1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

406 1,4K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 406
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm và sự vận động của quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra, nhất là các vấn đề do nó sản sinh, sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn thời đại ngày nay, từ đ

Trang 1

đề tài kx.08.05

*****

báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

đề tài khoa học x∙ hội và nhân văn cấp nhà nước

những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

Trang 2

1 GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn Chủ nhiệm Viện Triết học

II Những người thực hiện đề tài:

III Cộng tác viên

16 GS,TS Nguyễn Văn Huyên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

1 Tóm tắt các nội dung nghiên cứu đã đạt được:

a Về khối lượng: Sản phẩm của đề tài gồm có: 01 bản Báo cáo tổng hợp

dày 296 trang; 01 bản Báo cáo tóm tắt dày 85 trang; 01 bản Kiến nghị dày 8 trang

b Về nội dung: Đề tài đề cập đến 5 nội dung chủ yếu được trình bày

thành 4 chương

+ Chương 1, trình bày: “Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố tác động

đến chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI” Trong chương này, đề tài đã khái quát được thế nào là vấn đề

toàn cầu và đưa ra các tiêu chí khác nhau để phân loại các vấn đề toàn cầu Đây thực sự là điều cần thiết trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp có tính hữu hiệu cho việc giải quyết các vấn đề toàn cầu trong thực tế Tuy nhiên, trong số các tác nhân tác động đến nội dung, đặc điểm, xu thế của các vấn đề toàn cầu, đề tài chỉ tập trung phân tích 3 tác nhân chủ yếu là: kinh tế, chính trị và khoa học – kỹ thuật

+ Chương 2 của đề tài trình bày: “Những vấn đề toàn cầu nổi lên trong

hai thập niên đầu của thế kỷ XXI” Trong chương này, đề tài trình bày những

vấn đề toàn cầu cụ thể đang và sẽ nổi lên trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI dựa trên cơ sở phân loại thành 3 nhóm vấn đề mà chương 1 đã nói tới Ưu điểm của

đề tài thể hiện không chỉ ở sự liệt kê và phân loại các vấn đề toàn cầu mà chủ yếu

là cung cấp cho người đọc một bức tranh tổng thể, khá đậm nét, khá phức tạp về các vấn đề toàn cầu Đề tài đã chỉ ra mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa các nhóm vấn đề toàn cầu nói chung và giữa các vấn đề toàn cầu cụ thể nói riêng

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt thực chất của những vấn đề toàn cầu cụ thể và, qua đó, có thể đưa ra được các giải pháp cụ thể trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu đang và sẽ có thể nảy sinh ở Việt Nam

+ Chương 3 của đề tài tập trung trình bày: “Phương thức giải quyết

những vấn đề toàn cầu và một số kinh nghiệm quốc tế” Trên cơ sở 4 nguyên

tắc chung mà tập thể tác giả đưa ra, đề tài nêu ra 4 giải pháp chủ yếu trong quá trình giải quyết các vấn đề toàn cầu Đáng chú ý là, trong chương này, đề tài đã trình bày một cách tổng quát và rõ nét kinh nghiệm của một số nước cụ thể trong

Trang 4

số bài học kinh nghiệm cụ thể cho khả năng giải quyết các vấn đề toàn cầu tương

tự có thể nảy sinh trong quá trình phát triển ở Việt Nam

+ Chương 4 của đề tài mang tên: “Việt Nam và những vấn đề toàn cầu”

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của chương này là sự phân tích của

đề tài về những khó khăn và thách thức mà những vấn đề toàn cầu đang và sẽ có thể đặt ra đối với nước ta Trong đó, đề tài đã tập trung vào trình bày và phân tích một cách sâu sắc 3 vấn đề có tính toàn cầu cụ thể, đang nổi lên một cách cấp bách ở Việt Nam hiện nay Đó là: vấn đề môi trường; vấn đề dân số; vấn đề phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm, tệ nạn ma tuý, vấn đề phòng chống HIV/AIDS và các căn bệnh hiểm nghèo khác Trên cơ sở

đó, đề tài đã đưa ra và phân tích một cách cụ thể 5 hướng giải pháp chung cho những vấn đề toàn cầu của Việt Nam Đáng chú ý là, những giải pháp này đều

bám sát thực tiễn và nhu cầu phát triển của đất nước

2 Về những kết quả nghiên cứu mới của đề tài:

+ Đề tài đ∙ nêu lên một định nghĩa về “những vấn đề toàn cầu” có giá

trị tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu

+ Qua việc phân loại và trình bày rõ nét những vấn đề toàn cầu chủ yếu nổi

lên trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, đề tài đ∙ chỉ ra khá rõ nét chiều

hướng phát triển của những vấn đề đó trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI Cùng với đó, đề tài đưa ra những nhận xét mang tính phê phán đối với các

phương án không tưởng hoặc không khả thi, đồng thời mạnh dạn nêu lên những giải pháp có tính khả thi đối với việc giải quyết một số vấn đề toàn cầu cụ thể

+ Đề tài đ∙ nêu ra 5 hướng giải pháp cụ thể cho những vấn đề toàn cầu

ở Việt Nam, trong đó đáng chú ý là kiến nghị “phải sớm thành lập các Trung

tâm nghiên cứu các vấn đề toàn cầu”

3 Về giá trị sử dụng, ứng dụng của đề tài:

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch

định các chính sách đối nội, đối ngoại, làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục trong

hệ thống tuyên huấn, giáo dục - đào tạo và nghiên cứu để góp phần nâng cao nhận thức về những vấn đề toàn cầu để mọi cơ quan, mọi cá nhân có ý thức đúng

đắn, có trách nhiệm xử lý, giải quyết những vấn đề toàn cầu

Trang 5

Trang

1 4

I Tổng quan tình hình nghiên cứu

II Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài

III Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5

Phần nội dung 6 Chương 1 Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố tác động đến chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI 6 1.1 Các vấn đề toàn cầu: lịch sử, khái niệm, phân loại 6

1.2 Những nhân tố tác động đến chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI 24

1.2.1 Sự biến đổi và tác động của các nhân tố kinh tế đối với chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu 26

1.2.2 Sự biến đổi và tác động của nhân tố khoa học và công nghệ đến những vấn đề toàn cầu 39

1.2.3 Tác động của nhân tố chính trị đối với toàn cầu hoá và các vấn đề toàn cầu 47

Chương 2 Những vấn đề toàn cầu nổi lên trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI 49 2.1 Những vấn đề toàn cầu gắn liền với mối quan hệ giữa các cộng đồng xã hội cơ bản của nhân loại 49

2.1.1 Vấn đề chiến tranh và hoà bình 50

2.1.2 Vấn đề xung đột tôn giáo và dân tộc 61

2.1.3 Vấn đề phân hoá giàu nghèo 93

2.1.4 Vấn đề tội phạm quốc tế 100

2.2 Nhóm những vấn đề toàn cầu nảy sinh từ sự tác động qua lại

Trang 6

2.2.2 Vấn đề cạn kiệt nguồn nước 120

2.2.3 Vấn đề năng lượng 126

2.3 Nhóm những vấn đề toàn cầu liên quan trực tiếp đến con người, đến sự tồn tại của cá nhân con người 132

2.3.1 Vấn đề dân số 132

2.3.2 Vấn đề lương thực, thực phẩm 151

2.3.3 Vấn đề bệnh tật 159

2.3.4 Vấn đề di dân tự do trong mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế 162

Chương 3 Phương thức giải quyết những vấn đề toàn cầu và một số kinh nghiệm quốc tế 181 3.1 Những nguyên tắc chung và một số giải pháp trong quá trình giải quyết các vấn đề toàn cầu 181

3.1.1 Những nguyên tắc chung 181

3.1.2 Một số giải pháp chủ yếu trong quá trình giải quyết các vấn đề toàn cầu 191

3.2 Một số kinh nghiệm từ thực tiễn của Liên Xô và Liên bang Nga 202

3.3 Kinh nghiệm từ thực tiễn Trung Quốc 204

3.4 Kinh nghiệm từ thực tiễn các nước ASEAN 207

3.5 Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường 209

Chương 4 Việt Nam và những vấn đề toàn cầu 232 4.1 Định hướng của Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu và những thành tựu bước đầu 232

4.1.1 Quan điểm chung và nguyên tắc chủ đạo trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu 232

4.1.2 Chiến lược phát triển bền vững và những thành tựu quan

Trang 7

4.1.4 Tích cực tham gia đấu tranh chống tội phạm quốc tế 246

4.1.5 Bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế 248

4.1.6 Một số thành tựu bước đầu trong việc xoá đói giảm nghèo 250

4.2 Những khó khăn và thách thức 252

4.2.1 Vấn đề môi trường 252

4.2.2 Vấn đề dân số 274

4.2.3 Vấn đề phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, đặc biệt

là tội phạm, tệ nạn ma tuý, vấn đề phòng chống HIV/AIDS

4.3.3 Thành lập các trung tâm nghiên cứu vấn đề toàn cầu, tăng

cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách 289

4.3.4 Hoàn thiện cơ chế hoạch định – triển khai và hệ thống các

văn bản pháp luật và chính sách bám sát với thực tiễn cuộc sống và phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế 291

4.3.5 Quan trọng bậc nhất là nâng cao nhận thức, ý thức và vai

trò của quần chúng nhân dân trong việc tự giác tích cực hành động, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu………… 293

Trang 8

Phần mở đầu

I Tổng quan tình hình nghiên cứu

Toàn cầu hoá là xu thế lớn của thế giới đương đại, đang có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến sự phát triển của các dân tộc, các quốc gia và của toàn thể nhân loại

Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, do vậy nó là tất yếu và không ai có thể lảng tránh nó hay phủ nhận nó Tuy nhiên, toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế, là quá trình đang gây ra hiệu ứng hai mặt Một mặt, nó tạo ra những cơ hội

to lớn cho sự phát triển Mặt khác, nó cũng tạo nên những thách thức không nhỏ nhất là cho các nước kém phát triển Đúng như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”1 Do vậy, toàn cầu hoá vừa đang được sự ủng hộ mạnh

mẽ nhưng cũng vừa bị nghi ngại, bị dè chừng, thậm chí bị phản đối dữ dội từ phía các lực lượng chống toàn cầu hoá ở nhiều nước trên phạm vi thế giới

Việc nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm và sự vận động của quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra, nhất là các vấn đề do nó sản sinh, sẽ giúp chúng ta

hiểu sâu hơn thời đại ngày nay, từ đó giúp chúng ta nhận ra những cái mới đang

và sẽ diễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực tác động đến công cuộc

đổi mới, đến tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Hơn thế nữa, hiểu sâu, nắm vững các vấn đề toàn cầu của thời đại, dự báo chính xác về những tác động của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI đối với thế giới và đối với nước ta trên cơ sở những phân tích và luận chứng khoa học vững chắc về toàn cầu hoá, chúng ta sẽ đề ra được một chiến lược khôn ngoan, có hiệu quả để theo kịp nhịp độ phát triển của thế giới, mà trước hết là tranh thủ các cơ hội nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, đồng thời giảm đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và của các vấn đề toàn

1

Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001, tr.13

Trang 9

cầu đối với nước ta, góp phần cùng với cộng đồng thế giới giải quyết chúng một cách có kết quả Những điều vừa trình bày trên đây làm cho nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI trở nên rất cấp bách cả

về phương diện lý luận lẫn về phương diện thực tiễn

Ngoài nước:

