1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

216 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu giám sát nghèo có sự tham gia của Oxfam và Actionaid nhận định rằng, hạn chế về học vấn và tay nghề dẫn đến người nghèo đô thị chủ yếu làm trong khu vực phi chính thức, tuy nă

Trang 1

n

NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến ThS Phạm Thị Thùy Trang

Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Giới thiệu diễn giả

PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến hiện đang là giảng viên tại Khoa Xã hội học, trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Bà là Trưởng

khoa đầu tiên của Khoa Xã hội học (ĐHKHXH&NV TpHCM), là người có công trong việc thành

lập Khoa năm 1998 Bà đã từng lấy bằng Tiến sĩ tại Viện hàn lâm Khoa học, Cộng hòa Liên

bang Nga (1993) Bà có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu trong các lĩnh vực như

Xã hội học Giới, Gia đình và Đô thị hóa Bà từng là chủ nhiệm của nhiều đề tài nghiên cứu

trọng điểm Cấp Bộ, Cấp Sở và Đại học Quốc gia Ngoài ra, bà còn giữ vị trí chuyên gia tư vấn

xã hội trong nhiều dự án phát triển cộng đồng phía Nam

“Thành phố là nơi tăng trưởng diễn ra, và là nơi tương lai tìm đến”

Nhưng liệu tương lai có đến với người nghèo ở đô thị hay không?

Nhà ở có lẽ là tài sản kinh tế và sinh tồn quan trọng nhất mà nhữnghộ gia đình bỏ vốn

đầu tư Tuy nhiên, ngày càng nhiều hộ gia đình thành thị không đủ tiền mua dù là căn nhà nhỏ

nhất Đối với nhiều gia đình nghèo, nhà ở là thứ xa xỉ, chỉ có trong giấc mơ của họ

Các chuyên gia về nhà ở cho rằng, tạo ra nhà ở là một hoạt động kinh tế quan trọng tại

hầu hết các thành phố Xây dựng nhà ở không chỉ sản sinh ra tài sản là chính ngôi nhà đó mà nó

còn tạo ra nhiều loại hoạt động kinh tế thứ cấp như: người lao động có việc làm và sau đó là tiêu

tiền ở địa phương, tư liệu sản xuất được mua từ các ngành công nghiệp hỗ trợ của thành phố và

Trang 2

n

2

những doanh nghiệp cung ứng, và nhà ở mới thu hút đầu tư ở những nơi nó được xây dựng, và

theo đó tạo ra giá trị gia tăng với khu đất gần đó (UNESCAP và UN-HABITAT, Nhà ở cho

người nghèo ở khu vực Châu Á)

Mặt khác, Nghị quyết 43/181 ngày 20/12/1988 của Đại hội đồng LHQ về “Chiến lược toàn

cầu về chỗ ở đến năm 2000” nhấn mạnh rằng “Chỗ ở thích hợp và an toàn là một quyền cơ bản

của con người và là điều cơ bản cho việc hoàn thành những ước vọng của con người”, rằng “Một

môi trường ở tồi tệ là mối đe dọa thường trực cho sức khỏe và bản thân cuộc sống và như vậy tạo

nên sự kiệt quệ các nguồn lực con người, một tài sản quốc gia giá trị nhất”, đồng thời “Tình trạng

thảm thương này có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và chính trị của các quốc gia” Nghị quyết

nhấn mạnh, “Một số lớn gia đình và cá nhân ở các nhóm thu nhập khác nhau đang sống trong chỗ

ở có tiêu chuẩn thấp hơn so với khả năng thực sự của họ Họ không thể vươn lên được bởi vì chính

sách hiện hành của chính phủ không tạo điều kiện hoặc thực tế không khuyến khích việc xây dựng

chỗ ở”

1 Sự phân tầng về mức sống và sự khác biệt trong lợi thế về nhà ở

Những vấn đề về nhà ở và đói nghèo ở các thành phố không phải là những vấn đề riêng lẻ

mà là biểu hiện của những vướng mắc sâu xa hơn mang tính cơ cấu hơn về tiếp cận đất, công bằng

xã hội và phát triển quốc gia Mặc dù chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã rất nỗ lực trong công

tác xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên khoảng cách giàu nghèo ở nơi này vẫn còn là những thách thức

Điều này thể hiện rõ hơn cả là trong lĩnh vực nhà ở

Trước hết là sự phân bố nơi ở của người giàu có, khá giả và những nhóm người nghèo và

cận nghèo Nghiên cứu cơ cấu xã hội, lối sống và phúc lợi của cư dân thành phố Hồ Chí Minh

hiện nay, Viện Phát triển bền vững Vùng Nam Bộ.(Bùi Thế Cường 2012) cho thấy tại các khu

vực thuộc quận cũ (các quận trung tâm, có từ lâu đời) tỷ lệ hộ thuộc các nhóm giàu và khá giả

(nhóm 4 và 5) cao hơn rất nhiều (47,2%), trong khi đó hai nhóm thu nhập cuối cùng có tỷ lệ thấp

hơn nhiều (chỉ có 30,7%) Ngược lại, các huyện ngoại vi thành phố tỷ lệ nhóm thu nhập thấp

Trang 3

n

(nhóm 4 và 5) chiếm đa số (66,7%), tỷ lệ hai nhóm thu nhập cao nhất (nhóm 4 và 5) lại hoàn

toàn không đáng kể (biểu đồ 1)

Biểu đồ 1 Nhóm thu nhập bình quân nhân khẩu/ tháng hộ gia đình phân theo địa bàn cư trú

Nguồn: Bùi Thế Cường Cơ cấu xã hội, lối sống và phúc lợi của cư dân thành phố Hồ Chí Minh

hiện nay Viện Phát triển bền vững Vùng Nam Bộ 2012

Sự khác biệt về nhà ở giữa cá nhóm phân tầng về thu nhập còn cho thấy rõ hơn sự cách biệt

về loại hình và diện tích nhà ở Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM về Cư

dân đô thị và không gian đô thị trong tiến trình đô thị hóa ở TPHCM: Thực trạng và dự báo vào

năm 2010 cho thấy có sự phân hóa rất lớn về các loại hình nhà ở tại thành phô này Nếu xét theo

phân tổ theo mức sống, các nhóm càng khá giả thì có tỷ lệ nhà kiên cố càng cao: 85% nơi nhóm

5, so với 55% nơi nhóm 1 (xem biểu đồ 2)

29.2 22.1 20.6

14.4 22.7 21.4

11.1 24.5 19.4 7.9

Nhóm 5 (giàu nhất) Nhóm 4

Nhóm 3 Nhóm 2 Nhóm 1(nghèo nhất)

Trang 4

n

Nếu so với chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân 14 m2/người vào năm 2010 mà TP.HCM đã

đề ra vào năm 2006, hay chỉ tiêu 12 m2/người mà Quốc hội đề ra vào năm 2007 cho cả nước, thì

ít nhất một phần ba số hộ cư dân đô thị hiện nay có diện tích nhà ở thuộc loại chật chội (trong

mẫu điều tra, 31% hộ có diện tích dưới 12 m2/nhân khẩu, hay 39% hộ có diện tích dưới 14 m2

)

Sự phân hóa giàu nghèo về nhà ở còn thể hiện ở diện tích nhà, theo đó, nếu tính theo nhóm ngũ

vị phân thu nhập, diện tích nhà ở nhóm 1 (nghèo nhất) chỉ có 69,76 m2/hộ với bình quân 12,82

m2/nhân khẩu Trong khi đó, nhóm 5 (giàu nhất) có tới 110,17 m2/ hộ (bình quân 33,55 m2

/nhân khẩu) Và bình quân một nhân khẩu thuộc nhóm 5 (giàu nhất) có diện tích nhà ở cao hơn gấp 2,6

lần so với một nhân khẩu thuộc nhóm 1 (nghèo nhất) (33,65 m2/nhân khẩu so với 12,82 m2

/nhân khẩu)(biểu đồ 3)

2 1.0 0.5 0.5

Nhà đơn sơ Nhà khung gỗ lâu bền, mái lá Nhà bán kiên cố

Trang 5

n

Biểu đồ 3 Diện tích nhà ở bình quân một nhân khẩu cư dân đô thị TPHCM, phân theo

năm nhóm thu nhập, tháng 8 – 2009 (ĐVT: m 2 / nhân khẩu)

Nguồn: Trần Hữu Quang Cư dân đô thị và không gian đô thị trong tiến trình đô thị hóa ở TP

HCM, 2010

2 Người nghèo và nơi ở tại thành phố Hồ Chí Minh

Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra đặc trưng người nghèo ở thành phố Hồ Chí

Minh Nghiên cứu giám sát nghèo có sự tham gia của Oxfam và Actionaid nhận định rằng, hạn

chế về học vấn và tay nghề dẫn đến người nghèo đô thị chủ yếu làm trong khu vực phi chính

thức, tuy năng động nhưng thu nhập thường không ổn định, khó có các khoản để giành Báo cáo

cho thấy trên 70% thành viên hộ nghèo làm nghề phụ hồ, bán giải khát, tạp hóa nhỏ hoặc làm các

nghề tự do khác như chạy xe ôm, phụ bán quán, trồng rau muống, trích cá, đặt ống lươn, bán vé

số, cắt tóc, sửa quần áo ; gần 30% thành viên hộ nghèo làm công nhân (may, dược, cơ khí) hoặc

làm thợ có tay nghề (thợ mộc, thợ bạc, thợ sơn) (xem biểu đồ 4)

12.8 15.2 19.5 20.6

33.6

Nhóm 1(nghèo nhất)

Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 (giàu nhất)

Trang 6

n

6

Biểu đồ 4.Cơ cấu việc làm của 21 hộ nghèo ở xóm Chùa phường 6, Q Gò Vấp.

