TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊNKHOA SƯ PHẠM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn... Đắk
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA
TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC
Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn
Trang 2Đắk lắk, 5 /2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA
TÀO TUYẾTCẦN – CAO NGẠC
Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn
Người hướng dẫn ThS Phan Thị Tâm Thanh
Trang 3
Đắk lắk, 5 /2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS PhanThị Tâm Thanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thựchiện đề tài tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong Khoa Sư phạm,đặc biệt là quý thầy cô trong bộ môn Văn học trường Đại học Tây Nguyên, đãtận tình truyền đạt kiến thức trong bốn năm học tập và tạo điều kiện tốt nhấtcho tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, độngviên tôi trong suốt thời quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận
Do thời gian hạn hẹp và cũng là bước đầu làm quen với nghiên cứu đề tàikhoa học nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn
Đắk Lắk, tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
PHẦN THỨ BA:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
3.3 Nội dung nghiên cứu 6
3.4 Phương pháp nghiên cứu 6
3.4.1 Phương pháp thống kê – phân loại 6
3.4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp 6
3.4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu 6
PHẦN THỨ TƯ:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
4.1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT MINH – THANH 8
4.1.1 Vài nét về tác giả và tác phẩm 8
4.1.2 Đặc điểm của tiểu thuyết Minh – Thanh 11
4.1.3 Tiểu kết 13
4.2 BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” 14
4.2.1 Vấn đề bi kịch và bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học 14
4.2.2 Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 16
4.2.3 Tiểu kết 36
4.3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG “HỒNG LÂU MỘNG” 37
4.3.1 Ngoại hình, tính cách 37
4.3.2 Ngôn ngữ, hành động 39
Trang 64.3.3 Diễn biến tâm lí nhân vật 41
4.3.4 Tiểu kết 44
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 7PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lí do chọn đề tài
Văn học Minh – Thanh có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học TrungQuốc Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển văn học cổ điển,đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại của nền văn học TrungHoa đặc sắc
Ở Trung Quốc trước đây, tiểu thuyết bị xếp vào thể loại phi chính thống và bịcoi thường Đến thời Minh – Thanh, tiểu thuyết đã trở thành thể loại chủ đạo
Có thể kể tên những bộ tiểu thuyết nổi tiếng của giai đoạn này như: “Tam chíquốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, “Kim BìnhMai”, “Chuyện làng nho”, “Hồng lâu mộng”,…
“Hồng lâu mộng” là một trong bốn kiệt tác của văn học cổ điển Trung Quốc
Người Trung Hoa đương thời có câu rằng “Khai đàm bất thuyết Hồng lâu
mộng, độc tận thi diệc uổng nhiên!” (Chuyện trò mà không nói “Hồng lâu
mộng”, đọc lắm sách xưa cũng uổng công) “Hồng lâu mộng” đã góp phầnlàm cho đời sống văn học Trung Quốc nói riêng, văn học nhân loại nói chungtrở nên phong phú hơn
“Hồng lâu mộng” phê phán xã hội phong kiến Trung Hoa mục nát với những
giáo điều khắc nghiệt đã ăn sâu, bén rễ hàng ngàn năm trong đời sống củangười dân Trung Quốc Tác phẩm còn thể hiện tinh thần dân chủ, đòi tự doyêu đương, giải phóng cá tính; đòi bình đẳng và khát khao một lí tưởng sốngmới
Ảnh hưởng của “Hồng lâu mộng” không chỉ dừng lại trong phạm vi đất nướcTrung Hoa mà lan rộng ra trên văn đàn thế giới Tính đến nay trên thế giới đã cókhoảng 16 ngôn ngữ khác nhau dịch toàn văn hoặc trích dịch “Hồng lâu mộng”như: Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Italia, Hungari, Triều Tiên, Việt Nam,…
Là một giáo viên dạy văn tương lai với niềm đam mê dành cho văn học TrungQuốc, đặc biệt là tiểu thuyết Minh – Thanh, trong đó có tác phẩm “Hồng lâu
mộng”, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Bi kịch con người cá nhân trong
Trang 8tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần– Cao Ngạc” làm đề tài cho
khóa luận, với mong muốn khám phá, đào sâu thêm ý nghĩa và giá trị to lớncủa tác phẩm qua nghiên cứu bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm, để từ
đó có một cái nhìn toàn diện hơn về thiên tiểu thuyết được đánh giá là mộttrong “tứ đại kì thư” của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” để
hiểu thêm về tư tưởng của tác phẩm, thấy được sự kế thừa và đổi mới trongbút pháp tiểu thuyết của tác giả, góp phần khẳng định vị trí của “Hồng lâumộng” trong lịch sử phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc
Trang 9PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Từ khi mới ra đời, “Hồng lâu mộng” đã được bạn đọc hoan nghênh,
truyền bá rộng rãi và được đánh giá rất cao, tác phẩm nhanh chóng trở thànhmón ăn tinh thần của quần chúng “Hồng lâu mộng” không những có ảnhhưởng lớn trong xã hội mà còn gây hứng thú mạnh mẽ trong giới nghiên cứucủa nhiều thế hệ người Trung Quốc
Ngay từ đầu đã có hội nghiên cứu riêng về “Hồng lâu mộng” gọi làHồng học Các nhà Hồng học chia làm nhiều trường phái nhưng họ đều chorằng “Hồng lâu mộng” viết về một câu chuyện có thật vào đời Thanh Năm
1919, ở Trung Quốc diễn ra cuộc vận động Ngũ tứ, Hồng học chia ra thànhCựu Hồng học và Tân Hồng học Cựu Hồng học đi tìm những câu chuyện cóthực để chứng minh cho thiên truyện của Tào Tuyết Cần Tân Hồng học lại đinghiên cứu sự tương đồng giữa cuộc đời tác giả và tác phẩm Sau 1954, việcnghiên cứu “Hồng lâu mộng” có nhiều bước chuyển đáng kể Các bài viết dần
đi đến chỗ thống nhất, khẳng định giá trị tác phẩm về cả nội dung và nghệthuật
Nhiêu Đạo Khánh từ góc độ của “Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền” đãkhảo sát quan điểm nữ giới của Tào Tuyết Cần qua “Hồng lâu mộng” và qua
đó khẳng định tư tưởng tiến bộ của tác giả
Lý Quốc Tường trong “Luận quan niệm đạo đức hôn nhân của Hồng lâu
mộng” đã nhận định: “Vấn đề đạo đức hôn nhân và nữ giới là nội dung chủ
yếu và chiếm số trang tương đối của Hồng lâu mộng Dường như hết thảy nhân vật, sự kiện, tất cả việc miêu tả, yếu tố trữ tình đều liên quan đến vấn đề này, cụ thể là liên quan tới vấn đề tự do hôn nhân của phụ nữ, ái tình và địa
vị bình đẳng nam nữ”.
