1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng an toàn thực phẩm và các hiện tượng ngộ độc do độc tố tảo khi sử dụng các loại hải sản tại các cộng đồng dân cư ven biển việt nam

11 611 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 105,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loài vi tảo độc hại có thể chia thành 3 nhóm khác nhau: Nhóm thứ nhất có khả năng sản sinh các độc tố có thể tích lũy trong các sinh vật biển hoặc làm chết cá.. Một trong những tác h

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN HẢI DƯƠNG HỌC _

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC

MÃ SỐ KC 09-19

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG NGỘ ĐỘC DO ĐỘC TỐ TẢO KHI SỬ DỤNG CÁC LOẠI THỰC PHẨM HẢI SẢN TẠI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

VEN BIỂN VIỆT NAM

Đào Việt Hà Phòng Hóa Sinh – Viện Hải Dương Học Nha Trang

6132-32

02/10/2006

Nha Trang, tháng 12/2004

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Gần đây, sự bùng nổ của các loài tảo độc hại đang trở thành vấn đề toàn cầu ở cả môi trường biển và nước ngọt Hiện tượng này đã gây ra sự thiệt hại lớn cho ngành nuôi trồng thuỷ sản, mặt khác, nó gây nên hiện tượng ngộ độc có thể gây tử vong cho con người và các động vật biển khác

Các loài vi tảo độc hại có thể chia thành 3 nhóm khác nhau: Nhóm thứ nhất có khả năng sản sinh các độc tố có thể tích lũy trong các sinh vật biển hoặc làm chết cá Nhóm thứ hai là các loài có khả năng phát triển với mật độ tế bào cao, dẫn đến hiện tượng thiếu oxygen cho nhiều sinh vật khác Nhóm thứ ba bao gồm một số loài vi tảo có cả hai khả năng trên

Một trong những tác hại chính từ sự nở hoa của các loài vi tảo là chúng gây ra hiện tượng ngộ độc ở con người thông qua việc tiêu thụ các sinh vật hai mảnh vỏ Trong trường hợp này, có thể chỉ cần mật độ tế bào tảo khá thấp cũng có thể dẫn đến biểu hiện bệnh lý hoặc tử vong của con người Các loài hai mảnh vỏ như sò, vẹm, hàu hoặc điệp là bọn ăn lọc trực tiếp các loài vi tảo trong đó có các loài vi tảo độc, bằng con đường này, chúng có khả năng tích lũy độc tố vi tảo trong cơ thể với một thới gian dài nhưng không hế gây ra hiệu ứng độc với bản thân chúng Nhưng các độc tố được tích lũy này lại là một mối nguy hại lớn cho con người hoặc các sinh vật khác khi tiêu thụ hai mảnh vỏ bị nhiễm độc tố (Thorarinsdottir 1998)

Dựa vào biểu hiện khi ngộ độc, các độc tố được đặt tên là Paralytic, Diarrhetic, Neurotoxic and Amnesic shellfish poisoning (PSP, DSP, NSP and ASP) Ngoài ra, một loại độc tố khác - Ciguatera fish poisoning (CFP) sản sinh từ một số loài tảo giáp sống bám đáy trên bề mặt của nhiều quần xã san hô (SCOR-IOC GEOHAB 1998)

II ĐỘC TỐ TẢO (Nguồn gốc, cấu trúc hóa học và cơ chế hoạt động)

1 Độc tố Paralytic Shellfish Poisoning (PSP)

PSP là hiện tượng ngộ độc ở người do tiêu thụ các sinh vật có vỏ đã

nhiễm độc tố của các loài tảo giáp (ví dụ như Alexandrium, Pyrodinium

Trang 3

và Gymnodinium) (Hashimoto & Noguchi 1989) Độc tố PSP bao gồm

saxitoxin (STX) và hơn 20 dẫn xuất của nó – Các hợp chất này tan tốt

trong nước và hầu hết đều bền nhiệt (Baden et al 1993) Saxitoxin nói

riêng và độc tố PSP nói chung làm tắc nghẽn kênh trao đổi ion Na trên màng tế bào thần kinh, gây ra sự ức chế quá trình truyền xung thần kinh

