Những kết quả đạt được trong thời gian qua của công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang có sự đóng góp không nhỏ cho việc phát triể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG NGỌC SƯƠNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG NGỌC SƯƠNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, tư liệu được dựa trên nguồn tin cậy, có thực và dựa trên thực tế tiến hành khảo sát của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Sương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình
về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
TS Nguyễn Thanh Chương, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn;
Lãnh đạo Trường Đại học kinh tế - ĐHQGHN, toàn thể các thầy cô giáo
đã từng tham gia giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Chính trị Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này;
UBND huyện Yên Minh, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm dạy nghề huyện Yên Minh, UBND thị trấn và các xã trên địa bàn huyện Yên Minh;
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Giang, ngày 8 tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Sương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 7
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 7
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.2 Nội dung về quản lý, đào tạo nghề 20
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đạo tạo nghề 24
1.3 Cơ sở thực tiễn 32
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
1.3.2.Một số bài học kinh nghiệm quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương trong nước 36
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Nguồn tài liệu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.1.2 Các câu hỏi đề tài cần giải quyết 38
2.2.3 Phương pháp và xử lý thông tin 39
2.2.4 Phương pháp phân tích 39
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40
2.4 Dự báo nhu cầu lao Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đến năm 2020 40
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG GIAI
ĐOẠN 2010 ĐẾN 2014 42
3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề của huyện Yên Minh, tỉnh Hà giang 42
3.1.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên 42
3.1.2 Sản xuất nông - lâm nghiệp 43
3.1.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, xây dựng 46
3.1.4 Chương trình xây dựng nông thôn mới 48
3.1.5 Thương mại, dịch vụ, du lịch 49
3.1.6 Tài chính, tín dụng 50
3.1.7 Phát triển các thành phần kinh tế 51
3.1.8 Công tác quản lý tài nguyên và môi trường 52
3.1.9 Giáo dục - đào tạo 52
3.1.10 Văn hóa, thông tin, truyền thông 53
3.1.11 Khoa học, công nghệ 54
3.1.12 Giải quyết các vấn đề xã hội 54
3.2 Thuận lợi 55
3.3 Khó khăn 56
3.4 Bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý ĐTN trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang 58
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG 60
4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh 60
4.1.1 Một số quan điểm và định hướng chủ đạo 60
Trang 74.1.2 Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý ĐTN cho LĐNT 61
4.2.3 Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm 66
4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn 78
4.2.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân về công tác ĐTN cho LĐNT 79
4.2.2 Tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động và nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp 79
4.2.3 Phát triển nhân lực tham gia quản lý, ĐTN cho LĐNT 80
4.2.4 Phát triển đổi mới giáo trình, nội dung đào tạo 80
4.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề 81
4.2.6 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác ĐTN cho LĐNT 81
4.2.7.Tăng cường kiểm soát đảm bảo chất lượng dạy nghề 82
4.2.8 Phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực 82
4.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 83
4.2.10.Với Chính phủ, các bộ ngành và UBND tỉnh Hà Giang 83
4.2.11 Với UBND Huyện Yên Minh 83
4.2.12.Với cơ sở đào tạo nghề 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3 CMKT Chuyên môn kỹ thuật
5 CSXH Chính sách xã hội
6 GQVL Giải quyết việc làm
9 LĐNT Lao động nông thôn
11 PTNN Phát triển nông nghiệp
12 TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
13 TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
Trang 9ii
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu
2 Bảng 4.1 Liên kết hoạt động ĐTN gắn với GQVL giữa
Trang 10iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI, nền kinh tế chuyển dần từ lao động chân tay sang lao động trí óc, các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao thường có giá trị lớn, tiêu hao tài nguyên thiên nhiên ít, sự ô nhiễm môi trường được hạn chế Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2020 được Đại hội Đảng lần thứ
XI thông qua, một trong những giải pháp có tính đột phá, để thực hiện được mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực qua đào tạo nghề và chính sách bảo đảm việc làm sau đào tạo Để làm được điều đó công tác quản lý đào tào nghề góp phần vô cùng quan trọng
để thực hiện được mục tiêu
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới Trong bối cảnh đó, nước ta có những cơ hội để phát triển nhưng bên cạnh đó cũng có những khó khăn và thách thức Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rất ấn tượng trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành một số mục tiêu, Việt Nam được đánh giá cao về xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người trong độ tuổi lao động Tuy nhiên, khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam nói chung và các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam cũng phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn và lợi thế cạnh tranh là giá nhân công rẻ đã giảm đi đáng kể Khi tham gia hội nhập kinh
