ĐỀ ÁN NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI VỀ RÁC THẢI NÓI CHUNG VÀ RÁC THẢI SINH HOẠT NÓI RIÊNG.Danh mục:1.Mở đầu2.Đặt vấn đề3.Vấn đề rác thải và môi trường và khí hậu4.Mối quan hệ giữa chất thải, môi trường và biến đổi khí hậu.5.“Tài nguyên rác thải”6.Xử lý rác thải7.Kết luận8.Các tổ chức về môi trường.
Trang 1ĐỀ ÁN TĂNG
CƯỜNG NHẬN THỨC VỀ RÁC THẢI
ĐỀ ÁN NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI VỀ RÁC THẢI NÓI CHUNG VÀ RÁC THẢI SINH HOẠT NÓI RIÊNG
Nguyễn Quang Tuấn
Trang 2ĐỀ ÁN NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI VỀ RÁC THẢI NÓI CHUNG VÀ RÁC THẢI SINH HOẠT NÓI RIÊNG.
Danh mục:
6 Xử lý rác thải
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1 Mở đầu: Vì một hành tinh xanh ……… 3
1.1 Nhiệt tăng, băng tan ……… 3
1.2 Đại hồng thủy và hạn hán kéo dà ……… 3
1.3 Biến đổi khí hậu thực sự nghiêm trọng và cấp bách ……… 5
2 Đặt vấn đề : Nâng cao nhận thức của con người về vấn đề chất thải ……… 6
2.1 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới ……… 6
2.2 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam ……… 7
3 Chất thải – môi trường – biến đổi khí hậu ……… 8
3.1 Chất thải ……… 8
3.2 Môi trường ……… 9
3.3 Biến đổi khí hậu ……… 10
4 Mối quan hệ giữa chất thải, môi trường và biến đổi khí hậu ……… 10
5 “Tài nguyên rác thải” ……… 11
6 Xử lý rác thải ……… 13
6.1 Thu gom rác ……… 13
6.2 Phân loại rác ……… 13
6.3 Tái chế và tái sử dụng rác thải ……… 13
6.4 Giảm thiểu chất thải ……… 14
Lợi ích ……… 15
7 Kết luận ……… 15
8 Các tổ chức về môi trường trên thế giới và việt nam ……… 16
Trang 41 Mở đầu: Vì một hành tinh xanh
Theo số liệu thống kê của các tổ chức về môi trường trên toàn thế giới, cách đây khoảng 10.500 năm trở về trước, được coi là thời kỳ băng hà cuối cùng của lịch sử Trái đất Từ đó đến nay, nhiệt độ Trái đất ấm dần lên Trong 100 năm qua, nhiệt độ Trái đất đã tăng khoảng 0,74oC, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của tăng nhiệt độ không khí, tan băng diện rộng và mực nước biển tăng
1.1 Nhiệt tăng, băng tan
Từ năm 1978 đến nay, lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm đi khoảng 2,1-3,3% mỗi thập kỷ Số liệu quan trắc đã ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu Mực nước biển tăng bởi sự nóng lên của toàn cầu do hiện tượng giãn nở nhiệt của đại dương, tan băng ở Greenland, Nam Cực và các khu vực khác, thay đổi khả năng giữ nước ở đất liền
Mặc dù một số khu vực có xu hướng giảm xuống như bờ biển phía Đông của Nam Mỹ, Nam Alaska và Đông Bắc Canada nhưng kết quả ghi nhận tại hầu hết các trạm quan trắc đều cho thấy xu hướng mực nước biển dâng, dâng nhanh nhất là ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961-2003 đã dâng với tốc độ 1,8±0,5mm/năm và tan băng khoảng 0,7±0,5mm Nghiên cứu cập nhật năm 2009 cũng cho kết quả tương tự Báo cáo của Viện Nghiên cứu Tác động biến đổi khí hậu Potsdam đã khẳng định nước biển dâng cao thêm 50cm vào những năm 2050 là khó tránh khỏi bởi hậu quả của các chất thải trong quá khứ và trong một vài trường hợp, tác động này có thể xảy ra sớm hơn Tuy nhiên mực nước biển thay đổi không đồng đều trên toàn bộ đại dương thế giới
1.2 Đại hồng thủy và hạn hán kéo dài
Mưa lớn, lũ quét, triều cường lịch sử xuất hiện ngày càng nhiều kéo theo là ngập lụt Điển hình như trận lụt tại Thái Lan năm 2011 có tới hơn 3 triệu người bị ảnh hưởng, hơn 500 người chết, 930 nhà máy thuộc 28 tỉnh, thành phố bị hư hại Thiệt hại vật chất lên đến 185 tỷ bath và làm giảm 0,6-0,9%
Hì nh 2 Hiện tượng tan băng ở bắc cực Hì nh 1 Biểu đồ gia tăng nhiệt độ
Trang 5tăng trưởng kinh tế năm đó của Thái Lan Cơn bão Haiyan đổ bộ vào Phillippines năm 2013 đã làm cho 4 triệu người phải di dời Số người bị chết và mất tích lên đến hơn 7 ngàn người Năm 2013 cũng
là năm mà Philippines có số người chết bởi thảm họa thiên nhiên cao nhất thế giới
Hì nh 3 ngập lụt ở Thái Lan
