Thuế là một nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước, cạnh tranh với nước ngoài. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả là thu đúng, thu đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật về thuế, sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo Công ước Kyoto và để có được những cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khoa học, phù hợp với quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay, đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam. Tuy nhiên hiện trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hiện nay ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Nguyên nhân chính của tình trạng gian lận thuế xuất nhập khẩu có thể do khách quan như chính sách chế độ thay đổi, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình gian lận, trốn thuế... Vì vậy, cùng với việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống gian lận thuế xuất nhập khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả chính sách thuế của nhà nước.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là một nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước, cạnh tranh với nước ngoài Việc thực thi một số chính sách thuế
có hiệu quả là thu đúng, thu đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật về thuế, sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo Công ước Kyoto và để có được những cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khoa học, phù hợp với quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay, đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam
Tuy nhiên hiện trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hiện nay ngày càng có dấu hiệu gia tăng Nguyên nhân chính của tình trạng gian lận thuế xuất nhập khẩu có thể do khách quan như chính sách chế độ thay đổi, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình gian lận, trốn thuế Vì vậy, cùng với việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống gian lận thuế xuất nhập khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả chính sách thuế của nhà nước
Vì ý nghĩa trên, nhóm chúng em xin chọn đề tài : “Thực trạng gian lận thương mại qua trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam từ ” để
nghiên cứu và tìm được giải pháp nhằm hạn chế và dần xóa bỏ những hành vi gian lận, góp phần đem lại sự minh bạch và phát triển cho đất nước
Trang 2CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thuế nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu
- Trị giá hải quan (Custom Value): Theo quản lý hải quan hiện đại: “Trị giá hải
quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là phần số liệu về trị giá của hàng hoá được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan do cơ quan hải quan quản lý và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu quản lý Nhà nước về hải quan”
- Trị giá tính thuế (Duty Value): Quan niệm giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu
theo Hiệp định trị giá GATT/WTO: “Trị giá tính thuế là trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm cơ sở tính
thuế” Thông tư 40/2008/TT-BTC cũng ghi rõ “Trị giá hải quan nhằm mục đích
tính thuế (sau đây gọi là trị giá tính thuế)” Như vậy, từ các khái niệm trên, thừa nhận một quan điểm chung đó là: “Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu đó phục vụ mục đích tính thuế”
1.1.3. Vai trò
- Bảo hộ sản xuất trong nước
- Huy động nguồn thu cho Nhà nước
- Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu
1.1.4. Ý nghĩa của trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu
- Trị giá tính thuế là yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống thuế quan của một quốc gia, là căn cứ để xác định các loại thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng, chênh lệch giá hàng nhập khẩu
- Xác định đúng trị giá tính thuế sẽ góp phần chống thất thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước phát triển, tạo sự minh bạch, bình đẳng
Trang 3trong cạnh tranh của các doanh nghiệp, kích thích phát triển giao lưu thương mại quốc tế.