tế thế giới, xuất phát điểm phát triển của Việt Nam còn quá thấp Lao động đã qua đào tạo còn thấp, trình độ tay nghề và kỹ năng làm việc nhóm còn hạn chế, những sản phẩm có đòi hỏi kỹ thuật cao còn ít Nguồn nhân lực có kỹ năng, kỹ thuật cao còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu của những nghành nghề đòi hỏi kỹ thụât cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến… Để có nguồn nhân lực có
kỹ năng, trình độ tay nghề cao để đáp ứng vào môi trường lao động chung của
Trang 12Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động của
Chính phủ là: “Xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo và việc
làm Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo người trong độ tuổi lao động đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các doanh nghiê ̣p, cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ Đồng thời chuyển nghề cho một b ộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở”
Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ
2011-2020, Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 trong đó yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ lĩnh vực dạy nghề để đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI), Ban chấp hành
Trung ương đã đặt ra yêu cầu đổi mới: “Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập
trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật, công nghệ của thị trường lao động trong nước
và quốc tế” Đây là một nhiệm vụ khó khăn đối với sự nghiệp dạy nghề, đòi
hỏi phải có phương pháp, kế hoạch, chương trình, giáo trình, phương tiện, con
Trang 13Hà Giang là một tỉnh vùng cao biên giới phía bắc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, kinh tế còn khó khăn, có nguồn lao động dồi dào nhưng còn hạn chế về trình độ, năng lực, nên chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế của địa phương nói chung và đáp ứng nhu cầu việc làm nói riêng khi gia nhập thị trường lao động trong toàn quốc Năm
2009 tỉnh Hà Giang đã phối hợp với các ban ngành liên quan triển khai Đề án Đào tạo nguồn nhân lực từ năm 2010 - 2020 Mục tiêu của Đề án là tuyển sinh dạy nghề ngắn hạn, dài hạn cho 28.760 lao động, trong đó đào tạo nghề bằng nguồn kinh phí của Nhà nước là 17.430 người, nguồn kinh phí lao động
tự đóng góp là 11.330 người Đồng thời quan tâm đến các ngành nghề đào tạo theo nhu cầu xã hội như kỹ thuật điện, điện tử, sửa chữa ô tô, nghiệp vụ khách sạn, nhà hàng, xây dựng, thêu ren, công nghê ̣ thông tin, v.v
Những kết quả đạt được trong thời gian qua của công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
có sự đóng góp không nhỏ cho việc phát triển kinh tế của địa phương, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội và giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhâ ̣p cho người lao đô ̣ng Tuy nhiên, bên cạnh
Trang 144
những thành tựu đạt được thì công tác quản lý đào tạo nghề vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và chưa đáp ứng được yêu cầu như: chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; chưa chuyển mạnh đào tạo theo nhu cầu của xã hội, chưa giải quyết tốt giữa việc tăng số lượng đào tạo với nhu cầu các nghề mà xã hội cần Công đào tạo nghề còn gây lãng phí nguồn lực của xã hội như: đào tạo chưa gắn kết được với các doanh nghiệp, chương trình đào tạo còn nặng tính lý thuyết, việc thực hành tại các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp còn ít; chậm đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, đào tạo những nghề mà xã hội không có nhu cầu, trái lại những nghề mà xã hội đang cần thì lại đào tạo chưa đủ hoặc chưa đạt yêu cầu, v.v…
Xuất phát từ tình trạng trên đây, đòi hỏi cấp ủy và chính quyền huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang phải có những mục tiêu, phương hướng cụ thể trong công tác quản lý đào tạo nguồn nhân lực nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng; theo đó, việc đào tạo phải gắn với thị trường lao động, mở rộng ngành nghề nhưng phải nâng cao chất lượng đào tạo và đặc biệt là phát huy hiệu quả đào tạo nghề, gắn việc đào tạo với giải quyết việc làm Để đáp ứng những đòi hỏi đó, cần có chiến lược về đào tạo cho phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Xuất phát từ những thực tế đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài
“Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu nghiên cứu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Phạm vi về không gian: huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu trong thời gian từ 2010 đến 2014 (Sơ kết 5 năm thực hiện Đề án 1956 về công tác Giảm nghèo, vsiệc làm và Dạy nghề cho lao động nông thôn 2010 – 2014)
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Luận văn góp phần làm rõ hơn một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn Phân tích, đánh giá đầy đủ về thực trạng Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2010 đến 2014, luận văn
Trang 166
chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý đào tạo nguồn nhân lực của địa phương gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
Luận văn phân tích và rút ra những thành tựu, đồng thời phát hiện những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực
tiễn về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010-2014
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
Trang 177
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN 1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là một vấn đề khá mới mẻ Tuy nhiên, khi khảo sát tư liệu cho đề tài, Tôi thấy có một số bài báo, công trình luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ…ít nhiều đã đề cập đến nội dung của đề tài như sau
“Đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp”
(2008) là bài báo của TS Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH (2008) đăng trên báo “Giáo dục và thời đại” Trong bài báo này, tác giả đã tập trung đánh giá, nhận định và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu doanh nghiệp Tuy nhiên, bài báo còn chưa đề cập đến nhu cầu lao động củ a các
cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, các cửa hàng tạp hóa, dịch vụ, v.v…
Tác giả Xuân Minh (2013) với bài viết: “Đào tạo nghề phải gắn với thị
trường lao động”, Báo điện tử Văn hiến.vn Bài viết đề cập việc hướng đào
tạo nghề gắn với thị trường lao động, nhưng chỉ mang tính chất gợi ý, tham khảo, mà chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn trong vấn
đề giải quyết việc làm hiện nay
Tác giả Từ Lương (2013) trong bài báo “Phải gắn đào tạo nghề với
giải quyết việc làm”, đăng trong Báo điện tử Chính phủ, đã đưa các vấn đề
đào tạo nghề gắn với việc làm trên cơ sở tổng kết báo cáo về xây dựng nông thôn mới Đối tượng mà tác giả tập trung nghiên cứu ở đây là nông dân và các nghề đào ta ̣o ngắn ha ̣n Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các đối tượng ho ̣c nghề có trình đô ̣ cao hơn
Trang 188
Tác giả Thảo Linh (2013) với bài viết “Kết quả thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số từ năm 2010 đến 2013”, đăng trên Trang thông tin điện tử của Ban nội chính Trung ương
Trong bài báo này, tác giả tập trung đánh giá kết quả thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số, trong đó có liệt kê các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm
Nguyễn Hoàng Nam, 2009 Quản lý nhà nước về ĐTN tại Phú Thọ
trong giai đoạn hiện nay Luận văn thạc sỹ kinh tế
Công trình nghiên cứu đã tập trung vào công tác ĐTN của các trường dạy nghề và yếu tố ảnh hưởng đến công tác dạy nghề tại tỉnh Phú Thọ nhưng chưa nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến người học đặc biệt người học là LĐNT và tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt cao hay thấp
Phạm Mạnh Hà, 2011 Vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc làm
cho LĐNT tỉnh Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH Chuyên đề chuyên
sâu 3 cấp Tiến sỹ
Công trình nghiên cứu đã chỉ ra nhưng tồn tại, yếu kém và những vấn
đề đặt ra cần giải quyết trong tạo việc làm cho LĐNT tỉnh Ninh Bình Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với giải quyết việc làm cho LĐNT tỉnh Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH và giải pháp đầu tiên tác giả đề xuất là cần coi trọng công tác quản lý nhà nước về lao động và ĐTN
Nguyễn Minh Vịnh, 2013 Hỗ trợ của Nhà nước nhằm giải quyết việc
làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở huyện Từ Liêm – thành phố Hà Nội Luận văn Thạc sỹ kinh tế
Đã tập trung nghiên cứu những vấn đề bức thiết cần giải quyết đối với lao động nông nghiệp của huyện Từ Liêm trong bối cảnh đất nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng để thực hiện đô thị hoá và thực trạng việc hỗ trợ của
Trang 199
Nhà nước để giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trên địa bàn Từ đó tác giả đưa ra một số khuyến nghị giải quyết tốt hơn vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại huyện Từ Liêm
Xuân Minh, 2013 Đào tạo nghề phải gắn với thị trường lao động Báo
điện tử Văn hiến.vn
Bài viết đề cập việc hướng ĐTN gắn với thị trường lao động, nhưng chỉ mang tính chất gợi ý, tham khảo, mà chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm hiện nay
Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn khác, với các cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực quản lý đào tạo nghề cũng đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Do vậy,
đề tài: “Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh,
tỉnh Hà Giang” là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách cụ thể và
có hệ thống Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý đào tạo nghề, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời gian tới
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ,
Trang 2010
nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải quyết vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản
sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Quản lý theo định nghĩa của các trường phái quản lý học
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì
và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
Trang 21- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"
Chủ trương của Peter F Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do
và phát triển
Từ đó có thể thấy, cơ sở chính trong giải quyết độ khó của vấn đề là
"quan điểm về hệ thống", cơ sở chính trong giải quyết độ khó về thời gian là
"quan điểm về sự chuyển động” Như vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F Dalark là cách nhìn hệ thống mở và chuyển động" Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư tưởng triết học về quản lý của ông
Tư tưởng triết học về quản lý của Peter F Dalark
Quản lý doanh nghiệp phải theo nguyên tắc: "lấy hiệu quả kinh tế thực
tế làm nguyên tắc hoạt động, đây là một cách nhìn tổng thể lấy thành tích làm cốt lõi"
Nguyên tắc quản lý dành cho giám đốc cần có động lực mạnh mẽ quản
lý mục tiêu và kiểm soát bản thân để họ trở thành một người giám đốc giỏi Quản lý công việc thì nhấn mạnh: công việc cần có sức sản xuất và phải thông
Trang 2212
qua những công cụ phân tích, tổng hợp, kiểm soát và thí nghiệm Quản lý nhân công coi trọng nguồn nhân lực, làm cho họ có cơ hội, chủ động phát huy ưu điểm của mình, thoả mãn nhu cầu về chức năng và địa vị xã hội của họ trong công việc, đưa đến cho họ cơ hội, quyền lợi như nhau để mỗi người thể hiện giá trị, hoài bão của mình
Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng hến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại;
là đơn giản chứ không phải phức tạp.Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ
sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của
nó Vậy, làm thế nào để khái quát khái niệm quản lý một cách đơn giản và tương đối toàn diện?
Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?
Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó
Yếu tố tạo thành nên hoạt động quản lý
Trang 2313
Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố
cơ bản sau cấu thành:
- Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?
- Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?
- Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì?
- Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào?
Vì bản thân hành vi quản lý là do 4 yếu tố trên tạo thành, do vậy 4 yếu tố
đó đương nhiên cần được thể hiện trong định nghĩa về quản lý Tiếp theo, do hoạt động quản lý đích thực cần vận dụng chức năng và phương pháp quản lý
để đạt được mục đích quản lý đề ra nên điều này cũng cần được thể hiện trong định nghĩa về quản lý Tuy nhiên, Fayel trong định nghĩa quản lý đã trực tiếp chỉ ra rằng: Quản lý chính là lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát; và nếu lý giải một cách đơn giản như vậy thì quản lý lại trở thành một hành động cụ thể mà mất đi bản chất thống nhất của nó Định nghĩa quản lý nên phản ánh khách quan đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý, thể hiện bản chất quản lý, hay có thể nói, trong định nghĩa về quản lý nhất định phải đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất, hiệu quả
Dựa trên tác dụng, vai trò của những yếu tố trong quản lý kể trên và quan hệ lôgic giữa chúng, có thể khái quát ý nghĩa cơ bản của quản lý Thông thường mà nói, quản lý là hành vi mà những thành viên trong tổ chức thực hiện ở một môi trường nhất định nhằm nâng cao năng suất công việc, để đạt được mục đích của tổ chức
Thực ra, nếu một mực truy đến cùng câu hỏi "quản lý là gì?” thì bản thân câu hỏi hầu như không có giá trị Cho dù chúng ta có thảo luận, nghiên cứu ra sao, về mặt lí luận mà nói, chúng ta vẫn không đạt được sự thống nhất, trên thực tế cũng không thể đưa ra một kết luận chung Nhưng chính vì câu
Trang 2414
hỏi "quản lý là gì?" có sức ảnh hưởng sâu rộng đến mỗi một học giả nghiên cứu vấn đề quản lý, đến mỗi một người thực hiện công việc quản lý như vậy nên làm rõ vấn đề này mới thực sự có ý nghĩa, mặc dù để làm rõ vấn đề "quản
lý là gì?" quả thực là công việc không mấy dễ dàng
Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện
Chúng ta hãy bàn về khái niệm "quản lý" trên phạm vi rộng lớn hơn, quy mô hơn như trên phạm vi quốc gia chẳng hạn Trong một tờ báo có đăng tải số liệu thống kê năm 2001 cho biết: thu nhập bình quân đầu người nước
Mỹ bằng 11 lần một số nước châu Á Thu nhập bình quân đầu người của Mỹ không phải do một người Mỹ mà là giá trị bình quân của toàn bộ người dân
Mỹ tạo nên Sự cách biệt về thu nhập bình quân này không phải do sự cách biệt về chỉ số thông minh của người dân hai nước mà là do khả năng tương tác của họ không giống nhau Cụ thể nói đến công việc thì đó là phương thức quản lý và chiến lược quản lý của 2 nước là không giống nhau
Có thể đưa ra kết luận rằng: Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm,
nó là sự kết hợp của 3 phương diện:
Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân
Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên
Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo
ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể
1.2.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề
Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình
thành và phát triển hệ thống các kiến thức, kỹ năng thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả cao
Trang 2515
Đào tạo nghề: Luật Dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006 định nghĩa:
“Dạy nghề (ĐTN) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi đã hoàn thành khoá học”
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Như vậy, nội dung của ĐTN bao gồm: Trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định
ĐTN bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa….); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị…) và phổ cập nghề cho lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp)
1.2.1.3 Khái niệm về nghề
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào
tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản
phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định
Trang 2616
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân
tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời…
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình
độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm,
tự tạo việc làm…
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với
tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội
Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau
Trang 2717
Theo Luật dạy nghề thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu : “Dạy nghề
là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động nhừng kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”
Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực”, coi công nhân như cái máy sản xuất Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay
1.2.1.4 Khái về nông thôn
Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Các nàh xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như: Thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hoá, sự phồn thịnh, sự phân hoá xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội… sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn – đô thị Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội,
hệ thống tương tác trong từng vùng (bảng 1.1)
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo không gian, thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới
Trang 2818
góc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân,
trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định
và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác
Bảng 1.1 Tiêu chí phân biệt khu vự nông thôn và khu vực thành thị Tiêu chí Khu vực nông thôn Khu vực thành thị
Nghề nghiệp Những người sản xuất nông nghiệp,
một số ít phi nông nghiệp
Những người sản xuất công nghiệp, dịch vụ
Môi trường Môi trường tự nhiên ưu trội, quan
hệ trực tiếp với tự nhiên
Môi trường nhân tạo ưu trội, ít dựa vào tự nhiên Kích cỡ
cộng đồng
Cộng đồng làng bản nhỏ, văn minh nông nghiệp
Kích cỡ cộng đồng lớn hơn, văn minh công nghiệp
cộng đồng
Cộng đồng thuần nhất hơn về các đặc điểm chủng tộc và tâm lý
Không đồng nhất về chủng tộc và tâm lý Phân tầng xã
hội
Sự khác biệt và phân tầng xã hội ít hơn so với đô thị
Sự khác biệt và phân tầng xã hội nhiều hơn so với nông thôn
Di động xã
hội
Di động xã hội theo lãnh thổ, theo nghề nghiệp không lớn, di cư cá nhân từ nông thôn ra thành thị
Cường độ di động lớn hơn, có biến động xã hội mới có di cư từ thành thị
Tác động xã hội tới từng
cá nhân lớn hơn Quan
hệ xã hội thứ cấp, phức tạp, hình thức hoá
Trang 2919
Một số đặc điểm của nông thôn Việt Nam, đó là:
- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các nghành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp
Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn kinh tế chính của đại bộ phận nông dân Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, snả xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theon đó, tỷ trọng lao động và GDP của các nghành kinh
tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ
1.2.1.5 Khái niệm về lao động nông thôn
Lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động không phân biệt giới tính và những người trên độ tuổi, dưới độ tuổi có thể tham gia lao động ở khu vực nông thôn, bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Hiện nay ở Việt Nam quy định độ tuổi lao động từ 15 - 60 tuổi đối với nam và từ 15 – 55 tuổi đối với nữ
- Phân loại lao động nông thôn:
+ Lao động phổ thông: là lao động thuần tuý, chưa được đào tạo qua hệ thống trường lớp một cách bài bản, kỹ năng lao động của họ chủ yếu là kinh nghiệm được học hỏi từ những người đi trước và qua thực tiễn sản xuất, lực lượng lao động hiện chiếm phần lớn ở khu vực nông thôn
+ Lao động có kỹ thuật: ngược lại với lao động phổ thông, lao động có
kỹ thuật là lao động đã được đào tạo một cách bài bản, kỹ năng lao động của
họ được nâng cao do đó được học tập, trau dồi qua trường lớp kết hợp với
Trang 3020
thực tiễn Hiện lực lượng này vẫn còn chiếm tỷ lệ hạn chế trong lực lượng lao động ở khu vực nông thôn
1.2.2 Nội dung về quản lý, đào tạo nghề
1.2.2.1 Các đặc điểm về dạy nghề và phân loại đào tạo nghề
a) Các đặc điểm về dạy nghề
Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học
và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau :
- Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo
để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp
- Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, thời gian học thực hành chiếm khoảng 70% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90- 95%
- Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi
- Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Dạy nghề dài hạn; Dạy nghề ngắn hạn: Dạy nghề theo modul; Dạy nghề kèm cặp; Dạy nghề lưu động; Dạy nghề tại nơi làm việc hoặc dạy một công đoạn trong dây truyền sản xuất, một phần công việc cụ thể…
b) Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề khác nhau, tùy theo mỗi tiêu thức người ta có thể phân loại đào tạo nghề theo các loại hình đào tạo khác nhau:
- Căn cứ vào nghề đào tạo và người học: gồm đào tạo mới, đào tạo lại
và đào tạo nâng cao:
Đào tạo mới là: là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề)
Đào tạo lại: là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề, nhưng vì một lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa
Trang 3121
Đào tạo nâng cao: là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn
- Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: gồm đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn;
Đào tạo ngắn hạn là loại hình đào tạo nghề có thời hạn dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề hoặc những nghề đơn giản
Đào tạo dài hạn: là loại hình đào tạo nghề có thời hạn đào tạo từ một năm trở lên Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn đào tạo ngắn hạn
1.2.2.2 Nội dung về đào tạo nghề
