Đặc biệt, nghiên cứu TNTV trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học của ngôn ngữ học chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu.. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
………*………
PHẠM THỊ THOAN
ĐẶC ĐIỂM KẾT HỌC, NGHĨA HỌC, DỤNG HỌC
CỦA THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 62.22.01.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - 2016
Trang 2Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Nguyễn Thị Lương
2 GS, TS Đỗ Việt Hùng
Phản biện 1: GS, TS Nguyễn Thiện Giáp
Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG HN
Phản biện 2: PGS, TS Vương Toàn
Viện Thông tin, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam
Phản biện 3: PGS, TS Hà Quang Năng
Viện Từ điển và Bách khoa thư Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Quốc Gia, Hà Nội Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 31 Phạm Thị Thoan (2011), “Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong ngôn ngữ báo chí ngành Công an”, Ngôn ngữ và đời sống, (9).
2 Phạm Thị Thoan (2011), “Bước đầu tìm hiểu việc sử dụng chất liệu văn học trong ngôn ngữ báo chí ngành Công an đầu thế kỷ XXI”, Ngôn ngữ, (8), tr 61 - 69.
3 Phạm Thị Thoan (2013), Bước đầu tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt trên Báo Công an nhân dân ở bình diện kết học, Kỷ yếu
hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc năm 2013, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
4 Phạm Thị Thoan (2015), Một số nét văn hóa của người Việt qua thành ngữ tiếng Việt (trên Báo Công an nhân dân), Từ điển học và bách khoa thư, (4), tr 41 – 47.
5 Phạm Thị Thoan (2016), Thành ngữ tiếng Việt trên báo Công an nhân dân từ góc nhìn lập luận, Từ điển học và bách khoa thư, (1), tr 61 – 68.
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngôn ngữ là hệ thống các ký hiệu đặc biệt được con người sử dụng để giao tiếp và nhận thức về thế giới Với tư cách là đơn vị tương đương với từ, thành ngữ biểu hiện rõ nét nhất đặc thù dân tộc của ngôn ngữ Thành ngữ tiếng Việt (TNTV) không phải là ngoại lệ Đó là kho báu kết tinh, ẩn chứa mạch ngầm văn hóa độc đáo của dân tộc Bởi vậy, nó luôn là một vấn đề hấp dẫn, lý thú đối với những người say mê nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa dân tộc
1.2 TNTV là đơn vị ngôn ngữ hấp dẫn như vậy nên từ lâu nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu không chỉ của ngôn ngữ học mà còn của nhiều ngành khoa học khác nhau Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu TNTV đa phần dừng lại ở việc nghiên cứu thành ngữ trong hệ thống mà chưa nhiều nghiên cứu thành ngữ trong hoạt động trên một phạm vi cụ thể Đặc biệt, nghiên cứu TNTV trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học của ngôn ngữ học chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu
1.3 Báo Công an nhân dân (CAND) là cơ quan ngôn luận của lực lượng
vũ trang với phạm vi phát hành rộng và số lượng phát hành lớn TNTV trên
các ấn phẩm Báo CAND xuất hiện với tần xuất lớn và có vai trò quan trọng trong việc thể hiện hình thức cũng như biểu đạt nội dung ý nghĩa của Báo CAND Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về thành ngữ trên Báo CAND trên góc nhìn tổng thể, đa chiều của lí thuyết ba bình diện ngôn ngữ (kết học, nghĩa học, dụng học)
Do vậy, luận án chọn đề tài: “Đặc điểm kết học, nghĩa học, dụng học của thành ngữ tiếng Việt trên Báo Công an nhân dân” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận án hướng tới mục đích chỉ ra đặc điểm kết học, nghĩa học, dụng học của TNTV trên Báo CAND Để thực hiện mục đích
đó, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Khảo sát, thống kê, phân loại TNTV trên các ấn phẩm Báo CAND đầu thế kỉ XXI (từ năm 2000 – 2015) ở ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học
- Hệ thống hóa những tiền đề lý luận được chọn làm cơ sở lý luận cho đề tài như: lý thuyết về TNTV, lý thuyết ba bình diện của ngôn ngữ,
sơ lược về phong cách ngôn ngữ báo chí (NNBC)
- Chỉ ra đặc điểm về khả năng kết hợp trong cấu trúc ngữ pháp của TNTV trên Báo CAND qua đặc điểm kết hợp bên trong của những thành ngữ có cấu trúc nguyên thể và cấu trúc biến thể Chỉ ra các chức năng ngữ pháp của TNTV trên
Trang 5Báo CAND qua khả năng kết hợp bên ngoài của TNTV với các đơn vị ngôn ngữ khác khi tham gia vào cấu tạo câu.