- Góp phần xác định đúng về kim ngạch nhập khẩu, làm căn cứ số liệu để Chính phủ điều hành và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia
1.2. Khái niệm, phân loại, ảnh hửơng của gian lận thuế nhập khẩu
(thất thu thuế)
1.2.1. Khái niệm của gian lận thuế nhập khẩu
Gian lận thuế nhập khẩu là khoản tiền thuế bị tổ chức, cá nhân có hàng
hóa nhập khẩu chiếm đoạt, không nộp đúng, nộp đủ theo quy định Luật thuế xuất nhập khẩu
1.2.2. Phân loại gian lận thuế nhập khẩu :
Theo nguyên nhân :
o Nguyên nhân chủ quan : Do đối tượng nốp thuế cố tình trốn tránh nghĩa
vụ nộp thuế, làm giả chứng nhận xuất xứ (C/O) để được hưởng thuế suất thấp, lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước
o Nguyên nhân khách quan : Do sự tác động ngoài dự kiến do văn bản quy định không rõ ràng dẫn đến tranh chấp về mã số thuế với cơ quan Hải quan
Theo tính chất:
o Khoản tiền thuế thất thu có khả năng thu hồi : Là các khoản nợ có
khả năng thu hồi cao, do các doanh nghiệp nợ thuế vẫn còn hoạt động bình thường hoặc chờ xác định số thuế phải nộp,
o Khoản tiền thuế thất thu không có khả năng thu hồi : Là các khoản
thuế phải truy thu mà đối tượng nộp thuế không có khả năng nộp thuế do các doanh nghiệp không còn nguồn vốn để nộp, doanh nghiệp giải thể, phá sản,
Cách thức phân loại thuế gian lận thuế nhập khẩu cho ta thấy mỗi loại gian lận thuế và mỗi loại nguyên nhân dẫn đến gian lận thuế nhập khẩu
là khác nhau Việc phân loại thuế thât thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý và đề ra các biện pháp quản lý, thu hồi thuế nhập khẩu cho đúng
1.2.3. Ảnh hưởng của tình trạng gian lận thuế nhập khẩu :
- Đối với ngân sách Nhà nước : Gian lận thuế càng tăng thì thất thu ngân sách
Nhà nước càng lớn, dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ quá trình tích lũy vốn để tiến hành cân đối thu chi và đầu tư cho công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhu cầu
Trang 4chi tiêu của nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và các đơn vị sự nghiệp, cũng như nhu cầu về vốn cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội
- Đối với môi trường kinh doanh : Để đảm bảo môi trường kinh doanh được
bình đẳng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó việc nộp thuế nhập khẩu cũng là một tiêu chí quan trọng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIAN LẬN QUA TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
HÀNG HÓA NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng áp dụng tại Việt Nam
Thực trạng về cơ sở pháp lý xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu theo ACV tại Việt Nam
- Điều 22 phần IV Hiệp định trị giá GATT/WTO qui định về "Luật pháp quốc gia" khi tham gia Hiệp định như sau: "kể từ ngày áp dụng các qui định của Hiệp định này tại nước mình, mỗi nước thành viên phải đảm bảo các văn bản pháp luật, các qui định cùng các thủ tục hành chính của nước mình phù hợp với các qui định của Hiệp định này"
- Trên tinh thần Hiệp định, để tiếp cận, áp dụng có bảo lưu và tiến tới áp dụng đầy đủ Hiệp định, ngay từ khi cam kết tham gia, Việt Nam đã luật hóa các qui
Trang 5định của Hiệp định, đưa vào điều luật, văn bản luật các qui định về xác định trị giá theo các phương pháp của Hiệp định để áp dụng trong phạm vi quốc gia.