- Mục tiêu đào tạo nghề: Việc xác định mục tiêu đào tạo nghề là hết sức quan trọng, vì bất cứ một công việc, một ngành nghề nào đều có những yêu cầu nhất định về kiến thức, kỹ năng và khả năng hoàn thành của người lao động
- Xác định nhu cầu đào tạo: là cơ sở để lập kế hoạch đào tạo Xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng của từng nghề, cấp bậc chuyên môn cần đào tạo
- Xác định chương trình đào tạo nghề: là xác định trình độ cần đào tạo cho người lao động, ngành nghề đào tạo, khối lượng kiến thức thực hành cần cung cấp cho người học phù hợp với điều kiện công việc thực tiễn
- Phương pháp đào tạo: Là việc truyền thụ kiế n thứ c về lý thuyết và thực hành cho người ho ̣c Chương trình bắt đầu ho ̣c lý thuyết trên lớp , sau đó đưa ho ̣c viên đến xưởng của CSDN hoă ̣c xưởng của doanh nghiê ̣p , dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoă ̣c thợ lành nghề , người học thực hành trên các thiết bi ̣ thực tế
- Đánh giá kết quả đào tạo: để đánh giá kết quả của người học sau khi đã ho ̣c xong chương trình đào ta ̣o , xác định xem học viên có đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đưa ra không , kỹ năng, tay nghề của người ho ̣c sau khi đào
tạo có đáp ứng được với thực tế hay không
Trang 3222
Dạy nghề là một phân hệ trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa quản lý và đào tạo nghề
Đào tạo nghề là tạo ra năng lực thực hiện cho người học Đào tạo để làm việc, người lao động có được năng lực thực hiện, cần có chỗ để thể hiện năng lực đó Đào tạo nghề trở thành công cụ điều chỉnh sâu cơ cấu chất lượng của lực lượng lao động, tạo cho người lao động có kỹ năng thực hành, thành thạo các động tác kỹ thuật về một nghề nào đó Đó là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, các kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân Việc làm tạo
ra nhu cầu đào tạo, người lao động muốn có việc làm, thu nhập tốt, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc làm đặt ra cho đào tạo Đào tạo là mô phỏng yêu cầu và hoạt động của việc làm, do đó có thể nói việc làm quy định nội dung đào tạo
Trong mối quan hệ gắn kết giữa quản lý, đào tạo phải dựa trên cơ sở nhu cầu lao động trên thị trường lao động Đào tạo ai, đào tạo ghề gì, cần đào tạo ở cấp trình độ nào… phải do cầu lao động trên thực tế quyết định
Ngày nay người lao động chưa qua đào tạo (lao động phổ thông) cơ hội tìm được việc làm trong các doanh nghiệp, tổ chức là rất thấp Do các yêu cầu của trình độ kỹ thuật, tay nghề của người lao động, đòi hỏi sự hiểu biết về máy móc, vật tư, kỹ thuật để tạo ra sản phẩm cho xã hôi, sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp… Hoạt động
Trang 3323
đào tạo có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động nói riêng:
Đối với doanh nghiệp: Đào tạo nghề được xem là một yếu tố cơ bản
nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau: Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc Giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ
có thể tự giám sát được Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động Đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực Giảm bớt được tai nạn lao động Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế
Đối với người lao động: Công tác đào tạo nghề và phát triển nguồn
nhân lực không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp chop người lao động cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào thải trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội Và
nó còn góp phần làm thoả mãn nhu cầu phát triển cho người lao động
Đối với nền kinh tế xã hội: Giáo dục, đào tạo nghề và phát triển năng
lực của người lao động có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế
xã hội của một quốc gia Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự phát
Trang 3424
triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2.2.4 Nội dung của quản lý gắn với đào tạo
Nội dung của việc kết nối giữa quản lý và đào tạo có thể khái quát dưới một số hoạt động chủ yếu sau:
- Trao đổi và cập nhật thông tin về nhu cầu của thị trường lao động về ngành nghề, trình độ đào tạo, về số lượng và chất lượng (những yêu cầu về chuẩn kỹ năng hành nghề cần có …) để có định hướng phát triển;
- Phối hợp xây dựng , phát triển cơ sở da ̣y nghề đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiê ̣p ; phối hợp sử dụng nguồn lực (Đội ngũ hướng dẫn thực hành, cơ sở vật chất và thiết bị của doanh nghiê ̣p …);
- Phối hợp xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, chuẩn kiến thức
kỹ năng các trình độ đào tạo; Phối hợp tuyển sinh đào tạo; Phối hợp đánh giá kết quả học tập của người học trong các kỳ thi hoặc đánh giá kỹ năng nghề…;
- Chỉ đạo, định hướng để cơ sở dạy nghề tiếp cận doanh nghiệp thực hiện chính sách liên kết trong đào tạo và sử dụng sản phẩm sau đào tạo; hỗ trợ kinh phí từ doanh nghiê ̣p đối với cơ sở da ̣y nghề và người học nghề;
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đạo tạo nghề