Do đó, chúng có tác động đến cả hệ thần kinh và các hoạt động của hệ

thống cơ của con người (Baden et al 1993)

2 Độc tố Diarrhetic shellfish poisoning (DSP)

Độc tố DSP gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hoá Độc tố này sản sinh do các loài tảo giáp sống trôi nổi hoặc sống đáy, hầu hết thuộc chi

Dinophysis hoặc Prorocentrum (Yasumoto et al 1989, Lee et al 1989)

Độc tố DSP là một chuỗi polyether thuộc nhóm chất tan trong các chất béo (Quilliam & Wright 1995 a), bao gồm okadaic acid (OA),

dinophysistoxin (DTX 1, 2, 3), pectentoxins (Yasumoto et al 1985) và nhóm yessotoxins (Murata et al 1987) Okadaic acid là chất kìm hãm rất

mạnh của enzyme serine/threonine phosphatase, do đó, chúng kích thích trực tiếp đối với quá trình co thắt các cơ trơn của hệ tiêu hóa (Bialojan &

Takai 1988, Haystead et al 1989) Nhóm pectentoxins gây ra hoại tử gan

còn nhóm yessotoxins gây ảnh hưởng tới cơ dạ dày

3 Độc tố Amnesis shellfish poisoning (ASP):

ASP là hiện tượng ngộ độc gây ra hiện tượng mất trí nhớ ở người Độc tố này là domoic acid được sản sinh từ các loài tảo si líc thuộc chi

Pseudo-nitzchia Domoic acid là hợp chất bền nhiệt thuộc nhóm tan trong

nước - Nó là chất cạnh tranh của glutamate ở cơ quan cảm nhận kainate của hệ thần kinh trung ương Độc tố ASP gây ảnh hưởng đến cả hệ tiêu

hoá và hệ thần kinh của con người (Quilliam & Wright 1995 b)

4 Độc tố neurotoxic shellfish poisoning (NSP):

NSP (đôi khi còn được gọi là brevetoxin shellfish poisoning – BSP) là hiện tượng ngộ độc gây ra do tiêu thụ các loài sinh vật có vỏ ăn lọc

loài vi tảo Gymnodinium breve Độc tố NSP hợp chất polyether vòng tan

trong chất béo, chúng có thể phân chia thành hai dạng cấu trúc káhc nhau

Trang 4

bao gồm 9 dẫn xuất (Shimizu et al 1986) Độc tố NSP bịt kín cơ quan thụ

cảm thần kinh ở vị trí số 5 của kênh trao đổi ion Na, do đó gây ra hiện tượng kích hoạt kéo dài, tăng dòng ion Na, tiếp theo đó là sự mất phân cực của tế bào bị kích hoạt ở điện thế nghỉ

5 Độc tố ciguateric fish poisoning (CFP):

CFP là triệu chúng lâm sàng gây ra do ăn phải các loài cá sống tại vùng rạn nhiệt đới và quanh các đảo Độc tố gây nên hiện tượng này có

nguồn gốc từ loài vi tảo Gambierdiscus toxicus thường sống ở vùng rạn,

tuy nhiên, một vài loài tảo sống đáy khác cũng có thể sản sinh độc tố này Độc tố CFP là hợp chất vòng thuộc nhóm polyether, tan trong chất béo (nhóm Maitotoxin) hoặc tan trong nước (nhóm ciguatoxin) Ciguatoxin gây ra hiện tượng mở kênh trao đổi ion Na ở hiệu điện thế nghỉ và dẫn đến quá trình bất hoạt của kênh mở trong quá trình mất phân cực của tế bào (Baden & Trainer 1993) Mặt khác, maitotoxin gây ra sự

co thắt kênh ion Na ở hệ thống cơ trơn và cơ cấu trúc (Murata et al

1991)

III TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘC TỐ TẢO ĐẾN HỆ SINH THÁI