Nguồn: Oxfam và Actionaid, Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp tham gia 2011

Theo nghiên cứu này, người nghèo thường sống trong các ngôi nhà đơn sơ tại những địa

bàn cơ sở hạ tầng còn yếu kém Đa số họ sống trong các ngôi nhà cấp 4, số ít hộ có hoàn cảnh éo

le còn phải ở trong các ngôi nhà tạm Một số hộ nghèo đã bán nhà hoặc bị thu hồi đất hiện phải

đi ở trọ Trong số 21 hộ nghèo tại xóm Chùa, phường 6 (Gò Vấp) đã có 4 hộ đang phải thuê nhà

ở trọ, trong đó có 2 hộ ở trọ ngay trên chính mảnh đất của mình đã bán đi Chương trình hỗ trợ

chống dột, xây nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho các gia đình khó khăn đã được các địa

phương chú trọng Tuy nhiên, Phường 6, quận Gò Vấp không sử dụng hết quĩ vốn hỗ trợ xây

nhà, chủ yếu do những hộ nghèo đang ở nhà cấp 4 xuống cấp hoặc nhà tạm nhưng không có giấy

tờ đất hợp lệ để có thể xét hỗ trợVề môi trường, thoát nước, thu gom rác thải là hai vấn để bức

xúc về vệ sinh môi trường tại các địa bàn đô thị hóa (Oxfam và Actionaid, 2010)

Dưới tác động của quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa, đời sống đô thị hiện đại đang

biến đổi rất nhanh chóng với nhiều đặc trưng mới về cấu trúc xã hội, về văn hóa và lối sống

Trong những đặc trưng lối sống, nổi lên tính cơ động xã hội của con người đô thị Đặc tính này

thể hiện sự vận động, linh hoạt và thích ứng nhanh với hoàn cảnh, điều kiện sống đang biến đổi

của con người Trong luồng di cư, nhóm những người lao động từ các tỉnh tới thành phố thể hiện

rõ nét tính linh hoạt này

Trang 7

n

Người nghèo nhập cư thường thuộc khu vực phi chính thức và công nhân nhập cư có

nguy cơ rơi vào nghèo cao hơn các nhóm khác Các nhóm nhập cư dưới dạng tạm trú tại các

thành phố lớn rất đa dạng, có thể phân thành 3 nhóm chính: (i) nhóm lao động ở khu vực phi

chính thức; (ii) nhóm lao động ở khu vực chính thức, gồm công nhân nhập cư học vấn chủ yếu từ

tốt nghiệp phổ thông trở xuống (làm trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động), và những

người có trình độ từ cao đẳng trở lên (làm cán bộ viên chức tại các cơ quan, doanh nghiệp); và

(iii) nhóm học sinh - sinh viên ngoại tỉnh Nhóm lao động nhập cư ở khu vực phi chính thức và

nhóm công nhân nhập cư - là những nhóm có nhiều nguy cơ rơi vào nghèo

TP.HCM đã tính đến một số hộ tạm trú dài hạn trên 1 năm, có nhà ở ổn định khi bình xét

nghèo Chẳng hạn, trong tổng số 270 hộ nghèo cuối năm 2009 tại Phường 6 có 17 hộ tạm trú dài

hạn Ngay cả khi được xét đến trong rà soát nghèo (như trong qui định tổng điều tra hộ nghèo

cuối năm 2010), cũng sẽ có ít người nhập cư thuộc diện nghèo nếu thuần túy tính theo chuẩn

nghèo thu nhập Tuy nhiên, tình trạng nghèo của người nhập cư sẽ trầm trọng hơn nhiều khi nhìn

dưới góc độ “nghèo đa chiều” Các yếu tố chính của nghèo đa chiều của nhóm này thường là:

 ƒ Chi phí cuộc sống cao ở đô thị

 ƒ Việc làm bấp bênh, rủi ro thường trực

 ƒ Thiếu hòa nhập xã hội (bất lợi, thiệt thòi trong các mối quan hệ xã hội)

 ƒ Hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công

 ƒ Môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an toàn

Rõ rằng, cùng là hộ nghèo, giữa những hộ nghèo tại chỗ và hộ nghèo nhập cư có sự khác

biệt khá rõ Điều này dẫn tới việc thỏa mãn nhu cầu của họ cũng sẽ hoàn toàn khác nhau Nó đòi

hỏi sự khảo sát đánh giá nhu cầu và năng lực của các nhóm cư dân để đưa ra các chính sách phù

hợp cho họ

Trang 8

n

8

Vấn đề nhà ở cho người nghèo còn liên quan tới một nhóm cư dân đô thị khác, nảy sinh từ

chính công cuộc kiến thiết chỉnh trang đô thị Đó là nhóm hộ dân phải chịu cảnh tái định cư Dưới

đây là một ví dụ khác phản ánh tình hình này

3 Vấn đề nhà ở cho người tái định cư

Trong sự cơ động về nơi ở và loại hình nhà ở lại có nhiều phương thức thực hiện sự cơ

động này, tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, tâm lý và đặc biệt, liên quan đến các chính

sách, các quyết định quản lý và hành chính Có những sự thay đổi chỗ ở là do chính người dân

quyết định (một cách tự nguyện) Song cũng có những sự di chuyển, thực hiện cơ động nơi ở một

cách không tự nguyện, mà là dưới sức ép (bắt buộc) của các quyết định quản lý, hành chính ở đô

thị Tái định cư có thể xếp vào loại cơ động xã hội về nơi ở mang tính bắt buộc này (Trịnh Duy

Luân 2009)

Một số cuộc điều tra thực trạng đời sống của các hộ dân sau tái định cư cho thấy có

không ít vấn đề đặt ra mà để giải quyết thì vai trò của công tác xã hội và công tác phát triển cộng

đồng trong quá trình tái định cư cho người dân là rất quan trọng Nó giúp nâng cao nhận thức của

người dân về cuộc sống hậu tái định cư thông qua việc hướng dẫn, cung cấp thông tin về môi

trường sống mới, để họ làm quen dần với cuộc sống tại nơi tái định cư Tuy nhiên, hiện nay,

chúng ta vẫn thiếu hẳn một đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên lo về những vấn đề hậu tái

định cư này Vì thế, người dân và các hội đoàn khác chưa phát huy được tiềm lực để tham gia

vào quá trình tái định cư, cũng như bảo đảm sự thích ứng và hội nhập của người dân tái định cư

tại địa điểm mới(Micheal Leaf 1993, Trịnh Duy Luân 2009, )

Ở thành phố Hồ Chí Minh, dự án chỉnh trang đô thị cải tạo kênh Nhiêu Lộc –Thị Nghè là

một trong những ví dụ Nhìn ở cấp độ của cuộc sống toàn đô thị TP HCM, dự án cải tạo con

kênh này đang đem lại một dòng chảy trong sạch, dài 10 km, chạy ngang qua thành phố; đó cũng

là đường giao thông và kênh tiêu thoát nước cho một lưu vực chiếm tới 27,7% diện tích nội

thành cũ Con kênh được cải tạo, nâng cấp đã góp phần hình thành cảnh quan đô thị mới, tương

Trang 9

n

ứng với thành phố đổi mới và phát triển Tuy nhiên, một cuộc khảo sát đánh giá về đời sống của

các hộ dân cư hậu tái định cư của viện khoa học xã hội vùng Nam bộ cho thấy hàng loạt vấn đề

xã hội đã nảy sinh từ việc thực hiện dự án này Số bà con thuộc diện bị giải tỏa nhà đất và chọn

con đường tái định cư tại các căn hộ chung cư đã gặp khá nhiều vấn đề trong cuộc sống mới của

họ Số bà con nhận tiền đền bù rồi “tùy nghi di tản” lại càng gặp nhiều khó khăn hơn.Theo cuộc

điều tra, 85,5% số hộ bị giải tỏa (được khảo sát) đã có ít nhất một người phải đi sống ở nơi khác

chứ không cùng lên căn hộ chung cư với cả gia đình Trong số những người phải ra đi đó có

26,3% là phụ nữ, 21,4% là trẻ em (Nguyễn Quang Vinh, 2009)

