ở Florida năm

1984, tất cả đều xuất phát từ việc suy giảm đa dạng di truyền Tại một số nước nhưBangladesh khoảng 62% các giống lúa gạo có nguồn gốc từ một giống cây mẹ duy

Trang 9

nhất, Indonesia (74%), và Sri Lanka (75%), những sự bùng nổ bệnh dịch như vật

có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào

Ngân hàng gen là giải pháp có thể làm chậm quá trình suy giảm di truyền,nhưng việc khôi phục theo định kỳ hạt giống có chi phí cao và nguy cơ hỏng hócthiết bị có thể khiến ngân hàng trở nên kém an toàn hơn Năm 1980, các chuyêngia đã ước tính rằng ở các nước phát triển khoảng 1/2 đến 2/3 các hạt giống đượcthu thập trong các thập kỷ trước đã bị mất đi Năm 1991, đại diện của 13 ngânhàng gen quốc gia ở châu Mỹ La tinh đã thống kê được khoảng 5 đến 100% hạtgiống ngô đã thu thập từ 1940 đến 1980 đã không còn giá trị

b Ở tại Việt Nam

Đa dạng sinh học không được phân bổ đồng đều trên bề mặt trái đất mà chỉ

có những cái nôi của đa dạng sinh học Việt Nam rất tự hào nằm trong cái nôi ấy.Những bí ẩn của thiên nhiên vẫn đang tiếp tục được phát hiện

Hơn một thập kỉ qua, khu vực Tiểu vùng sông Mekong đã phát hiện đượchơn 1.000 loài Điều đáng lo ngại là đa dạng sinh học đang đứng trước nhiều nguy

cơ Trên thế giới mỗi ngày có khoảng 150 loài biến mất

Ở Việt Nam, hơn 50 năm qua, độ che phủ rừng đã giảm 30% và rừng tựnhiên ở tình trạng nguyên sinh còn dưới 10% Điều này đi đôi với việc mất đi cácloài và tính đa dạng của nó Việt Nam đang sở hữu danh sách rất dài các loài nguycấp có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng như: hổ, bò tót, trâu rừng, voi, sao la, đặcbiệt là tê giác một sừng hiện nay chỉ còn vài cá thể

Từ kết quả trên, cho thấy các loài ngày càng có nguy cơ tuyệt chủng cao.Khi các loài tuyệt chủng, số lượng các loài trên trái đất ngày càng giảm thì làm chomất mát đa dạng sinh học càng lớn

Trang 10

II – Nguyên nhân của sự tuyệt chủng.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của một loài hay nhiềuloài (sự tuyệt chủng hàng loạt) như: sự biến đổi địa chất như hoạt động của núi lửa,tạo núi, băng hà… dẫn đến khí hậu thay đổi sâu sắc khiến cho các loài sinh vậtkhông thể tiếp tục tồn tại được Tuy nhiên loài sinh vật không chỉ bị tuyệt chủng vìnguyên nhân trên Thuyết tiến hóa đã chứng minh rằng do cạnh tranh nên loàichiến thắng đã đẩy loài chiến bại đến sự tuyệt chủng bằng việc trấn áp, xua đuổi và

ăn thịt Kể từ khi loài người xuất hiện, tốc độ và mức độ tuyệt chủng của các loàisinh vật cũng tăng lên rất nhiều so với trước đây Bỏ qua nguyên nhân khách quandẫn đến sự tuyệt chủng của các loài sinh vật, chúng ta sẽ tìm hiểu về những nguyênnhân chủ quan do con người tác động dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài sinh vật

1- Sự khai thác quá mức và sử dụng không bền vững các tài nguyên sinh học.

Nhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, háilượng thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác

Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương pháp thu hái còn thô sơ conngười đã khai thác một cách bền vững mà không làm cho các loài sinh vật bị tuyệtchủng

Tuy nhiên khi dân số loài người tăng lên, nhu cầu sử dụng cũng tăng theo vàcon người đã sử dụng các phương tiện phục vụ cho việc khai thác hữu hiệu hơn.Súng được thay cho giáo mác và cung tên khi săn bắn; Tàu đánh cá gắn máy thaycho tàu thuyền đánh bắt cá bằng gỗ thô sơ trướ đây; Cưa máy, cưa điện được sửdụng thay thế cho những chiếc rìu đốn gỗ Phương tiện càng hiện đại, năng suấtkhai thác càng cao dẫn đến sự khai thác quá mức đã làm cho các loài bị khai thácsuy giảm và tuyệt chủng càng nhanh hơn Việc khai thác quá mức của con ngườiước tính đã gây nguy cơ tuyệt chủng cho 1/3 số loài động vật có xương sống

Trang 11

Trong những năm gần đây, khi thị trường thương mại được mở rộng việckhai thác quá mức đã tăng lên Điều này đã gây ra hiểm hoa tuyệt chủng không nhỏcho các loài sinh vật trong tự nhiên VD: mốt sử dụng áo long thú ở nhiều quốcgia, nhiều nhà hàng đặc sản thịt rừng được mở, thú chơi cây cảnh, phong lan cũnggây hiểm họa không nhỏ đối với các loài này trong tự nhiên.

2- Mất và phá hủy nơi cư trú.

Đây là nguyên nhân quan trọng bậc nhất, có thể chia thành hai nhóm chính

đó là mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động cụ thể của con người và mất vàphá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên:

- Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động của con người: Do việc khaithác quá mức dẫn đến phá hủy nơi cư trú của các loài sinh vật Đó chính là tácđộng của việc thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên sinh học như: sự phát triểnnông nghiệp, đô thị, sự du canh du cư đốt nương làm rẫy dẫn đến cháy rừng, khaithác rừng bừa bãi, sản xuất công nghiệp thải lượng CO2 và các khí khác vào khíquyển, đốt các nhiên liệu có nhuông gốc cacbon như dầu, than, gas khí đốt…dẫnđến sự hủy hoại và thay đổi các điều kiện sinh thái – nơi cư trú của các loài sinhvật kéo theo sự tuyệt chủng hoặc suy giam về số lượng về số lượng và chất lượngcác quần thể sinh vật, kéo theo sự tan rã của cấu trúc quần xã và hệ sinh thái Việccải tạo các hệ sinh thái cho các mục đích kinh doanh có tình chuyên hóa cao hayviệc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, các loại hóa chất côngnghiệp đều góp phần hủy diệt môi trường sống dẫn đến sự tiêu diệt các loài côntrùng và vi sinh vật bản địa

- Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh mớihay hoạt động trở lại của các núi lửa, sóng thần, động đất, sạt lở đất, sa mạc hóa,cháy rừng… cũng là nguyên nhân quan trọng làm mất hoạc hủy hoại nơi cư trú vàgóp phần làm giảm sự đa dạng sinh học

Trang 12

3.Ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp bởi sự phá hủyhay chia cắt thì các quần xã và các loài sinh vật cũng bị đe dọa bởi các hoạt độngcủa con người Dạng phá hủy môi trường nguy hiểm nhất chính là ô nhiễm Ônhiễm môi trường cũng kéo theo sự suy thoái môi trường

Có thể kể đến một số nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm môi trường:

- Ô nhiễm do thuốc trừ sâu

- Ô nhiễm nước

- Ô nhiễm không khí và mưa acid

- Sự sản sinh ozon, các kin loại độc hại và lắng động khí nitro

Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thànhphần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiênnhiên. Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môitrường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồbiển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiênnhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình tháivật chất khác. 

Sự ô nhiễm môi trường dẫn đến suy thoái môi trường Môi trường bị suythoái sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới các loài sinh vật sống tại đó Ở mức độban đầu là sự suy giảm về số lượng của loài, sau đó chính là sự biến mất hoàn toàncủa loài tại nơi đó Đối với các loài sinh vật chỉ sống được tại một số nơi nhất đinhthì đó chính là con đường của sự tuyệt chủng

Trang 13

III – Đa dạng sinh học trong phát triển nông nghiệp.

