CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TỘC NGƯỜI CỦA TRƯỜNG NGUYỄN THỊ QUẾ LOAN Đại học Sư phạm Thái Nguyên Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng không thể
Trang 1CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU VỀ TỘC NGƯỜI CỦA TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ QUẾ LOAN
Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu của mỗi giảng viên trong các trường đại học Đặc biệt trong bối cảnh giao lưu và hội nhập hiện nay, việc giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) không chỉ giúp giảng viên mở rộng, tìm hiểu sâu kiến thức chuyên môn để giảng dạy tốt hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học, mà hoạt động NCKH của mỗi giảng viên còn góp phần quan trọng để khẳng định thương hiệu của nhà trường Vì lẽ đó, hoạt động NCKH là một trong mười tiêu chuẩn để kiểm định chất lượng đối với các trường cao đẳng, đại học trong toàn quốc Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường đại học ở nước ta hiện nay nói chung và Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (ĐHSPTN) nói riêng có sự bất cập giữa nghiên cứu và giảng dạy trong đội ngũ giảng viên, đó là tình trạng giảng viên chỉ chú trọng vào công tác giảng dạy và xem nhẹ hoạt động nghiên cứu khoa học Điểm hạn chế này dẫn đến việc các công trình NCKH chỉ mang tính “đối phó”, nhiều công trình nghiên cứu khoa học không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí khi nghiệm thu xong cũng chỉ để bụi phủ mờ, rất ít các công trình NCKH công nghệ đáp ứng được nhu cầu của xã hội
1 Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và công tác nghiên cứu khoa học
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên tiền thân là Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc được thành lập năm 1966 theo Quyết định số 127/CP ngày 18 tháng 07 của Hội đồng Chính phủ Từ năm 1994, theo Quyết định 31/CP của Chính phủ, Trường là thành viên của Đại học Thái Nguyên 46 năm kể từ khi thành lập, Trường đã đào tạo được gần 50.000 giáo viên; 1.282 Thạc sĩ, 7 Tiến sĩ cho các tỉnh trung du, miền núi Việt Bắc, Tây Bắc Từ 7 khoa ban đầu với 7 ngành đào tạo đại học năm 1966, đến nay Trường đã có 15 Khoa chuyên môn với 24 chuyên ngành đại học, nhiều chương trình đào tạo cao đẳng,
19 chuyên ngành thạc sĩ, 7 chuyên ngành tiến sĩ; 1 Viện nghiên cứu; 1 trường trung học phổ thông thực hành; 1 trường mầm non; 1 Trung tâm ngoại ngữ và 1 Trung tâm tin học
Có thể nói, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên là trung tâm lớn đào tạo giáo viên và cán bộ khoa học trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
Trước năm 1990, cũng như nhiều trường đại học trên cả nước, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường chưa được chú trọng, điều này được thể hiện ở số lượng các kết quả nghiên cứu khoa học được công bố Từ năm 1991, hoạt động nghiên cứu khoa
Trang 2học của giảng viên trong Trường đã có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của ngành giáo dục Đặc biệt là từ năm 2005 đến nay, với số lượng 369 giảng viên, trong
đó có 14 Giáo sư và Phó giáo sư, 65 Tiến sĩ, 270 Thạc sĩ và 34 Cử nhân, kết quả nghiên cứu khoa học trong 5 năm (2005 - 2010) với 562 bài báo được công bố trong các tạp chí chuyên ngành và hội thảo khoa học (trong đó 35 bài đăng trên tạp chí nước ngoài)