Ngoài một số về sống tại các căn hộ khác trong hệ thống chung cư của Dự án, số di

chuyển ra khỏi các khu vực chung cư của Dự án đã phải lựa chọn các hình thức tự lo tái định cư

như: Ở nhà bà con còn sinh sống ven kênh(13,8%); Mua nhà (hoặc căn hộ) khác trong nội thành

(10,6%);Thuê nhà trong nội thành(19,8%);Ở nhờ nhà khác trong nội thành(17,1%);Về sống ở

nông thôn ngoại thành(16,6%); Cách khác(22,1%)

Những hộ thuộc diện giải tỏa đã lên chung cư tái định cư giành cho họ (186 hộ khảo sát)

có 38,2% có khả năng mua căn hộ thao cách trả đứt một lần; 59,1% mua trả góp; còn lại 2,7% là

các hộ được Nhà nước tạm cho thuê căn hộ, hoặc đang ở nhờ các gia đình có căn hộ mới Hơn

một nửa trong số hộ đó (56,4%) mua trả góp phải trả tiền đợt một cao hơn tổng số tiền mà hộ đó

được đền bù Do đó, nhiều hộ phải đi vay nợ để đủ trả tiền đợt đầu Sau đó, họ phải vừa lo trả nợ,

vừa phải lo gom tiền trả góp định kỳ, trong khi không ít hộ phải trải qua một giai đoạn khó khăn

về việc làm và thu nhập do di chuyển để tái định cư.Cũng theo kết quả điều tra thì 26,9% số hộ

tái định cư tại chung cư thực sự đã có vay nợ nhằm đắp cho đủ tiền để mua căn hộ theo chế độ

trả một lần hoặc trả góp Đối với nhóm dân cư vốn đã nghèo, thì đây là một khó khăn lâu dài

cho họ Theo Nguyễn Quang Vinh, (2009), đó cũng chính là một trong những lý do hàng đầu

khiến cho một bộ phận trong số họ phải sớm rời bỏ cuộc sống ở chung cư bằng cách sang

nhượng lại căn hộ cho người khác để ra đi

Trang 10

n

10

Bên cạnh đó, một hệ lụy khác nữa là những thay đổi bất lợi về việc làm và về các điều

kiện tạo thu nhập Nguồn sống của nhóm dân cư chịu tác động trực tiếp chủ yếu dựa vào các hoạt

động trong khu vực kinh tế phi chính thức và gắn chặt với môi trường sống quen thuộc, với các

mạng lưới quan hệ được xây dựng qua nhiều năm tháng Vì vậy, việc buộc phải tách rời khỏi

môi trường sống và những quan hệ quen thuộc đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sống của họ

Lý do chủ yếu là địa bàn cư trú nhà ở cao tầng, xa các nơi cư trú cũ, đã gây trở ngại cho

người lao động tiếp tục các công việc buôn thúng bán bưng ở môi trường quen thuộcKhi chuyển

về nơi ở mới, khó khăn về việc làm phần lớn là do mối quen biết mới chưa kịp thiết lập; mặt

khác, các chủ cũ, người quen cũ cũng ngại tìm tới họ để kêu đi làm (vì xa xôi), trong lúc nguồn

cung cấp lao động trong khu vực phi chính thức này lại dồi dào, có nhiều người khác sẵn sàng

thế vào chỗ trống

Ngoài ra, cũng theo Nguyễn Quang Vinh, (2009), số hộ dân nhận tiền đền bù giải tỏa rồi tự

đi tìm nơi tái định cư lại gặp những khó khăn và rủi ro theo những cách khác nhau, tùy thuộc vào kinh

tế của họ Những hộ có thể mua nhà là những hộ có mức đền bù tương đối khá (vì trước đó, họ có

đất và nhà có giá trị khá hơn so với nhiều bà con cùng ở cộng đồng ven kênh) Họ có thể mua

nhà ở những khu lao động bình dân hoặc ở những quận ven, nhưng vẫn thuộc phạm vi nội

thành.Nhưng, các hộ có được ít tiền đền bù thì phải thuê nhà, thậm chí phải thuê nhà ngay tại

những khu vực lụp xụp sắp giải tỏa

Điều này cho thấy vai trò của công tác xã hội và công tác phát triển cộng đồng trong quá

trình tái định cư cho người dân đô thị vô cùng quan trọng Nhà nước cần có những chính sách

“hậu tái định cư” với các chương trình hỗ trợ xã hội dựa trên việc đánh giá nhu cầu cho các hộ

tái định cư, nhất là các hộ nghèo, các hộ thuộc nhóm dễ bị tổn thương nhằm giúp họ dần tự khắc

phục bối cảnh của mình Cách tham gia có tính cộng đồng này có thể đảm bảo chắc chắn rằng các

chương trình phát triển chỗ ở sẽ thực sự gắn với các nhu cầu và tiềm năng về vật chất kinh tế và xã

hội của các đối tượng cộng đồng dân cư có thu nhập thấp để huy động các tiềm năng này làm

nguồn lực hùng hậu bổ sung cho quá trình phát triển các chổ ở vừa sức đạt tới và chấp nhận được

Trang 11

n

4 Chính sách nhà ở cho người nghèo

Nhà ở cho người thu nhập thấp đang là vấn đề thời sự vì trên thực tế hiện nay kết quả của

các chương trình nhà ở không đến được với người có thu nhập thấp

Điều 25 của Tuyên ngôn nhân quyền ghi nhận: “Mọi người đều có quyền có được một

cuộc sống đầy đủ về sức khỏe và hạnh phúc, của chính mình và của gia đình mình, bao gồm thực

phẩm, quần áo và nơi trú ngụ” Và Tuyên bố Vancouver 1976 về định cư con người cho rằng,

“Chỗ ở và các dịch vụ đầy đủ là quyền cơ bản của con người, chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo

tất cả mọi người đều có được điều đó, bắt đầu bằng những hỗ trợ trực tiếp cho những người ít

cơ hội nhất, thông qua những chương trình hướng dẫn hoạt động tự vươn lên và hành động cộng

đồng” (trích theo nhà ở cho người nghèo ở Châu Á, 2010)

Theo tổng kết của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), có 7 trụ cột cho chính sách nhà ở:

(i) Cải thiện quyền sở hữu (ii) Phát triển tín dụng bất động sản (iii) Triển khai hệ thống hỗ trợ có

định hướng tốt (iv) Mở rộng nguồn cung cấp đất đô thị (v)Cung cấp khung pháp lý cho việc phát

triển đất và bất động sản (vi) Làm nổi bật tính cạnh tranh của nghành kinh doanh bất động sản (vii)

Phát triển khung thể chế cho chính sách nhà ở cấp quốc gia (trích theo Nguyễn Đăng Sơn, 2014)

Còn theo UNESCAP và UN-HABITAT, để giải quyết tốt vấn đề nhà ở cho người nghèo,

cần thực hiện 7 chiến lược sau:

Chiến lược 1: Đầu tư xây dựng quan hệ đối tác Công việc này vượt quá khả năng của

bất kỳ một nhóm nào để giải quyết một mình - bản thân những người nghèo đô thị, chính phủ

hay khu vực tư nhân đều không thể tự làm điều đó Tuy nhiên, để quan hệ đối tác có hiệu quả,

thì các tổ chức của người nghèo đô thị phải đóng vai trò các đối tác trung tâm

Chiến lược 2: Cung cấp dịch vụ cơ bản thông qua quan hệ đối tác Trách nhiệm phát

triển cơ sở hạ tầng cơ bản trong cộng đồng nghèo có thể được chia sẻ bởi chính phủ, cộng đồng

Trang 12

n

12

và hộ gia đình cá thể, trong khi cơ sở hạ tầng xương sống bên ngoài được phát triển bởi các

chính quyền địa phương

Chiến lược 3: Xây dựng quỹ tiết kiệm và tín dụng cho cộng đồng người nghèo Hầu hết

người nghèo đô thị không dám mơ đến các khoản vay chính thức từ ngân hàng Do đó rất nhiều

tổ chức cộng đồng và tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ họ thành lập các nhóm tiết kiệm và tín

dụng cộng đồng

Chiến lược 4: Cộng đồng dẫn dắt quá trình Khi được tập hợp lại thành các tổ chức

mạnh mẽ dựa trên cộng đồng, người nghèo đô thị có thể hoạt động rất hiệu quả để cải thiện nhà

