Kỹ thuật nuôi cấy mô đã được áp dụng rất hiệu quả trong việc nhân giống các loài quý hiếm, những cây đột biến và cây lai. Đề tài: “Vi nhân giống cây hoa sứ thái” được thực hiện nhằm mục tiêu: Xác định được hiệu quả của môi trường nuôi cấy trên sự sinh trưởng và phát triển cây sứ Thái in vitro và ex vitro; Xây dựng qui trình nhân giống, tạo vật liệu phục vụ cho công tác giống cây hoa kiểng ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong thí nghiệm này gồm 4 thí nghiệm: Hiệu quả của GA3 và BA trên sự nảy mầm của hạt sứ thái; Hiệu quả của NAA lên sự tạo rể của chồi hoa sứ thái in vitro; Ảnh hưởng của giá thể lên sự thuần dưỡng cây sứ thái. Kết quả cho thấy: Môi trường 2 mgl GA3 đã kích thích hạt sứ thái nẩy mầm và vươn cao tốt nhất; nghiệm thức 0.2 mgl BA đạt số chồi gia tăng cao hơn các nghiệm thức còn lại; Ở các nghiệm thức có sử dụng NAA có sự xuất hiện mô sẹo ở gốc của chồi lớn hơn so với đối trứng và những mô sẹo này sẽ giúp cây con sống sót được khi thuần dưỡng ở nhà lưới; nghiệm thức tro trấu + xơ dừa (1:1) đã giúp chồi tạo rễ nhiều hơn và nghiệm thức: tro + xơ dừa + đất (1:1:1) đã giúp chồi sinh trưởng tốt
Trang 1TÓM LƯỢC
Kỹ thuật nuôi cấy mô đã được áp dụng rất hiệu quả trong việc nhân giống các loài quý hiếm, những cây đột biến và cây lai Đề tài: “Vi nhân giống cây hoa sứ thái” được thực hiện nhằm mục tiêu: Xác định được hiệu quả của môi trường nuôi cấy trên sự sinh trưởng và phát triển cây sứ Thái in vitro và ex vitro; Xây dựng qui trình nhân giống, tạo vật liệu phục
vụ cho công tác giống cây hoa kiểng ở đồng bằng sông Cửu Long Trong thí nghiệm này gồm 4 thí nghiệm: Hiệu quả của GA3 và BA trên sự nảy mầm của hạt sứ thái; Hiệu quả của NAA lên sự tạo rể của chồi hoa sứ thái in vitro; Ảnh hưởng của giá thể lên sự thuần dưỡng cây sứ thái Kết quả cho thấy: Môi trường 2 mg/l GA3 đã kích thích hạt sứ thái nẩy mầm và vươn cao tốt nhất; nghiệm thức 0.2 mg/l BA đạt số chồi gia tăng cao hơn các nghiệm thức còn lại; Ở các nghiệm thức có sử dụng NAA có sự xuất hiện mô sẹo ở gốc của chồi lớn hơn
so với đối trứng và những mô sẹo này sẽ giúp cây con sống sót được khi thuần dưỡng ở nhà lưới; nghiệm thức tro trấu + xơ dừa (1:1) đã giúp chồi tạo rễ nhiều hơn và nghiệm thức: tro + xơ dừa + đất (1:1:1) đã giúp chồi sinh trưởng tốt
Trang 2MỤC LỤC Trang
LỜI CẢM ƠN
TÓM LƯỢC
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG
DANH SÁCH HÌNH
CHỮ VIẾT TẮT
GIỚI THIỆU
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây sứ Thái 1.1.1 Nguồn gốc
1.1.2 Đặc tính thực vật
1.1.3 Kỷ thuật nhân giống sứ Thái
1.1.4 Giá trị cây sứ Thái
1.2 Sơ lược về chất điều hoà sinh trưởng auxin và cytokinin
1.2.1 Auxin
1.2.2 Cytokinin
1.2.3 Gibberellic acid (GA3)
1.3 Vi nhân giống cây trồng
1.3.1 Khái niệm về vi nhân giống
1.3.2 Vai trò của vi nhân giống
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vi nhân giống
1.3.4 Các giai đoạn của vi nhân giống