và số lượng đề tài NCKH các cấp được tổng hợp ở Bảng 1 chứng tỏ rằng phần lớn các giảng viên đều ý thức được tầm quan trọng của công tác NCKH đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong Trường (xem Bảng 1)
Dưới sự hướng dẫn của các giảng viên, sinh viên trường ĐHSPTN đã tham gia giải thưởng
“Sinh viên nghiên cứu khoa học”, giải thưởng “Sáng tạo kỹ thuật Việt Nam - VIFOTEC” và giành được thành tích cao Trong 10 năm, đã có 3.005 đề tài NCKH, thu hút 3.423 sinh viên tại Trường tham gia nghiên cứu, 76 đề tài đoạt giải Sinh viên NCKH toàn quốc Trường ĐHSPTN được đánh giá là một trong tốp 20 trường Đại học và Học viện trên
cả nước có thành tích nổi bật trong hoạt động NCKH của sinh viên
Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường thường xuyên quan tâm, kịp thời chỉ đạo sâu sát đội ngũ giảng viên trong công tác NCKH Để động viên, khuyến khích các giảng viên tham gia NCKH, Trường có chủ trương ưu tiên xét duyệt đề tài NCKH cấp Bộ, cấp
Cơ sở cho các đối tượng là các giảng viên đang làm nghiên cứu sinh Ngoài ra, Trường còn có chế độ chính sách ưu đãi cho các cán bộ đi học, bảo vệ luận án đúng hạn, có bài đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và quốc tế Đồng thời, xây dựng các nhóm chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực nghiên cứu để chủ động đề xuất các dự án, các
đề tài trọng điểm, xác định hướng nghiên cứu
Bảng 1 Tổng hợp số lượng các đề tài NCKH các cấp (2005 - 2010)
Năm Nhà
nước
Nghiên cứu cơ bản
Cấp Bộ trọng điểm
Đề tài của sinh viên
Nguồn: Báo cáo Chính trị của Đảng bộ trường ĐHSPTN trình tại Đại hội Đảng bộ
trường Đại học Sư phạm lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Trang 3Tuy nhiên, bên cạnh đó, có thể thấy một thực tế là còn nhiều giảng viên chưa thật nhiệt tình và say mê NCKH Tình trạng đối phó trong nghiên cứu còn khá phổ biến Theo quy định của Đại học Thái Nguyên về chế độ làm việc của các nhà giáo1, thời gian làm việc của giảng viên theo chế độ tuần 40 giờ và được xác định theo năm học Tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên bình quân trong 1 năm học là 1.760 giờ sau khi trừ
đi số giờ nghỉ hè, nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật Tổng thời gian này được phân chia theo chức danh giảng viên và từng nhiệm vụ cụ thể (xem Bảng 2)
Đây là số giờ chuẩn giảng viên làm việc tương đối nhiều, song trong thực tế, số giờ mà giảng viên thực dạy còn nhiều hơn nữa2; do đó, giảng viên không còn thời gian dành cho nghiên cứu Bên cạnh đó, do phải thực hiện một số lượng giờ NCKH nhất định nên nhiều giảng viên có tư tưởng đối phó - “làm cho xong”, thực hiện sao cho đủ giờ mà không dành sự quan tâm đến chất lượng công trình công bố Ngoài ra, kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu thấp (1 đề tài cấp Bộ năm 2006 - 2008 từ 20 đến 25 triệu; năm
2010 là 45 triệu; đề tài cấp Trường từ 3 đến 5 triệu đồng) nên không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu, thậm chí ngày càng “chán” đề tài; hầu hết giảng viên thích đi dạy hơn là đầu tư cho các đề tài, dự án khoa học Vì vậy, các công trình nghiên cứu dù ở những cấp cao như đề tài cấp Bộ vẫn còn hạn chế về chất lượng nghiên cứu với hàm lượng khoa học thấp, không mang lại hiệu quả mà ngược lại, còn gây lãng phí thời gian
và tiền bạc; nhiều khi hướng nghiên cứu của các đề tài bị trùng lặp - điều này có thể thấy trong các đề tài nghiên cứu về tộc người mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau
2 Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Những công trình nghiên cứu về các tộc người của giảng viên thuộc Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên được công bố trên các ấn phẩm dưới dạng thông báo khoa học, kỷ yếu, tạp chí chuyên ngành bắt đầu từ năm 1990, đến năm 1994 đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ đầu tiên về “Các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc với
1 Quyết định số 924/QĐ-ĐHTN ngày 30 tháng 7 năm 2009 của Giám đốc Đại học Thái Nguyên
2
Tổng số tiền ĐHSPTN chi trả tiền thừa giờ cho giảng viên năm học 2011 - 2012 gần 7 tỷ đồng
Bảng 2 Định mức giờ giảng cho giáo viên ĐHSPTN
Chức danh giảng viên Khung định mức giờ
chuẩn giảng dạy
Khung định mức giờ chuẩn
NCKH
Trang 4môi trường sinh thái” của giảng viên Hoàng Hoa Toàn được tiến hành và nghiệm thu năm 1996
Từ đó đến nay đã có 6 đề tài cấp Bộ, 1 luận án tiến sĩ và 8 cuốn sách nghiên cứu về các dân tộc được xuất bản, còn lại 163 nghiên cứu dưới dạng luận văn thạc sĩ (59 đề tài), khóa luận tốt nghiệp (30 đề tài) và 73 bài viết ở tạp chí, hội thảo, thông báo khoa học Trong tổng số 178 công trình nghiên cứu có 24 công trình có xu hướng nghiên cứu chung về các dân tộc ở khu vực miền núi phía Bắc; số lượng nghiên cứu về các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái chiếm nhiều nhất, tiếp đến là các nghiên cứu về các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán - Tạng Cụ thể như sau:
2.1 Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Ka đai
- Nghiên cứu về dân tộc Tày: có 52 công trình, trong đó xuất bản sách 1 công trình;
đề tài cấp Bộ có 2 công trình, luận văn thạc sĩ - 25 đề tài, khóa luận tốt nghiệp - 8 đề tài
và 16 bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành, hội nghị khoa học
Nội dung các nghiên cứu trên viết về văn hóa gồm 29 đề tài (trong đó văn hóa dân gian 11 đề tài, 18 đề tài nghiên cứu về văn hóa tinh thần), 4 nghiên cứu về ngôn ngữ, 3 nghiên cứu về làng bản, còn lại là các nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử, chăm sóc sức khỏe và sự giao thoa văn hóa
Địa bàn nghiên cứu được tập trung ở khu vực miền núi phía Bắc như: Bắc Kạn - 6 nghiên cứu, Cao Bằng - 10 nghiên cứu, Thái Nguyên - 7 nghiên cứu, Lạng Sơn - 5 nghiên cứu, các địa bàn khác có từ 1 đến 2 nghiên cứu
- Nghiên cứu về dân tộc Nùng: có 15 công trình, trong đó xuất bản sách 1 công
trình, 3 luận văn thạc sĩ, 3 khóa luận tốt nghiệp và 8 bài đăng trên các tạp chí, hội thảo khoa học Các nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực văn hóa, lễ hội, nhà cửa, tôn giáo, tín ngưỡng
- Nghiên cứu về dân tộc Thái: có 11 công trình, trong đó có 5 luận văn thạc sĩ, 3
khóa luận tốt nghiệp và 2 bài đăng trên các tạp chí, hội thảo khoa học với các nội dung
về tổ chức xã hội, văn hóa tinh thần, trang phục và địa danh lịch sử
- Nghiên cứu về dân tộc Sán Chay (gồm Cao Lan và Sán Chí) có 3 luận văn thạc
sĩ, 2 khóa luận tốt nghiệp và 2 bài tạp chí Các nghiên cứu này bao gồm nội dung về thiết chế chính trị xã hội, nghệ thuật, văn hóa dòng họ, hôn nhân và gia đình
- Nghiên cứu về dân tộc Giáy: Gồm 2 nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của
người Giáy ở Lào Cai và vấn đề chăm sóc sức khỏe của người Giáy ở Lạng Sơn
- 6 dân tộc chưa được nghiên cứu: Lự, Cơ Lao, La Chí, La Ha, Bố Y, Pu Péo
2.2 Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao và Hán - Tạng