2.2 Ở Việt Nam, từ những năm đầu thế kỉ XX, khi nhắc đến tiểu thuyết cổ
điển Trung Quốc, ít ai không nhắc đến “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần–Cao Ngạc Nhìn chung, những nghiên cứu về “Hồng lâu mộng” ở Việt Nam
có nhiều điểm tương đồng với những nghiên cứu của Trung Quốc, nghĩa là
Trang 10các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu, khẳng định những đặc sắc về nộidung, nghệ thuật của tác phẩm Có thể kể đến các công trình chủ yếu sau:Lời giới thiệu “Hồng lâu mộng” của Phan Văn Các trong bộ tiểu thuyết
“Hồng lâu mộng” do Nxb Văn học xuất bản năm 1996 đã trình bày một sốvấn đề về tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc, quá trình sáng tác, văn bản vàlịch sử lưu truyền, sự ra đời và phát triển của Hồng học, khái quát nội dung vànghệ thuật của tác phẩm
“Lịch sử văn học Trung Quốc” (1995) của Lê Huy Tiêu và Lương Duy Thứ,
từ việc chỉ ra cuộc sống hưởng lạc của hai phủ Vinh – Ninh, tác giả khái quátnên bản chất của giai cấp thống trị phong kiến Giáo trình cũng chỉ ra ý nghĩa
xã hội rộng lớn của bi kịch tình yêu trong “Hồng lâu mộng”
“Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc” (2000) của Lương Duy Thứ đã
phân tích bản chất của giai cấp phong kiến, chỉ ra những mâu thuẫn nội tạicủa xã hội thượng lưu, những điều kiện tất yếu dẫn đến sự suy tàn của nhà họGiả Tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề bi kịch tình yêu và hôn nhân dưới chế
độ phong kiến
“Giáo trình văn học Trung Quốc” (1998) của Nguyễn Khắc Phi, Lương DuyThứ đã nhận định: “tài năng bậc thầy của ngòi bút tả thực theo quan niệmnghiêm ngặt” của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc
“Những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất Trung Quốc” (1991) của Trần Xuân
Đề cũng đã khẳng định tác giả “Hồng lâu mộng” không đứng ở vị trí người
thứ ba để giới thiệu nhân vật mà thông qua hành động để khắc họa tính cáchnhân vật Tác giả chỉ ra thường có sự xung đột giữa hai thế lực: cũ và mới,tiến bộ và phản động làm địa bàn cho nhân vật hoạt động
“Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ” (1999) của Nguyễn Khắc Phichú trọng tìm hiểu bút pháp “song quản tề hạ”, một bút pháp tiêu biểu gópphần làm rõ tính cách nhân vật Tác giả cũng đã bàn đến vấn đề miêu tả tâm línhân vật trong tác phẩm
“Mạn đàm về Hồng lâu mộng” của Trương Khánh Kiện, Lưu Vĩnh Lương doNguyễn Phố dịch (2002) là những bàn luận khá sắc sảo và thấu đáo về tài
Trang 11năng miêu tả hiện thực một cách tỉ mỉ, chi tiết của tác giả Tác giả đưa ra haimươi tám vấn đề luận giải đầy hấp dẫn và có ý nghĩa với độc giả về số phận,cuộc đời người phụ nữ.
Thành tựu của những công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần khẳng địnhnhững giá trị to lớn của “Hồng lâu mộng” về cả hai phương diện nội dung tưtưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Qua khảo sát những bài viết củacác tác giả, chúng tôi nhận thấy vấn đề bi kịch con người cá nhân trong
“Hồng lâu mộng” là một trong những nội dung được quan tâm tìm hiểu nhằmlàm rõ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm, đó là một gợi ý hết sức quan trọng
để chúng tôi xây dựng đề tài Thành tựu của các công trình nghiên cứu nóitrên là những tài liệu vô cùng quý báu, gợi ý cho chúng tôi thực hiện đề tàicủa khóa luận này
Trang 12PHẦN THỨ BA:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào TuyếtCần – Cao Ngạc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bộ tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc qua bản dịch
của nhóm Bùi Hạnh Cẩn, Ngọc Anh, Kiều Liên dịch (2 tập), Nhà xuất bảnVăn học, năm 2009
3.3 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu bi kịch con người cá nhân trong “Hồng lâu mộng” qua hai bi kịchchính: bi kịch tình yêu và bi kịch tư tưởng
Một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng con người cá nhân trongtác phẩm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài nàychúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
3.4.1 Phương pháp thống kê – phân loại
Để tiến hành thống kê những chi tiết thể hiện bi kịch con người cá nhân trongtác phẩm, sau đó phân loại những dẫn chứng trên góc độ bi kịch tình yêu và bikịch lí tưởng sống mới
3.4.2 Phương pháp phân tích– tổng hợp
Tiến hành phân tích các dẫn chứng để phục vụ cho các luận điểm của đề tài,trên cơ sở đó, tổng hợp, khái quát, đánh giá vấn đề và rút ra kết luận
3.4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
So sánh – đối chiếu với các thiên tiểu thuyết cùng thời khác để thấy được sự
kế thừa và đổi mới của tác phẩm
Trang 133.4.4 Phương pháp cấu trúc – hệ thống
Do tác phẩm có dung lượng lớn (120 hồi), các tình tiết tản mạn nên việc sửdụng phương pháp cấu trúc – hệ thống giúp chúng tôi nghiên cứu một cáchkhoa học, có cái nhìn bao quát để từ đó tập trung hiệu quả vào vấn đề bi kịchcon người cá nhân, tìm ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng bikịch con người cá nhân trong tác phẩm
Trang 14PHẦN THỨ TƯ:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT MINH – THANH
4.1.1 Vài nét về tác giả và tác phẩm
4.1.1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc
Tào Tuyết Cần (1716 – 1763?) tên thật là Tào Triêm, tự là MộngNguyên, hiệu là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê, quê ở Liêu Dương, tổ tiên ôngvốn là người Hán sau nhập tịch Mãn Châu Ông là một nhà thơ, một nhà tiểuthuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết “Hồng lâumộng” nổi tiếng
Tào Tuyết Cần xuất thân trong một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đạiquý tộc thời nhà Thanh Vào thời Tào Dần – ông nội Tào Tuyết Cần, gia đình