1 Sự tích lũy sinh học và hiện tượng cá chết hàng loạt:

Theo Hallegraeff (1995), các loài vi tảo là nguồn thức ăn chủ yếu của các loài sinh vật có vỏ ăn lọc, cá ăn thực vật, ấu trùng của các loài giáp xác và cá Vì vậy, các sinh vật này có thể tích lũy các độc tố từ vi tảo độc và lan truyền độc tố đến các sinh vật bậc cao hơn trong chuỗi thức ăn biển Khi các sinh vật nhiễm độc tố được tiêu thụ bởi con người, thú hoặc chim biển, những cá thể này có thể bi bệnh hoặc tử vong, tùy thuộc vào hàm lượng độc tố đã được tích lũy trong thức ăn (Steidinger 1993) Mặt khác, rất nhiều loài cá có thể bị chết do độc tố tảo, ví dụ cá heo và cá voi cũng co thể trở thành nạn nhân khi chúng bị nhiễm độc tố tảo thông qua chuỗi thức ăn từ các loài động vật phù du hoặc cá khác

(Greraci et al 1989)

2 Sự liên kết giữa sự xuất hiện của tảo độc và độc tố tảo trong các sinh vật có vỏ:

Trang 5

Các sinh vật có vỏ ăn lọc trực tiếp các loài vi tảo độc mà không bị tác động xấu từ độc tố tảo Bởi vậy, chúng có thể tích lũy các độc tố này – Và khả năng tích lũy này rất khác biệt theo từng loài sinh vật, phụ thuộc vào sự nhạy cảm, khả năng tích lũy trên cơ sở sức sống chịu của hệ thần kinh của chúng đối với độc tố và tập tính ăn lọc Theo Shumway và cộng sự (1995), tốc độ tích lũy độc tố của các sinh vật ăn lọc có liên quan chặt chẽ đến số lượng tế bào vi tảo thích hợp với chúng Nhưng sự đào thải của các độc tố đã tích lũy lại phụ thuộc vào vị trí hay bộ phận mà chúng tập trung tích lũy trong cơ thể sinh vật Ví dụ, độc tố tập trung

trong hệ tiêu hoá (như ở giống vẹm xanh Mytilus) sẽ bị đào thải nhanh hơn là độc tố tích lũy trong cơ (ví dụ như ở giống Saxidomus, Placopecten, Spisula) Do vậy, vẹm được coi như là loài có khả năng tích lũy độc tố

nhanh nhất và đào thải độc tố trong thời gian ngắn nhất Ngược lại, sò và điệp có thể lưu giữ độc tố trong khoảng thời gian khá dài (2 năm) (Shumway& Cembella 1990) Tuy nhiên, mối tương quan giữa sự xất hiện của các loài vi tảo độc và hàm lượng độc tố trong các loài sinh vật có vỏ cũng còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường như dòng chảy, chất lượng nước, mùa và yếu tố địa hình

Sự xuất hiện sự nở hoa của tảo độc và độc tố vi tảo trong các sinh vật có vỏ xảy ra không đồng thời Nói chung, hàm lượng độc tố cao nhất trong sinh vật có vỏ được ghi nhận khoảng 1-2 tuần sau khi xuất hiện sự nở hoa của tảo độc (Premazzi & Voltera 1993)

3 Triệu chứng ngộ độc từ độc tố tảo và biện pháp xử lý

Nhìn chung, những nghiên cứu nhằm chữa trị các hội chứng ngộ độc cấp tính và mãn tính gây ra từ độc tố tảo là khá khó khăn, nếu không nói rằng hầu như không thể thực hiện được Biện pháp chính và chủ yếu chỉ là hỗ trợ sức chống chịu và khả năng đề kháng của cơ thể, mặc dù trên lý thuyết, có thể dùng chất giải đặc hiệu hoặc một vài biện pháp khác Nhằm ngăn chặn những hiểm họa của độc tố tảo đối với con người, cần thiết phải có sự nghiên cứu nỗ lực về cả dịch tễ học và lâm sàng Mặt khác, chương trình giáo dục phổ thông phối hợp với ngành công nghiệp thủy sản nhằm ngăn chặn những hiểm họa từ độc tố tảo là rất quan trọng

(Fleming et al 1995)