1 Thế nào là đa dạng sinh học nông nghiệp.

Việt Nam, nơi từng được bao phủ bởi những khu rừng kín nguyên sinh giàu

có với một thế giới động thực vật hoang dã phong phú, hàng trăm con sông, suối từcác đỉnh núi đổ xuống nuôi dưỡng đồng bằng, những vùng đất ngập nước với đủloại thực vật và động vật thuỷ sinh, biển xanh trong suốt với những rạm san hô bên

bờ biển cát trắng, thỉnh thoảng tô điểm thêm bằng những khu rừng ngập mặn rậmrạp, là một trong những nước không những có đa dạng sinh học cao trên thế giới

mà còn là nơi sinh sống của cộng đồng 54 dân tộc khác nhau với nền văn hóa đadạng giàu bản sắc Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên quí giá đó đã và đang bị mấtdần với tốc độ nhanh chóng

Hầu hết đất đai tại Việt Nam đã bị biến đổi rất nhiều do các hoạt động pháttriển công, nông nghiệp, hạ tầng cơ sở và đô thị hoá, chỉ còn lại một diện tíchtương đối ít ỏi dành cho các khu sinh thái tự nhiên với những thay đổi rõ rệt về đadạng sinh học tự nhiên Một phần đáng kể đa dạng sinh học đang tồn tại ở ViệtNam nằm trên đất nông nghiệp Như vậy, ở đây người nông dân Việt Nam hiệncũng đồng thời là người góp phần quan trọng trong việc chăm lo đa dạng sinh học

đang tồn tại của Việt Nam mà tiểu luận này gọi là “Đa dạng sinh học nông

nghiệp” Đa dạng sinh học nông nghiệp tại Việt Nam sẽ là trọng tâm của tài liệu

này Do đất đai được sử dụng chủ yếu cho các mục đích nông nghiệp nên các loàisinh vật sống trên đó cũng có tương tác với các hệ thống nông nghiệp theo mộtphương thức nào đó Ngay cả những loài mà sinh cảnh ban đầu của chúng là thếgiới tự nhiên thì dường như cũng đã có những tương tác với hệ thống nông nghiệp

ở một vài mặt nhất định Hơn nữa, hầu hết đa dạng sinh học dường như đang tồntại chủ yếu trên những hệ thống nông nghiệp được cấu tạo gồm không chỉ nhữngcánh đồng mà có xen kẽ những khoảnh đất của hệ sinh thái tự nhiên còn lại, hệ

Trang 14

sinh thái mà đã từng một thời bao trùm cả khu vực Phương thức mà các nôngdân quản lý hệ thống nông nghiệp của họ có thể có tác động mạnh mẽ tới mức độ

đa dạng sinh học tổng thể tại Việt Nam Điều không may là các nông dân thườngkhông nghĩ tới hoặc chỉ nghĩ rất ít về những yêu cầu cho một hệ sinh thái tự nhiênlành mạnh, đa dạng và làm sao để hệ thống nông nghiệp có thể hỗ trợ cho đa dạngsinh học ở mức độ cao Số lượng và chất lượng đa dạng sinh học nông nghiệp ởViệt Nam chắc chắn là đang suy giảm do hậu quả của việc quản lý không tính đếnbảo tồn đa dạng sinh học

Bài tiểu luận này dự định cung cấp cho người đọc một cách nhìn khái quát

về đa dạng sinh học trong khu vực nông nghiệp ở Việt Nam dưới góc độ nhữngsinh cảnh đặc biệt tại mỗi vùng trong nước và những vai trò quan trọng của nhữngsinh cảnh này

Do vậy, trọng tâm của bài tiểu luận này là nhằm vào đa dạng sinh học trongcác hệ sinh thái nông nghiệp chứ không phải trong hệ sinh thái tự nhiên nói chung.Tương tự, một phần đất rừng bị xâm lấn bởi đất nông nghiệp xen kẽ tạo thành một