họ Tào hết sức thịnh vượng, vua Khang Hy năm lần đi kinh lý phương Namthì đã bốn lần trú tại nhà ông Qua đó có thể thấy được cuộc sống hào hoa vàmối quan hệ mật thiết giữa gia đình họ Tào với hoàng thất.Không chỉ là mộthào môn vọng tộc, gia đình Tào Tuyết Cần còn có truyền thống về vănchương thi phú Tào Dần là người lưu giữ sách nổi tiếng thời đó, chính TàoDần là người đứng ra hiệu đính và in ấn bộ “Toàn Đường Thi” nổi tiếng, ôngcòn là tác giả bộ “Luyện đình thi sao” và nhiều trước tác khác
Đến thời Ung Chính thứ 5 (1729), cha của Tào Tuyết Cần là Tào Diệu
bị cách chức với tội danh hành vi bất đoan, nhũng nhiễu dịch trạm, thiếukhống rồi bị hạ ngục trị tội, tịch biên tài sản Tào Tuyết Cần phải theo giađình rời Giang Nam về Bắc Kinh sinh sống, nhà họ Tào lâm vào cảnh sa sútnhanh chóng Tào Tuyết Cần phải sống qua ngày trong những ngày cay đắngnhất của đời mình với nghèo khổ, sống nhờ vào việc bán tranh và sự giúp đỡcủa bạn bè Sau này vì ốm đau không tiện chạy chữa, lại thêm đau khổ trướccái chết của đứa con trai duy nhất, ông mất để lại người vợ góa bụa với cảnh
Trang 15sống túng quẫn và 80 hồi “Thạch đầu kí” còn dang dở Đám tang của ông chỉ
có vài ba người bạn thương tình tống táng qua quýt Đó là kết cục bi thảm củamột tiểu thuyết gia thiên tài vào bậc nhất của nhân loại
Tào Tuyết Cần sáng tác nhiều thơ nhưng đến nay đều bị thất truyền hết Ôngsáng tác trước hết là để giải tỏa chính nỗi lòng tích tụ bao tâm sự chồng chấtcủa mình về con người và thời đại Thế giới quan trong sáng tác của ông thấmđẫm màu sắc hư vô và bi quan, đó là sự chiêm nghiệm sâu sắc về bản chất hủbại của giai cấp phong kiến thống trị đã làm nảy sinh ra những mâu thuẫn xãhội đương thời
Về con người của Tào Tuyết Cần, chúng ta chỉ biết rất sơ lược: ông là ngườithông minh, nhạy cảm, đa tài, đa nghệ, giỏi thơ, khéo vẽ, thích rượu, caongạo, phóng túng và có thái độ ngạo nghễ trước các thế lực đen tối trong xãhội Tuy lớn lên trong cảnh bần cùng, suy sụp của gia đình nhưng ông vẫn giữđược phẩm chất thanh cao, coi khinh những kẻ xu thời phụ thế, chán ghét conđường công danh phú quý
Cao Ngạc (1738 – 1815?) tự là Lan Thự, Vân Sĩ, biệt hiệu là Hồng lâu ngoại
sĩ (người ở ngoài lầu hồng – không dính dáng đến công danh phú quý) Tổtiên của ông ở huyện Thiết Lĩnh, tỉnh Liêu Linh.Ông xuất thân từ tầng lớpquý tộc, là người Hán nhập tịch Mãn Châu như Tào Tuyết Cần
Thuở nhỏ Cao Ngạc thích đi du ngoạn cảnh đẹp quê hương Ông là ngườichăm học, thuộc lòng kinh sử, giỏi văn bát cổ, thi, từ, tiểu thuyết, hí khúc, hộihọa.Cao Ngạc muốn tiến thân lập công danh bằng con đường khoa cử NămCàn Long thứ 53 (1788), Cao Ngạc thi Hương đỗ cử nhân Năm Càn Longthứ 60, ông thi đỗ tiến sĩ tam giáp và lần lượt làm chức Lịch quan nội cáctrung thư, Nội các thị độc Năm Gia Khánh thứ 6 (1801), ông đảm nhiệm việckhảo xét kì thi Hương và khảo thí quan lại Đến năm 1809, ông làm chứcGiang Nam đạo Giám sát ngự sử Đến năm 1813, ông được thăng chức làmHình khoa cấp sự trung Trong thời gian làm quan ông được xem là người tiếttháo, cẩn trọng, chính sự cần mẫn, tài năng đứng đầu, hiểu biết sâu rộng.Cao
Trang 16Ngạc làm quan dưới hai triều Càn Long – Gia Khánh, trải qua lắm hoạn nạntrên quan trường, về già lại sống cuộc sống thanh bần.
Ngoài 40 hồi viết tiếp “Hồng lâu mộng”, Cao Ngạc còn có nhiều tác phẩmkhác: “Thanh sử cảo – Văn uyển nhị” có chép “Lan thự thi sao”, “DươngTông Hy trong Bát kỳ văn kinh” có chép “Cao Lan Thự tập”, đến nay đều bịthất truyền Hiện nay còn “Lan Thự thập nghệ” (bản thảo), “Lại trị tập yếu”
cùng tập thơ “Nguyệt tiểu sơn phòng di cảo” và tập từ “Nghiên Hương từ
-Lộc tồn thảo”
4.1.1.2 Quá trình hình thành tác phẩm “Hồng lâu mộng”
“Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu son) là bộ tiểu thuyết vĩ đại xuất hiện vàothời Kiền Long (cuối thế kỉ XVIII) Đó là tác phẩm có ý nghĩa cắm mốc mộtgiai đoạn lịch sử văn học vì dung lượng đồ sộ, sự thành thục trong phươngpháp sáng tác, vì âm vang của sự chuyển mình lịch sử mà nó mang đến chongười đọc
“Hồng lâu mộng” gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết Viết chưaxong, ông từ trần Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau
Sống trong xã hội nhiều thăng trầm, gia đình lại lâm vào cảnh sa sút, ngẫmtrải đủ cay đắng cuộc đời bi lụy đã thôi thúc Tào Tuyết Cần sáng tác “Hồnglâu mộng” Ông đã dồn toàn bộ trí lực trong mười năm cuối đời để viết tácphẩm và qua năm lần sửa chữa thì đã hoàn thành được 80 hồi và dự thảo 40hồi còn lại
Khi Tào Tuyết Cần mất tác phẩm vẫn chưa hoàn thành và không được công
bố Mười lăm năm sau, bạn của ông là Cao Ngạc đã dụng tâm nghiên cứu tỉ
mỉ nguyên ý và căn cứ trên nền tảng ý tưởng, văn phong của Tào Tuyết Cần
mà viết tiếp 40 hồi sau cho phù hợp Tác phẩm hoàn thành, Cao Ngạc đổi tên
“Thạch đầu kí” thành “Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu hồng), vừa phù hợpvới nội dung tác phẩm, vừa mang dáng dấp của tâm hồn ông vì biệt hiệu củaông là Hồng Lâu Ngoại Sĩ
Giới nghiên cứu nhận định bốn mươi hồi sau của Cao Ngạc không thể sánhvới tám mươi hồi đầu của Tào Tuyết Cần về mặt nội dung và tư tưởng nghệ
Trang 17thuật Nhưng đóng góp to lớn của Cao ngạc là đã bảo vệ được sự nhất quán về
tư tưởng tình cảm, phong thái dung mạo, ngôn ngữ, tính cách của hơn 400nhân vật mà Tào Tuyết Cần xây dựng, hoàn thành kết cấu bi kịch của toàn bộtác phẩm, khiến cho câu chuyện trở nên hoàn chỉnh, nhờ vậy mà “Hồng lâumộng” nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi
4.1.2 Đặc điểm của tiểu thuyết Minh – Thanh
4.1.2.1 Đặc điểm chung
Tiểu thuyết Minh – Thanh kế thừa trực tiếp những thành tựu của thoại bảnTống Nguyên, thuộc loại hình văn hóa Trung cổ gắn với sự xuất hiện của tầnglớp thị dân và các đô thị