Từ những năm 90 thế kỷ XX trở lại đây, ở tất cả các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc đều có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về những vấn đề toàn cầu của thời đại, dự báo những vấn đề sẽ trở thành những vấn đề chung của khu vực và thế giới trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, cũng như những năm đầu của thế kỷ XXI Trong số các công trình

đó, trước hết phải kể đến những công trình của nhà tương lai học người Mỹ Avin

Toffler như: Thăng trầm quyền lực (Nxb Thông tin Lý luận, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991); Làn sóng thứ ba hay Đợt sóng thứ ba (Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1992; Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996); Cú sốc tương lai (Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1992) và Chiến tranh chống chiến tranh, sự sống còn của

loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI (Nxb Chính trị Quốc gia, Viện thông

tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995) Trong những công trình đó, Avin Toffler đã

dự báo sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức, những đặc điểm mới của các cuộc chiến tranh; dự báo về các cuộc xung đột dân tộc, tộc người và tôn giáo

Bên cạnh các công trình đó, nhiều công trình nổi tiếng khác như: Chuẩn bị cho

thế kỷ XXI của Paul Kennedy (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); Nhỏ là

đẹp của E.F Schumacher (Nxb Khoa học Xã hội, Viện Thông tin Khoa học Xã

hội, Hà Nội, 1995); Bước vào thế kỷ XXI Hành động tự nguyện và chương trình

nghị sự toàn cầu của David Korten (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Sự

đảo lộn của thế giới địa chính trị thế kỷ XXI của Marizon Tourraine (Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của George Soros; Con đường đi đến năm 2015 Hồ sơ của tương lai của John L.Petersen (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000); Toàn cầu hoá, tăng trưởng

và nghèo đói (Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002); Kiềm chế tham nhũng của

Rick Staphenhurst, Shar J.Kpundeh (Ngân hàng thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia,

Trang 10

2002); Chiếc Lexus và cây Ôliu hay Toàn cầu hoá là gì? của Thomas

L.Friedman, xuất bản vào các năm 1999, 2000 và được dịch sang tiếng Việt

2005, Nxb Khoa học Xã hội; v.v đã phân tích những xu hướng lớn của thế giới

và khu vực trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và dự báo những vấn đề sẽ trở thành mối quan tâm chung của khu vực và thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI

Tất cả các công trình đó và một số công trình khác đã đi sâu phân tích từng vấn đề toàn cầu cụ thể như vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, vấn đề bệnh tật, v.v đã dự báo một số vấn đề

sẽ nảy sinh vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế

kỷ XXI Mặc dù vậy, vẫn cần có thêm những công trình từ nhiều góc độ khác

nhau nghiên cứu về Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ

XXI

Trong nước:

Từ những năm 90 trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu và sự tác động của nó đối với Việt Nam trong thế kỷ XX Những vấn đề như: chiến tranh và hoà bình, dân số, nghèo đói và bệnh tật, nạn cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, lương thực và thực phẩm, tội phạm quốc tế, v.v đã thu hút sự quan tâm và chú ý của nhiều nhà khoa học, cũng như của nhiều cơ quan chức năng Một

số chuyên khảo và nhiều bài báo đã được công bố Trong số đó, cần kể đến

các công trình của các tác giả như: Đặng Ngọc Dinh Công nghệ năm 2000

đưa con người về đâu (Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1992); Đặng Mộng

Lân Thế giới năm 2000 - những xu hướng kinh tế và công nghệ (Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1992); Nguyễn Xuân Yêm Tội phạm quốc tế -

những bàn tay bạch tuộc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994); Bộ Khoa

học, Công nghệ và Môi trường Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1996 (Hà Nội, 1996); Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Hiện trạng môi

trường Việt Nam năm 1998 (Hà Nội, 1998); Nguyễn Trần Quế Những vấn

Trang 11

đề toàn cầu ngày nay (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999), Nguyễn Duy

Quý (chủ biên) Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2002), Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến

(đồng chủ biên) Góp phần nhận thức thế giới đương đại Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2003, v.v Ngoài ra, còn có hàng loạt bài báo trên các tạp chí chuyên ngành bàn về các khía cạnh cụ thể khác nhau của vấn đề toàn cầu

Tuy nhiên, hiện nay một số vấn đề toàn cầu mới đã nảy sinh, chẳng hạn, vấn đề xung đột dân tộc, tộc người và tôn giáo, cần có sự nghiên cứu một cách thấu đáo Mặt khác, các công trình nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở hiện trạng và những vấn đề đặt ra vào những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt là sự tác động của chúng đến nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá

II Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài

Phạm vi của các vấn đề toàn cầu là rất rộng, theo yêu cầu của chương trình, trên cơ sở làm rõ nội dung, thực chất của những vấn đề toàn cầu, tầm quan trọng của việc giải quyết chúng đối với lợi ích các dân tộc và tương lai nhân loại đề tài tập trung làm rõ những nguyên nhân làm cho những vấn đề toàn cầu trở nên bức xúc và phức tạp; làm rõ thời cơ và thách thức trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu đối với toàn nhân loại những thập niên đầu thế kỷ XXI; phương thức cơ bản để giải quyết vấn đề toàn cầu, cũng như ảnh hưởng của một số vấn đề toàn cầu bức bách nhất đối với Việt Nam và đối sách của chúng ta

Để thực hiện những mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, làm rõ khái niệm, lịch sử vấn đề toàn cầu và các cách phân

loại vấn đề toàn cầu

Thứ hai, phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến chiều hướng

phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

Trang 12

Thứ ba, phân tích những vấn đề toàn cầu nổi lên trong hai thập niên đầu

của thế kỷ XXI (chủ yếu tập trung vào những vấn đề như ô nhiễm môi trường

và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, vấn đề dân số và bệnh tật, vấn đề lương thực, thực phẩm và sự phân hoá giàu nghèo, v.v.)

Thứ tư, trên cơ sở trình bày kinh nghiệm của một số nước trong khu vực

và trên thế giới trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu, góp phần phân tích các hình thức hợp tác và đấu tranh trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu

Thứ năm, trên cơ sở phân tích tác động của những vấn đề toàn cầu đối với

sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, làm rõ những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Do yêu cầu của chương trình, đề tài KX.08.05 chỉ tập trung phân tích sâu một số vấn đề trong hệ các vấn đề toàn cầu được dự báo sẽ nổi lên trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI sẽ tác động mạnh đến nước ta

III Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận để thực hiện đề tài là quan niệm mácxít về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong quá trình phát triển xã hội

Các phương pháp sẽ sử dụng khi nghiên cứu là:

Trang 13

Phần Nội dung

Chương 1 Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố tác động

đến chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu

trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

1.1 Các vấn đề toàn cầu: lịch sử, khái niệm, phân loại

Khái niệm “những vấn đề toàn cầu” xuất hiện phổ biến từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX Cũng như khái niệm “toàn cầu hoá”, khái niệm “những

vấn đề toàn cầu” đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các

trường phái khoa học, các trào lưu tư tưởng, các bài diễn văn quan trọng của một số nguyên thủ quốc gia, các báo cáo thường niên của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau, v.v trên khắp thế giới, kể cả những văn kiện chính thức của tổ chức lớn nhất là Liên Hợp Quốc, suốt từ khi xuất hiện cho đến nay

Không thể phủ nhận rằng, các công trình đó, trước hết là các công trình nghiên cứu, ở những mức độ khác nhau, đã có những đóng góp có giá trị nhất

định, trước hết là giá trị cảnh báo, nhằm thức tỉnh lương tâm con người về tương lai của nhân loại và về cách cư xử đối với giới tự nhiên với tư cách là cơ

sở tồn tại của chính mỗi cá nhân con người cũng như của toàn thể nhân loại Tuy nhiên, không có một trào lưu hay một trường phái khoa học nào đã đưa ra

được câu trả lời đầy đủ hay đề xuất các giải pháp thoả đáng cho những vấn đề toàn cầu được mọi người chấp nhận

Tại sao lại có tình trạng như vậy?

Có lẽ một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng này là do sự hạn chế của các cách tiếp cận đối với vấn đề này, mà một trong số cách tiếp cận như vậy chỉ xuất phát thuần túy từ góc độ kinh tế, góc độ kinh doanh, thương mại

mà không chú ý đến góc độ quan hệ giữa các quốc gia, góc độ chính trị - xã hội

Trang 14

Bên cạnh đó, một lý do nữa cũng hết sức quan trọng là sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau, về mặt lợi ích, kể cả lợi ích kinh tế lẫn lợi ích chính trị, của các chủ thể, của các quốc gia khi phải đối mặt với những vấn đề toàn cầu này và khi đề xuất các giải pháp, nhất là các khoản chi phí khổng lồ về mặt tài chính, để giải quyết chúng

Trong một bối cảnh phức tạp như vậy thì việc xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng để xem xét các vấn đề toàn cầu là hết sức cần thiết Bởi vì, chính quan điểm này sẽ cho phép chúng ta phân tích một cách khách quan, toàn diện và đi sâu hơn vào thực chất của những vấn đề toàn cầu, từ đó có thể gợi mở các phương thức giải quyết chúng một cách có kết quả

Chúng tôi cho rằng, để nhận thức các vấn đề toàn cầu một cách đúng

đắn, thì cần phải tiếp cận quá trình toàn cầu hoá cùng với các vấn đề toàn

cầu như một hệ thống thống nhất, có lôgíc nội tại, bởi vì, những vấn đề toàn

cầu dù nhìn bề ngoài có nét riêng biệt về tính chất và mức độ gay gắt có thể khác nhau, song giữa chúng lại có những điểm chung và có sự thống nhất

đáng kể Đồng thời, khi tiếp cận các vấn đề toàn cầu và gợi mở phương thức giải quyết chúng thì nhất định phải vì mục tiêu phát triển bền vững của cả loài người lẫn của giới tự nhiên với tính cách là cơ sở tự nhiên của tồn tại người

Nhiều nhà nghiên cứu ở phương Tây, khi viết về những vấn đề toàn cầu, thường gắn chúng với sự tăng trưởng kinh tế và quan hệ giao lưu kinh tế thuần túy do những tiến bộ mạnh mẽ, những thành tựu to lớn của khoa học, kỹ thuật

và công nghệ hiện đại mang lại Nói cách khác, những vấn đề toàn cầu nhiều khi chỉ được người ta xem xét, phân tích, lý giải thuần túy từ góc độ kinh tế

Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác, tuy rằng đứng trên lập trường mácxít, nhưng lại quá nhấn mạnh và thường xuyên chỉ gắn những vấn

đề toàn cầu với tiến trình hiện thực hoá các thành tựu của khoa học, kỹ thuật

và công nghệ trong điều kiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Chắc chắn rằng, việc gắn những vấn đề toàn cầu của thời đại với kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ không những không có gì sai, mà thậm chí còn

là tất yếu Song, theo chúng tôi, điều đó chưa đủ Bởi vì, ngoài khía cạnh liên

Trang 15

quan tới kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ ra, những vấn đề toàn cầu

còn liên quan đến chính trị, đến rất nhiều yếu tố xã hội khác, hơn thế nữa, chính chúng còn là các vấn đề chính trị - xã hội gay gắt, như vấn đề chiến tranh

và hoà bình, vấn đề giảm bớt và từng bước xoá bỏ sự bất công, sự phân cực giàu nghèo giữa các quốc gia, vấn đề các điều kiện đảm bảo cuộc sống bình thường

và tương lai của cá nhân con người và của cả loài người, v.v

Chẳng hạn, sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, sự đối đầu gay gắt giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa đã dẫn đến cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt trong nhiều năm của thế kỷ XX Đồng thời, sự đe dọa của cuộc chiến tranh nóng trong thời đại vũ khí hạt nhân, của vũ khí sinh học và hoá học đã buộc các quốc gia, nhất là các siêu cường, phải huy động đến mức tối đa có thể huy động được những khả năng dự trữ và các nguồn tài nguyên của họ nhằm tăng cường cao nhất khả năng quốc phòng của họ đã thể hiện rõ Điều này