- Làm rõ các đặc trưng ngữ nghĩa (nghĩa biểu trưng, nghĩa tình thái) của TNTV trên Báo CAND
- Làm rõ vai trò, giá trị, tác dụng của TNTV từ góc nhìn của lý thuyết lập luận
và nghĩa hàm ẩn Chỉ ra đặc điểm riêng của TNTV khi sử dụng trên Báo CAND
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là TNTV trên Báo CAND qua 4 ấn phẩm: CAND, Văn nghệ Công an (VNCA), An ninh thế giới (ANTG), Cảnh sát toàn cầu (CSTC)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận án nghiên cứu đặc điểm của TNTV trên ba bình
diện kết học, nghĩa học, dụng học
- Về nguồn ngữ liệu khảo sát: luận án đã thu thập TNTV trên Báo
CAND đầu thế kỷ XXI qua bốn ấn phẩm của Báo CAND: CAND,
ANTG, VNCA, CSTC đầu thế kỷ XXI (2000 – 2015)
- Về nguồn từ điển để nhận diện TNTV được thống kê trên Báo CAND: luận án căn cứ vào những cuốn từ điển sau: Thành ngữ tiếng Việt
của Nguyễn Lực – Lương Văn Đang, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009
Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1995 Phần “Sưu tập và phân loại thành ngữ tiếng Việt”trong cuốn “Thành ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Văn Hành, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiến hành nghiên cứu trên các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu cơ bản của ngôn ngữ học sau: phương pháp hệ thống, phương pháp miêu tả và phân tích ngữ cảnh; thủ pháp thống kê, phân loại và so sánh
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về lí luận: Luận án góp phần bổ sung thêm các kết quả nghiên
cứu về đặc điểm của TNTV trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học Thành công của luận án cũng là một minh chứng cho tính đúng đắn
và hiệu quả của lý thuyết ba bình diện khi được vận dụng vào nghiên cứu một đối tượng ngôn ngữ cụ thể
5.2 Về thực tiễn: Luận án đã chỉ ra đặc điểm của TNTV trên ba bình
diện kết học, nghĩa học, dụng học cũng như vai trò, giá trị của chúng khi sử dụng trên Báo CAND Bởi vậy có thể xem luận án như một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy và sử dụng TNTV
Trang 66 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của
luận án gồm bốn chương: Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết Chương 2:
Đặc điểm kết học của TNTV trên Báo CAND Chương 3: Đặc điểm nghĩa học của TNTV trên Báo CAND Chương 4: Đặc điểm dụng học của TNTV trên Báo CAND.
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Dẫn nhập
Trong chương này, luận án trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu thành ngữ; những vấn đề lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài làm cơ sở cho việc giải quyết các nội dung ở những chương sau, đó là: lý thuyết về TNTV, lý thuyết ba bình diện của ngôn ngữ học và phong cách NNBC
1.2 Tình hình nghiên cứu thành ngữ
Luận án tổng quan tình hình nghiên cứu thành ngữ trên ba phạm vi:
- Những công trình nghiên cứu thành ngữ ở Việt Nam của các nhà Việt ngữ học qua hai giai đoạn trước năm 1945 và sau năm 1945 đến nay
- Những công trình nghiên cứu về TNTV trên Báo CAND
1.3 Những vấn đề lý thuyết về thành ngữ
1.3.1 Vấn đề khái niệm thành ngữ
Mỗi nhà nghiên cứu đều có một cách nhìn nhận riêng về khái niệm thành ngữ nhưng đều gặp nhau ở một điểm: coi thành ngữ là cụm từ cố định, có sẵn Trên cơ sở
đó, luận án lấy quan điểm của Hoàng Văn Hành làm cơ sở xác định khái niệm thành
ngữ: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn
chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ.”