Thông thường tiểu thuyết Minh – Thanh được chia ra làm năm loại: tiểuthuyết lịch sử, tiểu thuyết nghĩa hiệp, tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết nhântình thế thái và đoản thiên tiểu thuyết (truyện ngắn) Tiểu thuyết lịch sử lấy đềtài trong lịch sử rồi diễn nghĩa ra “Tam quốc diễn nghĩa” là tác phẩm tiêubiểu cho loại này Tiểu thuyết nghĩa hiệp viết về anh hùng hảo hán, trọngnghĩa khinh tài, xả thân vì nghĩa mà “Thủy hử” là tác phẩm tiêu biểu Tiểuthuyết thần ma lấy đề tài trong thần thoại hoặc trong truyện tôn giáo mà “Tây
du kí” là thành công hơn cả.Tiểu thuyết nhân tình thế thái lấy đề tài trongcuộc sống đời thường, nói đến những tình cảm thông thường, những conngười bình thường Loại này có thể xem “Hồng lâu mộng” là thành tựu tiêubiểu, ngoài ra còn có “Kim Bình Mai”, “Chuyện làng nho” cũng là những tácphẩm có giá trị Loại cuối cùng là đoản thiên tiểu thuyết, có hàng ngàn tácphẩm nhưng “Liêu trai chí dị” là nổi tiếng hơn cả
Tiểu thuyết Minh – Thanh được viết theo kết cấu chương hồi Để hấp dẫnngười nghe, đến đoạn cao trào, gay cấn, thì người kể dừng lại với lời mời:
“Muốn biết sự thể ra sao, xin xem hồi sau phân giải” Trong tác phẩm có sự
giao thoa giữa biên niên sử và truyện kể dân gian, sự xâm nhập của truyệnhoang đường vào sử sách Ví dụ trong ba tác phẩm “Tam quốc diễn nghĩa”,
“Thủy hử”, “Tây du kí” đều được đúc kết trên cơ sở ba mảng chuyện kể vềlịch sử, về hảo hán anh hùng, về chuyện nhà Phật
Trang 18Trong tiểu thuyết Minh – Thanh, cốt truyện rất được coi trọng.Câu chuyện cơbản được kể theo thời gian một chiều, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy
ra sau kể sau.Thông qua ngôn ngữ và hành động tác giả khắc họa tính cáchnhân vật.Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Minh –Thanh Tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa cứu người của Lỗ Trí Thâm trong
“Thủy hử” được thể hiện rất rõ nét thông qua ba cú đấm đánh chết Trần Quan
Tây Trịnh Đồ Hoặc tấm lòng cương trực của Trương Phi được thể hiện bằnghành động Trương Phi đánh đến gãy mười cành liễu vào mông của tên mọtdân hại nước Đốc Bưu
Khi xây dựng hình tượng nhân vật, tiểu thuyết Minh – Thanh rất chú trọngvận dụng thủ pháp ước lệ và công thức để miêu tả, lí giải.Nhưng để hìnhtượng nhân vật trở nên sinh động thì ngoài việc phải biết lựa chọn những chitiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa tượng trưngcòn đòi hỏi tác giả phải sắp xếp các chitiết đó thành một hệ thống hoàn chỉnh nhằm làm nổi bật đặc trưng tính cáchnhân vật.Biểu hiện tấm lòng trung nghĩa của Quan Vũ có đâu chỉ vài lời giớithiệu sơ sài, mà là hàng loạt những câu chuyện sinh động
Thơ và từ là hai thể loại được dùng phổ biến trong tiểu thuyết Minh –Thanh.Những câu thơ, bài từ đặt ở đầu chương hoặc cuối hồi nhằm giới thiệuhay tổng kết, có khi là sự giải thích hoặc là sự mỉa mai, phê phán, rút ranhững triết lí nhân sinh Trong “Hồng lâu mộng”, những bài thơ từ còn có tácdụng nhất định trong việc sáng tạo hình tượng nhân vật
4.1.2.2 Đặc điểm của tiểu thuyết đời Minh
Các đề tài về lịch sử với cảm hứng chủ đạo là ca ngợi anh hùng là đề tài chủđạo của tiểu thuyết đời Minh Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu: “Tamquốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí”,…
Tiểu thuyết đời Minh có sự kết hợp giữa văn chương bình dân và văn chươngbác học Bên cạnh những câu văn dẫn chuyện của tác giả là những câu đốithoại, độc thoại, trong ngôn ngữ nhân vật đậm tính bình dân Điều này khiếncho tiểu thuyết đời Minh rất hấp dẫn và có tính nhân dân rất sâu sắc
Trang 19Thi pháp kế thừa thi pháp của loại hình truyện kể trung đại như kể theo thờigian một chiều, nhân vật được khắc họa chủ yếu qua ngôn ngữ và hành động,
ít chú ý miêu tả tâm lí nhân vật
4.1.2.3 Đặc điểm của tiểu thuyết đời Thanh
Đề tài thế sự là đề tài chủ đạo của tiểu thuyết đời Thanh Với cảm hứng phêphán hiện thực, các tác giả đương thời đã phản ánh chân thực hiện thực đầyrẫy bất công ngang trái của xã hội phong kiến nhà Thanh đang trên đà suytàn
Tiểu thuyết đời Thanh là tiểu thuyết tâm lí xã hội Quan niệm nghệ thuật vềcon người đã có sự đổi khác, người ta không còn viết về con người phithường nữa mà trong tác phẩm đã xuất hiện con người cá nhân, con người thếtục
Tiểu thuyết đời Thanh đã chú ý miêu tả tâm lí, tính cách và số phận nhân vật.Kết cấu truyện gắn với sự phát triển tâm lí của nhân vật chứ không còn miêu
tả tuyến tính như trong tiểu thuyết đời Minh nữa Vì vậy có thể thấy tiểuthuyết đời Thanh gần với tiểu thuyết hiện đại Hình tượng nhân vật trong tácphẩm cũng có sự thay đổi cho phù hợp với trình độ, thị hiếu của tầng lớp thịdân đang sống trong thời đại có nhiều biến chuyển mới Nhân vật lúc này gắnvới đời thực và được miêu tả tâm lí nhiều hơn Trong tiểu thuyết “Hồng lâumộng”, Tào Tuyết Cần cũng đã chú ý vận dụng những đoạn miêu tả tâm língắn gọn để khai thác bộ mặt tinh thần và nội tâm nhân vật
4.1.3 Tiểu kết
Hoàn cảnh sống cơ hàn đã hình thành cho Tào Tuyết Cần cái nhìn sâusắc về xã hội phong kiến suy tàn đương thời Ngòi bút nhạy cảm và tài hoacủa ông đã cho ta thấy được cái tâm trạng tích tụ về con người và thời đạitrong ông Về cuối đời, trong lúc đói khổ, bệnh tật, đau đớn giày vò thì tàinăng của ông vẫn tỏa sáng ở đỉnh cao, “Hồng lâu mộng” là minh chứng chotài năng kiệt xuất ấy
Tiếp bút đầy tài hoa cho bộ tiểu thuyết còn dang dở của Tào Tuyết Cần, CaoNgạc thực sự đã kết nối được quan điểm sáng tác của Tuyết Cần, hoàn thành
Trang 20kết cấu bi kịch cho tác phẩm Dù còn nhiều hạn chế về mặt nội dung và tưtưởng nhưng Cao Ngạc đã góp phần đưa bộ tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” trởthành một tác phẩm hoàn chỉnh có giá trị cao, đáng được tôn vinh là cuốn tiểuhay nhất mọi thời đại mang ý nghĩa xã hội rộng lớn.