Lượng mưa đã giảm đi ở một số khu vực như Nam Á, Tây Phi nhưng lại tăng lên ở Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á Tần suất mưa lớn tăng lên ở nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu hướng giảm xuống
Nhóm nghiên cứu của nhà khoa học Yukiko Hirabayashi đã cảnh báo nguy cơ ngập lụt trên Trái đất lên đến trên 42% diện tích bề mặt Châu Á và châu Phi là hai khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Những trận đại hồng thủy sẽ thường xuyên xuất hiện ở các khu vực Nam Á, Đông Nam Á, Đông Bắc
Á-Âu, Đông Phi và các vùng trũng của châu Phi, Nam Mỹ- vốn là những khu vực gánh chịu lũ lụt triền miên Nếu những biện pháp hữu hiệu không được can thiệp kịp thời thì những trận đại hồng thủy vốn chỉ xuất hiện 100 năm một lần ở thế kỷ trước sẽ xuất hiện ở tần suất 10-50 năm/lần trong thế kỷ này Tuy nhiên, cũng có khoảng 18% diện tích bề mặt Trái đất lũ lụt lại giảm như ở Đông Âu Việt nam
là nước trực tiếp chịu tác động nặng nề của những trận đại hồng thủy có thể sảy ra trong tương lai Trái ngược với điều đó thì nhiều nơi hạn hán kéo dài hàng vài tháng trời không có được một giọt mưa Các cánh đồng trù phú ngày nào biến thành vùng đất khô cằn đến cỏ không mọc được Những khu hồ, đầm lầy, đập nước cũng cạn khô nứt nẻ Khi nhiệt độ trái đất ấm lên dưới 2oC thì những đợt nóng cực điểm mà hiện nay hầu như chưa xảy ra sẽ bao trùm khoảng 60-70% tổng diện tích đất đai vào mùa hè và những đợt nóng chưa từng có với nhiệt độ từ 30-40oC sẽ bao trùm những vùng đất ở
Trang 6cực Bắc Nhiệt độ tăng thêm 4oC thì những tháng hè mà như hiện nay được gọi là nắng nóng cực điểm, chưa từng có sẽ trở lên phổ biến, ảnh hưởng đến 90 triệu km2 diện tích đất đai trong thời gian những tháng hè tại khu vực Bắc bán cầu Hạn hán không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành trồng trọt, chăn nuôi mà còn kéo theo dịch bệnh, đói nghèo và làm đảo lộn cuộc sống của con người, nhất là khu vực vốn nghèo đói lại càng điêu đứng hơn Trung tâm Quốc gia về giảm thiểu hạn hán (ĐH Nebraska-Lincoln) đã chỉ ra 28 nhóm tác động của hạn hán đối với KTXH, môi trường Cách đây mấy tuần, nắng nóng cực điểm đã tràn qua khu vực Nam Á và kéo theo hàng ngàn người chết
Hình 4 Hạn hán kéo dài
1.3 Biến đổi khí hậu thực sự nghiêm trọng và cấp bách.
Đối tượng dễ bị tổn thương nhất của biến đổi khí hậu lại là nông dân, cư dân nghèo đô thị Khoảng 60% dân số và 3/4 số người cực nghèo sống ở các vùng nông thôn của châu Á-Thái Bình Dương Gần
900 triệu người nghèo nơi đây sẽ phải đối mặt nhiều hơn với những tác động phức tạp của biến đổi khí hậu như thay đổi lượng mưa, hạn hán, lũ lụt, mực nước biển dâng và làm biến mất những hòn đảo, vùng đất trên bản đồ thế giới Khi mực nước biển dâng cao từ 0,5-2 mét trong thế kỷ này, sẽ có tới 125 triệu người thuộc khu vực Đông Á, Đông-Nam-Á và Nam Á phải di cư Một số đảo ở Thái Bình Dương như các đảo Carteret của Papua New Guinea có thể chỉ còn là ký ức Theo báo cáo năm 2014 của IDMC được Liên Hợp Quốc dẫn nguồn, từ năm 2008-2013 có tới 165 triệu người phải di dời do thảm họa của thiên tai, cao nhất là năm 2010 với 42,4 triệu người Những trận bão là nguyên nhân chủ yếu (chiếm 64,8%) khiến người dân phải di dời Thống kê của Cred và Statista cho thấy trong 10 nước chịu thảm họa thiên tai lớn nhất năm 2013 chủ yếu là ở châu Á - Thái Bình dương Hàng năm có hàng trăm triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi biến đổi khí hậu
Trang 7Chính phủ các nước đã liên tục ngồi lại với nhau để cùng bàn thảo về vấn đề cắt giảm khí thải và chung tay hành động vì một hành tinh xanh Nhưng việc bảo vệ môi trường không phải của riêng ai
mà là của tất cả chúng ta Mỗi chúng ta, dù hành động nhỏ nhất cũng gây tác động đến môi trường vì vậy hãy chung tay bảo vệ môi trường từ những việc nhỏ nhặt nhất như giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng rác thải
2 Đặt vấn đề : Nâng cao nhận thức của con người về vấn đề chất thải.