1.3.2 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác
Phân biệt thành ngữ với các đơn vị lân cận như: từ ghép, cụm từ tự do và tục ngữ, luận án không đặt mục tiêu xác định ranh giới giữa thành ngữ với các đơn vị lân cận đó mà xem đó là hệ thống, là cơ sở lý luận để xác định, nhận diện TNTV nói chung và TNTV trên Báo CAND nói riêng
1.3.3 Phân loại thành ngữ
Luận án hệ thống ba tiêu chí và cách phân loại của các nhà nghiên cứu: phân loại thành ngữ theo tính chất của từ, phân loại thành ngữ theo cấu trúc, phân loại thành ngữ theo tu từ học Luận án chấp nhận quan điểm phân loại thành ngữ của Hoàng Văn Hành và Nguyễn Công Đức là chia thành ngữ
thành ba loại cụ thể: thành ngữ so sánh, thành ngữ đối và thành ngữ thường
Trang 71.3.4.2 Về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ
Luận án hệ thống bốn đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ đó là: tính thành ngữ, tính biểu trưng, tính dân tộc và tính biểu cảm và xem đây là cơ sở để khi xem xét đặc điểm nghĩa học của TNTV trên Báo CAND, luận án lựa chọn xem xét nghĩa tình thái và nghĩa biểu trưng của thành ngữ
1.3.4.3 Về đặc điểm ngữ dụng của thành ngữ
Các nhà Việt ngữ học khi xem xét thành ngữ từ bình diện ngữ dụng đã đặc biệt quan tâm tới những vấn đề biến thể và văn hóa Tuy nhiên, các bình diện của ngữ dụng như: giao tiếp, hành động ngôn ngữ, lập luận, hàm ẩn, chiếu vật, chỉ xuất… chưa được đi sâu tìm hiểu Bởi vậy, khi xem xét đặc điểm dụng học của TNTV trên Báo CAND, luận án chọn góc nhìn từ lý thuyết lập luận và nghĩa hàm
ẩn làm cơ sở nghiên cứu
1.4 Khái quát về ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học
Luận án lấy quan điểm của Charles William Morris làm cơ sở, xác định khái niệm kết học, nghĩa học, dụng học: kết học (quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu); nghĩa học (quan hệ của tín hiệu với cái được biểu đạt); dụng học (quan
hệ của tín hiệu với người dùng)
1.4.1 Bình diện kết học
Trên cơ sở khái niệm kết học (syntax, syntaxe) là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu để tạo ra một thông điệp, luận án xác định xem xét đặc điểm kết học của TNTV trên Báo CAND là xem xét sự kết hợp của các yếu tố trong cấu trúc của thành ngữ và sự kết hợp bên ngoài của thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác khi tham gia vào cấu tạo câu
1.4.2 Bình diện nghĩa học
Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: Nghĩa học (semantics, sémantique) là
phương diện của những quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực được nói tới trong thông điệp
Trang 8Luận án xem đây là cơ sở để tiếp cận đặc điểm nghĩa học của TNTV trên Báo CAND trên các phương diện nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái và nghĩa biểu trưng.