- Nghiên cứu về dân tộc Hmông: bao gồm 21 nghiên cứu gồm 7 luận văn thạc sĩ,
2 khóa luận tốt nghiệp và 12 bài viết trong các tạp chí, kỷ yếu hội thảo tập trung vào
Trang 5các vấn đề kinh tế - văn hóa, văn học dân gian, định canh định cư, thiết chế chính trị -
xã hội
- Nghiên cứu về dân tộc Dao: có 23 nghiên cứu, trong đó có 1 sách về “Vai trò
của phụ nữ Dao trong hoạt động xóa đói giảm nghèo” của tác giả Lê Sỹ Lợi; 1 đề tài cấp tỉnh nghiên cứu về tri thức dân gian của người Dao ở tỉnh Thái Nguyên; 6 luận văn thạc sĩ, 4 khóa luận tốt nghiệp và 11 bài viết trong các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo đề cập tới các lĩnh vực kinh tế, hôn nhân gia đình, tín ngưỡng và văn hóa dân gian của người Dao ở các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang
- Nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu: gồm 26 nghiên cứu (với 1 luận án tiến sĩ, 2 đề tài
nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, 5 luận văn thạc sĩ, 5 khóa luận tốt nghiệp và 13 bài viết trên các tạp chí, hội thảo) Các nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu xoay quanh các vấn đề: văn hóa, đô thị hóa, ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng, nhà cửa, sự tiếp biến văn hóa…
- Nghiên cứu về dân tộc Pà Thẻn: Có 1 nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng
Nga (luận văn thạc sĩ) về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Pà Thẻn
- Các dân tộc chưa được nghiên cứu: Hoa, Hà Nhì, Phù Lá, Lô Lô, La Hủ, Cống,
Ngái, Si La
2.3 Các công trình nghiên cứu không cụ thể về dân tộc nào: có 24 công trình,
trong đó nghiên cứu lý thuyết về nhân học có tác giả Nguyễn Thị Quế Loan với sách
“Giáo trình nhân học”; tác giả Dương Quỳnh Phương với công trình “Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững (vùng trung du - miền núi phía Bắc)”; sách “Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số Việt Bắc” của PGS TS Nguyễn Văn Lộc; nghiên cứu “Tìm hiểu văn hóa tộc người của các nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam (đề tài cấp Trường, chủ nhiệm: TS Nguyễn Chí Huyên), còn lại là các bài viết nghiên cứu về hôn nhân, bản sắc văn hóa, thực trạng chăm sóc sức khỏe và văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần…
Trang 6trường dẫn đến hiện tượng các đề tài có hướng nghiên cứu trùng lặp, tập trung quá nhiều
ở một số tộc người hay ở một số lĩnh vực Trong khi đó, có những tộc người, có những lĩnh vực chưa được đề cập đến Đề tài nghiên cứu của sinh viên, học viên có thể là một phần của đề tài các cấp do giảng viên hướng dẫn chủ trì hoặc đề tài độc lập do sinh viên, học viên tự chọn Trong quá trình hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học, giảng viên cũng đồng thời tự mình phải làm việc, phải NCKH Ngược lại, khi sinh viên NCKH sẽ tích lũy được kinh nghiệm để có khả năng độc lập nghiên cứu sau này, đồng thời cũng
hỗ trợ cho giảng viên việc tìm kiếm tài liệu và số liệu khi nghiên cứu theo hướng đề tài
mà giảng viên đang thực hiện Nhưng ngoài số ít các giảng viên đang thực hiện đề tài nghiên cứu và hướng dẫn sinh viên làm một nhánh, một phần theo hướng nghiên cứu của mình, còn phần lớn đề tài là do sinh viên lựa chọn dưới sự định hướng của giảng viên Với quy định hướng dẫn 1 đề tài nghiên cứu khoa học được quy đổi = 60 tiết NCKH, 1 khóa luận tốt nghiệp được tính 15 tiết dạy nên có giảng viên thậm chí 5 - 10 năm mà không công bố được một công trình nghiên cứu khoa học mà bằng lòng với việc hướng dẫn sinh viên để “đủ” giờ NCKH