ở và khu định cư của họ, theo những cách đảm bảo tất cả các hộ gia đình trong khu định cư đều

có điều kiện sống tốt hơn

Chiến lược 5: Đơn giản hóa các quy tắc và quy định Nếu chính phủ nghiêm túc trong

việc tạo ra môi trường thuận lợi cho người nghèo giải quyết vấn đề của chính họ, chính phủ

cần điều chỉnh và làm “mềm” hóa những quy tắc và quy định này, để chúng linh hoạt hơn và

thân thiện hơn với người nghèo

Chiến lược 6: Làm việc dựa trên cơ sở các thông tin Thu thập từ địa phương Một trong

những vấn đề lớn nhất của cơ cấu quản trị tập trung là các quyết định về những gì xảy ra trong

các thành phố và thị trấn lại không được đưa ra bởi những người sống và làm việc ở đó, mà bởi

chính quyền trung ương hoặc bộ, ngành ở các thủ đô hành chính xa xôi Do đó chương trình

phát triển thường xung đột với các nhu cầu và nguyện vọng địa phương của các thành phố và

thị xã

Chiến lược 7: Tạo không gian đối thoại Phương pháp tiếp cận này bao gồm các chiến

lược phát triển thành phố, diễn đàn đô thị và tham vấn Đặc trưng chung của các phương pháp

tiếp cận này là chúng dựa trên một quá trình nghiên cứu, thảo luận, lập kế hoạch và thực hiện

rộng rãi có sự tham gia của nhiều bên

Trang 13

n

Về mặt chính sách, nước ta đã có“Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020 và tầm nhìn

tới năm 2030” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 30/11/2011 Luật đất đai 2003, Luật

nhà ở 2005 và Luật kimh doanh BĐS 2006 và các nghị định hướng dẫn thi hành

Nghị định 71/NĐ- CP ngày 23/6/2010 quy định hướng dẫn thị hành Luật Nhà ở, thay thế

cho NĐ/2006/NĐ-CP đã thống nhất: nhà ở xã hội cũng là nhà ở cho người thu nhập thấp chứ

không tách ra như trước đây Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn rất nhiều bất cập làm cho các chủ

trương của chính phủ vẫn chưa đi vào cuộc sống và chưa thực hiện được hiệu quả

Các Quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt định hướng phát triển nhà chủ

yếu tập trung vào các yếu tố về kỹ thuật, về kiến trúc, xây dựng, quy hoạch và những yếu tố liên

quan tới pháp lý cũng như việc quản lý thị trường bất động sản Ngoài ra, quyết định cũng yếu

cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế

để tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân được vay vốn phục vụ nhu cầu cải thiện chỗ ở Tuy

nhiên, văn bản này lại không đề cập tới việc cần phải lưu ý tới những khía cạnh xã hội của vấn đề,

trong đó có việc huy động sự tham gia của người dân trong công tác phát triển nhà ở tại các khu

dân cư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Micheal Leaf 1993, Chính sách nhà ở và các quá trình sản xuất nhà ở Tạp chí Xã hội

học số 3 (43) năm 1993

Trịnh Duy Luân 2009 Tái định cư trong phát triển đô thị và một số vấn đề xã hội Tạp

chí Xã hội học số 3 (107)

Trần Hữu Quang Cư dân đô thị và không gian đô thị trong tiến trình đô thị hóa ở

TPHCM: Thực trạng và dự báo Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu Viện Nghiên cứu

Phát triển TPHCM Tháng 2010

 Nguyễn Quang Vinh (2001), “Một vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo-chỉnh

trang đô thị: giảm tổn thương cho nhóm dân cư nghèo nhất”, Tạp chí Xã hội học, số 1

Trang 14

n

14

 Oxfam và Actionaid, Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp tham gia 2011

 Nguyễn Đăng Sơn, Phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người thu nhập thấp, 2014

(http://www.constructiondpt.hochiminhcity.gov.vn/)

Trang 15

n

THE LONG MARCH OF REFUGEES – POSSIBILITIES AND REALITIES OF

MIGRANT SELF-ORGANIZATION IN GERMANY BIỂU TÌNH LỚN CỦA NHỮNG NGƯỜI TỴ NẠN – KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC CỦA CUỘC DI DÂN TỰ TỔ CHỨC Ở ĐỨC

Judith Vey

Viện Phản biện và nghiên cứu trào lưu xã hội – Đại học kỹ thuật, Berlin

Giới thiệu tác giả

Tiến sĩ Judith Vey là giảng viên của Viện Phản biện và nghiên cứu trào lưu xã hội – Đại

học kỹ thuận Berlin Hiện nay, bà đang công tác trong lĩnh vực quan hệ công chúng, thuộc tổ

chức Bioenergie-Region Ludwigsfelde Năm 2013, bà nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Goethe,

Frankfurt (Đức), chuyên ngành Xã hội học Giai đoạn 2008-2013, bà là thành viên thuộc khuôn

khổ dự án giữa Quỹ Rosa Luxemburg Stiftung và Trường Đại học Goethe

Abstract

In 2012, a group of refugees started a protest march from Würzburg in Southern Germany

to the capital of Germany, Berlin Their aim was to engage against restrictive asylum policy in

Germany, e.g the „Residenzpflicht“, a law that restricts the freedom of movement of asylum

seekers Having arrived in Berlin, they occupied public spaces and built up protest camps in

order to be visible in the public sphere Among these still enduring protests, there are also

several other political and social activities that try to improve the situation of asylum seekers

and undocumented migrants in Germany, e.g the organization of lectures and football matches

in asylum seekers homes or the development of an infrastructure providing medical health care

for the migrants In this paper, these activities of self-organization are presented and discussed –

in terms of a long march of refugees in Germany towards social and political equality

Trang 16

n

16 Biểu tình lớn của những người tỵ nạn – Khả năng và hiện thực của cuộc di dân tự tổ chức ở Đức

Trang 17

n

Dân tỵ nạn đến Đức từ đâu?

Trang 18

n

18

Quá trình áp dụng cứu trợ ở Đức

Việc cứu trợ ở Đức

Lý do chính trị (theo Hiến pháp Đức và Công ước Geneva về người tỵ nạn)

Những người tỵ nạn ở Đức có quyền được hưởng nhà ở, thức ăn và các dịch vụ xã hội cơ bản

trong khi đợi xét hồ sơ

Các cộng đồng ở Đức có trách nhiệm về việc cứu trợ

Trang 19

n

Quyết định về việc áp dụng cứu trợ

26% chấp nhận

38% đề nghị trục xuất

36% đề nghị trục xuất vì phạm quy định

Thực tế xã hội của những người tỵ nạn ở Đức

Bị loại trừ khỏi xã hội vì các lý do

• Không có giấy phép làm việc lâu dài hoặc tạm thời)

• "nghĩa vụ thường trú"

Trang 20

n

20

• Không có tiền hoặc rất ít tiền

• Những quy định không có ngoại lệ về các quyền (chẳng hạn quyền học tập) Nói chung, các

quy định này là tùy tiện

• Điều kiện sống bấp bênh (thủ tục xem xét giải quyết có thể kéo dài hàng năm)

• Sự thù ghét của các nhà chức trách

• Nhà ở tồi tàn

Trang 21

n

Các khu Khu tập thể “rộng rãi”

Trang 22

n

22

Khả năng hỗ trợ và tự tổ chức: Mua sắm không phân biệt chủng tộc

Trong một số cộng đồng: Thay vì dùng tiền mặt, những người tỵ nạn dùng phiếu mua hàng để

mua đồ

Nhóm hỗ trợ tổ chức mua sắm không phân biệt chủng tộc 1 tháng /lần

Người dân mua hàng bằng phiếu và đưa tiền cho người tỵ nạn

Trang 23

n

Khả năng hỗ trợ và tự tổ chức: Tỵ nạn Tháng Ba 2012

Cuộc tuần hành phản đối, đi từ miền Nam nước Đức đến Berlin (600 km)

Dựng lều phản đối ở Berlin

Từ đó trở đi: Vì thiếu đói nên đình công, phản kháng, biểu tình, nằm vạ ở Berlin và trên toàn

nước Đức

Đề nghị: xóa bỏ hình thức “nghĩa vụ thường trú", trục xuất và “ở rộng” theo kiểu sống tập thể

trong lều

Trang 24

n

24

Một số kết quả đạt được

Nâng cao nhận thức xã hội và chính trị đối với tình trạng của người tỵ nạn ở Đức

Liên tục nằm vạ ở các vị trí trung tâm từ năm 2012

Kết quả bước đầu: Các áp dụng cứu trợ đã được xem xét lại

Xây dựng mạng lưới hỗ trợ ở nhiều thành phố

Về phía những người tỵ nạn: Tăng thêm quyền lực

Trang 25

n

XỬ LÝ VẤN ĐỀ DI TRÚ TRONG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI QUA VÍ DỤ CHĂM SÓC TÂM LÝ VÀ NHÀ Ở XÃ HỘI

Daniela Glagla

Chuyên gia tư vấn cho Hội đồng hạt Rhineland (Đức)

Giới thiệu tác giả

Bà Daniela Glagla hiện đang công tác tại Đại học Bonn (Cộng Hòa Liên bang Đức) Bà

là thạc sĩ chuyên ngành Khoa học chính trị từ năm 2008 Năm 2009, bà từng là trợ lý dự án của

quỹ Rosa Luxemburg Stiftung tại Bỉ Từ đó đến nay bà đảm nhiệm vị trí chuyên gia tư vấn cho