1.4.2.1 Nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện)
Nghĩa miêu tả (nghĩa sự vật) phản ánh sự việc, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất,… ngoài thực tế khách quan được đưa vào ngôn ngữ Do nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen của các yếu tố cấu thành cộng lại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối mang tính biểu cảm và hình tượng, biểu trưng cao nên luận án không đi vào xem xét nghĩa miêu tả của thành ngữ mà xem đây là cơ sở lý thuyết để đối chiếu với nghĩa gốc, nghĩa trực tiếp của thành ngữ trong hệ thống và sự chuyển nghĩa của thành ngữ khi hoạt động
1.4.2.2 Nghĩa biểu trưng
Nghĩa biểu trưng là toàn bộ những ý nghĩa, khái niệm được khái quát
từ hình ảnh, sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả và nhắc tới Thành ngữ là đơn
vị định danh của ngôn ngữ song lại là đơn vị định danh bậc hai Theo đó, lớp nghĩa chính mà thành ngữ hướng tới không phải là lớp nghĩa đen mà là lớp nghĩa bóng - nghĩa biểu trưng Thành ngữ lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế… phổ biến, khái quát Do đó, nghiên cứu đặc điểm nghĩa học của TNTV trên Báo CAND, luận
án lựa chọn xem xét nghĩa biểu trưng của TNTV và vai trò, tác dụng của chúng trong hoạt động
1.4.2.3 Nghĩa tình thái
Nghĩa tình thái là thái độ hay quan hệ giữa người nói với người nghe; thái độ
hay quan hệ giữa người nói với nội dung sự tình được phản ánh TNTV là đơn vị ngôn ngữ mang tính biểu cảm cao Trong mỗi TNTV bao giờ cũng kèm theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái
ngại, xót thương… Do đó, nghiên cứu đặc điểm nghĩa học của TNTV trên Báo CAND,
luận án lựa chọn xem xét nghĩa tình thái của TNTV khi hoạt động trên Báo CAND và giá trị, tác dụng của chúng
1.4.3 Bình diện dụng học
Dụng học (pragmatics, pragmatique) nghiên cứu mối quan hệ giữa tín
hiệu với người dùng, giữa tín hiệu với việc sử dụng tín hiệu trong các tình huống cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào hai vấn đề
cơ bản của ngữ dụng học có liên quan đến TNTV trên Báo CAND - đối tượng
nghiên cứu của luận án là: lập luận và nghĩa hàm ẩn.
1.4.3.1 Lập luận
Luận án chấp nhận quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2001): “Lập luận là đưa ra
những lí lẽ nhằm dẫn dắt đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.” Xem xét TNTV trên Báo CAND dưới góc nhìn của lý
thuyết lập luận, luận án chỉ ra vị trí, chức năng, vai trò, tác dụng của thành ngữ khi tham gia lập luận và biểu đạt nội dung Báo CAND
Trang 91.4.3.2 Nghĩa hàm ẩn
Luận án trình bày những vấn đề lý thuyết liên quan đến nghĩa hàm ẩn như: tiền giả định và hàm ngôn Luận án xác định đây là cơ sở lý luận khi xem xét đặc điểm dụng học của TNTV trên Báo CAND từ phương diện nghĩa hàm ẩn
1.5 Sơ lược về ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ Báo CAND
1.5.1 Sơ lược về ngôn ngữ báo chí
Hệ thống hóa quan điểm của các nhà nghiên cứu về NNBC, luận án xác định ba đặc trưng cơ bản của NNBC và xem đó là cơ sở lý luận để xem xét đặc
điểm kết học, nghĩa học, dụng học của TNTV trên Báo CAND đó là: Tính thông tin
thời sự; tính ngắn gọn; tính sinh động, hấp dẫn.