Nói cách khác, những vấn đề toàn cầu hiện nay là sản phẩm của toàn

cầu hoá, phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá, biểu hiện ra với tính cách là một phức hợp của các vấn đề khoa học, kỹ thuật và các vấn đề chính trị - x∙ hội của thời đại chúng ta mà muốn giải quyết chúng thì cần có sự nỗ lực và hợp tác của cộng đồng thế giới

Trong số rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học đứng trên quan

điểm mácxít đề cập đến những vấn đề toàn cầu cho đến nay, có thể nói, đáng chú ý nhất là công trình của V.V.Dagơlađin và T.I.Phơrolốp có tựa đề là

"Những vấn đề toàn cầu thời hiện đại" (Mátxcơva, 1981) Theo quan điểm của các tác giả này thì những vấn đề toàn cầu bao gồm:

"Thứ nhất, là những vấn đề thực sự đụng chạm đến lợi ích của toàn thể

loài người, đến tương lai của loài người Theo nghĩa đó thì có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu mang tính chất nhân loại"

Thứ hai, "đó là những vấn đề bao quát chung và, trên thực tế, thực sự có

tính chất quốc tế, có nghĩa là được thể hiện như một yếu tố khách quan trong

sự phát triển xã hội ở mọi khu vực chủ yếu trên trái đất"

Thứ ba, đó là "những vấn đề mà nếu không giải quyết thì sẽ có nguy cơ

đe dọa tương lai của loài người, hoặc là những vấn đề phải giải quyết để đảm bảo cho sự phát triển tiếp tục của xã hội"

Trang 16

Thứ tư, đó là "những vấn đề của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật,

những vấn đề có tính chất xã hội - chính trị mà để giải quyết chúng thì phải hợp nhất sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại, tức là những vấn đề không thể giải quyết ở quy mô địa phương hay khu vực"2

Như vậy, có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu, thứ nhất, là những vấn

đề có quan hệ trực tiếp đến hoạt động sống của mọi người trên trái đất, không phân biệt địa vị giai cấp, chính trị - xã hội; đến sự phát triển của toàn thể nhân

loại, đến vận mệnh của các quốc gia dân tộc Thứ hai, những vấn đề toàn cầu

đều thể hiện là nhân tố khách quan của sự phát triển xã hội và thể hiện ở mọi

nơi trên trái đất Thứ ba, tất cả những vấn đề toàn cầu đều đòi hỏi phải được

giải quyết vì nếu không được giải quyết thì chúng sẽ đe dọa phá hủy cơ sở tồn

tại của chính con người Thứ tư, việc giải quyết các vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải

có sự đầu tư về phương tiện vật chất, sự hợp tác quốc tế về mọi mặt không phân biệt chế độ xã hội, tôn giáo, chính kiến, hệ tư tưởng; đòi hỏi sự nỗ lực tối đa của cả nhân loại cả về mặt nhận thức lẫn về những hành động thực tế

Nếu xuất phát từ các tiêu chuẩn trên, có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu chủ yếu bao gồm: vấn đề chiến tranh hạt nhân, chiến tranh huỷ diệt và bảo

vệ hoà bình; vấn đề khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu và kém phát triển của các nước thuộc địa trước đây; vấn đề việc làm cho mọi người; vấn đề bất công trong xã hội và phân hoá giàu nghèo giữa các quốc gia; vấn đề xung đột tộc người, dân tộc và tôn giáo; vấn đề khan hiếm năng lượng và bảo đảm nguồn năng lượng; vấn đề cung cấp nguồn nước sạch cho sản xuất và tiêu dùng; vấn đề cung cấp lương thực và thực phẩm cho con người; vấn đề sinh thái và bảo vệ môi trường sống; vấn đề sử dụng phức hợp và hợp lý các đại dương và không gian vũ trụ; các vấn đề có liên quan đến sự bùng nổ dân số của thế giới, nhất là ở các nước kém phát triển, và việc duy trì sự phát triển bền vững khi khai thác các nguồn tài nguyên đáp ứng cho nhu cầu của sự bùng nổ dân số đó; vấn đề thực phẩm biến đổi gien và an toàn thực phẩm; vấn

2

V.V.Dagơlađin, T.I.Phơrolốp Những vấn đề toàn cầu thời hiện đại Mátxcơva, 1981, tr 8, 9,10 (tiếng Nga)

Trang 17

đề sức khoẻ con người và bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại; vấn đề chống các loại tội phạm quốc tế như nạn khủng bố, sản xuất, mua bán, tiêu thụ hảng giả và tiền giả mang tính quốc tế; nạn đầu cơ tiền tệ gây khủng hoảng kinh tế để thu lợi; tội phạm máy tính và thông tin; nạn sản xuất và buôn bán ma túy, tham nhũng và rửa tiền, buôn bán phụ nữ và trẻ em; nạn cướp biển

có tổ chức; v.v

Một số tác giả khác cho rằng, hiện nay có khoảng 30 vấn đề toàn cầu như vậy3, hoặc Liên Hợp quốc nêu ra tổng cộng 51 nhiệm vụ (issues) đang được và cần giải quyết, trong đó, ngoài những vấn đề trên còn có những vấn đề và nhiệm vụ quan trọng như văn hoá, giáo dục, gia đình, người tàn tật, quản trị, quyền con người, tăng trưởng bền vững, vấn đề khí hậu toàn cầu nóng lên, nạn băng tan, nạn phá rừng và buôn bán trái phép động vật quý hiếm, v.v 4

Sở dĩ số lượng các vấn đề toàn cầu được nêu ra khác nhau như vậy là do người ta phân chia nhỏ chúng ra Song, theo chúng tôi, cần phải khẳng định rằng, dù có kể ra bao nhiêu vấn đề chăng nữa, khi đã xuất hiện rồi thì chúng cũng không nằm tách biệt hoàn toàn với các vấn đề khác

Chẳng hạn, khi dân số tăng nhanh thì các nước sẽ phải khai thác đất đai

và tất cả các nguồn tài nguyên khác mạnh mẽ hơn, do vậy, tài nguyên và môi trường sẽ có nguy cơ bị cạn kiệt nhanh hơn, bị huỷ hoại nhiều hơn, nạn lụt lội, nạn hạn hán, nạn hoang mạc hoá, v.v sẽ tăng lên Khi các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, môi trường tự nhiên bị thoái hoá hoặc nhất là bị tàn phá thì tốc độ phát triển kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ chậm lại, do vậy, tất yếu sẽ kéo theo

sự gia tăng nghèo đói Nếu tình trạng nghèo đói diễn ra tràn lan và kéo dài thì không tránh khỏi dẫn đến sự mất ổn định xã hội, đến xung đột, đến nội chiến Các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu và nội chiến triền miên ở một loạt nước châu Phi suốt nhiều năm qua và cả hiện nay là bằng chứng dễ thấy nhất về

điều này Đó là chưa nói đến những cuộc chiến tranh do một số nước lớn tiến

Trang 18

hành chống lại các nước khác nhỏ hơn được che đậy dưới nhiều chiêu bài khác nhau nhưng về thực chất cũng chỉ là do tranh giành địa vị thống trị, tranh giành quyền lợi cùng các nguồn tài nguyên nhưng lại kéo theo sự chết chóc của những con người vô tội và huỷ hoại môi trường thiên nhiên một cách khủng khiếp “không thể chấp nhận được”

Rõ ràng là các vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường sống, tình trạng thiếu năng lượng, nguyên liệu cùng các nguồn nước sạch cho sản xuất và đời sống; sự gia tăng dân số, đói nghèo, bệnh tật và tội phạm quốc tế, v.v mà loài người hàng ngày phải đối mặt đang làm cho bối cảnh chính trị - xã hội quốc tế trở nên gay gắt hơn và ngày càng diễn biến theo chiều hướng xấu hơn, đang làm cho việc giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội toàn cầu trở thành một nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết

Tương tự như vậy, sự tồn tại và sự căng thẳng của những vấn đề chính trị - xã hội toàn cầu (chẳng hạn, các cuộc chiến tranh ở thập niên cuối thế kỷ

XX và đầu thế kỷ XXI như cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành nhân danh Liên Hợp Quốc ở vùng Vịnh chống Irắc (1991), cuộc chiến tranh do Mỹ đứng đầu chống Taliban ở Apganixtan (2001) và cuộc chiến tranh của Mỹ - Anh chống Irắc lần thứ hai lật đổ X.Hutxen (2003), v.v làm gay gắt thêm các vấn đề sinh thái, môi trường, nguyên liệu, năng lượng, lương thực, dân số, bệnh tật, an ninh không chỉ ở các khu vực xảy ra chiến sự đó mà còn lan rộng đến cả các khu vực khác trên thế giới; có ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả những vấn đề toàn cầu khác mà trực tiếp và trước hết là đến sức khoẻ và đến sự tồn tại của con người, kể cả những người trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh đó

Như vậy, từ góc độ triết học có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu của

thời đại là tổ hợp các mâu thuẫn gay gắt nhất giữa giới tự nhiên với xã hội và con người, giữa xã hội với con người và giữa các xã hội (các quốc gia) với nhau, đụng chạm đến toàn thể thế giới và cùng với nó là các khu vực, các quốc gia riêng biệt

Như trên đã nói, số lượng các vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải

đối mặt và tìm cho được cách để giải quyết chúng là rất lớn, do vậy, cho đến nay có nhiều cách sắp xếp và phân loại chúng Chẳng hạn, sắp xếp theo cách

Trang 19

liệt kê các vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải đối mặt như vừa liệt kê ở trên; cách sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng của chúng mà nhân loại đang phải đối mặt, v.v Tiếp thu những điểm hợp lý trong quan điểm của các tác giả đi trước, chúng tôi phân chia những vấn đề toàn cầu mà nhân loại đã phải

đối mặt ở cuối thế kỷ XX và trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI thành những nhóm lớn như sau:

1 Nhóm thứ nhất bao gồm những vấn đề gắn liền với mối quan hệ giữa

các cộng đồng xã hội cơ bản của nhân loại

Đó là mối quan hệ giữa các nhóm quốc gia có lợi ích chính trị, lợi ích kinh tế, v.v giống nhau hoặc tương đối giống nhau Đó còn là vấn đề mối quan hệ giữa các nền văn minh khu vực, văn minh phương Đông và văn minh phương Tây; vấn đề quan hệ giữa các tộc người, các dân tộc và các tôn giáo trong nội bộ từng quốc gia, trong khu vực và trên toàn thế giới; vấn đề quan hệ giữa các nước giàu và các nước nghèo, v.v Đặc biệt, thuộc vào nhóm này có những vấn đề liên quan đến việc ngăn chặn chiến tranh, trước hết là chiến tranh hạt nhân, chiến tranh huỷ diệt và bảo vệ hoà bình; vấn đề thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới công bằng và bình đẳng