“hệ nông-lâm” sẽ chỉ được mô tả một cách ngắn gọn để đảm bảo tập trung sự chú ýcủa người đọc vào sự quan trọng của đa dạng sinh học đang bị đe dọa trên cácvùng đất chuyên nông nghiệp của Việt Nam.Cuối cùng, thảo luận về sự đa dạnghoá phương thức canh tác cũng sẽ không được đề cập đến

Do không còn tính đa dạng về gen của các loài cây trồng, mặc dù đây là vấn đềcũng quan trọng và đáng báo động như đã được nhắc đến trên nhiều

diễn đàn và các tài liệu khác

2 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với nông nghiệp

Đa dạng sinh học là sự phong phú các sinh vật và các phức hợp sinh thái màsinh vật đó là một thành phần, bao gồm sự đa dạng trong nội bộ các loài (đa dạng

Trang 15

gen), đa dạng các loài ,và các hệ sinh thái Đa dạng sinh học là nền tảng của nôngnghiệp, là nguồn gốc và sự phong phú của mọi giống cây trồng và vật nuôi Đadạng sinh học nông nghiệp (ĐDSHNN)là bộ phận của đa dạng sinh học, bao gồmtất cả các thành phần của đa dạng sinh học-ở cấp gen, cấp loài và cấp hệ sinh thái–liên quan đến thực phẩm và nông nghiệp và các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồmcác loài cây trồng và vật nuôi, và nhiều giống thuộc các loài đó và còn bao gồmcác thành phần khác hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp ĐDSHNN còn là kết quả củaquá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo

Vì sao đa dạng sinh học lại quan trọng đối với nông nghiệp và kinh kế nông nghiệp tại Việt Nam?

Không thể có câu trả lời đơn giản cho câu hỏi có vẻ đơn giản này vì nôngnghiệp là cơ sở của hàng loạt những mối quan hệ phức tạp trong hệ sinh thái tựnhiên ,hệ thống cây trồng và xã hội Một câu trả lời đơn giản không thể bao quáthết chiều sâu và độ phức tạp của vấn đề Việt Nam là một nước nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện địa lý, địa hình đặc biệt tạo nên khu hệđộng thực vật, vi sinh vật rất phong phú và đa dạng, là một trong 16 nước có sự đadạng sinh học cao nhất thế giới Khu vực nông nghiệp ở Việt Nam được hình thành

từ nhiều hệ sinh thái đa dạng khác nhau, điều này góp phần hình thành nên nguồntài nguyên thiên nhiên giàu có của đất nước

Đa dạng sinh học trong những hệ sinh thái này cung cấp cho con ngườinhững điều kiện cần thiết để sống như cung cấp cơ sở để sản xuất lương thực cũng như hàng loạt những sản phẩm phi lương thực khác như các nguyên vật liệudùng cho cuộc sống hàng ngày, thuốc chữa bệnh, tạo nguồn thu nhập và hỗ trợ cho

hệ thống văn hoá, xã hội

Trang 16

Đa dạng sinh học là cơ sở trợ giúp cho việc sản xuất lương thực thông quacác hiện tượng như sự thụ phấn, kiểm soát sinh học các loài dịch hại ,bệnh, và làmđất mầu mỡ do chu trình các chất dinh dưỡng