1.5.2 Sơ lược về ngôn ngữ Báo CAND
Ngôn ngữ Báo CAND trước hết chịu sự chi phối chung của đặc điểm NNBC Để đạt được tiêu chí gắn gọn, súc tích mà truyền tải được hàm lượng thông tin cao, Báo CAND đã ưu tiên lựa chọn TNTV làm phương tiện biểu đạt nội dung Cách lựa chọn đơn
vị ngôn ngữ đặc biệt, ngắn gọn và hàm súc như thành ngữ đã giúp cho ngôn ngữ Báo CAND thêm cô đọng, hàm súc, mà vẫn đảm bảo được hàm lượng thông tin, có giá trị biểu đạt cao, đáp ứng yêu cầu của độc giả
1.6 Hướng nghiên cứu của luận án
Thứ nhất: Ở bình diện kết học, luận án đi sâu tìm hiểu khả năng kết hợp của
TNTV trong chính cấu tạo nội bộ của bản thân thành ngữ và khả năng kết hợp của thành ngữ với các yếu tố khác trong câu Khi kết hợp với các yếu tố khác, các thành phần khác ở trong câu, bản thân thành ngữ sẽ có một vị trí, một chức năng cụ thể Bởi vậy, tìm hiểu khả năng kết hợp bên ngoài của thành ngữ chính là tìm hiểu vị trí, chức năng ngữ pháp của thành ngữ ở trong câu
Thứ hai: Ở bình diện nghĩa học, về mặt lý thuyết của thành ngữ thì nghĩa
của thành ngữ được các nhà nghiên cứu chỉ ra bốn đặc điểm cơ bản là: tính thành ngữ, tính dân tộc, tính biểu trưng và tính biểu cảm Luận án đi sâu tìm hiểu hai loại nghĩa là nghĩa biểu trưng và nghĩa tình thái (tính biểu trưng và tính biểu cảm của thành ngữ)
Thứ ba: Ở bình diện dụng học, do bản chất của ngữ dụng là sự thống hợp
của các lĩnh vực ngữ âm – âm vị học, cú pháp học, ngữ nghĩa học, vì thế phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học rất rộng, bao gồm: chiếu vật, chỉ xuất; hành động (hành
vi ngôn ngữ); lập luận, hội thoại, hiển ngôn và hàm ngôn… Trong phạm vi tư liệu khảo sát, luận án chỉ đi sâu tìm hiểu TNTV trên Báo CAND từ góc nhìn của lý thuyết lập luận và nghĩa hàm ẩn
Để thực hiện hướng nghiên cứu trên, luận án đã tiến hành thống kê, phân loại thành ngữ theo mục đích nghiên cứu Kết quả phân loại của luận án được minh chứng qua 47 phụ lục phân loại TNTV trong 191 trang phụ lục kèm theo và
05 bảng thống kê số liệu các chủ đề nghĩa tình thái đánh giá, so sánh mối tương quan giữa các chủ đề nghĩa tình thái đánh giá trong luận án
Trang 10Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỌC CỦA THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN 2.1 Dẫn nhập
Ở chương này, khi nghiên cứu đặc điểm kết học của TNTV trên Báo CAND, luận
án xem xét đặc điểm kết hợp bên trong và kết hợp bên ngoài của chúng
2.2 Đặc điểm cấu trúc của TNTV trên Báo CAND
Trên cơ sở định hướng phân loại TNTV theo bình diện kết học đã nêu trong chương 1, luận án phân loại 705 TNTV và thu được kết quả 584/705 = 83% thành ngữ cấu trúc có kết hợp nguyên thể, 121/705 = 17% thành ngữ cấu trúc có kết hợp biến thể Trong 584/584 thành ngữ có kết hợp nguyên thể tương ứng với tỷ lệ 100%, có: thành ngữ đối 318/584 = 54,5%; thành ngữ thường 213/584 = 36,5% ; thành ngữ so sánh 52/584 = 9%