2 Nhóm thứ hai hợp nhất những vấn đề nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa xã hội loài người và giới tự nhiên

Những vấn đề thuộc nhóm thứ hai này gắn liền với khả năng có hạn của môi trường tự nhiên khi nó phải chịu đựng sự tác động quá mạnh và thường xuyên do hoạt động đa dạng, nhất là hoạt động kinh tế, của con người gây ra

Đó cũng chính là những vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp năng lượng, nhiên liệu, các nguồn dự trữ nguyên liệu, nước sạch, v.v đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ cho sản xuất của xã hội Nhóm này cũng bao gồm các vấn đề bảo vệ thiên nhiên nói chung, bảo đảm an toàn cho trái

đất và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói riêng; giữ gìn môi trường sống của con người; vấn đề khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn nước ngọt, các biển, các đại dương; vấn đề hợp tác quốc tế để khai thác không gian vũ trụ phục vụ cho mục đích hoà bình, v.v

Trang 20

3 Nhóm thứ ba bao gồm những vấn đề gắn với hệ thống cá nhân con

người và xã hội

Những vấn đề thuộc nhóm này liên quan trực tiếp đến từng con người

cụ thể, phụ thuộc vào các chính sách và khả năng thực tế của xã hội, của các chính phủ trong việc tạo điều kiện cho sự phát triển của từng cá nhân Chúng bao gồm các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe, chống lại bệnh tật, nhất là những bệnh tật nảy sinh cùng với nền văn minh hiện nay của con người; vấn đề giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ; vấn đề kiểm soát và giám sát số lượng cũng như chất lượng dân cư; vấn đề bảo đảm an ninh cho con người; v.v Tuy nhiên, các vấn đề của nhóm này có quan rất hệ mật thiết với hai nhóm vấn đề trên

Chúng ta xem xét cụ thể hơn một vài vấn đề quan trọng nhất trong số 3 nhóm vấn đề toàn cầu của hai thập niên đầu thế kỷ XXI

Về nhóm vấn đề toàn cầu thứ nhất

Nếu xét trong thế kỷ XX thì suốt một thời gian dài, trung tâm của những vấn đề thuộc nhóm thứ nhất là sự đối đầu gay gắt giữa các cường quốc tư bản lớn Đỉnh cao của mâu thuẫn giữa các cường quốc đó là cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh này đã lôi cuốn 65 triệu người tham gia chiến đấu và cướp đi sinh mạng của gần 14 triệu người (có tài liệu nói 9 triệu người)5 Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai còn khủng khiếp hơn khi nó lôi kéo tới 40 nước tham gia, huy động vào quân đội tới 110 triệu người và cướp đi sinh mạng của hơn 60 triệu người (có tài liệu nói hơn 50 triệu)6

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cục diện thế giới có những

sự thay đổi lớn, thế giới bị phân chia ra thành hai phe đối địch nhau kịch liệt, hình thành hai hệ thống xã hội là hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa Cuộc đối đầu giữa hai hệ thống kinh tế - xã hội và giữa hai hệ tư tưởng kéo dài hơn nửa thế kỷ trong cuộc chiến tranh lạnh vô cùng căng thẳng

Trang 21

Đây là giai đoạn mà loài người đã có mấy lần đứng bên miệng hố của chiến tranh hạt nhân Lần thứ nhất là trong cuộc khủng hoảng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân trên vùng biển Cuba năm 1962 Lần thứ hai vào năm 1973, trong giai

đoạn đầu của cuộc chiến tranh giữa một số nước arập và Ixraen Trong suốt một thời gian dài toàn thế giới đã phải sống trong lo âu trước sự đe dọa của chiến tranh nguyên tử, chiến tranh hạt nhân và tên lửa đạn đạo mang vũ khí hạt nhân Thực tế là nền hoà bình thế giới có lúc bị nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa hết sức nghiêm trọng

Người ta tính rằng, vào những năm 60 thế kỷ XX, lượng vũ khí hạt nhân của Liên Xô và của Mỹ có thể tiêu diệt toàn thể nhân loại nhiều chục lần, còn nếu tính bình quân chất nổ trên đầu người thì đã lên đến 15 tấn/ người Đặc biệt, từ những năm 80 thế kỷ XX, cuộc chạy đua vũ trang giữa hai đại cường quốc là Liên Xô và Mỹ trên cơ sở học thuyết quân sự tăng cường khả năng phòng thủ và tiêu diệt đối phương để tồn tại với sự tổn thất ít nhất, đã đưa nước Mỹ vào chương trình vô cùng tốn kém và cực kỳ nguy hiểm là “Cuộc chiến tranh giữa các vì sao” thời tổng thống Reagan (1983)

Tình hình hiện nay và trong hai thập niên tới đây chắc là có khác hơn, song tính chất gay gắt của vấn đề chiến tranh công nghệ cao không hề suy giảm Thay thế cho thế giới hai cực đã tồn tại suốt một thời gian dài trong tương lai sẽ là thế giới đa cực Nhưng thật là nguy hiểm vì hiện giờ trong cái

tưởng chừng như đa cực đó đang tồn tại thế giới một cực do một siêu cường

chi phối về mọi mặt Siêu cường duy nhất hiện nay là Mỹ đang nổi lên và

không một quốc gia nào, kể cả nhóm các nước lớn, giàu có như Liên minh châu Âu chẳng hạn, có thể so sánh về mặt tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân

sự với nước Mỹ

Lúc này đây, thực tế là trên các diễn đàn quốc tế, kể cả diễn đàn lớn nhất

là Liên Hợp Quốc, nhiều thứ đang phụ thuộc vào chiến lược quân sự mới và các chính sách của Mỹ, vào sự định hướng của chiến lược và các chính sách này, vào

sự chi phối của Mỹ, thậm chí Mỹ đã bất chấp cả Liên Hợp Quốc Bên cạnh đó,

Trang 22

nhiều thứ cũng phụ thuộc vào các nước lớn khác, vào liên minh các quốc gia khu vực, vào việc các quốc gia khác có chịu chấp nhận sự áp đặt, cưỡng ép, chỉ huy của Mỹ không hay là tự tìm lấy sức mạnh để bảo vệ nền độc lập của mình mà không làm cho tình hình quốc tế trở nên căng thẳng Những diễn biến vô cùng phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình quốc tế hiện nay đang tác

động mạnh mẽ đến tính chất của các vấn đề toàn cầu của thời đại chúng ta

Trước hết, vô số những cuộc xung đột vũ trang đẫm máu kéo dài ở nhiều nước tại các khu vực khác nhau trên thế giới, hoặc những cuộc chiến tranh do một số nước lớn tiến hành chống lại các nước có chế độ chính trị không được các nước này ưa chuộng, chẳng hạn, các cuộc chiến tranh chống

ápganitxtan, chống Irắc do Mỹ - Anh phát động vừa qua, đã thay thế cho nguy cơ chiến tranh thế giới như là hệ quả của sự đối đầu giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập trước đây Tuy nhiên, bất chấp tính chất khu vực của chúng, các cuộc xung đột này đều có mức độ của tính toàn cầu nhất định nào đó vì chúng lôi kéo nhiều bên vào quỹ đạo xung đột, kể cả những bên không có quan hệ với

sự xuất hiện của chúng

Mặc dù khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới,

là rất thấp, song không nên cho rằng, nguy cơ và thảm họa của các cuộc chiến tranh đó đã hoàn toàn bị loại trừ trong điều kiện thế giới hiện nay Thực

tế là nhân loại đang phải đối mặt với các loại vũ khí đã được cải tiến đến mức rất hoàn hảo hoặc các loại vũ khí hoàn toàn mới

Bên cạnh các loại vũ khí thông thường nhưng có sức công phá lớn hơn

nhiều lần sức công phá của những vũ khí cùng loại trước đây, nhiều loại vũ khí

phi truyền thống đã ra đời nhờ khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại và

chúng đã bắt đầu được sử dụng Trước hết, đó là vũ khí sinh thái Chẳng hạn,

người Mỹ ngay từ năm 1961 đã sử dụng các chất diệt cỏ để phá huỷ các cánh rừng nhiệt đới ở Đông Dương, nhất là ở Việt Nam Người ta cũng đã tạo ra động

đất, sóng thần, làm ra các trận mưa khủng khiếp gây nên lụt lội, làm thay đổi khí hậu cục bộ bằng kính hội tụ, tạo ra những lỗ thủng tầng ô dôn bằng tia lade, v.v

Trang 23

Đó là vũ khí sinh học bằng cách tạo ra các loại bệnh gây nên bởi virus như bệnh

đậu mùa, bệnh than Lầu Năm Góc hiện đang có chương trình nghiên cứu đầy tham vọng và quái đản nhằm “ thay đổi vĩnh viễn đời sống chính trị thế giới”7bằng cách chế tạo vũ khí di truyền học để tạo ra loại bom mà sau khi nổ chỉ tìm tiêu diệt những tộc người thuộc một nhóm gien nhất định nào đó và không có hại

đối với các loại gien được lựa chọn phải bảo vệ; v.v

Các loại vũ khí khác cực kỳ nguy hiểm đối với tính mạng con người và

đối với cả thiên nhiên là vũ khí hoá học có khả năng không chỉ làm rối loạn hệ

thần kinh mà còn làm rối loạn cả các quá trình hoá học trong cơ thể con

người Đặc biệt, vũ khí hạt nhân không những có sức huỷ diệt vô cùng lớn mà

còn gây hậu quả có tác dụng lâu dài cả đối với vốn di truyền của con người lẫn

đối với thiên nhiên nói chung

Trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chiến tranh thế giới thứ ba, theo nhiều dự báo, khó xảy ra Đây cũng là dự báo mà Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra: “Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy

ra chiến tranh thế giới Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng”8 Có mấy lý do để

dự báo rằng chiến tranh thế giới ít có khả năng xảy ra

Trước hết, là do từ những năm 50 thế kỷ XX đã hình thành những

phong trào, những cơ sở, những nhân tố ngăn ngừa chiến tranh và ngày nay

đang được củng cố vững chắc hơn Thứ hai, ngày nay đã có thêm các chế tài, các thể chế quốc tế ngăn chặn nguy cơ chiến tranh huỷ diệt Thứ ba, sự tuỳ

thuộc lẫn nhau giữa các nước, kể cả sự phụ thuộc của nước giàu có và mạnh

nhất là Mỹ vào các nước khác, đang tăng lên mạnh mẽ Thứ tư, đặc biệt là nếu

chiến tranh thế giới thứ ba nổ ra, với các phương tiện chiến tranh hiện đại thì không một nước nào dám nói rằng mình sẽ không chịu sự tác động hoặc chịu

Trang 24

tổn thất do chiến tranh gây ra Do vậy, các nước cần phải tính toán thận trọng hơn nếu không sẽ đẩy đất nước mình cùng toàn bộ nền kinh tế thế giới đến chỗ suy sụp rất khó cứu vãn

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần ý thức rõ rằng, những xung đột mang tầm cỡ thế giới có thể phát sinh một cách không có chủ ý vì nhiều lý do, thậm chí là vô cớ hoặc rất ngẫu nhiên Chẳng hạn, do có sự bùng nổ của các mâu thuẫn mang tính chất khu vực vì sự tranh chấp biên giới trên đất liền, lãnh hải hoặc các đảo; vì sự tranh chấp các nguồn nước; do mất khả năng kiểm soát đối với kho vũ khí hạt nhân, hoặc do các tổ chức tội phạm và khủng bố quốc tế chiếm được các kho vũ khí hạt nhân, các chất phóng xạ sản xuất bom bẩn, vũ khí hoá học hoặc vũ khí sinh học, v.v