“Hồng lâu mộng” được xem là một tiểu thuyết mang tính hiện đại vìtrong tác phẩm đã xuất hiện những tình huống tâm lí đầy mâu thuẫn của sốphận con người cá nhân cụ thể, họ đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp Sốphận của họ gắn với những đau đớn, bất hạnh, những thăng trầm, vui buồntrong cuộc sống đời thường
Văn học Minh – Thanh giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển vănhọc Trung Quốc Đó là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển văn học
cổ điển, cũng là giai đoạn dài nhất và có nội dung phong phú nhất, là giaiđoạn đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại Thời Minh –Thanh được xem là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết Với các bộ “Tamquốc”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, “Kim Bình Mai”, “Chuyệnlàng nho”, “Hồng lâu mộng”, tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đã đạt đếntrình độ hoàn chỉnh nên được gọi là tiểu thuyết cổ điển
Trang 214.2 BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT
“HỒNG LÂU MỘNG”
4.2.1 Vấn đề bi kịch và bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học 4.2.1.1 Khái niệm bi kịch
Từ phương diện thể loại, nói như Gulaiev: “bi kịch là một tác phẩm kịch
được xây dựng trên một xung đột, thể hiện về mặt thẩm mĩ những mâu thuẫn tồn tại trong cuộc sống giữa khát vọng chủ quan của cá nhân con người với khả năng khách quan không thể thực hiện được của nó” [13, tr.166].
Từ phương diện mĩ học, cái bi (tragique, có người dịch là bi kịch) là mộtphạm trù cơ bản của mĩ học dùng để xác định bản chất giữa cái mới và cái cũ,
cá nhân và xã hội và thể hiện thông qua những xung đột gay gắt, có khi dẫnđến cái chết Nói cách khác, cái bi là sự thất bại tạm thời, sự tổn thất (về mặtvật chất – tinh thần), sự hi sinh của cái đẹp, cái cao cả [22, tr.80]
Trong văn học hiện đại, khái niệm bi kịch còn được hiểutheo một ý nghĩakhác Có thể hiểu đó là trạng huống tâm lí miêu tả số phận của con ngườimâu thuẫn, bất mãn đến cùng cực, phải mang đau đớn, mất mát trong cuộcđời đầy biến động và phức tạp Chẳng hạn như sự mâu thuẫn giữa những yếu
tố phát triển của thời đại với những yếu tố kìm hãm sự phát triển của thời đạiđó; mâu thuẫn giữa những phạm trù đối lập bên trong con người, mâu thuẫngiữa con người với thực tại,
Nhân vật trong “Hồng lâu mộng” là những con người sống có lí tưởng, mơ
ước đến một cái gì đó rất thực, nó tượng trưng cho khát vọng sống nhưng rồi tậncùng của giấc mộng lầu hồng và cũng là tận cùng của bi kịch, họ ngỡ ngàngnhận ra mình đang xây lâu đài mơ ước trên cát, để rồi chỉ cần một đợt sóng vỗ
bờ, tất cả sẽ cuốn trôi đi lí tưởng không thành ấy Những mâu thuẫn giữa nhữngyếu tố phát triển của thời đại với những yếu tố kìm hãm sự phát triển của thời đại
đã sinh ra những bi kịch cho các nhân vật trong “Hồng lâu mộng”
4.2.1.2 Bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học
Trong tác phẩm văn học, bi kịch con người cá nhân được miêu tả là tổng hoà,phức hợp của những mâu thuẫn, xung đột, những nỗi đau không thể giải
Trang 22quyết, điều hoà trước tác động của hiện thực.Vì vậy, việc phân tích nhữngbiểu hiện của bi kịch con người cá nhân chỉ mang tính chất tương đối.