- Nhìn chung việc nội luật hóa các qui định về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, tạo một hành lang pháp lý rõ ràng, cởi mở, minh bạch, tạo tiền đề cho việc áp dụng đầy đủ Hiệp định trị giá GATT/WTO đã được Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam hết sức qua tâm, chú trọng Ban đầu nội dung việc nội luật hóa còn chưa sát với nội dung Hiệp định, tính pháp lý chưa cao, một phần còn mang tính áp đặt của cơ quan quản lý nhất là việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu không theo hợp đồng thương mại hoặc không phải là đối tượng xác định trị giá tính thuế theo ACV, cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, cơ chế xử lý vi phạm về giá tính thuế còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chặt chẽ Qua hơn 5 năm thực hiện, với sự
nỗ lực không ngừng học hỏi các quốc gia phát triển trong khu vực và thế giới, vượt những thử nghiệm ban đầu, những cơ chế bất cập trên đã không ngừng được hoàn thiện, luật hóa một cách chặt chẽ và có hệ thống
Thực trạng cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam
- Thực hiện xác định trị giá tính thuế tuần tự theo các phương pháp xác định trị giá hải quan của Hiệp định và được luật hóa tại Nghị định 40/2007/NĐ-CP và Thông tư 40/2008/TT-BTC Theo đó, trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo 6 phương pháp, với một trình tự bắt buộc từ phương pháp
1 đến phương pháp 6, tức là trước hết ưu tiên áp dụng phương pháp 1 (trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu), nếu không áp dụng được phương pháp 1 thì chuyển áp dụng phương pháp 2… cứ như vậy đến phương pháp cuối cùng
- Khi xác định được trị giá tính thuế ở phương pháp nào thì dừng ngay lại ở phương pháp đó Tuy nhiên Hiệp định cũng qui định có thể hoán đổi phương pháp 4 (trị giá khấu trừ) và phương pháp 5 (trị giá tính toán) cho nhau, nhưng việc hoán đổi chỉ thực hiện được khi doanh nghiệp yêu cầu và được cơ quan hải quan chấp nhận
Thực trạng về khai báo và kiểm tra trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
- Cơ chế khai báo trị giá, tờ khai trị giá
Trang 6o Áp dụng ACV, cơ chế khai báo trị giá là việc người nhập khẩu phải hoàn thành tờ khai trị giá và nộp cho cơ quan hải quan cùng với thời điểm nộp tờ khai hải quan.
o Tờ khai trị giá là một mẫu khai báo do cơ quan hải quan ban hành
áp dụng thống nhất cho cho quốc gia nước nhập khẩu, trong đó chứa đựng các thông tin cần thiết để xác định trị giá hải quan theo các phương pháp của Hiệp định trị giá GATT/WTO và đi kèm với tờ khai hải quan dưới dạng phụ lục hoặc tờ khai riêng biệt
- Cơ chế kiểm tra trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam
o Qui trình kiểm tra trị giá: Thực hiện theo Quyết định TCHQ ngày 4/8/2008 của Tổng cục Hải quan ban hành qui trình kiểm tra, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Theo qui trình này thì kiểm tra trị giá tính thuế được thực hiện ở 2 khâu:
1636/QĐ-o Khâu thông quan: Tức là kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu ngay sau khi người khai hải quan nộp tờ khai cho cơ quan hải quan
o Khâu sau thông quan: Tức là kiểm tra trị giá khi đã kết thúc thủ tục hải quan, hàng hoá nhập khẩu đã được giải phóng
Kết luận: Hiệp định trị giá hải quan (ACV) là một trong những hiệp định trọng tâm của GATT/WTO 1994 Với nội dung căn bản, các đặc tính đặc trưng, yêu cầu, ràng buộc khi áp dụng, thực hiện các nội dung của Hiệp định
đã nói lên tính hiện đại và ưu việt của ACV Hơn 5 năm thực hiện ACV, Việt Nam đã đạt được những thành quả nhất định, những bài học kinh nghiệm cần thiết Tuy nhiên, thực tế đã và đang tiếp tục tồn tại những bất cập, vướng mắc
và khó khăn Mục đích của ACV chưa đạt được một cách trọn vẹn vì doanh nghiệp thì phần lớn luôn không tán thành và tuân thủ vì lý do bị gián đoạn thương vụ, phát sinh nhiều thủ tục, và thiếu cơ sở pháp lý,… trong khi cơ quan Hải quan vẫn thất thu thuế với con số không nhỏ hàng năm, hàng quý, hàng tháng thậm chí là hàng tuần Vì vậy, cần định hướng, tiếp tục nghiên cứu cũng như việc đề xuất một số giải pháp để thực hiện ACV đạt hiệu quả cao hơn, góp phần tích cực vào quản lý nhà nước đối với các hoạt động xuất
Trang 7khẩu, nhập khẩu, đưa pháp luật Việt Nam tiến dần tới pháp luật và thông lệ quốc tế.