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện
2.2 Phương pháp
2.2.1 Chuẩn bị môi trường nuôi cấy
2.2.2 Bố trí thí nghiệm 2.3 Phương pháp xử lý số liệu
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiệu quả của GA3 và BA trên sự nảy mầm của hạt sứ Thái
3.1.1 Tỉ lệ hạt nảy mầm
3.1.2 Chiều cao
Trang 33.1.3 Số lá
3.2 Hiệu quả của BA lên sự nhân chồi sứ Thái
3.2.1 Chiều cao gia tăng
3.2.2 Số lá gia tăng
3.2.3 Số chồi gia tăng
3.3 Ảnh hưởng của các loại giá thể lên sự thuần dưỡng cây sứ Thái
3.3.1 Tỉ lệ sống
3.3.2 Chiều cao gia tăng
3.3.3 Số rễ gia tăng và chiều dài rễ gia tăng
3.4 Xây dựng quy trình vi nhân giống cây sứ Thái
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1 Kết luận
4.2 Đề nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH SÁCH BẢNG
Trang 4Tên bảng TrangBảng 1: Tỉ lệ (%) hạt nảy mầm trong trong môi trường có các nồng độ khác sau 1-2 tuần nuôi cấy
Bảng 2: Chiều cao (cm) của chồi sứ Thái được gieo từ hạt trong môi trường có nồng độ khác nhau sau 1-2 tuần nuôi cấy
Bảng 3:Số lá của chồi sứ Thái được gieo từ hạt trong môi trường có các nồng độ khác nhau sau 1-2 tuần nuôi cấy
Bảng 4: Số chồi gia tăng của chồi sứ Thái trong môi trường có các nồng độ BA khác nhau sau 1-4 tuần nuôi cấy
Bảng 5: Chiều cao gia tăng (cm) của chồi sứ Thái trong môi trường có các nồng độ BA khác nhau 1- 4 tuần nuôi cấy
Bảng 6: Số lá gia tăng của chồi sứ Thái trong môi trường có các nồng độ BA khác nhau sau 1-4 tuần nuôi cấy
Bảng 7: Số rễ gia tăng và chiều dài rễ gia tăng của chồi sứ Thái trên các loại gái thể khác nhau sau 1-4 tuần thuần dưỡng
Bảng 8: Chiều cao gia tăng và chiều dài rễ gia tăng của chồi sứ Thái trên các loại giá thể khác nhau sau 1-4 tuần thuần dưỡng
Bảng 9: Số lá gia tăng của chồi sứ Thái trên các loại giá thể khác nhau sau 1- 4 tuần thuần dưỡng
DANH SÁCH HÌNH
Trang 5Tên hình Trang
Hình 1: Vật liệu thực vật (Trái sứ Thái)
Hình 2: Hạt sứ Thái sau 2 tuần nuôi cấy
Hình 3 Chồi sứ Thái ở nghiệm thức 0.2 mg/l BA 4 TSKC
Hình 4: Cây sứ Thái sau 4 tuần thuần dưỡng
Hình 6: Cây sứ Thái ở nghiệm thức Tro +xơ dừa (1:1)
Hình 7: Quy trình vi nhân giống cây sứ Thái
CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6BA Benzyl Adenine
GIỚI THIỆU
Trang 7Cây sứ sa mạc còn gọi là sứ Thái có tên khoa học là Adenium obesum Roem Và Schult , thuộc họ Apocynaceae (họ chúc đào), được mệnh danh là hoa hồng sa mạc đã xuất hiện từ khá lâu, có nguồn gốc ở các nước xa mạc Phi Châu
Loài cây này được trồng và phát triển ở nhiều nơi trong nước ta Với hình dáng đặc biệt cảu
bộ rễ, màu sắc hoa rực rỡ, đồng thời đây còn là loài cây chụi hạn giỏi, dễ chăm sóc nên từ lâu cây sứ Thái đã có vị trí khá vững chắc trên thị trường hoa cảnh Việt Nam