Trong văn học cổ đại, người Hi Lạp cổ xưa đã giải thích nguyên nhân nảysinh bi kịch là do sự can thiệp của định mệnh vào số phận con người, vì vậy
đã làm hình thành trong văn học thời đó cái quan niệm nghệ thuật về một
“kiểu người số phận” Các nhân vật trong quá trình chống lại số phận nghiệtngã của mình thông qua sự phủ nhận quyền lực của thần linh, sự phản khángđịnh mệnh một cách ngoan cường theo trình tự tuyên chiến, kết án và cuốicùng là hạ bệ thần linh Tuy nhiên dù tích cực phản kháng, con người cũngkhông thể chiến thắng thần linh
Đến cuối thời Hi Lạp cổ đại, bi kịch đã chuyển từ bi kịch số phận đã chuyểnsang bi kịch tính cách về phương diện nghệ thuật Bi kịch của con người giờđây không còn phụ thuộc vào thần thánh mà tùy thuộc vào chính bản thânmình Nhân vật rơi vào bi kịch là do không chiến thắng được giữa dục vọng
và lí trí, tình cảm và danh dự trong cuộc chiến của tâm hồn mình
Trong văn học cận đại, khoa học đã cấp cho các nghệ sĩ cái nhìn duy lí về thếgiới, về tính quy luật của cuộc sống,…Nhân vật bi kịch cô lập hoàn toàn với thầnthánh, chỉ phụ thuộc vào chính bản thân mình, vào tính cách con người và nhữnghoàn cảnh sống Nhân vật trải qua những chặng đường đấu tranh gay gắt trongnội tâm để hướng đến những mục đích sống nhưng cuối cùng nhân vật vẫn rơivào cái chết do chưa thể chiến thắng được hoàn cảnh sống
Trong văn học hiện đại, nhân vật bi kịch được xây dựng mang những phiềnnão, u sầu, tuyệt vọng, đau khổ, bất an trong thời buổi xã hội mới mà họ chưalàm chủ được Đó là bi kịch của những tư tưởng mới, những khát vọng chínhđáng, phù hợp với tất yếu lịch sử nhưng vẫn chưa đủ sức chiến thắng trước cái
cũ Những bi kịch này gắn với sự đau khổ, dằn vặt trong trạng thái tâm lí cánhân song lại động chạm đến lẽ sống, tình yêu, đạo đức, sứ mệnh của conngười, mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, có ảnh hưởng tới lịch sử
4.2.2 Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng”
4.2.2.1 Bi kịch tình yêu
Trang 23Tính chất căng thẳng của bi kịch tình yêu trong “Hồng lâu mộng” xoay quanh
mối quan hệ tình yêu, hôn nhân của bộ ba nhân vật Giả Bảo Ngọc – Lâm ĐạiNgọc – Tiết Bảo Thoa Ba hình tượng nhân vật này giữ vai trò quan trọngtrong việc tổ chức và triển khai cốt truyện
Tình yêu của Giả Bảo Ngọc – Tiết Bảo Thoa rơi vào bi kịch là do giữa BảoNgọc và Bảo Thoa cósự khác biệt về tư tưởng Bảo Thoa rất trung thành với
lễ giáo phong kiến Chính tư tưởng phong kiến thâm căn cố đế đã trở thànhcái hố ngăn cách không thể vượt qua được giữa nàng và Bảo Ngọc
Bảo Thoa cũng yêu Bảo Ngọc Nhưng tình yêu trong xã hội phong kiến
bị ngăn cấm tuyệt đối nên nàng luôn né tránh Bảo Ngọc, phải tự kiềm chế,che giấu tình cảm trong lòng Nàng không bao giờ dám sống thật với tình cảmcủa mình mà dùng lí trí để nhìn nhận tình yêu Bảo Thoa đã giam trái timmìnhtrong cái vòng lễ giáo và tự hài lòng với những khuôn phép mà mình tuân thủ
Khi thấy Bảo Ngọc và Đại Ngọc bên nhau thì nàng giả vờ như khôngthấy hoặc chọc ghẹo hai người Bảo Thoa chôn chặt mối tình thầm lặng củamình Chính điều này khiến chúng ta thật khó nhận ra nỗi đau khổ thực sự ẩnchứa trong lòng nàng Tuy Bảo Thoa có chiếc khóa vàng tiền định, khóa chặtcuộc hôn nhân mà nàng hằng mong ước nhưng nàng không được nếm vị ngọtcủa tình yêu Vì mãi mãi nàng không thể xóa nhòa hình bóng của Đại Ngọctrong trái tim Bảo Ngọc
Điều quan trọng là thái độ căm ghét của Bảo Ngọc đối với lối sốngphong kiến “làm quan trị nước” không thể không xung đột với nàng về mặt tưtưởng Bảo Thoa hi vọng Bảo Ngọc có thể học hành, thi cử và lập thân bằngcon đường khoa cử đểchenchân vào chốn công danh, với Bảo Thoa người contrai được xem là hiếu thảo khi chăm chỉ học hành đỗ đạt, làm rạng danh chodòng họ Bảo Thoa phản đối Bảo Ngọc đọc loại sách “Tạp học bàng thư” vì
cô cho rằng đọc sách đó sẽ làm thay đổi tâm tính và vô dụng đối với khoa cử,
cô lưu ý Bảo Ngọc đọc sách của Khổng Mạnh, dốc lòng vào chuyện kinhbang tế thế, làm quan giúp nước trị dân Ở hồi 118, khi Bảo Thoa và BảoNgọc đã thành vợ chồng, Bảo Thoa đã có một cuộc tranh luận với chồng,
Trang 24không ngớt lời khuyên Bảo Ngọc chuyên tâm học hành, từ bỏ lối sống tự do
như cũ: “Tôi nghĩ cậu cùng tôi đã kết nghĩa vợ chồng thì cậu là người tôi
nương tựa suốt đời, vốn không chỉ là chuyện thể xác Chuyện vinh hoa phú quý, chẳng qua cũng thoáng qua mây khói mà thôi nhưng các bậc thánh hiền thời xưa vẫn xem phẩm cách con người là chính” [3, tr.861] Nhưng Bảo
Ngọc lại ghét thứ văn chương khoa cử nhất, chàng cũng không muốn đọcsách để thăng quan tiến chức, lại càng không thích chen chân vào chốn quantrường
Bảo Ngọc mơ ước người bạn đời của mình phải lãng mạn đa tình, làmột tiên nữ thoát tục nhưng mẫu người ấy bị Bảo Thoa cho là chịu ảnh hưởngcủa truyện lãng mạn truyền kì làm cho hư hỏng Bảo Ngọc theo đuổi tình yêu
tự do còn Bảo Thoa lại có quan niệm rất bảo thủ về tình yêu nam nữ tự do,nàng cho rằng trong xã hội phong kiến chỉ có lễ giáo, cha mẹ đặt đâu thì conphải ngồi đó Có lẽ chính sự khác biệt về tư tưởng ấy đã khiến Bảo Ngọc càngngày càng xa rời Bảo Thoa
Bảo Thoa hiểu rõ Bảo Ngọc không yêu mình nhưng nàng không dámchống lại sự sắp đặt của bậc gia trưởng Đó cũng là nỗi khổ tâm của nàng,nàng là người con gái xinh đẹp, thông minh, sắc xảo nhưng cuối cùng nàngkhông thể quyết định được số phận của mình Cuộc hôn nhân này phù hợp vớiquan niệm, nguyên tắc sống của Bảo Thoa nhưng nó lại đi ngược lại với lòng
tự tôn của nàng nên ở hồi 97 khi nghe Tiết phu nhân nói chuyện đã chấp nhậnhôn ước thì Bảo Thoa không nói gì, sau lại lặng lẽ rơi nước mắt Trong ngàythành hôn, Bảo Ngọc không chịu nhận Bảo Thoa mà luôn mồm nhắc Đại
Ngọc, Bảo Thoa chỉ cúi đầu, không biết nói gì, “làm ngơ như không biết gì,
một mình lên giường ngủ” [3, tr.568] Sau khi thành hôn, dù vẫn còn ngơ ngơ
ngẩn ngẩn nhưng Bảo Ngọc cứ khóc đòi Đại Ngọc, lúc này khổ tâm nhấtkhông chỉ có Bảo Ngọc mà trái tim của Bảo Thoa cũng đau đớn không kém
Tuy sau này, dưới ngòi bút của Cao Ngạc, Bảo Ngọc dần dần chấpnhận Bảo Thoa và có được cuộc sống vợ chồng dù không thực sự là có yêuthương Nhưng không lâu sau đó, Bảo Ngọc nhất quyết ra đi, từ bỏ người
Trang 25thục nữ kiểu mẫu, phủ định triệt để định mệnh “Kim ngọc lương duyên”.Bảo Thoa có được địa vị “mợ hai” và thân xác Bảo Ngọc nhưng không cótrái tim của chàng Cuộc hôn nhân của Bảo Ngoc – Bảo Thoa chỉ nhằmmục đích chính trị nên nó không có hạnh phúc Đó chỉ là nấm mồ chôn vùituổi thanh xuân của Bảo Thoa trong cô đơn, lạnh lẽo của cảnh góa bụa vớiđứa con còn chưa chào đời.