Tất cả đều có những chức năng quan trọng trong các hệ thống nông nghiệp

Sự đa dạng của những loài thực vật, động vật, những loài vi sinh vật cần thiết đểduy trì năng suất và tính bền vững của mùa màng, gia súc và việc nuôi trồng thuỷsản, cho tới ngày nay, vẫn còn ít được biết đến Càng ngày con người càng hiểu vàtin rằng tương lai của vấn đề an ninh lương thực phụ thuộc vào việc khai thác vàduy trì đa dạng sinh học nông nghiệp và rất nhiều chức năng khác của nó nằmtrong vùng đất nông nghiệp Ngày càng có nhiều hệ sinh thái tự nhiên tại Việt Namnhư rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn và đất ngập nước bị chuyển đổi thành đấtnông nghiệp để cung cấp lương thực, thuỷ sản và các sản phẩm, dịch vụ khác chomột số lượng người tiêu dùng ngày càng tăng trong các thành phố cũng như đểxuất khẩu Do tốc độ suy giảm ngày càng tăng của các khu vực đa dạng sinh học tựnhiên để dành đất cho nông nghiệp và các khu công nghiệp mới nên loại đất nàyngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp môi trường sống cho đa dạngsinh học của quốc gia Điều này cũng có nghĩa rằng những người nông dân đangquản lý đất nông nghiệp sẽ có vai trò ngày càng lớn trong việc bảo tồn và quản lýmôi trường sống trong các trang trại, nơi mà đa dạng sinh học ở mức độ cao đangtồn tại Mở rộng và thâm canh nông nghiệp đã làm biến đổi đất nông nghiệp thànhnhững cánh đồng thâm canh được xen kẽ bởi những khoảnh rừng, vườn cây, dòngsông, suối, kênh và những vùng đất phi nông nghiệp khác Trong khi những vùngđất này là rất quan trọng vì chúng cung cấp môi trường sống cho nhiều loài sinhvật, thì bản chất của sự chia cắt này cũng đã gây thiệt hại cho nhiều loại động vàthực vật Trong một thế giới cạnh tranh cao nhưng ngày nay, tính hiệu quả của chiphí trong cách hoạt động nông nghiệp làm mối quan tâm của những người nông

Trang 17

dân tại Việt Nam Tuy nhiên, điều quan trọng làm mọi yếu tố đều phải được phảnánh trong việc đánh giá hiệu quả chi phí của một quá trình sản xuất.

Sự mất mát đa dạng sinh học là một yếu tố quan trọng trong số các yếu tốcần xem xét Đa dạng sinh học tại Việt Nam có một giá trị kinh tế to lớn Cần phảiđánh giá đầy đủ và tích hợp chúng vào trong quá trình quy hoạch nông nghiệp.Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy trong đời sống các dân tộc bản địa của Việt Nam,đặc biệt là ở Tây Nguyên, hiện nay nguồn thứ căn khai thác từ thiên nhiên vẫn giữ

vị trí quan trọng Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vương Xuân Tính, (2003)tại 3 điểm nghiên cứu Làng Le, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon tum của dân tộc Rơmăm,buôn ChàmB, huyện Krông Bông của dân tộc Êđê và thôn 6A, huyện ĐăcR lấp,tỉnh Đắc Lắc của dân tộc Hmông cho thấy cư dân của 3 nơi này chủ yếu là cư dânnương rẫy nên nguồn thức ăn họ sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào đất rừng, vàonguồn thức ăn từ thiên nhiên là chính Tổng số có 146 loài thực vật được ngườiÊđê dùng làm thức ăn, trong số đó có tới 42 loài dùng làm thuốc chữa các bệnhnhư bệnh đường ruột, đau răng, hậu sản Nguồn thức ăn này gồm 4 thứ các loạirau, nấm, quả và củ rừng Về rau rừng có khoảng từ 30 đến 50 loài rau rừng (nhiềunhất là lá bép, đọt mây, măng các loại) được bà con ở các điểm nghiên cứu biếtkhai thác, nấm có 10-14 loài chủ yếu vào mùa mưa, Quả rừng được lấy rải rácquanh năm nhưng nhiều nhất vào các tháng 4,5,6 dương lịch Củ rừng là loại thựcvật quan trọng để cứu đói cho cộng đồng những khi giáp hạt Khi hết lương thựcđồng bào thường kiếm củ rừng thay ngũ cốc

Thực vậy, mọi cộng đồng dân cư nông thôn trên đất nước Việt Nam đều

sử dụng hệ sinh thái tự nhiên nhưng nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chotiêu dùng của họ và bổ sung nguồn thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp Khácvới nhiều nước phương Tây, sự mất mát về đa dạng sinh học không chỉ là tổn thất

về những giá trị thẩm mỹ và xã hội mà thường rất khó đánh giá được Mất mát về

đa dạng sinh học tại Việt Nam có liên quan trực tiếp tới những mất mát hoặc sự

Ngày đăng: 18/08/2012, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w