2.2 Thực trạng và các hình thức gian lận qua trị giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Việt Nam
Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tuy có nhiều dấu hiệu khả quan nhưng chưa ổn định và không đồng đều giữa các khu vực, kinh tế trong nước tuy đã có bước tăng trưởng nhưng còn nhiều thách thức Theo thống kê, số tiền thuế nộp vào Ngân sách nhà nước ta năm 2014 là 681.100 tỷ đồng, mức thuế xuất nhập khẩu truy thu cho NSNN từ năm 2005 – 2014 đều có sự giảm dần, trong đó năm 2005 thuế NK là 33.10% giảm còn 26.77% năm 2014 Tỉ lệ
nợ thuế, trốn thuế của các DN cũng ngày một tăng lên Riêng ở tại Tp Hồ Chí Minh năm 2014, tổng số nợ thuế lại lên đến 19.754 tỷ đồng, tăng 20,3% so với
số nợ thuế cuối năm 2013
(Nguồn: Tổng cục Hải quan và Bộ Tài Chính)
Trang 8Nguyên nhân bắt nguồn từ những hành vi gian lận trốn thuế của các DN trong nước diễn ra ngày càng tinh vi và phức tạp hơn Điều này ảnh hưởng rất nghiêm trọng vì làm giảm thu ngân sách của quốc gia, gây nên nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần tạo nên khủng hoảng kinh tế Dưới đây
là các hành vi gian lận thường được các doanh nghiệp thực hiện dưới các hình thức sau:
Thứ nhất: Khai báo giá trên hoá đơn thấp hơn giá mua bán thực tế Đây
là hình thức gian lận phổ biến nhất hiện nay
• Vụ gian lận giá hàng hóa điển hình bị Chi cục hải quan Cảng Sài Gòn
KV 4 (TP Hồ Chí Minh) phát hiện gần đây là lô hàng mang nhãn hiệu Pierre Cardin do Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Hoa Mặt Trời (trụ sở tại TP Hồ Chí Minh) NK vào tháng 5/2013 Theo khai báo của DN, hàng hóa gồm váy, quần lót, áo ngực… có giá nhập về chỉ từ 6.000 - 16.000 đồng/chiếc Trong khi
đó, các sản phẩm này được bán trong các cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại lớn, như: Vincom, Parkson với giá khoảng 300.000 - 400.000 đồng/chiếc, tức là gấp 25 lần giá kê khai của DN
• Tương tự, khi làm thủ tục mở tờ khai hải quan, Công ty Tiến Thành khai báo những đôi giầy da hiệu Valentino có xuất xứ từ Trung Quốc, giá trị rất bèo, chỉ từ 16.000 - 300.000 đồng/đôi Thực tế, giá thị trường của loại giầy này vào khoảng 3 - 5 triệu đồng/đôi, cao gấp chục lần giá khai báo Với giá trị lô hàng giầy Valentino là 1,8 tỷ đồng, nếu làm thủ tục trót lọt thì DN đã "né" được khoản tiền thuế vài trăm triệu đồng
Trang 9• Bằng hình thức khai báo giá thấp, đầu năm 2014, hàng loạt DN kinh doanh sữa đã bị cơ quan hải
quan nghi vấn trốn thuế, có
những sản phẩm sữa được kê
khai với giá 150.000 đồng/hộp,
tuy nhiên khi phân phối tại thị
trường nội địa lại có giá
550.000 đồng/hộp Theo Cục
Thuế xuất nhập khẩu (Tổng
cục Hải quan), đây là một trog
những hình thức gian lận thương mại để trốn thuế, làm giảm số thu ngân sách
và ảnh hưởng đến hàng hóa sản xuất trong nước
Thứ hai: Dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan Hải quan (GTT-22)
để khai báo trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai thấp dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập khẩu trước đó