Cây sứ dễ trồng, khả năng nhân giống nhanh, hoa đẹp Ngoài vẻ đẹp của hoa, cây sứ còn được uốn tạo thành cây kiểng, cây thế nhờ bộ rễ đẹp Cấu tạo đặc biệt cảu rễ sứ giúp các nghệ nhân có thể sáng tạo ra muôn hình vạn trạng Chính điều này làm cho cây sứ mang lại giá trị rất cao trên thị trường Cây sứ được rất nhiều người ưa thích, trồng sứ sẽ đem lại hiệu quả cao (Huỳnh Văn Thới, 2000)
Nhóm cây mọng nước, xương rồng cũng như cây sứ đã được nghiên cứu nhân giống bằng
kỷ thuật in vitro ở các nước tiên tiến Kỹ thuật này rất có hiệu quả trong nhân giống các loaif quý hiếm, những cây đột biến và cây lai chỉ từ những mảnh nhỏ
Đề tài “Vi nhân giống cây hoa sứ Thái (Adenium obesum Roem Và Schult )” được thực hiện nhằm tìm nồng độ các chất điều hoà sinh trưởng thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển, của cây sứ in vitro và ex vitro, làm cơ sở cho công tác chuyển gen và lai tạo giống mới
CHƯƠNG 1
Trang 8LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về cây sứ Thái
1.1.1 Nguồn gốc
Sứ Thái hay còn gọi là sứ xa mạc có tên tiếng anh là Desert Rose hay Impala Lily (Phạm Hoàng Hộ, 2000) Tên khoa họ: Adenium obesum (Forssk) Roem Và Schult, thuộc họ Apocynaceae (họ Chúc Đào) Chúng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của miền đông và miền nam Châu Phi cũng như bán đảo Ả Rập
1.1.2 Đặc tính thực vật
a Rễ: cây sứ có rễ cái và rễ con và củ
rễ cái: mọc ra trực tiếp từ thân cây, điểm tiếp giáp giữa rễ cái và thân là đoạn vòng co (cỗ rễ) Rễ cái là phần rễ lớn nhất do mọc ra trước tiên khi cây sứ hình thành bộ rễ và rễ cái phải lớn, phải mạnh để có thể giữ cho cây sứ bám đất, không bị ngã, đổ khi gió lớn Khi trồng lâu ngày, rễ cái phìn to và lồi lên trên mặt đất và mang các hình thụ rất bắt mắt
Cây sứ trồng trực tiếp xuống đất thì rễ cái bò ngoằn ngoè không tập chung lại nên không thẩm mỹ bằng trồng trong chậu Hơn nữa trồng chậu giúp kiểm soát nguồn dinh dưỡng cho cây sứ tốt hơn, kịp thời bổ sung dinh dưỡng cho cây Cây sứ trồng dưới đất ít hoa hơn vì thiếu dinh dưỡng (Hoàng Đức Khương, 2006)
Rễ con (rể nhánh): là phần rễ nhỏ hơn mọc ra từ rễ cái, đầu rễ con có rể cám nhiều lông, tơ mịn màu trắng để hút nước, phân và các chất dinh duongx nuôi cây Rễ con luôn mền, không chắc chắn như rễ cái, nên rất dễ bị dập, úng dẫn đến gây thối bộ củ, bộ rễ cây sứ Tuy không trực tiếp làm đẹp cho cả bộ rễ nhưng rễ con là một thành phần rất quan trọng của cây sứ vì rễ con chính là nơi tiếp nhận nguồn dinh dưỡng cho cây và bệnh thối củ sứ đa phần xuất phát từ việc rễ con bị tổn thương, lan ra rễ cái cho nên rất cần quan tâm đến rễ con Thường khi trồng lâu, rễ con bò lan ra, bít lỗ thoát nước ở đáy chậu nên làm cây sứ bị úng nên thối chết (Huỳnh Văn Thơi, 2000)
Cây sứ trồng lâu cần được kiểm tra thường xuyên lỗ thoát nước Rễ con của cây sứ trồng chậu thường phát triển thành một “nùi” rễ, hút hết chất dinh dưỡng nên rễ con cũng cần
“dọn” lại, cắt bỏ các rễ con không thẩm mỹ