Trang 6

PSP DSP ASP NSP CFP

Thời gian

ủ bệnh 5-90 phút 30 phút-nhiều giờ (hiếm khi sau 12

giờ)

3-5 giờ 30 phút- 3 hoặc 6

giờ 12-24 giờ

Triệu

chứng -

Trường

hợp nhẹ

Cảm giác ngứa hoặc tê rần quanh miệng, dần dần lan tỏa khắp mặt và cổ

Cảm giác đau như kim chích ở đầu ngón tay ngón chân

Nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn và tiêu chảy

Tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau

co thắt vùng bụng

Buồn nôn, nôn mửa, đau co thắt vùng bụng

Ơùn lạnh, nhúc đầu, tiêu chảy

Cơ trở nên yếu và đau nhức

Buồn nôn và nôn mửa

Triệu chứng đường tiêu hóa: Tiêu chảy, đau co thắt vùng bụng, buồn nôn và nôn mửa

Triệu

chứng -

Trường

hợp

nghiêm

trọng

Liệt cơ

Phát âm và hô hấp khó khăn

Cảm giác bị kích động

Tử vong do liệt cơ hô hấp có thể xảy ra trong vòng 2-24 giờ sau khi ăn

Sự nhiễm độc kéo dài có thể kích thích hình thành u bướu trong hệ tiêu hóa

Giảm phản ứng dẫn đến rất đau

Choáng váng, ảo giác và lẫn lộn

Mất trí nhớ tạm thời

Lên cơn

Tê liệt, đảo ngược cảm nhận giữa nóng và lạnh, khó thở, ảo giác, khó phát âm và tím tái

Triệu chứng thần kinh: Tê rần và ngứa ở chân và tay

đảo ngược cảm nhận giữa nóng và lạnh

Mất cân bằng

Nhịp tim và huyết áp giảm, thở dốc

Tử vong có thể xảy ra

do liệt cơ hô hấp

Tỉ lệ tử

Giới hạn

an toàn 80 µg/100 g mô 20 µg/100 g thịt 20 µg/100 g mô 80 µg/100 g mô Dưới mức độ điều tra Biện pháp

chữa trị Súc rửa dạ dày va cho thở nhân tạo Tự hồi phục sau 3 ngày Hỗ trợ Hỗ trợ Triệu chứng về thần kinh có thể kéo dài

nhiều tháng hoặc vài năm sau Dung dịch điện giải có thể dùng nhằm giảm bớt triệu chứng

Trang 7

IV MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGỘ ĐỘC DO ĐỘC TỐ VI TẢO TẠI VIỆT NAM

Trên thế giới, một trong những ghi nhận ca tử vong đầu tiên do ăn phải động vật thân mềm đã bị nhiễm độc tố vi tảo là vào năm 1793, khi mà thuyền trưởng George Vancouver và thuỷ thủ đoàn neo tàu tại vùng biển British Columbia Ông ta ghi lại rằng người thổ dân vùng này cũng đã có kinh nghiệm cấm ăn các loài hải sản khi mà nước biển trở nên đổi màu do sự nở hoa của tảo gíap Hàng năm trên toàn cầu có khoảng 2000 trường hợp người ngộ độc do độc tố vi tảo với tỉ lệ tử vong khoảng 15%

Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục ATVSTP, Bộ Y Tế, từ 1999 đến 2002 trên phạm vi cả nước, tổng số vụ ngộ độc thực phẩm nói chung là khoảng 1200 vụ bao gồm 24,000 nạn nhân, trong đó có khoảng 300 ca tử vong Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngộ độc thực phẩm tại nước ta là sử dụng các mặt hàng rau quả tươi chứa dư lượng thuốc bảo quản có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng, hoặc thuốc trừ sâu, tiếp theo là thực phẩm không được bảo quản tốt dẫn đến hư hỏng do nhiễm vi khuẩn, nấm… Nhưng cho đến nay, chưa có báo cáo chi tiết hàng năm về các vụ ngộ độc và số nạn nhân do độc tố tảo Rải rác dọc theo các vùng ven biển đã ghi nhận được một số trường hợp ngộ độc nghi ngờ có liên quan đến độc tố vi tảo, nhưng chưa được điều tra và nghiên cứu một cách chi tiết