• Theo Cục Hải quan Thành phố Đà Nẵng, trong 6 tháng đầu năm 2014, riêng mặt hàng nhập khẩu săm lốp ô-tô từ Trung Quốc được các doanh nghiệp gian lận khá nhiều, đơn cử như sản phẩm săm ô-tô 11R20, công ty nhập từ Trung Quốc có giá tính thuế là 317,6 USD/cái, trong khi đó cũng sản phẩm này, các doanh nghiệp khác chỉ khai báo trong tờ khai nhập khẩu có giá thấp nhất là 61,5 USD, giá cao nhất là 119 USD/cái (chỉ bằng 25-32% so với giá nhập khẩu của Công ty Cao su)
Thứ ba: Khai thấp trị giá đối với lô hàng nhập để thăm dò thái độ của cơ
quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý, tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh
• Theo quy định của Luật Thuế XK, thuế NK, tùy theo từng trường hợp cụ thể, người nộp thuế có thể phải nộp thuế trước khi thông quan hoặc có thời gian ân hạn thuế từ 15 ngày đến 275 ngày Lợi dụng quy định này, một số đối
Trang 10tượng đã thành lập DN, thực hiện NK nhiều lô hàng nhưng cố tình nợ thuế, sau đó tự bỏ kinh doanh, bỏ trốn, hoặc tuyên bố phá sản để trốn thuế
Thứ tư: Giảm giá bằng thủ đoạn tháo rời hàng nguyên chiếc thành linh
kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu Lợi dụng chính sách thuế hiện hành thuế suất đối với linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu thấp hơn hàng nguyên chiếc nhập khẩu do vậy thủ đoạn này được thực hiện bằng cách lập nhiều công ty khác nhau hoặc móc nối giữa các công ty với nhau và mỗi công ty nhập khẩu một bộ phận cấu thành của hàng nguyên chiếc về các cửa khẩu khác nhau trong các thời điểm khác nhau để tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan
• Xe ô tô du lịch loại 12 chỗ ngồi có thuế suất 160% nhưng vẫn chiếc xe
đó nếu thay đổi một vài chi tiết phụ như tháo hết ghế để thành xe tải thì thuế suất chỉ còn 60% Lại vẫn chiếc xe đó thêm bớt vài chi tiết khác như tháo bớt ghế, lắp thêm còi, hiệu cứu thương trở thành xe cứu thương thì thuế suất còn 0%
• Vụ trốn thuế lên đến hàng nghìn tỷ đồng của hàng loạt các tên tuổi lớn
là thành viên Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) như Toyota Việt Nam, Ford Việt Nam, Vidamco, Vinamotor…Cuối tháng 3/2011, cơ quan Hải quan nhận thấy một số linh kiện phụ tùng như ống xả, kính sườn cửa trượt (của xe Transit)… không đáp ứng đủ mức độ rời rạc theo quy định hiện hành
để có thể áp mức thuế nhập khẩu theo dạng linh kiện, phụ tùng (có thuế suất
từ 0- 27%) Trong khi đó, theo Thông tư 184/2010 của Bộ Tài chính, chỉ cần một linh kiện phụ tùng không đảm bảo mức độ rời rạc theo Quyết định 05/2005/QĐ- BKHCN của Bộ Khoa học Công nghệ thì sẽ phải áp thuế theo thuế suất xe nguyên chiếc (thuế suất 82%)
Thứ năm: Lợi dụng các qui định về chiết khấu, giảm giá hoặc không khai
báo tiền bản quyền, phí giấy phép, các khoản trợ giúp, phí hoa hồng … để làm giảm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
Thứ sáu, khai tăng trị giá tính thuế so với trị giá thực tế của hàng hoá
nhập khẩu để tăng vốn đầu tư và chuyển “lậu” lợi nhuận ra nước ngoài, hình thức này thường được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá dưới hình thức tiếp nhận đầu tư từ nước ngoài như các Công ty đa quốc gia,
Trang 11Công ty mẹ - con Ngoài ra một số doanh nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp nhập khẩu là đầu mối cung cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước cũng dùng thủ đoạn này để rút tiền từ ngân sách Nhà nước hoặc trốn thuế thu nhập doanh nghiệp Hàng nhập khẩu thường là những mặt hàng có thuế suất nhập khẩu thấp, hoặc được miễn thuế nhập khẩu như máy móc, thiết bị, hoặc nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu
Thứ bảy, lợi dụng cơ chế tự kê khai, tự tính thuế trong quá trình thông
quan, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện hành vi mô tả sai hàng hoá trên tờ khai Hải quan, đưa hàng hoá từ mã số có thuế suất cao về mã số có thuế suất thấp để gian lận trốn thuế So với các hình thức gian lận trên thì hình thức này
ít phổ biến hơn, chỉ tập trung ở một số mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, tính chất lý hoá phức tạp khó nhận biết bằng mắt thường
• Mặt hàng có tên tiếng Anh là “Silver target”, có doanh nghiệp khai báo là
“bạc khối” (nguyên liệu dùng để sản xuất đĩa CD-R) với mức thuế nhập khẩu 30%, nhưng lại có DN khai là “hộp khuôn bạc” với mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0%
• Mặt hàng giấy in báo: giấy thường thuế suất 30%-40%, chủ hàng khai báo giấy cao cấp thuế suất chỉ 10%
• Mặt hàng ô tô: có trọng tải từ 5 đến dưới 10 tấn khi nhập khẩu phải chịu thuế suất 50%, chủ hàng khai thành xe chuyên dung đông lạnh, xe có trọng tải trên 10 tấn chỉ chịu mức thuế suất 10%-30%
• Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Thành phố Hồ Chí Minh Yteco, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phát hiện 6 tờ khai hải quan nhập loại thuôc nimfast với 49.102 hộp, trị giá 132.024 USD Nhưng trong quá trình làm thủ tục nhập loại thuốc trên, Yteco đã chỉ đạo nhân viên tráo đổi toa trốn thuế, bỏ chữ “giảm đau” trên toa thuốc, để hạ mức thuế nhập khẩu từ 10% xuống còn 0%
Trang 12Thứ 8, Gian lận trong việc áp mã số thuế xác định thuế suất hàng hóa
nhập khẩu Hàng hóa xuất nhập khẩu đãđược phân loại rõ ràng với từng mã
số cụ thể kèm theo các nguyên tắc phân loại hàng hóa và các hướng dẫn về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu , các văn bản hiện hành khác Tuy nhiên, lợi dụng cơ chế tự khai, tự tính thuế trong quá trình thông quan, nhiều doanh nghiệp vẫn cố tình thực hiện hành vi mô tả sai hàng hóa trên tờ khai Hải quan nhằm đưa hàng hóa từ mã số có thuế suất cao về mã số có thuế suất thấp để gian lận thuế Cũng có không ít doanh nghiệp đã lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên gọi, đặc biệt là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện khó phân biệt bằng cảm quan để kê khai vào mã số thuế suất thấp Cụ thể, hiện tượng gian lận, trốn thuế qua việc khai sai mã số thường xảy ra với những mặt hàng có sự chênh lệch về thuế như: hàng điện tử, điện lạnh, sắt thép, thực phẩm, hàng tiêu dùng… Một tình trạng nữa cũng diễn ra phổ biến là việc các doanh nghiệp trốn thuế, nhập nhằng trong khai báo hải quan như: khai báo sai mặt hàng hoặc tính chất mặt hàng để được áp mã số thuế thấp; nhập nhiều nhưng khai
ít hơn thực tế… Có nhiều lô hàng, do khai báo sai mặt hàng dẫn đến chênh lệch và thất thoát tiền thuế đến vài trăm triệu thậm chí hàng tỷ đồng Điển hình
là vụ gian lận thuế lô hàng thép trị giá trên 550.000 USD của Công ty TNHH Thương mại– sản xuất Nguyễn Minh Công ty này khai báo nhập khẩu lô hàng
Trang 13thép lá có thuế suất 0% nhưng trên thực tế kiểm tra thì hàng thực nhập lại là loại thép có thuế suất 4,5% dẫn đến chênh lệch thuế trên 400 triệu đồng.