Hội đồng bang Rhineland (Đức)

Abstract

Over the last years the number of migrants increased and currently about 20% of the

population living in Germany are people with an immigration background According to the

German Statistics Office these figures include all those people who have migrated to Germany as

well as those born in Germany with at least one immigrant parent This should be considered by

social protection systems and by the public health sector

Almost one-third of patients of the psychiatric LVR-hospital in Cologne are immigrants

For the health service it is still a big challenge to meet the needs of immigrants and to treat them

in an optimal way Even more than in other medical fields the psychiatric treatment is based on

the successful cooperation between the patient and the therapist The LVR-hospital-alliance has

implemented different methods to improve the accessibility of mental health services to

immigrants

Housing is an important topical issue in politics of major cities in Germany and many

initiatives arised that claim more public engagement in social housing Housing space is short,

Trang 26

n

26

especially house-hunting for immigrants became difficult Concepts of cities like Hamburg or

Düsseldorf are insufficient to meet the needs and don´t consider the situation of immigrants

Compared to other European countries the ethnic segregation in German cities is low

and decreased in the last years Quarters with a high percentage of immigrants are usually

multiethnic Nevertheless there are groups of immigrants living more segregated then others In

the Ruhr-region segregation is more problematic than in the growing cities Since it is

unpromising to achieve a balanced mix of the resident population, political concepts are often

targeted on the prevention of further segregation and on the upgrading of disadvantaged

quarters

1 Tối thiểu 20% những người đang sống ở Đức liên quan đến nguồn gốc nhập cư

Hiện tại có khoảng 7 triệu ngoại kiều và 8,6 triệu người có quốc tịch Đức nhưng có nguồn gốc

gia đình nhập cư đang sống ở Đức Như vậy, 20% những người đang sống ở Đức liên quan đến

nguồn gốc nhập cư (nếu chỉ xét trẻ em dưới 5 tuổi thì con số đó là 1/3)

Ở bang NRW tỉ lệ đó còn cao hơn:

4,2 triệu người ở bang Nordrhein-Westfalen liên quan đến nguồn gốc nhập cư, tương ứng với

23,5% Trên 40% trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, nhưng chỉ 10,7% người trên 65 tuổi có mặt trong diện

này

Thống kê về nhập cư và hòa nhập sử dụng những chỉ số quan trọng nhất mà 16 bang đã

thống nhất trong Hội nghị bộ trưởng về vấn đề hòa nhập (IntMK) Trọng tâm là giáo dục và việc

làm

Hòa nhập là tham gia một cách công bằng và có cơ hội bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã

hội, trong đó có giáo dục, việc làm, y tế, tham gia xã hội, quyền lợi, nhà ở, mạng lưới xã hội và

nguồn vật chất.“ (Tài liệu Chính phủ)

Chính phủ: Nhóm người có nguồn gốc nhập cư bao gồm

- Ngoại kiều nhập cư (thế hệ 1)

Trang 27

n

- Ngoại kiều sinh ra tại Đức (thế hệ 2)

- Người nhập quốc tịch („từng là ngoại kiều“)

- Người Đức sinh ra ở nước ngoài rồi nhập cư vào Đức (thế hệ 1) và con cái của họ

Tổng quan người nhập cư ở Đức

Thập kỷ 50-60: Làn sóng hàng triệu người bị đẩy khỏi quê hương ngày xưa

1955 hiệp định nhận nhân công từ Ý

1960 thêm Tây Ban Nha và Hy Lạp

1961 thêm Thổ Nhĩ Kỳ

1973 chấm dứt nhận nhân công: con số nhân công nước ngoài chỉ giảm ngắn hạn, cộng đồng

ngoại kiều ở thời điểm 1978 đã vượt con số của 1973 và ngày càng tăng, lý do: song song với

chấm dứt nhận nhân công, Đức cho phép đoàn tụ gia đình

2005: Luật nhập cư mới có hiệu lực, đơn giản hóa quyền cư trú cho người nhập cư trình

độ cao

2 Điều kiện nhập cư đã thúc đẩy xuất hiện bệnh tật, và nguồn gốc nhập cư hoàn toàn

không được chú trọng thấu đáo trong hệ thống y tế Đức

Mức rủi ro sa vào khủng hoảng tâm lý hoặc mắc bệnh tâm lý phụ thuộc vào các trải nghiệm ở

quê nhà, điều kiện khi rời bỏ quê hương và sự thay đổi khi đến một đất nước mới, cũng như các

điều kiện hòa nhập vào xã hội mới hay bảo tồn bản sắc văn hóa riêng

Người có nguồn gốc nhập cư ở Đức thường bị bệnh tâm lý nhiều hơn con số trung bình ở Đức rõ

rệt Nhiều khảo cứu cho thấy, sự hòa nhập và xã hội ở mức thấp khiến bệnh tâm lý dễ phát sinh

hơn

Các nhân tố rủi ro: thất nghiệp, cô đơn, nhớ nhà, ít học, rào cản ngôn ngữ, điều kiện nhà ở không

tốt Con số mất khả năng lao động và về hưu sớm cao hơn con số bình quân trong người Đức

Vấn đề:

 Ngày trước, người nhập cư khỏe mạnh hơn nhiều Đó là tiêu chí khám sức khỏe để đi làm

nước ngoài, do đó họ không có ý thức về nhu cầu y tế

Trang 28

n

28

 Tỉ lệ nguy cơ bị nghèo của người nhập cư cao gấp đôi so với những người khá Con số

này trong giai đoạn 1998 đến 2003 tăng từ 19,6% lên 24%, so sánh trong năm 2003 cho

thấy nó cao hơn tỉ lệ đó ở người Đức từ 6 đến 12% (18% ở Đông Đức cũ và 12,4% ở Tây

Đức cũ)

 Những người thu nhập thấp hoặc ít đào tạo hay có nghề thấp kém thường dễ bị ốm hơn

và chết nhiều hơn (tính theo tỉ lệ chết mỗi năm trong số 1.000 người) Lý do là các nhân

tố rủi ro như làm ca kíp, thất nghiệp, số người hút thuốc nhiều Tóm lại hoàn cảnh xã hội

rất quan trọng đối với sức khỏe

 Cho đến nay vẫn tồn tại các rào cản nặng nề đối với người có gốc nhập cư khi tiếp cận

dịch vụ y tế Công tác điều trị bị cản trở bởi rào cản ngôn ngữ và văn hóa

3 Ngành tâm lý học phụ thuộc nhiều vào sự thấu hiểu ngôn ngữ và văn hóa giữa

người bệnh và người điều trị, đó là thách thức lớn đối với bệnh viện, làm sao nắm bắt nhu

cầu của người bệnh gốc nhập cư Rào cản ngồn ngữ có thể đưa đến chẩn đoán sai, dùng

thuốc sai và các vấn đề chung khác

4 Một nhân viên chuyên trách về vấn đề hòa nhập có thể hỗ trợ quá trình mang tính

nhạy cảm về văn hóa, nhiệm vụ của họ phụ thuộc vào hoàn cảnh đặc thù ở bệnh

viện

Hiệp hội bang Rheinland (LVR) là cơ sở lớn nhất cung ứng cho bệnh nhân tâm lý và tâm

thần điều trị tại bệnh viện ở Nordrhein-Westfalen là bang đông dân nhất

Bệnh viện LVR ở Cologne, cũng là cơ sở đào tạo của ĐH Cologne, cung cấp dịch vụ cho

600.000 người dân Cologne Ban giám đốc đã tạo ra một cơ sở đáp ứng nhu cầu văn hóa nhạy

cảm: là bệnh viện tâm thần đầu tiên ở Đức có nhân viên phụ trách vấn đề hòa nhập với trình độ

thích ứng Để biết người đó có nhiệm vụ gì, phải xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù của bệnh viện,

cơ cấu bệnh nhân và trọng tâm dịch vụ, nhìn chung là:

- Đào tạo bổ sung và nâng cao cho nhân viên chuyên môn về kỹ năng liên văn hóa

- Thống kê nội bọ của bệnh viện nhằm nắm con số liên quan đến nguồn gốc nhập cư

Trang 29

n

- Trang mạng nội bộ với danh sách phiên dịch

- Danh sách nhân viên bệnh viện có ngoại ngữ

- Dịch tờ khai và thông tin ra ngôn ngữ cần thiết

- Cập nhật danh mục ngôn ngữ nội bộ

- Tư vấn cho ban giám đốc, cộng tác trong quy hoạch nhân sự

- Phát triển các tiêu chí chất lượng

- Danh mục dịch vụ ngoại vi và bổ sung

Những đặc điểm chất lượng đó khiến bệnh viện có sức cạnh tranh

Cả một số bệnh viện ở Munich và Giessen có kinh nghiệm tốt với nhân viên phụ trách

hoà nhập, tuy nhiên thành công của họ có là một phần cơ hữu trong cơ cấu cung ứng hay không