Tại đảo Nhơn Châu (tỉnh Qui Nhơn), vào tháng 5/1998 đã có một cô giáo trẻ chết và một người khác sống sót sau khi ăn cua biển trong một chuyến dã ngoại cùng với các học sinh Nạn nhân bị chết có các triệu chứng như co giâït, cứng đờ tay chân, liệt vùng cổ họng và đã chết trên đường tới bệnh viện Nạn nhân sống sót có cảm giác ngứa vàtê rần ở môi và lưỡi, cảm giác nóng bỏng ở các ngón tay, ngón chân Ba loài cua thuộc họ Xanthidae đã được thu thập để phân tích độc tố PSP (dưới sự tài trợ của dự án ASEAN-Canada 1998) Tất cả các mẫu này đều chứa độc tố

PSP và đặc biệt, loài cua Zosimus aeneus là có độc tính cao nhất Thành phần độc tố PSP gồm Neo-STX, STX, GTX2/3 và dc-STX (Nga et al

1998)

Tháng 04/2001, một vụ ngộ độc tương tự xảy ra tại Vạn Ninh (Tỉnh Khánh Hòa) dẫn đến tử vong nhanh chóng cho một phụ nữ khi chị ăn 01

Trang 8

con cua mắc lưới dã cào Theo lời kể lại của gia đình nạn nhân, con cua độc có hình dạng giống như cua đá, nhưng toàn bộ mai và các chân đều có lông dài bao phủ Khi người chồng đem cua từ ghe lưới mành về, chị đã nấu trong moat nồi canh gia đình và ăn phần thịt cua Sau khoảng 20

-30 phút, nạn nhân lập tức lên cơn co giật, sùi bọt mép và cứng hàm Mặc dù gia đình cố gắng cậy miệng chị để giải độc theo dân gian (đốt mai cua, hòa nước, đổ vào miệng nạn nhân), nhưng cơ thể hoàn toàn không còn phải xạ nuốt nữa Cháu bé chỉ húp một muỗng nước trong nồi canh trên cũng có biểu hiện tê dại ở lưỡi và miệng, nhưng may mắn hơn mẹ vì liều lượng độc tố chưa đủ để gây tử vong Tuy nhiên, loài cua này không thường gặp và chúng thường sống tại vùng nước khá sâu nên không thể thu mẫu nghiên cứu kiểm chứng

Năm 2002, sau khi ăn món Shell nướng tại một nhà hàng seafood tại thành phố Nha Trang, một khách du lịch Đan Mạch cũng cảm thấy có những triệu chứng của hiện tượng ngộ độc PSP Do có hiểu biết rõ về HABs và độc tố vi tảo, ngay lập tức, bà đã tới bệnh viện để được cấp cứu kịp thời và đã hoàn toàn bình phục sau khoảng 2 tiếng Do lo ngại cho Việt Nam về mặt hàng thân mềm hai mảnh vỏ có khả năng sẽ bị ảnh hưởng uy tín, vợ chồng bà quyết định không công bố rộng rãi tin này ngoài một số đồng nghiệp Việt Nam tin cậy Rất tiếc, chúng tôi không thể thu thập thêm những thông tin và mẫu vật về vụ ngộ độc này để có thể có những nghiên cứu rõ ràng và chính xác

Điều quan trọng là khác với một số chất độc thực phẩm khác, các độc tố vi tảo không hề gây bất kỳ mùi vị khác lạ nào cho thực phẩm biển

bị nhiễm, do đó ngư dân hoặc người tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự tồn tại của chúng mà chỉ có thể phát hiện bằng các phương pháp thou nghiệm sinh học hoặc phân tích hoá học Một vấn đề quan trọng nữa là các độc tố này hầu hết là những hợp chất bền nhiệt, bền a xít nên không bị phân hủy trong quá trình đun nấu, và chính vì vậy, chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải sản chế biến như đóng hộp, cấp đông…