Thứ chín, tình hình khai thiếu hàng so với số lượng thực tế hàng hóa
nhập khẩu của doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến hiện nay Các doanh nghiệp khi tiến hành kê khai tại Chi cục Hải quan khai không đủ số lượng thực tế mà doanh nghiệp đã nhập khẩu vào nội địa Điều này ảnh hưởng đến công tác tính trị giá tính thuế và làm thất thu một khoản thuế lớn của nhà nước Điển hình là trường hợp của Công ty TNHH MTV đầu tư phát triển thương mại JBC
về hành vi khai thiếu hàng
hóa nhập khẩu Công ty đã
khai báo thiếu so với thực tế
một lượng hàng gồm: 20 bộ
lốp xe ô tô 12.00R20, hiệu
QIANG WEI, 20 bộ lốp xe ô
tô 11.00R20/386, hiệu QIANG
WEI mới; 10 bộ lốp xe ô tô
10.00R20/386, hiệu QIANG
WEI mới và 300 bộ săm, yếm ô tô bằng cao su hiệu Hilo dùng cho lốp
1400-25 mới 100% Việc Công ty khai báo không đúng đã dẫn đến nộp thiếu số tiền thuế phải nộp là gần 57 triệu đồng cho ngân sách Nhà nước
Ngoài ra,
Khai báo sai xuất xứ: Lô hàng có nguồn gốc xuất xứ từ Anh, Pháp, Mỹ,
Nhật Bản… nhưng DN kê khai nhập từ Trung Quốc, Đài Loan Những hành vi gian lận này đã gây ra những hậu quả rất xấu cho chính các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường làm ăn, ký kết các hợp đồng và còn làm thất thu một khoản thuế rất lớn của Nhà nước, tác động xấu đến sản xuất trong nước; ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh với các mặt hàng trong nước…
Khai thấp về chất lượng hàng hóa: ví dụ như doanh nghiệp nhập khẩu
hàng vải, sợi, sắt, thép… khai báo hàng hóa của họ là hàng thứ phẩm, hàng tồn kho, hàng loại A,B,C,D hoặc hàng vỡ vụn nhiều…nhằm làm giảm giá khai báo, trốn thuế
Trang 14Theo báo cáo tổng kết từ Hải quan các địa phương trong cả nước và nhận định của Cục điều tra chống buôn lậu - Tổng Cục Hải quan, tình hình lợi dụng chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu để buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại đã trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều so với trước Các vụ buôn lậu lớn đang có xu hướng chuyển dần sang việc lợi dụng chính sách một cách tinh vi thay vì lộ liễu vận chuyển trái phép hàng qua biên giới như trước đây, tình hình lợi dụng việc áp dụng trị giá tính thuế (theo Điều 7 - Hiệp định GATT /WTO) để trốn thuế ngày càng trở nên đáng lo ngại Các mặt hàng bị vi phạm chủ yếu là những mặt hàng có thuế suất cao như ôtô, xe máy, linh kiện, phụ tùng, máy móc, hàng điện tử, hàng tiêu dùng Như tình trạng tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn, kể từ khi triển khai thực hiện trị giá GATT đến nay qua thống kê cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đều có giá khai báo không đúng so với giá thực tế mua bán Toàn Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn có 15.342 tờ khai hàng nhập khẩu thuộc diện nghi ngờ về trị giá khai báo trên tổng số gần 25.000 tờ khai nhập khẩu áp dụng trị giá GATT (chiếm trên 60%) (năm 2006) Trong đó kiểm tra và đã phát hiện số tờ khai sử dụng thủ đoạn gian lận khai tăng trị giá là 35 tờ khai, mặt hàng vi phạm chủ yếu là máy móc, thiết bị công nghiệp, vật tư xây dựng công trình, nguyên liệu sản xuất, thiết bị y tế, giáo dục; Số tờ khai sử dụng thủ đoạn gian lận khai giảm trị giá là