Tìm hiểu ở Cologne cho thấy bệnh viện được số người nhập cư sử dụng tương ứng với tỉ

lệ người nhập cư ở địa phương

Lấy ý kiến nội bộ: 69% nhân viên thường xuyên sử dụng mạng nội bộ của bệnh viện Một

nhóm đa nghề nội bộ tên là “Nhóm chất lượng hòa nhập” tạo ra các biện pháp cải thiện việc điều

trị người gốc nhập cư Có tư vấn liên văn hóa và giờ tiếp khách hằng tuần cho người gốc nhập

cư Danh sách ngoại ngữ nội bộ gồm 150 người với kiến thức từ 30 ngôn ngữ, điều này rất quan

trọng trong trường hợp khẩn cấp 78% nhân sự thấy danh sách đó rất hữu ích

Ngoài ra, nhân viên hòa nhập góp phần quyết định khi viết cuốn Hướng dẫn y tế cho

người nhập cư ở Cologne Các lớp học nâng cao, ví dụ lớp “Các sự hiểu lầm khi điều trị người

nhập cư do lý do văn hóa, ngôn ngữ và chủng tộc” Mỗi năm có nhiều hội nghị chuyên đề, luôn

bao gồm các chủ đề liên văn hóa Nhiều người đề nghị đưa các chủ đề đó vào tài liệu giảng dạy

nâng cao cho bác sĩ tâm lý và tâm thần

Mở rộng theo hướng liên văn hóa: điều chỉnh các cơ quan dịch vụ phổ thông cho hợp với nhu

cầu của một xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc và đa tôn giáo Tiền đề cần thiết là một chiến lược tổng

thể gồm các quá trình trung hạn và dài hạn nhằm phát triển tổ chức và nhân sự

5 Từ thập kỷ 50 đã bắt đầu một chính sách nhà ở tích cực, nhưng từ 1988 nhà ở xã hội ở

Đức mất hết ý nghĩa và có thể coi là thất bại

Trang 30

n

30

Nhà ở xây dựng đại trà ở CHDC Đức: Tồn tại song song hình thức nhà ở cho thuê, của

HTX xây nhà và khuyến khích nhà sở hữu tư nhân ở CHLB Đức Tình trạng thiếu đã đưa đến

một chính sách nhà ở tích cực với kết quả là Luật xây nhà ở I (1950) và II (1956)

Ban đầu các HTX đô thị là chủ thể quan trọng nhất, đóng vai trò chính sách đô thị và xã

hội Nhưng các chủ sở hữu tư nhân cũng hưởng lợi Từ 1965 có trợ cấp tiền nhà cho người thu

nhập thấp

Vấn đề:

Tiền trợ cấp và cơ hội giảm trừ thuế nhiều khi đã tạo ra thị trường xây nhà ở, nhà nước

không chỉ bao cấp tiền thuê nhà rẻ mà tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu Chính sách nhà ở chưa

bao giờ hướng đến điều tiết hay thậm chí hạn chế lợi nhuận kinh tế bất động sản, mà luôn bảo

đảm chúng Chuyện vô lý như ở Berlin Thập kỷ 60 và 70 người ta xây nhà xã hội, tiền vốn đóng

vào sẽ được lấy ra trong vòng 5 năm nhờ giảm trừ thuế Riêng từ 1990, ở Berlin chi 21 tỉ Euro

cho xây nhà xã hội, và giờ đây đó là của cải riêng trong túi chủ sở hữu và ngân hàng Bình

thường thì nhà mới xây do ngân hàng cấp tài chính trước; chủ sở hữu trả tín dụng trong vòng

25-30 năm Người cấp tài chính cũng muốn có lãi, do đó sau vài thập kỷ tổng chi phí sẽ lên gấp đôi

Cơ cấu tiền thuê nhà như vậy sẽ thúc đẩy chi phí cao cho xây dựng và cấp tài chính,

nhưng chỉ ràng buộc tiền nhà trong thời gian quá độ

Chính sách nhà ở từ thập kỷ 1980 có thể coi như sự rút quân từng bước của nhà nước Sự

thả nổi luật tiền nhà, bãi bỏ ràng buộc tiền nhà, bãi bỏ tính chất mang lợi cho xã hội và các

chương trình khác là sự mở cửa cho nhà đầu tư tư nhân, dần dần xóa các chương trình hỗ trợ từ

giữa thập kỷ 1990

1991: Ba triệu căn hộ chịu điều tiết của quy định xây nhà ở xã hội

2011: Chỉ còn 1,6 triệu Nhưng ngay phần còn lại cũng không mang tính xã hội nữa: tiền

nhà thường cao hơn ngoài “thị trường tự do” và cao hơn giới hạn tiền nhà được Sở Lao

động bao Sở xã hội trả thẳng tiền nhà đến chủ cho thuê, do đó ít ai phàn nàn về tình trạng

Trang 31

n

nhà cửa Liên bang và địa phương chi mỗi năm 14 tỉ Euro cho nhà ở, bảo đảm cho chủ

thuê nhà món hời ngất ngưỡng

Thường thì sau 30 năm là chấm dứt ràng buộc xã hội cho các căn hộ từng được hỗ trợ

tiền tỉ Cả nước một mỗi năm mất đi 100.000 căn hộ giá rẻ

Từ 2005, tiền hỗ trợ thuê nhà được trả thẳng cho chủ sở hữu nhà

2006: việc hỗ trợ nhà xã hội trao cho quyền lập pháp của bang

Hệ quả:

Nước Đức chủ yếu là nhà thuê Ở đô thị lớn, trên 70% gia đình ở nhà thuê Tiền nhà tăng

62% kể từ đầu thập kỷ 1990, nhưng thu nhập bình quân chỉ tăng 46% Nhà nghèo bị thiệt hại

nhất với thu nhập dưới 60% mức bình quân địa phương: họ chỉ có thể tìm đến 12% trong số các

căn hộ phù hợp với gia đình Ví dụ ở Munich, hầu như ít người thu nhập trung bình đủ tiền thuê

nhà

Nhiều quận ở đô thị lớn được tân trang để tăng giá thuê nhà Tăng giá thuê là một vấn đề

toàn xã hội Số người vô gia cư 2012: khoảng 280.000 người

Trung tâm đất nước không được phép biến thành khu nhà giàu, nội dung đăng trên báo

Süddeutsche ngày 5/8/2012 với đầu đề « Thị trường bất lực, mọi sự tồi tệ »

Phái tả ở Cologne phấn đấu vì 15% nhà xã hội (hiện là 10%, cả nước còn thấp hơn)

6 Sự tách rời sắc tộc bị che lấp bởi tách rời xã hội, người ta không được phép nhắm

mắt trước sự kỳ thị người nhập cư trong thị trường nhà ở

So với láng giềng châu Âu, sự tách rời sắc tộc ở Đức còn ít

Thập kỷ 60: công nhân nhập cư nhận nhà rẻ, gần nhà máy, hoặc nhà tu sửa nội đô Ở đây

xuất hiện cái gọi là “biệt khu nhập cư” Để đối phó với sự tập trung đó, từ 1975 đến 1977 một số

đô thị ngăn nhập tịch vào các quận nhất định

Chủ trương chính của chính phủ về ngoại kiều 1974: „Hòa nhập tạm thời

2/3 người nhập cư sống tại các quận thiệt thòi về xã hội

Trang 32

n

32

Khác biệt cơ bản về tình cảnh nhà ở so với người Đức, ví dụ ngoại kiều sống chặt chội

hơn 2005: 32,4% người sở tại trên 65 tuổi sống trong hộ độc thân, nhưng chỉ 28,3% người nhập

cư cùng lứa tuổi

Nhiều nghiên cứu xã hội học ở Berlin và vùng Ruhr cho thấy người ngoại quốc bị kỳ thị

có hệ thống khi đi tìm nhà

Thị trường nhà ở hiện tại đi ngược xu thế hòa nhập

Sự tách rời xã hội ở mức thấp là nhân tố ổn định quan trọng nhất

7 Cung cấp nhà ở là chủ đề thời sự, các hiệp hội người thuê nhà và sáng kiến địa

phương đòi nhà nước can thiệp mạnh hơn vào lĩnh vực này

Đòi hỏi:

- Bổ sung xây dựng nhà mới ở địa phương do dịch vụ công từ tiền thuế, tạo ra sở hữu công

- Xây nhà xã hội không nhất thiết là xây đại trà thành khu dân cư lớn

- Mua lại nhà sở hữu tư nhân

- Bảo đảm lượng nhà sở hữu công

- Quỹ đặc biệt của địa phương như Mô hình Salzburg: Tín dụng không từ ngân hàng tư

nhân mà từ Quỹ Salzburg chỉ lập ra với mục đích đó Họ cũng lấy lãi - nhưng tính lãi

theo dạng hỗ trợ nhà cho thuê hay tự sử dụng – chỉ 1 đến 2,5% cho cả thời gian vay