Trang 9

Do đó, để ngăn chặn kịp thời các trường hợp ngộ độc tử vong do độc tố vi tảo, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và quản lý và ngăn chặn sự thất thoát về kinh tế cho ngành nuôi trồng thủy sản, cần phải có một chương trình giám sát chặt chẽ, liên tục và rộng khắp trên phạm vi cả nước để đối phó với sự nở hoa của tảo độc hại và các tác hại của chúng Đây cũng là nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan khoa học và cơ quan quản lý, trong mối liên kết chặt chẽ đa phương để có được một chiến lược lâu dài và hiệu quả, góp phần phát triển nền kinh tế biển Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Baden, D.G & V.L Trainer 1993 Mode of action of toxins of seafood

poisoning Pp 49-74 - In I.R Falconer (Ed.), Algal toxins in seafood and drinking water Academic Press

Bialojan, C & A Takai 1988 Inhibitory effect of marine-sponge toxin, okadaic acid, on protein phosphatase Specificity and kinetics -

Biochem.J 256: 283-290

Carmichael, W.W., N.A Mahmood & E.G Hyde 1990 Natural toxins from cyanobacteria (blue-green algae) Pp 87-106 - In S Hall & G

Strichartz (Eds.), Marine toxins: Origin, structure, and molecular pharmacology ACS symposium series 418 Washington American

Chemistry Society

Fleming, L.E., J.A Bean & D.G Baden 1995 Epidemiology and public health Pp 475-487 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D

Cembella (Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO

Foxall, T.L., M.I Shoptaugh, & J.J Sasner 1979 Secondary intoxication

with PSP in Cancer irroratus Taylor, D.L.Seliger (eds.).Toxic Dinoflagellate Blooms, 413-418

Greraci, J.R., D.M Anderson, R.J Timperi, D.S.S Aubin, G.A Early,

J.H Prescott & C.A Mayo 1989 Humpback whales (Megaptera novaeangliae) fatally poisoned by dinoflagellate toxin Can J Fish

Aquat Sci 46: 1-10

Trang 10

Hallegraeff, G.M 1995 Harmful Algal Blooms: A global overeview Pp 4-18 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.),

Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33

UNESCO

Hashimoto, K & T Noguchi 1989 Recent studies on Paralytic Shellfish

Poisoning in Japan Pure appl.Chem 61: 7-18

Haystead, T.A.J., A.T.R Sim, D Carling, R.C Honnor & Y Tsukitani

1989 Effects of the tumor promoter okadaic acid on intracellular protein

phosphorylation and metabolism - Natural 337: 78-81

Lee, J.S., M Murata & T Yasumoto 1989 Analytical methods for

determination of diarrhetic shellfish toxins - Mycotoxins and phycotoxins'88 (Eds Natori, S.Hashimoto, K.and Ueno, Y.), 327-334

Murata, M., F Gusovsky, M Sasaki, A Yokoyama, T Yasumoto & J.W Daly 1991 Effect of maitotoxin analogues on calcium influx and

phosphoinositide breakdown in cultured cells - Toxicon 29: 1085-1096

Murata, M., M Kumagai, J.S Lee & T.Yasumoto 1987 Isolation and structure of yessotoxin, a novel polyether compound implicated in

diarrhetic shellfish poisoning - Tetrahedron Lett 28: 5869-5872

Nga, D.T 2000 Preliminary study on crab poisoning in Isle village Nhon Chau (Binh Dinh province) – In: The conference “Bien Dong” held at Nhatrang, 19-21 september 2000

Premazzi, G & L.Voltera 1993 Microphyte Algae Commission of the

European Communities

Quilliam, M.A & J.L.C Wright 1995a Methods for Diarrhetic shellfish poisoning Pp 95-111 – In: G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D

Cembella (Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO

Quilliam, M.A & J.L.C Wright 1995b Methods for Domoic acid, the Amnesic shellfish poisons Pp 113-133 – In: G.M Hallegraeff, D.M

Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO

Shimizu, Y., H.N Bando, G Vanduyne & J Clardy 1986 Structure of brevetoxin-A (GB-1), the most potent toxin in the Florida red tide

organism Gymnodinium breve (Ptychodiscus brevis) - JACS 108: 514-515

Ngày đăng: 09/03/2016, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w