Bi kịch của Bảo Thoa là bi kịch của một con người trung thành vớiđạo đức phong kiến Nàng bị tư tưởng, luân lí, đạo đức phong kiến đầu độc,kéo nàng vào hố sâu bi kịch mà nàng phải chấp nhận sống với nó đến hếtcuộc đời.Đó là nỗi đau, là bi kịch lớn nhất giành cho giai nhân phong kiếnkiểu mẫu
Giả Bảo Ngọc – Lâm Đại Ngọc có chung tư tưởng sống nhưng họkhông đến được với nhau là do có bàn tay cản trở của giai cấp phong kiến Lúc ban đầu, Bảo Ngọc còn phân vân trước tình yêu giữa Bảo Thoa vàĐại Ngọc, song dần dần chàng nhận thấy Bảo Thoa chỉ mong ngóng cái danhlợi, nên chàng đã hết lòng yêu Đại Ngọc, mong muốn lấy nàng làm vợ
Tình cảm của Bảo Ngọc dành cho Đại Ngọc là tình cảm chân thành, sâunặng, nó giống như sinh mệnh của chính chàng vậy.Còn Đại Ngọc khi yêuduy nhất chỉ có tình yêu với Bảo Ngọc làm chỗ dựa tinh thần.Tình cảm của họngày càng lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến Như ở hồi 57, Tử Quyênthấy Đại Ngọc âu sầu và yếu dần đi vì lo lắng cho tình yêu với Bảo Ngọc liềnđặt chuyện Đại Ngọc sắp về Tô Châu để thử lòng Bảo Ngọc Chàng BảoNgọc si tình tưởng thật nên trở nên ngây dại, hoảng hốt, tình cảnh của Bảo
Ngọc lúc đó thật thê thảm, đáng thương: “hai mắt lại trợn lên, bọt mép sùi ra,
đưa gối thì nằm, đỡ dậy thì ngồi, đưa nước thì uống, mê man chẳng biết gì”
[2, tr.839] Đại Ngọc thấy người mình yêu như vậy thì lòng đau như cắt, “mặt
đỏ gay, tóc rối bù, mắt sưng húp, gân nổi lên, cứ gục đầu xuống mà thở” [2,
tr.840] Đại Ngọc mắng Tử Quyên: “Chị không phải đấm nữa, cứ mang
thừng đến thắt cổ tôi chết đi còn hơn” [2, tr.840] Điều đó chứng tỏ tình cảm
của Bảo Ngọc và Đại Ngọc đã rất sâu đậm, không thể xa rời nhau được
Trang 26Mối tình của Bảo Ngọc – Đại Ngọc không phải là câu chuyện lửa gần rơm,cũng không phải câu chuyện “tài tử giai nhân nợ sẵn”, mà giữa họ có sự tri
âm, đồng điệu trên tư tưởng về những vấn đề có ý nghĩa của cuộc sống
Bảo Ngọc coi văn bát cổ chỉ là “cần câu cơm” thì Đại Ngọc cũng ghét cay ghét đắng nó Bảo Ngọc coi bọn quan lại là “mọt ăn lộc”, là “giặc nước” thì Đại Ngọc gọi chúng là “trai thối” Cả hai đều chán ngán đạo học, chán
ngán những kẻ đem kinh truyện nhồi nhét vào đầu rồi lếu láo cho rằng mìnhhiểu sâu hộc rộng Đại Ngọc và Bảo Ngọc cho rằng kho tàng Kinh học màchế độ phong kiến tuyên truyền quá sáo rỗng Tuy nhiên cả hai đều không phê
phán tất cả sách thánh hiền Ở hồi 3, Bảo Ngọc đã nói: “Trừ Tứ Thư ra cũng
còn khối chỗ bịa đặt” [2, tr.46] Còn ở hồi 82, Đại Ngọc cũng nói “…anh muốn lập nên công danh, sự nghiệp thì học cái đó cũng có phần đáng quý đó chứ” [3, tr.336] và ngay từ nhỏ Đại Ngọc đã đọc Tứ Thư.