- Với đặc thù là trường chuyên đào tạo giáo viên cho khu vực miền núi phía Bắc nên các nghiên cứu về tộc người cũng tập trung nghiên cứu về khu vực này Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ chú trọng vào 9 dân tộc như: Tày (52 nghiên cứu), Sán Dìu (26 nghiên cứu), Dao (23 nghiên cứu), Hmông (21 nghiên cứu), Nùng (15 nghiên cứu), Thái (11 nghiên cứu), Sán Chay (7 nghiên cứu), Giáy (2 nghiên cứu) và Pà Thẻn (1 nghiên cứu) Điều này, một phần là do sự chú trọng nghiên cứu các tộc người có dân số đông ở địa bàn nghiên cứu; mặt khác, khi định hướng nghiên cứu đề tài cho sinh viên, các giảng viên thường khuyến khích sinh viên lựa chọn chính tộc người mình để nghiên cứu Vì vậy, dẫn đến tình trạng thiên lệch trong nghiên cứu về mỗi tộc người
- Từ thực trạng trên, chúng tôi cho rằng để thực hiện được việc gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy, trước hết, Bộ Giáo dục & Đào tạo cần có cơ chế quy đổi giờ NCKH thành giờ giảng với một tỷ lệ nhất định để giảng viên dành thời gian nhiều hơn cho việc nghiên cứu Trong Trường, cần có sự khống chế số giờ giảng tối đa được phép của giảng viên, tránh hiện tượng giảng viên chỉ là “thợ dạy”, đồng thời cần tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho các đề tài nghiên cứu Có như vậy mới khuyến khích được chủ nhiệm đề tài, khắc phục tồn tại, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học và thực hiện mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”
- Việc thống kê các công trình nghiên cứu về tộc người của các cơ quan nghiên cứu, các trường nói chung và Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên nói riêng đã giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về các nội dung đã nghiên cứu, nhận diện được khả năng, hạn chế cũng như những vấn đề còn thiếu Từ đó, có những định hướng tiếp theo cho bản thân trong nghiên cứu cũng như trong công tác hướng dẫn sinh viên, học viên nghiên cứu khoa học
(Tham khảo thêm Phụ lục 5)
Trang 7PHỤ LỤC 5 Danh mục các công trình nghiên cứu về tộc người của trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
loại
1 Đàm Thị Uyên Chính sách dân tộc của các triều
đại phong kiến Việt Nam (thế kỷ XI- XIX), NXB Văn hóa dân tộc
1998 Sách
2 Đàm Thị Uyên
(viết chung)
Các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, NXB Văn hóa Dân tộc
2003 Sách
3 Nguyễn Văn Lộc Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của
một số dân tộc thiểu số Việt Bắc,
Nhà xuất bản Giáo dục
2006 Sách
4 Dương Quỳnh Phương Cộng đồng các dân tộc với việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững (vùng
trung du- miền núi phía Bắc), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
2010 Sách
5 Nguyễn Thị Quế Loan Giáo trình Nhân học, NXB Đại học
Quốc gia HN
2010 Sách
6 Hoàng Ngọc La Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa
thông tin Thái Nguyên xuất bản
2002 Sách
7 Lê Sỹ Lợi Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao
trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, Nhà xuất bản nông nghiệp
2006 Sách
8 Đàm Thị Uyên Văn hóa Nùng ở Cao Bằng, Nhà
xuất bản Văn hóa Dân tộc
2010 Sách
9 Hoàng Hoa Toàn Các dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc với môi trường sinh thái
1996 Cấp Bộ