Trang 9Nếu xét về vẻ đẹp toàn diện của một cây sứ theo thang điểm thì bộ rễ chiếm vị trí chủ chốt, tương đương với hoa sứ vì cây sứ là loại kiểng có hoa, rồi sau đó mới xét đến cành, lá, bộ tán… Nhưng với những cây sứ được chơi theo dạng bonsai, chơi gốc thì bộ rễ coi như 80%
vẻ đẹp của cây Hơn nữa bộ rễ to, khoẻ mới nuôi được bộ cành, lá, hoa đẹp (Hoàng Đức Khương, 2006)
Củ: chỉ có cây sứ trồng từ hột mới có “củ” là phần tiếp giáp giữa thân cây sứ và bộ rễ Cây
sứ trồng từ cành giâm hoặc chiết không có củ Nếu như phần lớn chất dinh dưỡng của cây trồng từ cành nằm ở bộ rễ thì ở cây sứ hột nằm ở củ Củ phìn to để trữ năng lượng cho cây
sứ Củ to, đẹp là do nó trữ nhiều nước, chất dinh duõng
Quan sát cây sứ con khi mới trồng từ hạt thì thấy cây dường như thân, củ và rể khá liền lạc nhưng đoạn tiếp giáp giữa thân và rễ tròn và phình hơn và dần phát triển to ra Đôi khi củ sứ phát triển mạnh nên trữ hết nguồn dinh dưỡng dẫn đến bộ rễ không phát triển nhiều (Huỳnh Văn Thới, 2000)
Khi muốn cây sứ ra nhiều cành, nhánh và để có bộ tán sum xuê thì thân cây thường được cắt ngang sát gốc Đặc biệt với cây sứ hột, cành- nhánh ít đâm ra từ thân cây nên nếu không cắt ngang thân thì thân sẽ vươn cao lêu nghiêu không, dễ ngã đổ (Hoàng Đức Khương, 2006)
Nhưng nếu cây sứ hột được cắt sát thân thì khi lớn lên, nhiều cành mọc mạnh tua tủa ra từ
cổ rẽ sẽ khiến phần thân dường như biến mắt, chỉ còn củ và một cụm cành khiến cây mất cân đối về hình dáng
c Cành, nhánh
Trang 10Nhánh sứ là phần mọc ra từ thân cây, màu xanh sáng hơn màu thân vì “non” hơn Nhánh mang lá mọc so le Nhánh tạo nên cấu trúc của bộ tán Cây sứ đẹp một phần do các nhánh mọc đều nhau tạo nên sự hài hoà chung Đối với các cây sứ đã lớn, nhánh cũng lớn nên cần được cắt nhánh để tạo thành nhánh mới mọc ra từ chỗ cắt tạo cho cây sum xuê, ra được nhiều hoa
Nhánh cũng cần được chú ý chăm sóc vì chúng ta thường ghép các giống mới lên nhánh sứ
và ít khi ghép trực tiếp lên thân (Huỳnh Văn Thới, 2000)
d Lá
Lá sứ dày mộng nước thường có màu xanh bóng mọc ở đầu cành Với nhiều giống sứ mới hiện nay thì lá cũng khá phong phú về kiểu dáng Lá có thể trơn, láng hoặc có lông tơ mịn; màu từ xanh đến nâu, đỏ; đuôi lá có chóp nhọn có gai nhỏ hoặc bằng hoặc lõm vào trong Giữa trục chính của lá có một đường gân chính mang các gân phụ chạy dọc ngang lá Gân
có thể chìm hoặc nổi bật hẳn lên Vì sứ là loài cây mang tính sa mạc nên lá già rụng đi nên phần cành sứ già trụi lá và chỉ còn lá mọc ở đầu cành Màu của đỉnh nhọn lá sẽ cho ta biết khá chính xác màu của hoa (Hoàng Đức Khương, 2006)
e Hoa
Hoa là yếu tố quan trọng của bất kỳ cây sứ nào, có nhiều màu khác nhau: đỏ, trắng, hồng, tím, vàng…hoặc trắng hồng, đỏ đen, trắng tím hoặc có viền… rất đa dạng Hoa nở theo từng chùm hoa, mỗi chụm hoa có từ 5 đến 10 hoa; những giống siêng hoa có tới hơn 20 hoa mỗi chùm và nở dần cả hơn một tháng mới hết Có những giống hoa nỡ dần từng hoa một (không bắt mắt nhưng cây luôn có hoa)