2.2.1 Đặc điểm cấu trúc nguyên thể của thành ngữ
Đặc điểm kết hợp của TNTV có cấu trúc bình thường (nguyên thể) được luận án xem xét ở ba loại: thành ngữ đối, thành ngữ thường và thành ngữ so sánh
2.2.1.1 Đặc điểm cấu trúc thành ngữ đối
Luận án thu được 318/318 = 100% TNTV có cấu trúc đối Luận án đã tiến hành phân tích các ngữ cảnh có sử dụng thành ngữ đối theo các dạng thức
và nhận thấy:
- Thành ngữ đối dạng A và B; x và y cùng trường nghĩa chiếm số lượng
và tỷ lệ cao nhất 229/318 = 72% tổng số thành ngữ đối Tính chất đối của các đơn vị thành ngữ có các yếu tố cùng trường nghĩa tạo nên sự đối xứng nhịp nhàng và tạo nhịp điệu cho câu văn, làm cho câu văn thêm gợi hình, gợi cảm
- Chiếm 81/318 = 25,5% các đơn vị thành ngữ đối trong kết quả khảo sát, thành ngữ đối dạng AxAy có tác dụng nhấn mạnh vấn đề cần đề cập đến trong mỗi câu văn nói riêng và văn bản báo chí trên Báo CAND nói chung
Chiếm tỷ lệ 8/318 = 2,5% các đơn vị thành ngữ đối nhưng các yếu tố đối xứng trong thành ngữ đối có trục đối xứng là thành tố lẻ luôn trong trạng thái vận động để nhấn mạnh vấn đề cần đề cập tới
2.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc thành ngữ thường
Đây là loại thành ngữ không có kết cấu đối xứng, do được cấu tạo giống như
những cấu trúc ngữ pháp bình thường nên còn gọi là thành ngữ thường Luận án đã
tiến hành phân loại thành ngữ thường và thu được kết quả, có 213/584 = 36,5% thành
ngữ cấu trúc có kết hợp nguyên thể Trong 213/213= 100% thành ngữ thường trên
Báo CAND, có 2 dạng thành ngữ thường là: thành ngữ là một cụm từ chính – phụ (một tổ hợp từ) cố định (nhóm thành ngữ này được cấu tạo bởi ba cụm từ chủ yếu thuộc quan hệ chính phụ là: cụm danh từ (CDT), cụm động từ (CĐT), cụm tính từ (CTT) và thành ngữ là một cụm chủ - vị (C – V) Kết quả thống kê, phân loại như sau:
Trang 11CDT: 68/213 = 32%; CĐT: 107/213 = 50,2%; CTT: 19/213 = 8,9%; Cụm C – V: 19/213 = 8,9%
- Những thành ngữ có cấu tạo là một CDT như: áo gấm đi đêm, áo rách gá vai, con dao hai lưỡi, nước mắt cá sấu,… thường vắng mặt phần phụ
trước và chủ yếu là thành ngữ 4 yếu tố Kiểu thành ngữ này chứa thành phần hạn định miêu tả và thường là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với cuộc sống và quan điểm thẩm mỹ của người Việt nên nó không chỉ có tính gợi cảm cao mà còn chứa đựng sắc thái khen, chê, quan điểm nhận xét, đánh giá rõ rệt
- Những thành ngữ có cấu tạo là CĐT như: vuốt râu hùm, xúc đất đổ
đi, té nước theo mưa, treo đầu dê bán thịt chó Khi sử dụng những thành
ngữ là CĐT, người viết không chỉ giúp cho câu văn, văn bản Báo CAND trở nên ngắn gọn mà còn hàm súc, truyền tải được hàm lượng thông tin cao qua việc khái quát các hành động của nhân vật bằng thành ngữ
- Những TNTV là CTT trên Báo CAND như: chân chỉ hạt bột, đắt xắt
ra miếng,… không chỉ góp phần tạo cho câu văn sự ngắn gọn, hàm súc mà