(thường là 30 năm) Chủ xây dựng trả lại cho quỹ sau 15 năm

8 Trong chính sách hòa nhập của địa phương, khía cạnh không gian xã hội vượt qua

khuôn khổ chuyên môn hẹp đóng vai trò quan trọng, vì nơi ở ảnh hưởng quyết định

đến quá trình hòa nhập hay tách rời

Còn thiếu chiến lược địa phương gắn kết nhu cầu và biện pháp ở các khu thiệt thòi với

tổng thể địa phương một cách hệ thống và chuyển các biện pháp hòa nhập không gian xã hội tốt

và khu vực cấp tài chính thông thường

Trang 33

n

Sự hòa nhập của người nhập cư được coi là rất quan trọng, có thể thấy trong nghiên cứu

tại 72% các địa phương 76,6% các đô thị lớn, 61,1% hạng trung và 31,7% hạng nhỏ có không

gian xã hội đặc biệt về mặt chính sách nhập cư

Hỗ trợ xây dựng đô thị phải đi kèm các biện pháp hòa nhập xã hội.TP và địa phương ở

bang NRW (81,3%) báo cáo về nhiều không gian xã hội với sự thiếu thốn về hòa nhập xã hội

Trong không gian xã hội, người ta hiểu chính sách hòa nhập là: quá trình cải thiện bền

vững các cơ may tham gia cho người thiệt thòi trong xã hội, nhưng không chỉ thế mà thôi (Özay

Vural, tổ chức điều phối hòa nhập của thành phố Mülheim a.d Ruhr, trả lời phỏng vấn điện thoại

ngày 19/4/2011)

Trang 34

n

34

VẤN ĐỀ NHÀ Ở ĐÔ THỊ CHO NGƯỜI NGHÈO

LÝ THUYẾT, THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN

Tiến sĩ Lê Thị Mai

Trường Đại học Tôn Đức Thắng

Giới thiệu tác giả

Tiến sĩ Lê Thị Mai sinh ngày 29-3-1952 hiện là Phó trưởng Khoa-Trưởng bộ môn Xã hội

học Khoa: Xã hội & Nhân văn Trường Đại học Tôn Đức Thắng Từng giữ chức vụ Phó Ban xã

hội Viện CNXHKH tại Viện Mác – Lenin và nghiên cứu viên, chuyên viên tại Trung tâm NC

Chính trị NXB Chính trị quốc gia – Sự Thật

Chuyên ngành: Lý thuyết Xã hội học kinh tế, Xã hội học lao động – công nghiệp Hướng

nghiên cứu của tiến sĩ Lê Thị Mai là về quan hệ lao động nơi làm việc: hội nhập xã hội, vốn xã

hội, và tác động xã hội của hành vi kinh tế: di cư lao động, lao động nữ, xung đột vai trò, phân

tầng xã hội,…

Là tác giả của Xã hội học kinh tế (NXB Khoa học xã hội NXB CTQG, 2013), Chợ quê

trong quá trình chuyển đổi (NXB Thế giới, 2004) và đồng tác giả của một số tác phẩm Xã hội

học lao động (NXB Khoa học xã hội, 2009), An Giang – Những mũi đột phá kinh tế trước đổi

mới (NXB Khoa học xã hội 2007)… Lịch sử kinh tế Việt Nam 1954 – 1975 (NXB Khoa học xã

hội, 2005)

Tóm tắt

Đô thị hóa và những vấn đề xã hội bao gồm vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo đã thu

hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì vấn đề

không đơn thuần chỉ là nhà ở cho người nghèo mà đi liền với nó là môi trường sống chung của

tất cả các nhóm xã hội đô thị Bài viết dựa trên dữ liệu của một số kết quả nghiên cứu đã thực

Trang 35

n

hiện về vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống tốt hơn và bền vững

Để đóng góp vào việc chia sẻ những thách thức và sáng kiến nhằm cải thiện môi trường sống,

chia sẻ những điểm tương đồng giữa các quốc gia đang phát triển và phát triển, nội dung bài

viết tập trung vào khía cạnh lý thuyết, thực tiễn và hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề đô thị hóa,

nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống bền vững của một số quốc gia Hy

vọng bài viết đóng góp vào việc chia sẻ tri thức, nâng cao nhận thức tạo nên sự thay đổi xã hội

bằng những giải pháp hữu ích trong phân tích thực tiễn và xây dựng chính sách

Từ khóa: Nhà ở đô thị, người nghèo, môi trường bền vững, khung lý thuyết, tiếp cận

nghiên cứu

Trang 36

n

36

URBAN HOUSING FOR THE POOR - OVERVIEW THEORY, PRACTICE AND

RESEARCH APPROACHES Abstract

Urbanization and its social problems, including the problem of urban housing for the

poor has attracted the attention of many researchers in both developed countries and developing

countries because of not being simply just housing for the poor, it is associated with habitat

around the whole society This paper focuses on the theoretical aspect, the research approach

and some research findings on the issue of urban housing for urban poor people towards a better

living environment and sustainability in a number of countries around the world Hopefully this

paper contributes to knowledge sharing, awareness to create social change by the useful solution

in practical analysis and policy development on urban housing for the poor

Keywords: Urbanization, urban housing, the poor, sustainable living environment

Giới thiệu

Nhà ở là một trong những nhu cầu cơ bản, quan trọng nhất của con người, có ảnh hưởng

rất nhiều đến sức khỏe con người và hạnh phúc Nhà ở thích hợp là điều cần thiết cho cuộc sống

tốt đẹp, là một yêu cầu quan trọng đối với lực lượng lao động có hiệu quả và sự hài lòng với đời

sống của cá nhân và cộng đồng ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực Chính vì vậy, nhà ở đô thị

cho người nghèo hướng đến môi trường sống bền vững trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều

nhà khoa học

Trang 37

n

Về phương pháp luận

Khi bàn đến khái niệm nhà ở, điều quan trọng nhất cần lưu ý rằng, nội hàm của khái niệm

nhà ở thường vượt lên trên chiều cạnh vật chất của nó Có một sự thống nhất chung, nhận định

rằng chất lượng sống trong các trung tâm đô thị phụ thuộc phần lớn vào hệ thống dịch vụ xã hội

bao gồm y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng đô thị Một cộng đồng thiếu nhà ở an toàn, phù hợp và

có đủ điều kiện để sống thực sự có thể cản trở năng suất lao động Chính vì vậy, có một mối

quan hệ phức tạp giữa điều kiện nhà ở với chất lượng giáo dục, khả năng chi trả cho việc chăm

sóc sức khỏe, mức độ thu nhập, hội nhập xã hội (Smith, 1990; Hauri, Parcel & Hauri, 2001;

Payne et.al, 2004; and Rinker 2008)

Nhà ở được định nghĩa không phải chỉ là nơi trú ẩn; Nhà ở bao gồm các tiện nghi và dịch

vụ xã hội khác trong một môi trường liên kết con người với các thiết chế xã hội xung quanh họ

Nó bao gồm tổng thể môi trường và cơ sở hạ tầng cung cấp sự thoải mái cho con người, nâng

cao sức khỏe và năng suất cũng như giúp họ có khả năng duy trì sự cân bằng tâm lý xã hội trong

môi trường nơi họ tìm thấy chính mình (Afolayan, 2007)

Để xác định tác động của điều kiện nhà ở đến hoạt động kinh tế của người lao động

nghèo khổ ở Nigeria (Adeniyi, 1985 tại Aluko, 2004), một nghiên cứu đã được tiến hành xem xét

điều kiện nhà ở của khu phố Makoko, Lagos, Nigeria với một khung phân tích các khái niệm

gồm những yếu tố dinh dưỡng, khả năng sinh sản, sức khỏe, giáo dục và việc làm/ thu nhập trong

mối quan hệ nhiều chiều giữa chúng (Y L Gambo: 2012)

Trang 38

n

38

Hình 1: Khung phân tích khái niệm (Y L Gambo: 2012)

Quan niệm về tiêu chuẩn nhà ở khác nhau giữa các quốc gia và trong cùng một quốc gia

do những sự khác nhau về khí hậu, văn hóa, mức độ đô thị hóa và phát triển kinh tế-xã hội ảnh

hưởng đến tiêu chuẩn nhà ở UNO (1969) cho rằng tiêu chuẩn nhà ở xuất phát từ trình độ văn

hoá của người dân Đồng thời cũng có lập luận cho rằng tiêu chuẩn về nhà ở nên kết hợp giữa

các đặc trưng truyền thống tốt nhất với trình độ phát triển kinh tế và tính hợp lý của kỹ thuật hiện

đại Trong nghiên cứu thành phố Benin, về mặt thực nghiệm, Onokerhoraye (1985) đã phân loại

tiêu chuẩn nhà ở Nigeria thành hai loại: thứ nhất, tiêu chuẩn về không gian, trong đó xác định

cường độ nhà ở về kích thước lô đất, số lượng tòa nhà trên một đơn vị diện tích đất và kích thước

nhà ở Thứ hai, liên quan đến tiêu chuẩn hoạt động, trong đó mô tả chất lượng môi trường