Có thể dự báo rằng, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, dù chiến tranh

thế giới ít có khả năng xảy ra, song nhân loại vẫn chưa thật sự có nền hoà bình bền vững Toàn nhân loại có một nhiệm vụ vào loại trọng đại nhất trong

hai thập niên đó là ngăn chặn chiến tranh thế giới, bảo vệ hoà bình, bởi vì, hoà bình là điều kiện tối cần thiết cho các nước đang trong giai đoạn tiền công nghiệp có cơ hội chuyển sang văn minh công nghiệp và từ đó từng bước cùng với các nước phát triển chuyển dần sang kinh tế tri thức

Cùng với vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề thiết lập một trật tự

kinh tế thế giới công bằng hơn ngày càng trở thành đòi hỏi bức bách, hiển

nhiên khi sự đối đầu gay gắt giữa các hệ thống kinh tế - xã hội đối lập đã giảm

đi Điều này liên quan đến sự phát triển rất không đồng đều giữa các nước trên thế giới, đến sự phân cực giàu nghèo giữa các quốc gia, đến cuộc đấu tranh chống lại tình trạng nghèo khổ không chỉ của các nước nghèo, mà cả của một

bộ phận không nhỏ dân chúng ở các nước được gọi là giàu có

Thế giới được chứng kiến tình trạng thiếu việc làm trầm trọng và phổ biến; sự bất bình đẳng trong thương mại và kinh tế quốc tế đang đè nặng lên những nước kém phát triển nào lấy việc xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm nông nghiệp là chính Trớ trêu thay, chính những nước kém phát triển này lại

Trang 25

là khu vực chủ yếu đang cung cấp nguyên liệu với giá quá rẻ mạt cho các nước phát triển giàu có, do vậy, tại đó các vấn đề sinh thái và môi trường sống cùng nhiều vấn đề khác như đói nghèo, bệnh tật, v.v trở nên đặc biệt nghiêm trọng Nếu như hiện nay hàng năm toàn thế giới mất đi 11 triệu ha rừng do chặt phá để lấy gỗ, lấy nguyên liệu, lấy đất canh tác, do cháy rừng hoặc do các nguyên nhân khác; 6 triệu ha đất biến thành hoang mạc; hàng vạn loài thực vật và động vật đã bị tiêu diệt, hàng trăm loài động vật và thực vật quý hiếm

đang có nguy cơ bị tiêu diệt, v.v thì phần lớn trong số đó đã và đang xảy ra ở các nước nông nghiệp, các nước kém phát triển Thêm vào đó, tại nhiều nước

đang trong quá trình công nghiệp hoá vì mục đích phát triển công nghiệp mà một số không nhỏ diện tích đất đai mầu mỡ nhất và thuận tiện nhất cho canh tác nông nghiệp cũng đang mất đi nhanh chóng và không thể bù đắp được

Hiện nay, khoảng cách giữa các nước phát triển và bộ phận còn lại của thế giới, giữa người giàu và người nghèo không những không giảm đi, mà trái lại, còn doãng ra nhiều hơn và với tốc độ nhanh hơn Con số hơn 1 tỉ người tại các nước đang phát triển trên khắp thế giới sống dưới mức nghèo khổ, trong

đó có 800 triệu người đói ăn thường xuyên, hơn 200 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nên không đủ trọng lượng theo quan điểm y học đã đủ nói lên

điều đó Đáng nói hơn nữa là, nạn đói cũng đang hiện hữu tại nước giàu có nhất thế giới là nước Mỹ Theo một công trình nghiên cứu thì hiện nay ở Mỹ

có 33 triệu người, trong đó có 13 triệu trẻ em, đang bị đói hoặc cận kề cái đói, 7,3% số gia đình Mỹ phải dùng lương thực kém chất lượng hoặc phải nhờ vào

hệ thống nuôi dưỡng không mất tiền của Nhà nước9 Trong khi đó số người thừa cân trên toàn thế giới tăng lên đến 1,1 tỉ người tính từ năm 1980 đến cuối thế kỷ XX và riêng ở nước Mỹ có tới 2/3 số người lớn bị béo phì do ăn quá nhiều đang phải chống chọi với bệnh tim mạch và các căn bệnh khác10

Đáng chú ý là trong hai thập niên tới, theo dự đoán của FAO, do tốc độ sản xuất lương thực tăng chậm mà nhiều nước hiện thời đang tự túc được lương thực thì sẽ có tới gần 90 nước phải đối phó với việc thiếu lương thực,

Trang 26

hàng chục nước sẽ phải đối mặt với nạn thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt Vì vậy, cuộc sống của người dân không chỉ ở các nước nông nghiệp, mà cả người nghèo ở các nước giàu, chắc sẽ còn bi đát hơn so với hiện nay nếu như thế giới không tìm được sự công bằng giữa các nước, giữa các tầng lớp dân cư, nhất là nếu không tạo ra được nhiều chỗ làm mới để thu hút số lao

động đang không có việc làm và số lao động đến tuổi tham gia vào thị trường lao động trên khắp thế giới Đây thực sự là bài toán nan giải, là vấn đề toàn cầu lớn của những năm đầu thế kỷ XXI

Nhóm vấn đề toàn cầu thứ hai

Nhóm vấn đề này gắn với sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên Nhóm này có thể được phân ra thành một số các nhóm nhỏ hơn Đó là:

- Nhóm những vấn đề sinh thái;

- Nhóm những vấn đề gắn với việc xã hội khai thác tự nhiên như nguyên liệu, năng lượng, các nguồn nước;

- Nhóm vấn đề gắn với các khách thể toàn cầu còn khá mới mẻ là nghiên cứu, khai thác không gian vũ trụ và đại dương

Tất cả các vấn đề thuộc nhóm này đều có quan hệ trực tiếp đến việc con người khai thác tự nhiên nhằm tìm kiếm các nguồn tài nguyên phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người và của xã hội Có thể nói rằng, nếu xét về cường độ tức thời, về sức mạnh, về sự tác động đến thiên nhiên, đến môi trường sống, thì hoạt động này chỉ thua kém chiến tranh Song, khác với các cuộc chiến tranh đã từng xảy ra, hoạt động khai thác thiên nhiên này lại diễn ra thường xuyên, liên tục, kéo dài và ở khắp mọi nơi trên trái đất, cho nên phạm vi tác động rộng hơn và thời gian thì dài hơn rất nhiều Không thể chối cãi được rằng, cường độ phá hoại thiên nhiên, phá hoại môi trường sống tăng lên cùng với sự khai thác thiên nhiên của con người, của sự phát triển kinh tế, trước hết là phát triển công nghiệp Vì tính chất nghiêm trọng của vấn đề môi trường sống trong giai đoạn hiện nay và chắc chắn cả trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI cho nên dưới đây chúng tôi tập trung phân tích về nó kỹ hơn

Trang 27

Như mọi người biết, trong thế kỷ XX sự khai thác thiên nhiên nhằm thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế đã đạt được những thành tựu vô cùng lớn lao nhưng do không chú ý đến việc bảo vệ môi trường, hoặc do chạy theo lợi nhuận mà con người đã làm cho cơ thể trái đất lâm bệnh nặng Vì vậy, nguy cơ khủng hoảng, hay là thảm họa sinh thái, nghiêm trọng trên diện rộng đang hiển hiện trước mắt, trong đó nạn ô nhiễm môi trường sống và nạn thiếu nước là đáng chú ý nhất, nghiêm trọng nhất Nếu như nạn ô nhiễm môi trường sống từ thập kỷ 60 thế kỷ XX đã được đề cập đến khá nhiều và ngày càng đầy đủ hơn thì nạn thiếu nước ngọt trầm trọng cho sinh hoạt hàng ngày của con người và cho sản xuất mấy năm gần đây mới được nhắc đến nhiều hơn Báo cáo của UNEP năm 2003 cho thấy, hiện nay, 40% dân số thế giới ở hơn 80 quốc gia đang bị thiếu nước nghiêm trọng Báo cáo này cũng dự đoán rằng, tình hình nước sẽ còn tồi tệ hơn rất nhiều trong những năm tới nếu dân số tiếp tục tăng với tốc độ như hiện nay

và sự nóng lên toàn cầu tiếp tục phá vỡ kiểu mưa tự nhiên hiện tại Trữ lượng nước tính theo đầu người trên toàn thế giới đã giảm đi một cách đáng lo ngại,

cụ thể là, so với cách đây 50 năm khối lượng đó đã giảm đi 1/2, tức là từ 16.800 m≤/người/năm (năm 1950) xuống còn 7.300 m≤/người/năm hiện nay và sẽ giảm xuống chỉ còn 4.800 m≤/người/năm vào năm 2025 Nếu cách đây 50 năm không một nước nào trên thế giới phải đối mặt với mức độ cấp nước thấp 1.000 m≤/người/năm thì hiện nay 50% dân số thế giới đang phải sống trong tình cảnh này và đến năm 2025 con số đó sẽ là 2/311

Nạn khan hiếm nước mới chỉ là một mặt của vấn đề nước hiện nay Mặt

khác của vấn đề này là chất lượng nước, cả nước mặt và nước ngầm, đang bị

suy giảm nghiêm trọng Sự suy giảm chất lượng này trước hết là do hậu quả sự phát triển kinh tế (ô nhiễm từ các chất thải công nghiệp, từ các loại phân bón, thuốc trừ sâu và diệt cỏ trong nông nghiệp) và cả do nước thải sinh hoạt với rất nhiều loại hoá chất khác nhau Tình trạng này xảy ra nặng nề nhất ở các nước kinh tế kém phát triển

11

Cái giá của nước, T/c Người đưa tin UNESCO, 2/1999

Trang 28

Sự bất bình đẳng giữa các nước trên thế giới hiện nay cũng thể hiện cả trong lĩnh vực nước Trung bình mức nước ngọt dùng cho các nhu cầu sinh hoạt ở các nước phát triển như Mỹ và Nhật Bản là 600 lít/người/ngày, các nước châu Âu từ 250 - 350 lít/người/ngày, còn tại các nước cận Sahara và nhiều nước đang phát triển khác chỉ là 10 đến 20 lít/người/ngày Không phải ngẫu nhiên mà người ta cảnh báo rằng, nguy cơ thiếu nước và bất bình đẳng

về nước ngọt sẽ có thể là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột mới sắp tới và không dừng ở con số 300 khu vực có xung đột như Liên Hợp Quốc thừa nhận hiện nay Do vậy, nước ngọt cho sự sống của con người và cho sự phát triển kinh tế nói chung đang và sẽ là thách thức rất lớn đối với nhân loại

Mặc dù Việt Nam chưa phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt như nhiều nước, song cả về trữ lượng lẫn chất lượng nước (cả nước mặt và nước ngầm) đang trong xu thế giảm dần một cách đáng ngại, nhất là nước ngầm ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tại Hà Nội, lượng nước ngầm khai thác hàng ngày từ 650.000 m3

≤/ngày đêm, theo tính toán, đã gần tới giới hạn có thể khai thác an toàn12 Với tốc độ phát triển kinh tế và cách thức sử dụng nước như hiện nay và nhất là trong những năm sắp tới nguy cơ thiếu nước không phải là quá xa vời, vì vậy đây cũng là một thách thức mà chúng ta phải đối mặt