10 Nguyễn Thành Trung Đánh giá hiệu quả mô hình y tế
thôn bản khu vực vùng cao miền núi, vùng dân tộc thiểu số Việt Nam
2005 Bộ
11 Trần Thị Việt Trung Bản sắc dân tộc trong thơ ca các
dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (khu vực phía Bắc Việt Nam)
2008 Bộ
12 Hoàng Ngọc La Tín ngưỡng dân gian Tày- Lịch
sử và hiện tại
2000 Bộ
Trang 813 Đàm Thị Uyên Phong tục và tín ngưỡng tôn giáo
của dân tộc Tày Cao Bằng
2008 Bộ
14 Nguyễn Thị Quế Loan Bản sắc của người Sán Dìu ở Thái
Nguyên qua văn hóa ẩm thực
2007 Bộ
15 Nguyễn Thị Quế Loan Giải pháp phát triển bền vững văn
hóa của dân tộc Sán Dìu ở khu vực miền núi phía Bắc
2012 Bộ
16 Hà Thị Thu Thủy
Dương Quỳnh Phương
Nguyễn Thị Quế Loan
Nghiên cứu tri thức dân gian của người Dao ở tỉnh Thái Nguyên và
đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
2011 Tỉnh
17 Nguyễn Chí Huyên Tìm hiểu văn hóa tộc người của
các nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam
2004 Cơ sở
18 Nguyễn Thị Quế Loan Ứng dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy về hôn nhân và gia đình các tộc người ở Việt Nam
2010 Cơ sở
19 Nguyễn Thị Quế Loan Tập quán ăn uống của người Sán
Dìu ở Thái Nguyên
2009 Luận án
20 Hoàng Phương Dung Những khúc hát lễ hội Nàng Hai của
người Tày ở Thạch An - Cao Bằng
2010 Luận văn
21 Hứa Ngọc Quyến Giá trị văn hóa dân tộc Tày ở Việt
Bắc trong lịch sử
1999 Luận văn
22 Bùi Huy Nam Tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc
Tày huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
2008 Luận văn
23 Triệu Thị Phượng Sự tương đồng và khác biệt về nội
dung giữa truyện thơ Tày và truyện thơ Thái
2009 Luận văn
25 Hoàng Minh Nguyệt Hát Tếu của người Tày ở Bắc
Quang-Hà Giang-những đặc điểm nội dung và nghệ thuật
2009 Luận văn
26 Hà Anh Tuấn Văn hóa tâm linh của người Tày
qua hát Then
2008 Luận văn
Trang 927 Vũ Ánh Tuyết Yếu tố tự sự trong dân ca Tày 2008 Luận
văn
28 Lương Anh Thiết Khảo sát một số típ truyện kể dân
gian Tày-Việt
2003 Luận văn
29 Lô Viết Thắng Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Hòa
An (Cao Bằng)
2006 Luận văn
30 Phạm Thế Thành Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc
Chấn
2005 Luận văn
31 Lường Thị Hạnh Văn hóa tinh thần của người Tày ở
Chợ Đồn (Bắc Kạn)
2006 Luận văn
32 Lê Thương Huyền Thơ lẩu của người Tày ở Hà vị,
Bạch thông, Bắc Kạn
2011 Luận văn
33 Lý Thị Huệ Kiến thức bản địa của dân tộc Tày
trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh Bắc Kạn
2011 Luận văn
34 Vũ Thị Hà Tri thức bản địa về ứng xử xã hội
trong cộng đồng người Tày ở huyện Na Hang-tỉnh Tuyên Quang (1986-2010)
2011 Luận văn
35 Lê Thị Phương Thảo Hát lượn Slương của người Tày:
Qua khảo sát ở xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
2011 Luận văn
36 Trần Văn Quyền Làng bản cổ truyền dân tộc Tày ở
huyện Võ Nhai Thái Nguyên
2010 Luận văn
37 Hoàng Hải Yến Văn hóa tinh thần của người Tày ở
huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn
2011 Luận văn
38 Lãnh Thị Duyên Văn hóa bản của người Tày-Nùng
ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang (từ 1945- đến 2010)
2011 Luận văn
39 Dương Quốc Huy Văn hóa của người Tày ở huyện
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
2010 Luận văn
40 Lê Viết Chung Từ ngữ chỉ công cụ lao động trong
tiếng Tày
2011 Luận văn
41 Vy Thị Hồng Tuyến Lễ hội lồng tồng của dân tộc Tày,
Nùng ở huyện Cao Lộc-tỉnh Lạng Sơn
2010 Luận văn