Cánh hoa: Hoa sứ đa phần có 5 cánh xoè to ra, cũng có hoa 4 hoặc 6,7,8 cánh nhưng chỉ đột biến và không bề vững Cánh có thể tròn, hình sao đầu cánh nhọn; cánh mọc khít nhau cánh này xen sát với cánh kia như chồng lên nhau làm hoa tròn trịa rất đẹp hoặc cánh rời rạc; cánh dúm quăn; cánh sẽ răng cưa Có giống hoa có hai tầng cánh, lớp ngoài lớn hơn, lớp trong cánh nhỏ hơn (Huỳnh Văn Thới, 2000)
Họng hoa: Thường hình tròn nằm đầu ống phễu của hoa của hoa ngay dưới cánh hoa, nơi các cánh hoa chụm lại thành một khối Họng thường có màu vàng, đỏ, trắng, cam, xanh Hoa trắng thường có họng vàng, xanh; hoa đỏ có họng đỏ, vàng; hoa tím họng màu tím
Trang 11Nhuỵ hoa: là cơ quan sinh sản của hoa (hữu tính), có nhuỵ đực và nhuỵ cái Trong ống hoa
có 5 cọng nhuỵ hoa dài mọc ra bên ngoài Sự dài ngắn của nhuỵ cũng tuỳ thuộc vào từng giống nên khả năng giao phấn giữa các giống khác nhau
f Trái
sau khi hoa sứ được thụ phấn (do điều kiện tự nhiên hoặc tác động của con người), nơi cuống hoa phần bầu noãn sẽ phình to thành trái (tốc độ phát triển nhanh) Trái thường mọc thành cặp có đôi như trái đậu đũa, trái mai chiếu thuỷ nhưng cũng có trái mọc thành 3 nhánh Màu da của trái cũng tuỳ thuộc vào màu hoa, hoa trắng thì trái màu xanh, hoa đỏ trái màu đỏ pha nâu xanh (Hoàng Đức Khương, 2006)
g Hạt
trong một cặp trái có từ 100 đến 150 hạt Có những cặp trái lớn có thể cho vài trăm hạt Hai đầu hạt có hai chùm lông mịn giúp hạt phát tán đi xa khi trái chín, bung Hạt có kích thước như hạt lúa và cũng to, nhỏ, thuôn dài hoặc mập mạp tuỳ giống
1.1.3 Kỹ thuật nhân giống sứ Thái
a.Kỹ thuật nhân giống bằng hạt
Bình thường cây sứ thỉnh thoảng cũng cho trái, nhất vào mùa khô, từ tháng giêng đến tháng
5 Trái sứ có từng cặp như sừng trâu dài khoảng 20- 30 cm, mỗi trái chứa từ 50- 100 hạt Hạt sứ to, trụ tròn, dài như hạt lúa, có vỏ mềm màu trắng với chùm lông tơ để phát tán đi xa, rất dể nẩy mầm khi ươm Đây là cách để người ta lai tạo ra những giống mới bằng phương pháp thụ phấn chéo giữa hoa của các cây sứ khác nhau
b.Nhân giống sứ Thái bằng cành giâm
phương pháp thường sử dụng nhiều nhất từ trước tới nay là giâm cành, dù hiệu quả không cao lắm do cành giâm dễ bị thúi ủng trong quá trình ươm trồng Đồng thời sự phát triển cũng khá chậm, thường là sau 1 năm trở lên thì cây sứ mới có thể có dáng của bộ củ tương đối Nhưng đây là biện pháp giải quyết khá tốt cho những lần cắt nhánh sứ to dáng ở những cây sứ lớn: so sánh cắt dư ra ta làm cành giâm để nhân giống
c Nhân giống sứ Thái bằng chiết cành
Trang 12Là phương pháp rất hiệu quả trong việc nhân giống sứ, gần như cây giống đạt trên 90% vì
từ lúc chiết nhánh cây đến khi ra rễ thì các nhánh sứ vẫn nuôi trên mình mẹ
1.1.4 Giá trị cây sứ Thái
Cây được trồng làm cảnh Nhiều bộ phận của cây cũng được sử dụng làm thuốc Vỏ cây sắc uống nhuận tràng, hoa dùng hạ huyết áp Lá và thân cây được dùng như cây dừa cạn trị ung thư (Đỗ Tất Lợi, 1977) Mũ đấp đau khớp, sưng, bại, bịnh da (Phạm Hoàng Hộ, 2000)