còn bộc lộ được thái độ, tình cảm của người viết
- Những thành ngữ có cấu trúc là một cụm C – V trên Báo CAND như:
cáo mượn oai hùm, cọc đi tìm trâu, cơm chan nước mắt, gà trống nuôi con, mỡ
để miệng mèo, mèo khóc chuột, ngựa quen đường cũ… đã góp phần làm tăng
tính khái quát của câu văn, dù ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo được hàm lượng thông tin cần truyền tải
có cấu trúc so sánh đã gợi ra nhiều liên tưởng làm cho ý nghĩa câu văn trên Báo CAND thêm sinh động và hấp dẫn hơn
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc biến thể của thành ngữ
Những TNTV trong cấu trúc có sự kết hợp của các yếu tố không tuân theo trật tự logic về cấu trúc, ngữ nghĩa đã được xác định trong từ điển một cách bình
thường được xem là thành ngữ biến thể Chẳng hạn: ăn cây nào, rào cây đó; ăn
cây táo, rào cây sung; ăn tùy nơi, chơi tùy ví; bán giời không văn tự; đồng tiền tương ứng; khác một li, đi một đời; nhắm mắt buông đời;…
Phân loại 705 TNTV trên Báo CAND đầu thế kỷ XXI, luận án thu được
121/705 = 17% thành ngữ biến thể Trong 121/121 = 100% thành ngữ biến thể,
Trang 12theo quan điểm phân loại thành ngữ biến thể của Trịnh Đức Hiển, tỷ lệ các dạng biến thể của TNTV trên Báo CAND như sau: tách thành ngữ thành hai vế: 23/121 =
19%; chỉ sử dụng một vế chính: 27/121 = 22,3%; lược bớt thành tố: 7/121 = 5,7%; thay thế thành tố: 55/121 = 46%; đảo vị trí các vế, các thành tố: 9/121 = 7%.
2.2.2.1 Tách thành ngữ thành hai vế
Trong dạng kết hợp biến thể tách thành ngữ thành hai vế với tỷ lệ 23/23
= 100%, trên Báo CAND có những dạng thức sau: (1) AxBy → Ax m By: 19/23 = 82,5%; (2) AxBy → Vì Ax nên By: 3/23 = 13,2%; (3) AxBy → Anx +liên từ/giới từ + Bmy: 1/23 = 4,3%
Đây là một phương thức được sử dụng phổ biến trên Báo CAND Việc tách thành ngữ thành hai vế bằng cách thêm một số thành tố vào giữa kết cấu của thành ngữ đã mở rộng cấu trúc của thành ngữ nhưng không hề ảnh hưởng đến ý nghĩa của thành ngữ mà còn có tác dụng làm rõ và nhấn mạnh ý nghĩa của thành ngữ trong văn cảnh, bởi trong trí nhớ của cộng đồng người Việt, thành ngữ dạng nguyên thể vẫn tồn tại như nó vốn có
2.2.2.2 Chỉ sử dụng một vế chính
Đây là trường hợp người viết chỉ sử dụng một vế chính của thành ngữ, còn vế kia
bỏ ngỏ Hiện tượng này thường xảy ra với những TNTV trên Báo CAND mà kết cấu của thành ngữ là một cụm C - V (một cấu trúc hoàn chỉnh, giống như tục ngữ) diễn đạt tương đối trọn vẹn một ý nghĩa nào đó Dạng biến thể chỉ sử dụng một vế chính của thành ngữ
chiếm 27/121 = 22,3% các đơn vị thành ngữ biến thể trên Báo CAND nói chung Trong
27/27 = 100% thành ngữ biến thể chỉ sử dụng một vế chính, luận án phân thành các dạng thức sau: (1) AxBy → Ax: 20/27 = 70%; (2) AxBy→A’x: 1/27 = 3,7%; (3) AxBy→By: 5/27 = 18,6%; (4) AxBy→ Bmy: 1/27 = 3,7%