Đào tạo để làm việc, người lao động có được năng lực thực hiện, cần có chỗ để thể hiện năng lực đó Đào tạo nghề tạo ra nhu cầu cho người lao động muốn có việc làm, doanh nghiệp có lực lược lao động có chất lượng Quản lý đào tạo chịu sự tác động của các nhân tố bên trong (chủ quan) và yếu tố bên ngoài (khách quan) Có thể phân các yếu tố thành nhóm để xem xét như sau:
Trang 3525
Các nhân tố bên trong
(chủ quan)
Quản lý đào tạo nghề
Các nhân tố bên ngoài (khách quan)
việc làm Đội ngũ cán bộ quản lý
số, lao động
đào tạo nghề
Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo nghề
1.2.3.1 Các yếu tố bên trong
Quản lý đào tạo nghề ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố bên trong của quá trình bao gồm: người học, cơ sở vật chất, tài chính, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình, hệ thống cơ sở dạy nghề, mục tiêu đào tạo, kiểm tra đánh giá, những yếu tố này thể hiện quá trình quản lý của công tác đào tạo nghề Có thể xem sét một số yếu tố chính sau:
a) Người học nghề
Học viên học nghề là nhân tố rất quan trọng, có tính chất quyết định đến công tác quản lý ĐTN, nó ảnh hưởng toàn diện đến công tác quản lý ĐTN Trình độ văn hóa đầu vào, độ tuổi, sự hiểu biết, cá tính, tâm lý, quỹ thời gian, khả năng tài chính… của người học đều ảnh hưởng đến quy môn và chất lượng ĐTN Học viên có sức khỏe, trình độ văn hóa tốt thì khẳ năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học được lĩnh hội nhiều hơn, khi đó chất lượng
Trang 3626
tay nghề của người học được đáp ứng tốt hơn, kỹ thuật tay nghề được thành thạo và khả năng đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp được tốt hơn
b) Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Giáo viên là người có vai trò truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho người học trên cơ sở các trang thiết bị dạy học hiện có Do đó, năng lực của giáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến khả năng thao tác, thành nghề của người hoc và tác động đến công tác quản lý đào tạo nghề để công tác quản lý đào tạo nghề được tốt hơn
ĐTN có sự khác biệt rất lớn với các cấp học trong nền giáo dục quốc dân, ngành nghề đào tạo đa dạng, trình độ văn hóa và độ tuổi của học viên rất khác nhau Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng đa dạng với nhiều trình độ khác nhau Do đó, giáo viên dạy nghề phải đủ về số lượng
và chất lượng, nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho người học
Vai trò của cán bộ quản lý trong các cơ sở dạy nghề cũng ảnh hưởng lớn đến công tác ĐTN Thể hiện trình độ, năng lực quản lý của các CSDN, sự nhạy bén của đội ngũ này giúp cho công tác ĐTN được đẩy nhanh hay chậm, chất lượng cao hay thấp, mối quan hệ với các doanh nghiệp trong tạo việc làm, thực hành nghề, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo, quan hệ với cấp thẩm quyền để có cơ hội đầu tư cơ sở vật chât và thiết bị…
Các mục tiêu của giáo dục đào tạo sẽ không thực hiện được nếu không
có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đủ mạnh Chất lượng của đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm giáo dục đào tạo, mặc dù lấy người học làm trung tâm của đào tạo Mọi sự bất cập về số lượng, chất lượng, trách nhiệm của người thầy so với yêu cầu đào tạo đều có ảnh hưởng đến kết quả đào tạo Đối với sinh viên, tấm gương về đạo đức, nhân cách, tài năng của người thầy có tác dụng rất lớn đối với việc hình thành nhân cách, tài năng của
họ Muốn có trò giỏi (NNL có chất lượng) ắt phải có thầy giỏi, bởi trong thực
Trang 3727
tế người thầy không thể cho học sinh của mình cái mà mình chưa có được Trình độ chuyên môn của thầy yếu dẫn tới việc truyền tải tri thức và tay nghề cho sinh viên không đầy đủ, thậm chí còn sai lệch, học sinh thông minh nhưng không có thầy giỏi dẫn dắt thì sự thông minh ấy không thể trở thành nhân tài được Vì vậy phải xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đồng thời phải chú trọng việc nâng cao trình độ giáo viên trong các trường, tạo điều kiện cho
họ được cập nhật với các tri thức khoa học hiện đại và phát triển đội ngũ giáo viên tài năng Trong các nhà trường để hoạt động đào tạo đạt được kết quả, ngoài đội ngũ cán bộ giảng dạy không thể thiếu đội ngũ cán bộ quản lý với năng lực, trình độ, trách nhiệm cao trong bộ máy quản lý hành chính Thực tế cho ta thấy mọi hoạt động trong nhà trường cần được tiến hành một cách đồng
bộ và thống nhất Vì vậy cần phải có hệ thống quản lý từ Ban giám hiệu đến các phòng, ban chức năng để thực hiện các công việc từ quản lý con người đến quản lý và điều hành các hoạt động giáo dục rèn luyện ý thức đạo đức cho sinh viên, cũng như hoạt động giảng dạy, hoạt động phục vụ cho giảng dạy, hạch toán thu chi, mua sắm và vận hành, bảo quản các trang thiết bị, cơ sở vật chất… Một bộ phận nào đó trong hệ thống trên bị trục trặc hay suy yếu đều ảnh hưởng và gây ách tắc tới hoạt động của các bộ phận khác, do đó ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo và tăng chi phí đào tạo NNL Nhưng việc thực hiện tốt các hoạt động trong hệ thống trên lại phụ thuộc vào trình độ năng lực và ý thức trách nhiệm của chính những con người được quyền phân công và sử dụng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường Cho nên phải có đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực trình độ phù hợp với công việc và ý thức trách nhiệm cao