42 Triệu Quỳnh Châu Làng bản của người Tày ở huyện
Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
2010 Luận văn
Trang 1043 Mông Thị Bạch Vân Không gian và thời gian nghệ
thuật trong truyện thơ Tày
2011 Luận văn
44 Vi Thị Hà My Lượn Cọi của người Tày ở vùng
Ba Bể-Bắc Kạn)
2008 Luận văn
45 Lê Thị Thanh Vân Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo
của người Nùng ở huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2009 Luận văn
46 Hoàng Thúy Nga Sli, lượn và lễ hội oóc pò của
người Nùng Phàn Slình ở Hảo Bình-Đồng Hỷ-Thái Nguyên
2010 Luận văn
47 Phan Đình Thuận Nhà của người Nùng ở huyện
Đồng Hỷ-tỉnh Thái Nguyên từ
1945 đến nay
2011 Luận văn
48 Toán Văn Hoàng Hôn nhân và gia đình của dân tộc
Thái đen ở huyện Điện Biên-tỉnh Điện Biên
2007 Luận văn
49 Nguyễn Đại Đồng Trang phục cổ truyền của người
phụ nữ dân tộc Thái huyện Thường Xuân (Thanh Hóa)
2007 Luận văn
51 Đỗ Minh Hải Văn hóa tinh thần của người Thái
ở huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La
2011 Luận văn
52 Nguyễn Thị Việt Hà Tổ chức xã hội và văn hóa bản của
người Thái huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình (1986- 2010)
2012 Luận văn
53 Nguyễn Văn Luyện Môi trường rẻo cao với nghề trồng
trọt của dân tộc Dao Đỏ ở huyện
Sa Pa tỉnh Lào Cai
2007 Luận văn
54 Bàn Tuấn Danh Hôn nhân và gia đình của người
Dao Tiền ở huyện Bạch tỉnh Bắc Kạn
Thông-2007 Luận văn
55 Phạm Vinh Quang Thơ ca dân gian của người dao
Tuyển ở Lào Cai
2008 Luận văn
56 Bàn Thị Quỳnh Giao Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bài
Tài Đoàn
2010 Luận văn
57 Trần Thị Thanh Huệ Sinh kế của người Dao huyện
Thông Nông tỉnh Thái Nguyên
2010 Luận văn
Trang 1158 Phan Thị Hằng Lễ cấp sắc và tang ma của người
Dao tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
2010 Luận văn
59 Nguyễn Văn Sinh Cuộc vận động định canh định cư
đối với đồng bào Mông huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang trong thời kỳ Đổi mới (1986- 2005)
2008 Luận văn
60 Ma Thị Hiên Dấu ấn văn hóa người Mông trong
tác phẩm “Đồng bạc trắng hoa xòe” và “Vùng biên ải” của Ma Văn Kháng
2008 Luận văn
61 Nguyễn Kiến Thọ Một số đặc điểm của thơ ca dân
tộc Mông thời kỳ hiện đại (từ
1945 đến nay)
2008 Luận văn
62 Nguyễn Hoa Hậu Kinh tế-văn hoá của người Mông ở
huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang
từ năm 1986 đến năm 2010
2011 Luận văn
63 Hoàng Thị Hồng Ngân Kiến thức bản địa trong sản xuất
nông nghiệp của người Mông ở huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang
2010 Luận văn
64 Vũ Hồng Cường Tiếng hát về tình yêu lứa đôi trong
dân ca H’Mông Hà Giang
2010 Luận văn
65 Phùng Thị Sinh Tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn
giáo của người Mông ở Đồng Văn (Hà Giang) trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
2010 Luận văn
66 Nguyễn Xuân Cường Tục cấp sắc của người Sán Dìu ở
huyện Lục Ngạn (Bắc Giang)
2007 Luận văn
67 Nguyễn Thị Mai
Phương
Khảo sát loại hình hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
2011 Luận văn
68 Nguyễn Xuân Chiến Tổ chức xã hội và văn hóa của
người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (1945- 2010)
2012 Luận văn
69 Chu Thị Hường Bản sắc văn hóa của người Sán
Dìu ở tỉnh Thái Nguyên
2012 Luận văn
70 Hoàng Thị Liên Gấm Văn hóa tinh thần của người Sán
Dìu ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên (1945- 2010)
2012 Luận văn