Phương thức biến thể này có tác dụng tăng liên tưởng và gợi nhớ ở người đọc, người nghe Tuy tuân theo quy luật “tiết kiệm” ngôn ngữ nhưng vế
“để trống” của thành ngữ lại là phần “mở” để người đọc, người nghe tự do phát triển liên tưởng theo ý mình
2.2.2.3 Lược bớt thành tố
Dạng thức biến thể này có các thành ngữ: cờ đến tay thì phất, không ai phù
suy, hai tay trắng, ghen mù quáng, ngậm bồ hòn, hùm thiêng khi đã sa cơ, nói bóng
gió, sự khởi đầu nan, Luận án phân loại chúng thành 4 dạng thức: (1) AxBy
→Ax0y: 2/7 = 28,5%; (2)AxBy → A0By: 2/7 = 28,5%; (3) AxBy→AxB0: 2/7 = 28,5%; (4) AxBy→0xBy: 1/7 = 14,5%
Hầu hết những thành ngữ được lược bớt các thành tố được dùng ở các tiêu đề
và “tít” phụ trong bài báo Việc lược bớt các thành tố trong thành ngữ khiến cho thành ngữ trở nên gọn gàng hơn mà vẫn đảm bảo được tính cân đối của cấu trúc Đặc biệt, sau khi lược bớt thành tố, thành ngữ có ý nghĩa khái quát hơn so với thành ngữ gốc nhờ sự liên tưởng của người đọc
Trang 132.2.2.4 Thay thế thành tố
Qua khảo sát, luận án thu được 55/121 = 46% thành ngữ dạng biến thể thay thế trên tổng số thành ngữ biến thể nói chung Các dạng thức biến thể thay thế được luận án phân loại theo tỷ lệ như sau: (1) AxBy → AxBy’: 16/55 = 29%; (2) AxBy → Ax(By)’: 8/55 = 14,5%; (3) AxBy →Ax’By: 12/55 = 20,5%; (4) AxBy → (Ax)’By: 3/55 = 5,4%; (5) AxBy → Ax’By’: 7/55 = 12,7%; (6) AxBy
→ AxB’y: 5/55 = 7,8%; (7) AxBy →Ax’(By)’: 1/55 = 1,8%; (8) AxBy→A’xBy: 2/55 = 3,6%; (9) AxBy →(Ax)’(By)’: 1/55 = 1,8%
Qua phân tích ngữ cảnh 9 dạng thức thay thế của thành ngữ biến thể nêu trên, luận án thấy rằng, khi thay thế thành tố đã có trong thành ngữ bằng một thành tố khác, nghĩa của thành ngữ biến thể có thể giữ nguyên hoặc thay đổi tùy thuộc vào thành tố mới được thay thế
Trường hợp nghĩa của thành ngữ biến thể vẫn giữ nguyên hoặc thay đổi ít Trường hợp này thường gặp ở các dạng thức thay thế: AxBy → AxBy’,
AxBy → Ax(By)’, AxBy →Ax’By, AxBy → (Ax)’By, AxBy → Ax’By’, AxBy → AxB’y, AxBy→A’xBy
Trường hợp nghĩa của thành ngữ biến thể khác hẳn nghĩa của thành
ngữ cũ Trường hợp này thường gặp ở các dạng thức: AxBy →Ax’(By)’,
AxBy → (Ax)’(By)’
Hầu hết các thành ngữ biến thể được thay thế các thành tố cũ trong thành ngữ sẵn có thường mang yếu tố tiêu cực Khi cải biên các yếu tố trong thành ngữ, yếu tố cải biên thường biểu đạt ý nghĩa tiêu cực về một vấn đề nào
Cấu trúc biến thể của các TNTV trên Báo CAND đã phá vỡ khuôn thức, tính cố định của thành ngữ Đây là đặc điểm nổi bật của TNTV trên Báo CAND
2.3 Đặc điểm chức năng ngữ pháp của TNTV trên Báo CAND
Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ Chức năng ngữ pháp của
từ ngữ nào trong câu cũng đều gắn với vị trí, khả năng kết hợp của từ ngữ đó ở trong câu mà chúng tham gia Do đó, tìm hiểu đặc điểm chức năng ngữ pháp của TNTV trong câu cũng là tìm hiểu đặc điểm kết học (khả năng kết hợp) của thành ngữ với các