Mỗi khi buồn phiền vì bị ép học hành thi cử, Bảo Ngọc lại tìm đến ĐạiNgọc Ở hồi 17 – 18, sau khi bị cha thử tài học và quát mắng nửa ngày trờitrong vườn Đại Quan, Bảo Ngọc vội chạy đến tìm Đại Ngọc ngay Đến hồi
33, khi Bảo Ngọc bị cha đánh thừa sống thiếu chết vì không chịu học hành tử
tế mà đi gây họa thì ngay khi tỉnh táo, anh đã cho người gửi một chiếc khănlụa cho Đại Ngọc Ở hồi 81, Bảo Ngọc nghe lời cha vào trường học, ngay khiđược về nhà anh đã vội vàng chạy đến quán Tiêu Tương Bảo Ngọc tìm đếnĐại Ngọc vì tìm thấy sự đồng cảm và chia sẻ Đại Ngọc không khi nàokhuyên Bảo Ngọc học hành, theo đuổi con đường hữu danh vô thực là chenchân vào quan trường Điều đó cho thấy trong con mắt Bảo Ngọc và ĐạiNgọc thì con đường khoa cử không phải là cách để tiến thân Ở họ có sự gặp
gỡ và thống nhất trong quan niệm sống Bảo Ngọc đã từng nói: “Cô Lâm có
bao giờ khuyên tôi những lời nhảm nhí như vậy Nếu có thì tôi đã xa cô ấy từ lâu rồi” [2, tr.447] Cái gọi là “lời nhảm nhí” ở đây chính là lời khuyên “học hành đỗ đạt”, “lập thân dương danh” của Bảo Thoa, Sử Tương Vân, Tập
Nhân
Trang 27Trong cách đối xử với bề dưới, Bảo Ngọc – Đại Ngọc cùng thươngcảm, xót xa trước số phận bi thảm của những a hoàn trong phủ Giả như KimXuyến, Tình Văn và căm ghét sự độc ác của Vương phu nhân, sự giả dối củaBảo Thoa và Giả Mẫu Đại Ngọc đồng tình với chuyện Bảo Ngọc tưởng nhớ,thương xót đến Kim Xuyến Đối với a hoàn Tình Văn, Đại Ngọc cũng thươngcảm khôn nguôi Hồi 77, Bảo Ngọc làm văn tế hoa phù dung để khóc cho cáichết thảm thương, oan ức của Tình Văn, Đại Ngọc bất ngờ xuất hiện, nàngxem bài văn tế một cách trân trọng và còn góp ý để Bảo Ngọc sửa lại cho cóphần thanh nhã hơn Điều đó chứng tỏ nàng không hề có ý xem thường nhữngcon người bạc mênh thuộc tầng lớp dưới
Bảo Ngọc – Đại Ngọc theo đuổi sự tự do trong tình yêu, chống lại quanniệm hôn nhân tiền định Cả hai đều say mê, ngưỡng mộ những mối tình nồngcháy không bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến trong các tác phẩm vănchương lãng mạn như “Tây sương kí”, “Mẫu đơn đình” Đại Ngọc coi chuyện
“vàng và ngọc” là chuyện nhảm nhí còn Bảo Ngọc thì “Lời nói hòa thượng
và đạo sĩ tin thế nào được? Cái gì là nhân duyên vàng ngọc! Tôi chỉ tin vào nhân duyên cây và đá thôi” [2, tr.502] Chính vì vậy mà tình yêu trong họ
ngày càng bền chặt, sâu nặng
Bảo Ngọc và Đại Ngọc đứng lên đấu tranh bảo vệ tình yêu tự do củamình Với quan niệm tình yêu tự do, họ trở thành những đứa con “phảnnghịch” của giai cấp, dám đi ngược lại mọi lí tưởng mà xã hội tôn thờ Tìnhyêu của họ mang màu sắc mới, tiến bộ, hiện đại, đối lập hoàn toàn với quanniệm về tình yêu hôn nhân của xã hội phong kiến
Mặc dù cả Bảo Ngọc – Đại Ngọc đều mong muốn tình yêu của mìnhtiến tới hôn nhân, nhưng trong xã hội phong kiến tình yêu tự do bị coi làchuyện “phi đạo đức”, “nổi loạn”, không được chấp nhận Tình yêu của họ dùđẹp, dù trong sáng và tiến bộ đến đâu cũng không thể nào vượt qua sự cản trở,ngăn cấm của những quan niệm phong kiến tồn tại mấy ngàn năm
Khi Bảo Ngọc – Đại Ngọc tưởng rằng Giả Mẫu sẽ đứng ra tác thànhcho cuộc hôn nhân của họ thì họ tràn trề hạnh phúc Đại Ngọc tỉnh táo hẳn ra,
Trang 28chứa chan hi vọng, từ đau khổ, tuyệt vọng, đau ốm nàng trở lại linh hoạt, tươiđẹp hơn, lành hẳn bệnh Bảo Ngọc cũng vậy, chàng trở nên vui vẻ hơn, mongngóng ngày đón Đại Ngọc về nhà hưởng hạnh phúc Hi vọng của họ bị dập tắtkhi mà Giả Mẫu, Phượng Thư, Vương phu nhân bày ra kế “tráo hôn”, đánhlừa Bảo Ngọc
Đại Ngọc chán ghét sự giả dối, tàn nhẫn của giai cấp thống trị Nàng đãphản kháng lại bằng sự kiêu kì cô độc, bằng suối nước mắt của mình Các bềtrên của gia đình đại quý tộc họ Giả nhận ra sự chống đối của nàng nên đãloại nàng ra khỏi cuộc hôn nhân với Bảo Ngọc vì họ sợ nếu nàng lấy BảoNgọc thì nền nếp, khuôn khổ mà giai cấp thống trị phong kiến dày công vunđắp sẽ bị lung lay
Tình yêu tan vỡ, Đại Ngọc đau đớn vô cùng Nàng ngậm hờn mà chếttrong sự đơn độc khi gia đình nhà họ Giả đang tưng bừng tổ chức lễ đón BảoThoa về làm “mợ hai” Có thể nói cuộc đời và cái chết lạnh lẽo của Đại Ngọc
đã để lại niềm xót thương lớn nhất trong tất cả số phận các nhân vật trong
“Hồng lâu mộng” Nàng không chịu tuân theo số mệnh nhưng không làm saothoát khỏi số mệnh nghiệt ngã ấy Giai cấp phong kiến không chỉ phá hoạitình yêu của nàng mà còn hủy hoại luôn sinh mệnh của nàng
Khi Đại Ngọc chết, Bảo Ngọc cũng trở nên ngơ ngơ ngẩn ngẩn, hoàn toànkhông lanh lợi như trước, không thích gần gũi chị em, thậm chí anh ta khôngthèm nghĩ tới việc nhà Hình ảnh Lâm Đại Ngọc cứ trở về trong tâm trí BảoNgọc Bảo Ngọc sống với Bảo Thoa, Tập Nhân, các a hoàn khác nhưng anh tacảm thấy vô cùng cô đơn, buồn tủi Bảo Ngọc không tìm được người tri kỉnhư Đại Ngọc, điều đó làm Bảo Ngọc ngày càng sống thu mình Tâm bệnhcủa Bảo Ngọc không ai hiểu nổi Bảo Ngọc mang nỗi khổ tâm trong lòng đểhoàn thành tâm nguyện của mọi người trong phủ Giả là đi thi, chàng đỗ cửnhân thứ 7 nhưng cuối cùng chàng đã bỏ lại công danh, phú quý mà nươngnhờ cửa Phật Việc Bảo Ngọc đi tu thể hiện rõ sự “phản nghịch" củamình.Nếu gia trưởng phong kiến không cho Bảo Ngọc có được Đại Ngọc thìBảo Ngọc cũng không cho họ có được mình