Ngoài tác dụng để thưởng thức ra, cây sứ còn có khả năng hấp thụ khí độc và loại bỏ sự ô nhiễm trong phòng (Thiên Kim, 2009) Là loại cây CAM, sứ Thái có đặc điểm hấp thu khí CO2 do cây hô hấp ra và có trong không khí ban ngày lẫn ban đêm (khác với cây C3 và C4 (Dương Ngọc Hiệp, 2010) nên có thể trang trí trong phòng khách, phòng làm việc, ngay cả phòng ngủ
1.2 Sơ lược về chất điều hoà sinh trưởng
Chất điều hoà sinh trưởng là những chất có hoạt tính sinh học cao, được tao ra lượng trong
cơ thể thực vật và tham gia vào hoạt động sống với vai trò như những yếu tố điều kiển Hiệu lực tác dụng của chúng rất khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất và nồng độ tế bào nhận tác dụng
Là chất hữu cơ, có trong cơ thể thực vật hoặc được tổng hợp nhân tạo, chất điều hoà sinh trưởng có tác động đến quá trình sinh trưởng thực vật Khi áp dụng chất điều hoà sinh trưởng ngoại sinh, tác dụng khác nhau tuỳ thuộc vào nồng độ sử dụng, liều lượng, thời kỳ
sử dụng trên cây và chăm sóc cây trồng (Bùi Trang Việt, 2000)
1.1.2 Auxin
Trong nuôi cấy mô thực vật nhóm auxin thường sử dụng gồm các chất: 2,4 –D (Dichlorophenoxy acetic acid); IBA (Indol butyric acid); IAA (Indol acetic); NAA (Naphthalene acetic acid)
Tác dụng đặc trưng nhất của auxin kích thích pha dãn dài tế bào; tuy nhiên trong quá sinh trưởng của tế bào, auxin ảnh hưởng không chỉ lên pha dãn dài tế bào mà có thể kích thích và kìm hãm quá trình phân chia tế bào (Trần Văn Minh, 1994)
Trang 13Auxi là nhân tố chính trong sự phân chia tế bào, phần lớn các mô thực vật không phát triển trong ống nghiệm khi trong môi trường không có auxin Nó gây ra sự thành lậ rễ và tạo ra những dạng bất định của cơ quan
NAA có tác dụng kích thích sinh trưởng của cây rất mạnh, tác động đến pha dãn, pha phân chia tế bào theo chiều hướng như tác động lên tính chất vật lý của các nguyên sinh, làm tăng
độ nhớt, tăng khả năng thẩm thấu Ngoài ra, NAA có tác dụng hoạt hoá sự sinh tổng hợp các chất cao phân tử (protein, pectin, cellulose) và kìm hãm sự phân giải chúng (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2011)
1.2.2 Cytokinin
Cytokinin tổng hợp kinetin được phát hiện đầu tiên bởi Skoog từ thập kỷ 1950 (Miller et al, 1955) Cytokinin tự nhiên đã tìm được ở mầm bắp và đặt tên là zeatin Sau đó cytokinnin cũng được tìm thấy trên nhiều đối tượng thực vật khác trong thiên nhiên Nó có trong hầu hết các mô, nhất là mô phân sinh ngọn, rễ; từ rễ cytokinin di chuyển đến chồi theo mô gỗ Ngoài ra, nó hiện diện trong các phôi nơi nó được tổng hợp
Trong sự tăng trưởng tế bào, cytokinin có tác động kích thích Nếu có sự hiện diện của auxin giúp tế bào gia tăng kích thước và tổng hợp protein Cytokinin cũng kích thước quá trình dãn tế bào giống như auxin nhưng có tác động đến cả những tế bào mà auxin không cảm ứng Trong phân chia tế bào cytokinin tác động lên 2 bước: phần nhân và phân bào Cytokinin có khả năng ưu thế ngọn của auxin đối với sự phát triển của các chồi nách Khi đưa cytokinin hoặc kinetin vào gốc nách sẽ hạn chế tác dụng của auxin từ trên xuống và giúp chồi này tăng trưởng