Sự phân tích trên đây cho thấy nạn ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái đã dẫn đến sự trả thù của thiên nhiên mà chúng ta đang phải gánh chịu, là bằng chứng dễ thấy nhất về tình trạng khập khiễng giữa mục tiêu kinh

tế và mục tiêu sinh thái Những năm cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ này các hiện tượng phổ biến và dữ dội như lụt lội, hạn hán trên diện rộng khắp các châu lục, nạn hoang mạc hoá đang lan nhanh, kéo theo đó là hàng loạt bệnh tật nảy sinh ở con người, v.v là hậu quả của tình trạng tăng nhiệt độ, tăng lượng khí thải, tăng hiệu ứng nhà kính, của sự ô nhiễm các chất thải rắn và hoá chất, của sự sinh sôi nhanh chóng các loài vi khuẩn, virus khi gặp điều kiện

12

Xem: Báo Lao động, ngày 2-11-2004

Trang 29

thuận lợi Đó là chưa nói đến hàng ngàn loài động vật và thực vật quý hiếm

đang mất đi với tốc độ ngày càng nhanh hơn cũng lại do con người, do sự khai thác thiên nhiên vô tổ chức không thể kiểm soát

Bên cạnh sự khai thác thiên nhiên bừa bãi và quá mức, nạn ô nhiễm môi trường, nạn thiếu nước hoặc lụt lội còn do hậu quả của các cuộc chiến

tranh Chính ở đây bộc lộ rõ khía cạnh chính trị của vấn đề môi trường Chiến

tranh hoá học do Mỹ tiến hành tại Việt Nam trong những năm 60 - 70; chiến tranh vùng Vịnh những năm 90 thế kỷ XX đốt cháy hơn 200 giếng dầu đều do

Mỹ tiến hành thực sự là những thảm họa cho môi trường Hậu quả của các cuộc chiến tranh đó sẽ còn lâu mới hết đối với cả môi trường lẫn đối với các loài động vật, thực vật và cả với con người

Nếu như trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI này loài người ngăn chặn

được chiến tranh thì vẫn phải đối mặt với những nguy cơ thảm họa môi trường, với những thách thức đói nghèo do sự tăng dân số, do sự phát triển kinh tế lấy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm chỗ dựa chủ yếu Cái vòng luẩn quẩn tăng dân số - đói nghèo - khai thác thiên nhiên để sống - sự

đối cực giàu nghèo giữa các quốc gia hiện đang đẩy 1,3 tỉ người sống dưới mức cực kỳ nghèo, tức là dưới 1 đô la/ ngày và sẽ tăng lên 1,9 tỉ vào năm

2015, còn dưới mức 2 đô la sẽ là từ 3 tỉ sẽ tăng lên 5 tỉ

Trong cách tiếp cận nhằm giải quyết các vấn đề sinh thái và môi trường sống này chúng ta đang bắt gặp 3 khuynh hướng chủ yếu; chúng kết hợp lại thành chiến lược cơ bản của hoạt động bảo vệ thiên nhiên, đó là chiến lược hạn chế, chiến lược tối ưu hoá và chiến lược thực hiện các chu trình công nghệ khép kín

Với chiến lược hạn chế, người ta kêu gọi giảm bớt sự tiêu dùng, giảm

bớt vịệc khai thác tài nguyên thiên nhiên để giảm bớt sự căng thẳng về sinh thái và môi trường, yêu cầu đóng cửa ngay những ngành sản xuất có hại về mặt sinh thái và môi trường sống

Trang 30

Chiến lược tối ưu hoá đòi hỏi phải tìm ra mức độ tương tác tối ưu giữa

xã hội và tự nhiên, tức là mức độ không được phép vượt quá ngưỡng có thể gây ô nhiễm và phá hoại môi trường tự nhiên một cách nguy hiểm

Chiến lược công nghệ khép kín đòi hỏi phải tạo ra các ngành sản xuất

được xây dựng theo nguyên tắc chu kỳ, sử dụng lại, tái chế chất thải bằng các công nghệ sinh học

Ba chiến lược trên đây không đối lập nhau, chúng có thể được sử dụng tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể Hai chiến lược sau phụ thuộc đáng kể vào khả năng hoàn thiện công nghệ của quá trình sản xuất

Chiến lược thứ nhất, tức là chiến lược hạn chế, không phải bao giờ cũng

có thể thực hiện được ở những nơi mà trình độ sản xuất và mức sống còn quá thấp Hơn nữa, thực tế thì chiến lược này cào bằng khả năng phát triển và nhất

là nhu cầu cần được phát triển của cả nước giàu và nước nghèo, cũng như cào

bằng trách nhiệm, hay chính xác hơn là trốn tránh trách nhiệm của các nước

giàu, đặc biệt là nước Mỹ, trong việc khai thác, sử dụng quá mức nguồn tài

nguyên thiên nhiên của cả thế giới và gây ô nhiễm môi trường sống Mặc dù vậy, cả ba chiến lược trên đây đều đối lập với thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm và hoang phí của con người đối với giới tự nhiên

Con người cần phải hiểu rằng, dự trữ về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo, không phải là vô tận Do vậy, nhân loại cần ý thức cho rõ ràng, liệu mình sẽ có thể để lại những gì cho các thế hệ con cháu?

Nhóm vấn đề toàn cầu thứ ba

Nhóm các vấn đề này liên quan trực tiếp đến con người, đến sự tồn tại của cá nhân con người Đó là các vấn đề về “chất lượng con người” - vấn đề tăng cường sức khoẻ, phát triển năng lực trí tuệ và duy trì đạo đức, v.v nhằm

đảm bảo một lối sống lành mạnh, một sự phát triển bình thường cả về tinh thần và về thể lực ý nghĩa triết học và ý nghĩa chính trị - xã hội của vấn đề này quan trọng tới mức có thể nói tới một bước ngoặt quay trở lại với con

Trang 31

người trong toàn cầu học hiện đại Chính nó khắc phục các quan điểm phiến diện chỉ xem xét những vấn đề toàn cầu như là kết quả của sự phát triển kinh

tế, xã hội, kỹ thuật đơn thuần và hy sinh con người

Trong điều kiện hiện nay, nếu không có phẩm chất người tương xứng thì không thể có và không thể áp dụng được các công nghệ sạch về mặt sinh thái; không thể có thái độ hợp lý và khoa học đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên; không thể xác lập được một trật tự kinh tế công bằng và không thể hình thành được các mục đích của loài người hiện đại như một thể thống nhất, như một chỉnh thể Sau hết, cần xây dựng và hình thành được ý thức nhân văn toàn cầu cho con người thông qua giáo dục, thông qua việc phổ biến, trang bị kiến thức cho từng người và cho tất cả các thành viên của xã hội

Nói tóm lại, những vấn đề toàn cầu trong thời đại chúng ta, trước hết là trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, là rất nhiều mà thực chất là một phức hợp các vấn đề Tính chất gay gắt của các vấn đề toàn cầu cho chúng ta thấy rằng, bản thân các mâu thuẫn và xung đột xã hội, các cuộc chiến tranh và sự tàn phá thiên nhiên của con người, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, v.v tự chúng không chỉ là tồi tệ mà còn đe dọa cả sự tồn tại của con người lẫn sự tồn tại của hành tinh chúng ta

Chưa có một giai đoạn nào trong lịch sử nhân loại mà bất kỳ một hành

động có quy mô lớn nào tại một điểm nào đó của hành tinh chúng ta đều có thể kéo theo những hậu quả ở các điểm khác trên hành tinh như trong thời hiện đại Vì vậy, cùng với các biện pháp kinh tế - xã hội, khoa học, kỹ thuật,

công nghệ, các chính sách phát triển hợp lý, ý thức nhân văn toàn cầu sẽ đóng

vai trò đáng kể trong việc tìm ra các giải pháp góp phần giải quyết những vấn

1.2 Những nhân tố tác động đến chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

Từ lịch sử vấn đề toàn cầu và hiện trạng của nó, có thể khẳng định rằng,

để nhận thức các vấn đề toàn cầu một cách đúng đắn, thì cần phải tiếp cận các

Trang 32

vấn đề toàn cầu và quá trình toàn cầu hoá như một hệ thống thống nhất, có lôgíc nội tại, bởi vì phần nhiều các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong chính quá trình toàn cầu hoá và suy cho cùng thì, nhìn bề ngoài, dù tất cả những vấn đề này có nét riêng biệt về tính chất và mức độ gay gắt có thể khác nhau, song giữa chúng có những điểm chung và có sự thống nhất đáng kể

Về nguyên nhân gây ra những vấn đề toàn cầu, hiện đang có những

quan điểm khác nhau Trong khi nhiều nhà nghiên cứu phương Tây thường gắn vấn đề toàn cầu với sự tăng trưởng kinh tế và quan hệ giao lưu kinh tế thuần túy do những tiến bộ, những thành tựu của khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại mang lại thì một số nhà nghiên cứu đứng trên lập trường mácxít lại nhấn mạnh và thường xuyên gắn những vấn đề toàn cầu với quá trình hiện thực hoá các thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong điều kiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Chúng tôi cho rằng, việc gắn những vấn đề toàn cầu của thời đại với các nhân tố kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công nghệ không những không có gì sai, mà thậm chí còn là tất yếu, song điều đó là chưa đủ Bởi lẽ, ngoài khía cạnh liên quan đến kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công nghệ, những vấn đề toàn cầu còn liên quan đến yếu tố chính trị - xã hội khác và chính chúng còn

là các vấn đề chính trị - xã hội Chẳng hạn, sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, sự đối đầu gay gắt giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa dẫn đến cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt trong nhiều năm của thế kỷ XX và sự đe dọa của chiến tranh nóng trong thời đại hạt nhân đã buộc các quốc gia, nhất là các cường quốc, phải huy động tối đa những khả năng dự trữ và các nguồn tài nguyên của họ nhằm tăng cường tới mức tối đa khả năng quốc phòng đã thể hiện rõ

điều đó

Nói cách khác, những vấn đề toàn cầu trước hết là sản phẩm của quá trình toàn cầu hoá, phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá, biểu hiện ra với tính cách là một phức hợp của các vấn đề kinh tế - khoa học - kỹ thuật và các vấn

đề chính trị - xã hội

Trang 33

1.2.1 Sự biến đổi và tác động của các nhân tố kinh tế đối với chiều hướng phát triển của các vấn đề toàn cầu

Một trong những cuộc tranh luận đáng chú ý nhất trong một vài thập niên trở lại đây là cuộc tranh luận về toàn cầu hoá và các vấn đề xung quanh toàn cầu hoá giữa những người ủng hộ toàn cầu hoá và những người chống toàn cầu hoá (thường được gọi là những người cấp tiến) Mặc dù quan điểm chống toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của những người cấp tiến là vấn đề còn phải bàn nhưng những tư tưởng cấp tiến về mặt trái của sự tăng trưởng kinh tế lại rất đáng chú ý, chẳng hạn như quan điểm cấp tiến sau: “Đừng nói với tôi về những con số, về đôla, về tổng sản phẩm quốc dân của bạn Đối với tôi, GNP là tổng ô nhiễm môi trường quốc gia”13 Bởi trong thực tế, rõ ràng, sự tăng trưởng của kinh tế là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự ô nhiễm môi trường, làm suy giảm và có nguy cơ làm cạn kiệt nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên

Theo kinh tế học hiện đại, khi nói đến GNP thì phải nói đến các khoản khấu hao bao gồm các giá phải trả về kinh tế cho những thiệt hại về môi trường như ô nhiễm nước và không khí, những thiệt hại tài sản và nguy hiểm khác gây ra cho sức khoẻ con người Tuy nhiên, có những thiệt hại không thể tính cũng như không thể trả được bằng các khoản khấu hao kinh tế bởi đó là những thiệt hại về các loại tài nguyên quý hiếm hoặc tài nguyên không thể tái

sinh được như các nguồn nước ngọt, nguồn dầu mỏ Song, vì lợi ích, rất nhiều

chủ thể kinh tế thường cố ý bỏ qua việc phải tính (một cách đầy đủ) đến những thiệt hại đó trong các quá trình kinh tế Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số cũng là một nguyên nhân đáng kể khiến cho những vấn đề về môi trường ngày càng trở nên đáng lo ngại hơn Bởi vì, nhân loại không thể dừng hoặc giảm

đáng kể các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, một khi dân số trên trái đất vẫn đang tăng theo cấp số nhân

và kéo theo sau nó là một lượng các nhu cầu cũng tăng theo cấp số nhân

13

Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus, Kinh tế học, Viện Quan hệ Quốc tế, 1989, tr.5

Trang 34

Theo các nhà chuyên môn, những thay đổi và chuyển biến trong nhân khẩu học đã và đang tạo ra một sức ép lớn tới quy mô của các hoạt động kinh

tế, tới sự phân bổ tiềm lực kinh tế thế giới và tổng phúc lợi đối với người dân Trước sức ép đó, nhiều phạm trù trong kinh tế học đã bị thay đổi nội dung Chẳng hạn, đối với phạm trù tăng trưởng kinh tế, “cái cốt yếu không phải là tiêu chuẩn định lượng mà là chất lượng tăng trưởng, có khả năng đảm bảo một mức sống đàng hoàng, sức khoẻ dồi dào, có giáo dục và thời gian rảnh rỗi mà vẫn bảo vệ được môi trường thiên nhiên”14 Kéo theo đó là sự thay đổi nội hàm của nhiều khái niệm liên quan, như khái niệm phát triển Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, các nhà chuyên môn đã dự báo rằng, “nền kinh tế thế giới trong những thập niên sắp tới sẽ có thể chuyển sang phát triển bền vững”15

Theo báo cáo Brundtland của ủy ban Môi trường và phát triển thế giới (năm 1987), tiêu chí của phát triển bền vững gồm có: nền kinh tế tăng trưởng cao và liên tục, sự “bền vững về môi trường” và “công bằng xã hội” “Bền vững về môi trường” có nghĩa là, “các hệ sinh thái và sự cân bằng cần thiết cho sự duy trì quyển sinh học” cùng “các hệ sinh thái có khả năng tái thiết nguồn tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động của con người” và “một môi trường trong sạch cho người dân” phải được tái tạo và bảo vệ “Công bằng xã hội” có nghĩa là, “quyền sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ của người nghèo cũng như quyền tiếp cận thông tin và tham gia vào các quyết

định chung” của người nghèo phải được thừa nhận và bảo vệ Theo quan niệm mới này thì, rõ ràng, “phát triển không phải chỉ là quá trình tích luỹ tư bản”16

Vậy, nhân loại phải làm như thế nào để vừa thoả mãn được các nhu cầu

về vật chất nói chung, về kinh tế nói riêng, vừa giữ gìn và đảm bảo được môi

trường sống an toàn, bền vững? Theo chúng tôi, đây chính là điểm nút trong

mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế với các vấn đề toàn cầu đang làm “đau

đầu” các nhà chuyên môn và các nhà chức trách trên phạm vi toàn cầu

14

M V Maksimova Bước vào thế kỷ XXI với những vấn đề toàn cầu cũ và mới (Viện Thông tin Khoa học Xã

hội, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 99-29, Hà Nội, 1999, tr.10)

Trang 35

Tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và bền vững là một trong những mục tiêu hàng đầu của bất kỳ quốc gia dân tộc nào Không có một nền tảng kinh tế vững mạnh thì khó có thể nói tới tiến bộ xã hội, đặc biệt là vấn đề phúc lợi xã hội cho người dân Mặc dù kinh tế không phải là nhân tố duy nhất quyết định

bộ mặt của xã hội nhưng kinh tế là cơ sở, là nền tảng của xã hội Bởi vậy, việc các nước đang phát triển và kém phát triển đặc biệt ưu tiên cho phát triển kinh

tế trong các chính sách quốc gia (cả về đối nội lẫn đối ngoại) là một hướng đi

đúng đắn Theo các báo cáo thường niên gần đây của Ngân hàng thế giới, sự

ưu tiên đó thể hiện “khát vọng phát triển kinh tế” của tất cả các quốc gia đang phát triển và kém phát triển17 Trong thực tế, “khát vọng phát triển kinh tế” đó

đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sức lan toả và phạm vi ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế

Từ hai thập niên cuối của thế kỷ XX đến nay, chiến lược ưu tiên phát triển kinh tế của các nước đang và kém phát triển “gặp” thời cơ rất thuận lợi

khi xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng bộc lộ rõ tính phổ

biến, tất yếu và khách quan của nó, bất chấp sự phản đối toàn cầu hoá kinh tế

của một số cá nhân và tổ chức phi chính phủ Mặc dù người ta vẫn đang tranh luận rất nhiều về các vấn đề xung quanh toàn cầu hoá kinh tế (chẳng hạn như

“ai” sẽ được lợi và “ai” sẽ phải chịu thiệt từ quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế có làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo hay không, v.v ) nhưng,

rõ ràng, toàn cầu hoá kinh tế là một đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới

trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX và trong những thập niên đầu của thế

kỷ XXI Có một điều chắc chắn là, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã, đang

và sẽ còn tác động mạnh mẽ tới diện mạo nền kinh tế thế giới, tới diện mạo nền kinh tế của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới

Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã và đang mở ra cho các nước đang và kém phát triển cơ hội tăng trưởng kinh tế thông qua các hoạt động đầu tư kinh

17

Xem: Ngân hàng thế giới, Bước vào thế kỷ 21 Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1999/2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới năm 2003 Phát triển bền vững trong một thế giới năng động Thay đổi thể chế, tăng trưởng và chất lượng cuộc sống, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2003; v.v

Trang 36

tế và chuyển giao công nghệ sản xuất từ các nước phát triển sang các nước đang

và kém phát triển Trên thực tế, toàn cầu hoá kinh tế, một mặt, là cơ hội cho các nước đang và kém phát triển; mặt khác, lại là một lối thoát cho các nước phát triển Bởi vì, trong lịch sử, những thành quả kinh tế mà các nước phát triển đã

đạt được chủ yếu dựa trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhưng tài nguyên thiên nhiên không phải là vô hạn Để đối phó với tình hình khan hiếm tài nguyên thiên nhiên cho sản xuất, các nước công nghiệp phát triển, nói đúng hơn là các tập đoàn kinh tế lớn ở các nước công nghiệp phát triển, đã mở rộng quy trình sản xuất ra ngoài biên giới quốc gia, nhằm chuyển sang khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân lực ở các nước đang và kém phát triển Bởi vì, trong hoạt động kinh tế, người ta luôn tìm cách sao cho có thể đạt

được những lợi ích kinh tế tối ưu nhất nhưng chỉ phải trả những chi phí thấp nhất

Tất nhiên, trong số chi phí phải trả đó bao gồm cả khoản khấu hao cho những thiệt hại về môi trường trong các quá trình kinh tế Song, đó không phải

là nỗi lo lớn đối với các nước công nghiệp phát triển với tư cách là chủ đầu tư,

bởi hầu hết các nước đang và kém phát triển sẵn sàng bỏ qua những nỗi lo về

môi trường vì mục tiêu cần đạt trước hết là tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh

tế - xã hội và giảm bớt đói nghèo Người ta có thể thấy rất rõ tình hình này ở

nhiều quốc gia châu Phi giàu trữ lượng tài nguyên thiên nhiên và “khát vọng phát triển kinh tế” nhưng còn nghèo đói, lạc hậu và nội chiến liên miên

Tuy nhiên, “lối thoát” trên của các nước phát triển chỉ là một giải pháp tình thế Bởi vì, không phải toàn bộ tài nguyên thiên nhiên trên trái đất là tài sản của riêng quốc gia nào hay của riêng thế hệ nào trong lịch sử; trái lại, nó mang giá trị nhân loại Do vậy, người ta phải hướng đến những giải pháp có chiều sâu Một trong số các giải pháp đang được tìm tòi, xây dựng và thử

nghiệm là chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Cùng

với toàn cầu hoá kinh tế, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế đó là một trong những

đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện nay

Trang 37

Không chỉ các nước phát triển mới chú trọng tới nền kinh tế tri thức, các nước đang và kém phát triển cũng đã nắm bắt được xu thế phát triển đó của nền kinh tế thế giới Mặc dù vậy, có thể dự báo rằng, trong một vài thập niên tới, kinh tế công nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu của nền kinh

tế thế giới, bởi mục tiêu trước mắt của các nước đang và kém phát triển (còn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các quốc gia trên trái đất) là trở thành một nước công nghiệp phát triển Song, trong cơ cấu sản xuất của nền kinh tế công nghiệp thế giới đã có những chuyển đổi đáng kể Trong lĩnh vực công nghiệp nặng tiêu thụ nhiều năng lượng hoá thạch, người ta bắt đầu dùng năng lượng tái sinh và các năng lượng “sạch” Tuy vậy, tình hình cung ứng và tiêu thụ năng lượng dầu mỏ vẫn sẽ là nỗi lo thường trực của các nền kinh tế phát triển chừng nào kinh tế công nghiệp (nhất là công nghiệp nặng) vẫn giữ vai trò chủ

đạo trong cơ cấu của nền kinh tế Thực tế đã chứng tỏ rằng, bất cứ một sự thay đổi nào trong lĩnh vực cung ứng dầu mỏ cũng gây nên một “cú sốc” đối với các nền kinh tế hiện đại - là những nền kinh tế phụ thuộc khá nhiều vào nguồn năng lượng dầu mỏ Một ví dụ điển hình về sự phụ thuộc đó là sự tồn tại của ngành giao thông vận tải Mặc dù ngành này tiêu tốn nhiều năng lượng dầu mỏ nhưng, bù lại, nó có vai trò rất quan trọng trong việc lưu thông sản xuất, tiêu thụ và trao đổi sản phẩm, thậm chí liên quan chặt chẽ với tốc độ phát triển của một số ngành dịch vụ đóng góp nhiều cho GNP như ngành du lịch

Từ đó, có thể nói, chính sự tăng trưởng của kinh tế đã tạo nên áp lực đối với tiềm lực dự trữ tài nguyên thiên nhiên của trái đất Bởi, trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ tài nguyên và với trình độ khoa học - kỹ thuật của nhân loại như hiện nay, dường như, sự tăng trưởng của kinh tế đang hàng ngày, hàng giờ làm cho tiềm lực dự trữ tài nguyên thiên nhiên của trái đất bị thu hẹp lại, song nó lại tỷ lệ thuận với sự gia tăng của các vấn đề được gọi là các vấn đề toàn cầu, như môi trường sống bị ô nhiễm, tầng ôdôn che chở cho sự sống trên trái đất