Trang 3828
c) Cơ sở vật chất, tài chính
Cơ sở vật chất gồm: phòng học, xưởng thực hành, thư viên, vật tư thực hành, các thiết bị phục vụ cho quá trình thực hành, thư viên, học liệu, thiết bị nghe nhìn… Đây là yếu tố dung môi để cho người học được tiếp xúc với các kiến thức từ cơ bản đến kỹ năng thực hành, nó giúp người học nhận thức những được vấn đề cần thiết cho một quá trình lao động kỹ thuật Máy móc, thiết là những thứ không thể thiếu trong quá trình dạy nghề, nó giúp cho học viên đi từ lỹ thuyết đến thực hành làm cho người hoc hoàn thiện các thao tác
kỹ thuật thực hành nghề Điều kiện cơ sở vật chất tốt, hiện đại và theo sát với trình độ công nghệ sản xuất thực tế thì học viên thích ứng và vận dụng nhanh trong công việc Do đó cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho ĐTN đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Tài chính cho ĐTN cũng tác động gián tiếp đến việc đảm bảo công tác ĐTN Thông qua khẳng năng trạng bị về phương tiện dạy học, vật tư thực hành, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng cán bộ giáo viên, đậu tư cho người học… Tài chính nếu được đầu tư lớn thì có điều kiện năng cao chât lượng đào tạo, thực hiện việc hỗ trợ sau đào tạo và giải quyết việc làm cho người học Các nguồn tài chính chủ yếu: từ ngân sách nhà nước, đóng góp của người học, hợp tác với doanh nghiệp, các nguồn tài trợ từ bên ngoài khác
Cơ sở đào tạo NNL đều phải dựa trên những điều kiện cơ sở vật chất nhất định để cho các hoạt động giảng dạy trong các trường đào tạo NNL, thực hiện được cần có sự hỗ trợ rất lớn về tài chính và những điều kiện vật chất Ngoài nguồn lực tài chính dùng để trả lương cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý trong các trường, còn cần một lượng không nhỏ để xây dựng mở mang trường lớp, các thiết bị văn phòng, máy tính, dụng cụ vật tư kỹ thuật cho thí nghiệm thực hành, các thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy có chất lượng cao, giáo trình và tài liệu cho sinh viên học và tham khảo Thực tế
Trang 3929
đã chứng minh để đáp ứng yêu cầu nhân lực kỹ thuật không thể thiếu điều kiện trang thiết bị và xưởng thực hành Không có các điều kiện trên việc tiếp xúc với trang thiết bị trở nên xa lạ, sinh viên không được làm quen với các thao tác nghề, những kiến thức lý thuyết thu nhận được sẽ mai một dần theo năm tháng, kỹ năng của người thợ không được hình thành Hơn nữa, nếu không có nguồn tài chính để bổ sung các thiết bị hiện đại cho sinh viên thực hành sẽ không đáp ứng khoa học công nghệ hiện nay và cũng không thể đáp ứng yêu cầu phát triển NNL theo hướng kinh tế tri thức
d) Chương trình, giáo trình
Chương trình, giáo trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong hoạt động dạy nghề, là minh chứng của các CSDN trong việc dạy cái gì? Dạy như thế náo? Và cũng là cung cụ để các cấp quản lý của Nhà nước theo dõi, đôn đốc, chấn chỉnh và phát triển trong hoạt động ĐTN
Chường trình đào tạo được cấp có thẩm quyền phê duyệt là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng ĐTN Không có chương trình đào tạo sẽ không có căn cứ để cấp phép đào tạo, quy định môn học cần phải đào tạo theo nghề, đành giá các ngành nghề đào tạo của đổi tượng tham gia học nghề và việc đào tạo sẽ diễn ra theo chật tự nhất định, thống nhất theo tiêu chuẩn của quốc gia Chương trình đào tạo phân chia phần lý thuyết và thực hành theo tỷ
lệ, ứng với mỗi ngành nghề thì tỳ lệ phân chia hai phần này khác nhau tương ứng với nội dung cũng như thời gian học
Giáo trình cũng tương tự như chương trình, giáo trình là những quy định cụ thể hơn chương trình về cụ thể từng môn học Nội dung giáo trình phải tiên tiến, thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc ĐTN mới sát với thực tế và hiệu quả cao
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý, sát với nhu cầu của thị trường lao động cũng như sát với ĐTN để học viên có
Trang 4030
thể nắm bắt được những kiến thức, áp dụng tốt vào nghề được đào tạo là rất
quan trọng ảnh hưởng chức tiếp đến công tác ĐTN
e) Mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu quốc gia, của ngành, của tỉnh
và của trường (mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn) Muc tiêu đáp ứng nhu
cầu thực tiễn của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp
trong hợp tác đào tạo, đáp ứng nhu cầu của người hoc Mục tiêu càng sát thực,
càng khả thi thì công tác ĐTN càng hiệu quả cao Do vây, khi xây dựng mục
tiêu đào tạo cần phải có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng đối
tượng sử dụng lao động qua đào tạo
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến quản lý ĐTN
1.2.3.2 Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến ĐTN bao gồm các điều kiện, hỗ
trợ cho hệ thống, hợp với các yếu tố bên trong tác động đến kết quả ĐTN
ĐÀO TẠO NGHỀ
QUẢN
LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
Điều kiện môi trường tác động
Thông tin phản hồi
- Mục tiêu đào tạo
- Chương trình, giáo
trình
- Đội ngũ cán bộ quản
lý, giáo viên, học viên
- Cơ sở vật chât, tài
chính
- Tổ chức, quản lý