1864 tờ khai, mặt hàng vi phạm chủ yếu ôtô, xe máy, hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, điện máy, điện tử, thiết bị trang trí nội thất, bộ linh kiện xe gắn máy; Số
tờ khai sử dụng thủ đoạn gian lận mô tả sai hàng hoá nhập khẩu là 24 tờ khai, mặt hàng vi phạm chủ yếu là điều hoà nhiệt độ, máy giặt, tủ lạnh, hoá chất, thiết bị chính xác
Ngoài ra, ở một số Cục hải quan lớn như Cục hải quan TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Nghệ An, Vũng Tàu, tổng số thuế điều chỉnh sau khi tham vấn giá là: 118.243.190.902, 00 đồng Đặc biệt trong đó, Cục hải quan TP Hồ Chí Minh
có số thuế điều chỉnh là: 58.509.268.870, 00 đồng; Cục hải quan TP Hải Phòng: 26.421.637.013, 00 đồng (năm 2006)
Trang 152.3 Những bất cập, khó khăn và hạn chế của công tác chống gian lận thuế qua trị giá tính thuế ở Việt Nam hiện nay
Thực tế cho thấy rằng, hầu hết các mức giá được chấp nhận trong các tờ khai Hải quan hiện nay chưa phản ánh trung thực trị giá giao dịch của các lô hàng nhập khẩu, song công tác chống gian lận qua trị giá tính thuế ở nước ta hiện nay còn có nhiều bất cập, khó khăn
- Các điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay cũng như ý thức của công dân về nghĩa vụ thuế chưa thực sự đảm bảo đủ độ chín để áp dụng xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch
- Cơ quan Hải quan không có đủ cơ sơ để bác bỏ trị giá khai báo của doanh nghiệp do thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu tính thuyết phục không đủ độ tin cậy
- Trình độ, năng lực của một số cán bộ công chức Hải quan về kiểm tra trị giá khai báo tính thuế chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, do thiếu chuyên môn sâu về trị giá tính thuế, về các thông lệ, hình thức thanh toán quốc tế…
- Sự phối hợp trao đổi thông tin trong nội bộ ngành Hải quan chưa đáp ứng tính mau lẹ, thông suốt, mối quan hệ giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới chưa được thiết lập một cách có hiệu quả
Do vậy hạn chế lớn trong việc trao đổi thông tin về trị giá hàng hoá, về xuất xứ hàng trong khi tình hình buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi trên nhiều bình diện và sắc thái mới
- Việc cập nhập dữ liệu giá thiếu tính thường xuyên, chưa trở thành một tác nghiệp bắt buộc trong qui trình quản lý dữ liệu giá Chính vì vậy đã gây cản trở không nhỏ tới hiệu quả công tác xác định cũng như công tác tham vấn trị giá tính thuế
- Nguồn thông tin phục vụ công tác kiểm tra giá tính thuế còn hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu đặt ra Hiện nay việc cập nhật dữ liệu ở các Chi cục rất lớn nhưng trang thiết bị chưa tương xứng với yêu cầu khai thác và quản lý khi tra cứu dữ liệu trên máy tính
- Công tác kiểm tra sau thông quan chưa thực sự đem lại hiệu quả: Một trong những yếu tố quan trọng củng cố và nâng cao hiệu quả của công tác chống gian lận thuế qua trị giá tính thuế là công tác kiểm tra sau thông quan Mặc dù công tác này đã được Cục Kiểm tra sau thông quan coi trọng và tích cực triển