Trang 38

đang bị bào mòn và thâm thủng dưới tác động của một lượng ngày càng lớn các khí thải công nghiệp độc hại do công nghiệp tung vào khí quyển, v.v

Trong thực tế, kinh tế cũng là một vấn đề toàn cầu dưới sức ép của sự

gia tăng dân số và nguy cơ đói nghèo Mặt khác, sự tăng trưởng của kinh tế lại

trở thành nguyên nhân của một loạt các vấn đề toàn cầu khác như ô nhiễm

môi trường, giảm sút sự đa dạng sinh học, những thay đổi phức tạp về khí hậu

và chiến tranh xảy ra tại một số quốc gia có vị trí địa - kinh tế trọng yếu hoặc

có trữ lượng lớn về tài nguyên thiên nhiên (nhất là trữ lượng về dầu mỏ) Những cuộc chiến tranh xảy ra trong mấy thập niên gần đây ở Trung Cận

Đông và một số vùng khác ở châu á có trữ lượng lớn về dầu mỏ và khí đốt thường được che đậy bởi màu sắc dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, tộc người với sự tham gia của nhiều nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, v.v Cho dù các nước tư bản có giải thích ra sao về sự có mặt của họ tại các cuộc chiến kia thì cũng không thể che giấu được tham vọng của họ đối với những nguồn trữ lượng dầu mỏ dồi dào tại các quốc gia đó Bởi vì, trong những thập niên sắp tới, dù nền kinh tế thế giới có những chuyển biến về chất thế nào chăng nữa (với những khả năng của nền kinh tế tri thức) thì việc duy trì ổn định một nguồn cung ứng nguyên nhiên liệu (nhất là dầu mỏ) sẽ là một đảm bảo chắc chắn cho việc duy trì một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao18

Từ hai thập niên cuối của thế kỷ XX đến nay, các vấn đề toàn cầu không còn chỉ là vấn đề lý luận, là những cảnh báo, chúng đã trở thành những vấn

đề thực tế cấp bách đối với toàn thể nhân loại Các vấn đề toàn cầu đó là những nguy cơ về sự suy giảm và huỷ diệt của tầng ôdôn đối lưu (lần đầu tiên

được phát hiện ở tầng ôdôn bên trên Nam cực vào mùa đông năm 1985);

những sự thay đổi khí hậu toàn cầu diễn ra rất phức tạp; những đe dọa đối với

đa dạng sinh học (nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt, sự tuyệt chủng của một

số giống, loài quan trọng, v.v ); những nguy cơ về một cuộc chiến tranh thế giới mới có mức độ tàn phá khủng khiếp lịch sử nhân loại; những nguy cơ huỷ

18

Xem: Trung Quốc khát dầu mỏ, Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo số 7-2004

Trang 39

diệt trái đất từ vũ trụ; những mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội như những cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới, sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc trong xã hội, v.v

Trong một thời gian khá dài, khoảng thập niên 60 - 80 của thế kỷ XX, các vấn đề toàn cầu hầu như chỉ là đối tượng của giới học giả Những cảnh báo

về thảm họa toàn cầu, cũng như bản thân các vấn đề toàn cầu chỉ thực sự được các nhà quản lý và các nhà chức trách quan tâm, lo lắng khi các vấn đề toàn cầu bộc lộ mạnh mẽ tác động của nó đến sự sống còn của nhân loại như trong một, hai thập niên trở lại đây Đó là hạn hán, nắng nóng và bão lụt xảy ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của con người Đó

là sự xuất hiện ngày càng nhiều căn bệnh lạ cả ở người lẫn động vật, tuy không

rõ nguồn gốc nhưng dễ lây lan và có sức huỷ diệt nhanh như bệnh SARS, bệnh cúm gia cầm H5N1, v.v

Khi tìm hiểu những tác nhân của các vấn đề toàn cầu, người ta thấy rằng, trong số những tác nhân đó thì các nhân tố kinh tế là tác nhân sâu xa và tiềm ẩn Bởi trong thực tế, có những thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, nhất là những thiệt hại về đa dạng sinh học, do các nhân tố kinh tế gây ra chỉ bộc lộ

rõ ràng và đầy đủ sau nhiều thập kỷ Bởi vậy, những thiệt hại đó khó có thể đo

được bằng tiền và người ta cũng khó có thể nhận thấy ngay được mức độ và cái giá của sự thiệt hại Chẳng hạn, lượng khí cacbônic do nền công nghiệp nặng thải ra từ hồi thế kỷ XVII, XVIII cho đến nay, qua một thời gian tích tụ trong sinh quyển, bây giờ mới đang bộc lộ những tác hại nghiêm trọng và đầy

đủ của nó đến môi trường sống của con người Vì thế, cho dù các chủ thể kinh

tế có dành những khoản khấu hao cho thiệt hại về môi trường và sức khoẻ con người do các hoạt động kinh tế của họ gây ra thì những khoản khấu hao đó chưa chắc đã đúng là cái giá phải trả, nhất là khi người ta không thể khắc phục

được một cách đáng kể những thiệt hại đó, và đôi khi là không thể khắc phục nổi Chẳng hạn, rất nhiều thảm thực vật biển nói riêng, và đa dạng sinh học biển nói chung, đang bị tàn phá đến mức có thể bị biến mất hoàn toàn sau

Trang 40

những vụ đắm tàu chở dầu có trọng tải lớn (một phương tiện và con đường chuyên chở năng lượng dầu mỏ chủ yếu hiện nay), sau những hoạt động khai thác biển có tần suất cao và liên tục của con người với sự hỗ trợ của khoa học,

kỹ thuật và công nghệ hiện đại

Trong lịch sử, thời kỳ hưng thịnh của các nước công nghiệp phát triển là thời kỳ nhân loại đã sản xuất ra được một khối lượng của cải vật chất lớn hơn tổng khối lượng của cải vật chất mà nhân loại đã sản xuất ra được tính từ thời

kỳ đó trở về trước Đó là niềm tự hào của nhân loại Song, chính các nước công nghiệp phát triển phải chịu trách nhiệm chủ yếu trước hầu hết các vấn đề môi trường hiện đang tồn tại trên trái đất, nhất là vấn đề khí thải công nghiệp gây hiệu ứng nhà kính Thực tế cũng cho thấy rằng, các vấn đề cấp bách về môi trường mà nhân loại đang thấy không chỉ là hệ quả lịch sử của các nước công nghiệp phát triển Các nước đang phát triển cũng đã và đang “đóng góp” một lượng không nhỏ các khí công nghiệp độc hại vào sinh quyển, bởi con

đường phát triển của các nước này chủ yếu dựa trên công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với đà tăng trưởng của kinh tế, các nước phát triển và các nước

đang phát triển vẫn đang hàng ngày thải ra một lượng lớn khí thải công nghiệp

độc hại vào sinh quyển Và cũng hàng ngày hàng giờ, nhân loại đang phải hít thở một luồng không khí ngày càng bị ô nhiễm Môi trường bị ô nhiễm đó lại

là một trong những tác nhân chủ yếu dẫn đến những thay đổi phức tạp về khí hậu như hạn hán, bão lụt kéo dài và bất thường ở nhiều nơi trên trái đất mà các nha khí tượng hiện đại cũng khó dự đoán hết trước được

Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1999/2000 của Ngân hàng thế

giới khẳng định rằng, “nguồn gốc của sự tăng khí cacbônic, cũng như toàn mức tăng clorôphluôrôcácbon trong khí quyển gây thủng tầng ôdôn là do con người tạo ra”19, và mặc dù chủ yếu được thải ra ở các nước công nghiệp phát triển nhưng chúng có khả năng lan toả trong không khí Cho nên, chúng hoàn

19

Xem: Ngân hàng thế giới, Bước vào thế kỷ 21, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1999/2000, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.53

Ngày đăng: 09/03/2016, 11:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quí An. Những quan điểm chủ yếu về môi tr−ờng và phát triển tại Hội nghị Rio - 92. T/c Thông tin môi tr−ờng, số 3, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm chủ yếu về môi tr−ờng và phát triển tại Hội nghị Rio - 92
2. Lê Xuân Bá. Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
3. Ban Ph−ơng Nam. Phong trào không liên kết: Những thách thức ở Ph−ơng Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào không liên kết: Những thách thức ở Ph−ơng Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
7. W. Bello và S. Rosenfeld. Mặt trái của những con rồng. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trái của những con rồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
8. R. Bergeron. Phản phát triển: cái giá của chủ nghĩa tự do. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản phát triển: cái giá của chủ nghĩa tự do
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên). Góp phần nhận thức thế giới đương đại. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đ−ơng đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. Trần Văn Bính (chủ biên). Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. A. Bourguignon. Con ng−ời không thể đoán tr−ớc đ−ợc lịch sử tự nhiên của con ng−ời, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ng−ời không thể đoán tr−ớc đ−ợc lịch sử tự nhiên của con ng−ời
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
12. Bộ kế hoạch và đầu t−. Định h−ớng chiến l−ợc phát triển bền vững ở Việt Nam. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định h−ớng chiến l−ợc phát triển bền vững ở Việt Nam
13. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng. Báo cáo hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam hàng năm, năm 1998, 1999, 2000, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam hàng năm
14. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng. Hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam năm 1996, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam năm 1996
15. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng. Hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam năm 1998, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi tr−ờng Việt Nam năm 1998
16. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng. Tập báo cáo về Hội nghị môi tr−ờng toàn quốc lần thứ I, Hà Nội, 1998. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập báo cáo về Hội nghị môi tr−ờng toàn quốc lần thứ I, Hà Nội, 1998
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
17. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nghiên cứu các quy định pháp luật về môi trường trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các quy định pháp luật về môi tr−ờng trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế
Nhà XB: Nxb Lao động
18. Bộ Tài nguyên và Môi tr−ờng. Tài liệu tập huấn: Nâng cao nhận thức môi tr−ờng, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn: Nâng cao nhận thức môi tr−ờng
19. L. R. Brown, N. Lenssen, H. Kane. Tín hiệu sống còn, những xu thế định h−ớng cho t−ơng lai chúng ta, Viện Tầm nhìn thế giới, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu sống còn, những xu thế định h−ớng cho t−ơng lai chúng ta
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
21. Các Công −ớc Quốc tế về bảo vệ Môi tr−ờng (Việt - Anh). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Công −ớc Quốc tế về bảo vệ Môi tr−ờng (Việt - Anh)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
22. Cái giá của n−ớc. T/c Ng−ời đ−a tin UNESCO, 2/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái giá của n−ớc
23. Chủ nghĩa xã hội - Kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc. Hội thảo khoa học Việt - Trung tại Hà Nội tháng 11 năm 2000.Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội - Kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
24. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên). Giá trị truyền thống tr−ớc những thách thức của toàn cầu hoá. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống tr−ớc những thách thức của toàn cầu hoá
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1  47 Tốc độ tăng dân số hàng năm trên thế giới và các khu vực lớn, % - Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
Bảng 1 47 Tốc độ tăng dân số hàng năm trên thế giới và các khu vực lớn, % (Trang 142)
Bảng 2  48 Thành phần định tính của dân c− ở các khu vực lớn và các nền văn minh - Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
Bảng 2 48 Thành phần định tính của dân c− ở các khu vực lớn và các nền văn minh (Trang 146)
Bảng 1 89 Ngộ độc thực phẩm  1997  1998  1999  Qóy I n¨m 2000 - Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
Bảng 1 89 Ngộ độc thực phẩm 1997 1998 1999 Qóy I n¨m 2000 (Trang 267)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w