Từ nội hàm của khái niệm nhà ở nói chung như đã trình bày ở trên cho thấy, hầu hết các

công trình nghiên cứu sử dụng hướng tiếp cận cấu trúc chức năng khi nghiên cứu vấn đề nhà ở

Dinh dưỡng Khả năng sing sản

Việc làm/ thu nhập

Trang 39

n

Với cách tiếp cận này, nhà ở luôn được xem xét trong mối liên quan chặt chẽ với môi trường

sống xung quanh nó như một tổng thể, nhà ở và môi trường sống xung quanh với một hệ thống

dịch vụ, cơ sở hạ tầng đô thị,… có những chức năng riêng nhưng lại có mối liên kết, phụ thuộc

lẫn nhau để tạo nên một tổng thể đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các nhóm

xã hội trong cộng đồng đô thị

Nhóm nghiên cứu A O Coker et al (2007) sử dụng phương pháp APHA (gồm các tiêu

chuẩn nhà ở theo quy định của Hiệp hội Y tế công cộng Mỹ (APHA) vào năm 1945, năm 1946

và năm 1950) để đo lường chất lượng các đơn vị nhà ở và môi trường xung quanh ngôi nhà họ

đang ở Phương pháp này sử dụng một hệ thống điểm hạn chế chứ không phải là điểm tích cực,

có nghĩa là, điểm số của một điều kiện được đánh giá càng cao, thì tình trạng càng dưới chuẩn

bấy nhiêu A O Coker et al đã thiết kế hai loại công cụ để thu thập dữ liệu: (i) một bảng khảo sát

chất lượng nhà ở (HQSF) và (ii) một bảng khảo sát môi trường (ESF) HQSF được sử dụng để

đo lường chất lượng của các đơn vị nhà ở; ESF được sử dụng để đánh giá môi trường khu vực

lân cận HQSF gồm ba nội dung: cơ sở vật chất, bảo dưỡng và phòng làm nhà ở (Điểm số nhà ở

tối đa của bất kỳ ngôi nhà nào trong mẫu 600 ngôi nhà được khảo sát chia thành: cơ sở vật chất -

360, bảo trì - 120 và thuê - 120 (APHA, 1946)

Bảng công cụ HQSF thu được thông tin về những sự thiếu hụt cơ bản liên quan đến vấn

đề cấp nước, phương tiện xử lý nước thải, nhà vệ sinh, nhà tắm, cấp điện, cơ sở vật chất về thông

gió, an toàn, yếu tố nhạy cảm với thời tiết và số lượng người ở Nhà được phân thành năm nhóm:

Tốt (0-29); Chấp nhận được (30-59); gần đạt biên độ chuẩn/ Borderline (60-89); Không đạt tiêu

chuẩn (90-119); Không thích hợp (120 trở lên) (APHA, 1946)

Sáu hạng mục trong mỗi ngôi nhà được khảo sát bằng cách sử dụng công cụ ESF Điểm

số môi trường tối đa 368 (APHA, 1950) được phân bố trong số sáu hạng mục như sau:

Trang 40

n

40

Khu đất đông dân - 70; Diện tích đất không dùng để ở - 72; Nguy hại, phiền hà do hệ

thống giao thông vận tải - 64; Nguy hại, phiền hà do các nguyên nhân tự nhiên - 60; Tiện ích đầy

đủ và vệ sinh môi trường - 54; Cơ sở cộng đồng cơ bản ở mức trung bình - 48

Tương tự như vậy, các loại nhà được khảo sát đã được xác định bằng số điểm môi trường

như sau: Tốt (0-19); Chấp nhận được (20-39); gần đạt biên độ chuẩn/ Borderline (40-59); Không

đạt tiêu chuẩn (60-79); Không thích hợp (80 trở lên) (APHA, 1950)

Với mục đích nghiên cứu một cách hệ thống các yếu tố quyết định đến sự bùng nổ nhà ở

đô thị ở Trung Quốc trong giai đoạn 1995 - 2005, nhóm nghiên cứu đã thiết lập một khung phân

tích dựa trên các lý thuyết hiện có về nhà ở đô thị Sau đó, nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình thực

nghiệm, thông qua những chứng cứ thu được theo chuỗi thời gian và dữ liệu theo mặt cắt ngang

(Junhua Chen et al: 2010)

Mankiw và Weil (1989) là những tác giả đầu tiên hướng sự chú ý đến các mô hình kinh

tế của nhân khẩu học ảnh hưởng đến nhu cầu nhà ở và giá nhà ở Sử dụng dữ liệu từ cuộc Tổng

điều tra dân số cho các năm 1970 và 1980, Mankiw và Weil xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố

dân số và nhu cầu nhà ở Phân tích kinh tế vi mô này tập trung vào gia đình, cá nhân để kết luận

rằng nhu cầu nhà ở tăng mạnh đối với độ tuổi từ 20 và 30, và vẫn còn kéo dài sau 30 tuổi Các

biến số chính trong mô hình này là tuổi, thu nhập, và một số biến số hộ gia đình khác Kết luận

chính trong mô hình này là sự thay đổi về số lượng trẻ mới sinh dẫn đến những thay đổi lớn và

có thể dự đoán được về nhu cầu nhà ở Theo đó, nhu cầu nhà ở xuất hiện sẽ có một tác động

đáng kể đến giá nhà ở

Từ góc độ tiếp cận đô thị hóa, những nhà kinh tế đô thị, như Alonso (1964), Kain (1962)

Và Muth (1969), đã xây dựng mô hình bao gồm các yếu tố: phát triển đô thị và cung cấp nhà ở,

tập trung sâu vào sự tương tác giữa thị trường nhà ở và phát triển mở rộng đô thị Trong mô hình

di cư từ nơi này đến nơi khác, sự di chuyển các hộ gia đình được cho là phụ thuộc vào các yếu tố

như: cơ hội nhà ở và thị trường lao động ở nơi xuất phát (nơi ở hiện tại) và tại các khu vực điểm

Ngày đăng: 09/03/2016, 06:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khung phân tích khái niệm (Y. L. Gambo: 2012). - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 1 Khung phân tích khái niệm (Y. L. Gambo: 2012) (Trang 38)
Hình 1: Chung cư Đông Hưng 2 (chung cư nhà ở xã hội dành cho hộ thu nhập thấp) - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 1 Chung cư Đông Hưng 2 (chung cư nhà ở xã hội dành cho hộ thu nhập thấp) (Trang 56)
Bảng 4: Quy mô hộ gia đình - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4 Quy mô hộ gia đình (Trang 69)
Bảng 5: Điểm trung bình đánh giá về tình trạng môi trường sống khu dân cư - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 5 Điểm trung bình đánh giá về tình trạng môi trường sống khu dân cư (Trang 71)
Bảng 7: Giải pháp khắc phục tình trạng ngập lụt trong khu dân cư - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 7 Giải pháp khắc phục tình trạng ngập lụt trong khu dân cư (Trang 72)
Bảng 9: Mối quan hệ giữa tình trạng cư trú và diện tích nhà - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 9 Mối quan hệ giữa tình trạng cư trú và diện tích nhà (Trang 74)
Bảng 4.1 Khả năng chi trả nhà ở của hộ TNT theo 3 nhóm thu nhập thấp nhất của TPHCM - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.1 Khả năng chi trả nhà ở của hộ TNT theo 3 nhóm thu nhập thấp nhất của TPHCM (Trang 104)
Bảng 4.2 Khả năng chi trả nhà ở của hộ TNT theo kết quả khảo sát năm 2012 - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2 Khả năng chi trả nhà ở của hộ TNT theo kết quả khảo sát năm 2012 (Trang 105)
Bảng dưới đây cho thấy danh mục các văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển Nhà - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng d ưới đây cho thấy danh mục các văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển Nhà (Trang 143)
Bảng 1: Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến Nhà ở xã hội - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến Nhà ở xã hội (Trang 144)
Bảng 2: Những thay đổi về đối tượng thụ hưởng nhà ở xã hội và điều kiện tiếp cận - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2 Những thay đổi về đối tượng thụ hưởng nhà ở xã hội và điều kiện tiếp cận (Trang 151)
Bảng 3: Các chính sách khuyến khích chủ đầu tư nhà ở xã hội - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3 Các chính sách khuyến khích chủ đầu tư nhà ở xã hội (Trang 154)
Bảng 1. Tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức độ đô thị hóa - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 1. Tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức độ đô thị hóa (Trang 200)
Bảng 2. Tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức sống của gia đình - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2. Tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức sống của gia đình (Trang 208)
Bảng 3. Điều kiện ở và tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức sống của gia - NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. Điều kiện ở và tỷ lệ có các tiện nghi trong gia đình phân theo mức sống của gia (Trang 212)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w