Hầu hết thực vật đều cần đến cytokinin để cảm ứng tạo chồi, trong khi auxin có vai trò ngược lại Tỉ lệ cytokinin/aucin sẽ xác định sự tạo cơ quan: tỉ lệ cao: tạo chồi; tỉ lệ thấp: tạo
rễ Tỉ lệ cytokinin/auxin thường là 10/1 (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thuỷ Tiên, 2001)
Benzyl adenin (BA) là loại cytokinin có hiệu quả cao trong sự cảm ứng tạo chồi ở nhiều loài thực vật Các loại cytokinin khác (kinetin, 2- iP và zeatin) cũng có sử dụng nhưng ít hơn
BA (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002) Ngoài tác dụng tạo chồi và cản trở sự tạo rễ, đôi khi cytokinin cũng cảm ứng sự tạo rễ hoặc tác động lên sự tăng trưởng của rễ (Fries, 1960; trích từ Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002)
Trang 141.2.3 Gibberllic acid (GA3)
GA3 được sử dụng phổ biến trong nhóm Gibberelin, chất điều hoà sinh trưởng có tác dụng kích thích sự nảy mầm của hạt, hạt không nảy mầm nếu không xử lý GA3 ngoại sinh và tỉ lệ nảy mầm tăng theo nồng độ GA3 sử dụng (Nguyễn Minh Chơn, 2005)
Rukiye et At (2000), đã sử dụng GA3 kết hợp với nhiệt độ đã làm tăng sự nảy mầm của hạt Eranthis hyemslis (L.) Salisb, so với đối chứng Rawat et Al (2006) đã cải tiến sự nảy mầm của hạt ở loài Tùng bách bằng Gibberellic acid (GA3) Kết quả đã cho thấy khi nhúng những hạt trên trong GA3 (24 giờ) đã cho tỉ lệ hạt nảy mầm lần lượt ở từng loài là A pindrow (45.0 4.19%), C torulosa (57.0 3.40%) và P smithiana (56 6.01%) so với đối chứng Ai- Rong Li et al (2007) đã sử dụng GA3 ở nồng độ từ 100 đến 500 mg/l đã làm tăng hiệu quả nảy mầm của 8 loài Pedicularis
1.3 Vi nhân giống cây trồng
1.3.1 Khái niệm về nhân giống
Nuôi cấy mô tế bào thực vật là sự nuôi cấy mô trùng các cơ quan, mô, tế bào thực vật trên môi trường nuôi cấy được xác định rõ; việc nuôi cấy được duy trì dưới các điều kiện kiểm soát Kỹ thuật nuôi cấy mô mang tính thương mại chủ yếu trên cở sở vi nhân giống Vi nhân giống là việc nhân đúng kiểu cây của một kiểu gen được tuyển chọn bằng cách sử dụng kỹ thuật in vitro Vi nhân giống thông thường là phương pháp nhân nhanh và giảm giá thành sản phẩm (Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
1.3.2 Vai trò của vi nhân giống
Theo các tác giả Pierik, 1975 Anonymous, 1980; Van Assche, 1983; Gebhard et al, 1983; Kunneman – Kooij, 1984 trích từ Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002 thì nhân giống có những lợi sau:
Nhân giống vô tính in vitro nhanh hơn nhân giống vô tính in vitro
Có thể tiến hành ở một số loài thực vật mà nhân giống in vitro không thể thực hiện do nhân giống in vitro có thể cảm ứng được sự trẻ hoá của mô
Việc nhân giống cây in vitro tạo được những cây sạch bệnh