2.1 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới: Các nước phát triển đã có những mô
hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác
sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu
cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim loại, đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không
có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4%
và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử
lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%) (Lê Văn Nhương, 2001)
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp mà phải xử lý theo phương pháp nhất định Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc
Trang 8giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn khi áp dụng các yêu cầu này
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ
và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng
2.2 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, đô thị hóa và dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao là những nguyên nhân chính dẫn đến lượng phế thải phát sinh ngày càng lớn Chính do tốc độ phát triển kinh tế - xã hội khả năng đầu tư có hạn, việc quản lý chưa chặt chẽ cho nên việc quản lý tại các khu đô thị, các nơi tập chung dân cư với số lượng lớn, các khu công nghiệp, mức độ ô nhiễm do chất thải rắn gây ra thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Hầu hết các bãi rác trong các đô thị từ trước đến nay không theo quy hoạch tổng thể, nhiều thành phố, thị xã, thị trấn chưa có quy hoạch bãi chôn lấp chất thải Việc thiết kế và xử lý chất thải hiện tại ở các đô thị đã có bãi chôn lấp lại chưa thích hợp, chỉ là những nơi
đổ rác không được chèn lót kỹ, không được che đậy, do vậy đang tạo ra sự ô nhiễm nặng nề tới môi trường đất, nước, không khí… ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng
Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã, đã thành lập các công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lượng rác phát sinh hàng ngày còn rất lớn Trừ lượng rác thải đã quản lý số còn lại người ta đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp (Cục BVMT, 2008)
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Các đô thị khu vực
Trang 9Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa,
xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh
từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị
Chất thải sinh hoạt hiện đang là một trong những nguồn lớn gây ra ô nhiễm môi trường Quản lý rác thải là một trong những vấn đề bức xúc tại khu vực đô thị và công nghiệp tập trung ở nước ta Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý rác thải sinh hoạt ngày càng được nhà nước, xã hội và cộng đồng quan tâm Tuy nhiên, nếu quản lý và tái sử dụng hợp lý thì rác thải sinh hoạt cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú, mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần rất lớn trong việc bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên
3 Chất thải – môi trường – biến đổi khí hậu.
3.1 Chất thải
"Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” (Trích điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ban hành năm 2005)
Các loại chất thải có nguồn gốc khác nhau: Chất thải từ quá trình sản xuất gọi chung là chất thải sản xuất (trong đó có chất thải nông nghiệp, chất thải công nghiệp…) Chất thải có nguồn gốc từ quá trình sinh hoạt gọi là chất thải sinh hoạt
Chất thải thường ở các thể: Thể lỏng (nước, bùn ga cống, chất lỏng dầu mỡ) thể khí, thể rắn Rác thải
là cách gọi chất thải ở thể rắn, hay còn gọi là rác
Rác thải được phân ra thành khá nhiều loại, một số trong đó là:
• Rác tự phân hủy (các loại thức ăn thừa, thực vật chết ), là các thành phần xuất phát từ thiên nhiên nên dễ trở về với thiên nhiên
• Rác tái chế được (vật liệu xây dựng, kim loại, thủy tinh, bìa giấy)
• Chất thải có thành phần độc hại (hóa chất, pin ), không tái chế được (túi nilon), thậm chí nguy hiểm cho thiên nhiên và con người
Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật Rác phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, rác sinh hoạt có thể
Trang 10định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống
Rác thải quá nhiều xả thẳng ra môi trường không qua xử lý là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ô nhiễm môi trường bao gồm môi trường đất, nước, không khí và sinh vật
Kết quả khảo sát do Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TPHCM thực hiện cho thấy, với những bãi chôn lấp được xem là hợp vệ sinh cũng không ngăn được hiện tượng rác bị phân hủy và phát thải ra môi trường các chất khí như CO2, CH4, H2S gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Còn tại những bãi rác Đông Thạnh, Gò Cát tuy đã đóng cửa, không tiếp nhận rác nhưng trong vòng bán kính 3km, đất và nguồn nước ngầm khu vực này đều có những dấu hiệu ô nhiễm Và đây là một trong những khó khăn mà TPHCM đang phải đối mặt
Riêng đối với công tác quản lý, tình trạng vừa thiếu vừa yếu về nhân lực đã hạn chế năng lực thanh – kiểm tra cũng như phát hiện và xử lý kịp thời hành vi vi phạm môi trường từ hoạt động thu gom và xử
lý rác thải Và hệ quả của vấn đề này là mục tiêu đến năm 2020, phải có 50% tổng lượng rác thải phát sinh được tái chế, 30% tái sinh thành năng lượng và 20% chôn lấp khó có khả năng đạt được
Một vấn đề đáng lo khác là việc thu gom và lưu chứa chất thải rắn hầu như chưa được quan tâm tại những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ Phổ biến nhất là tình trạng các cơ sở thường áp dụng công nghệ xử
lý chất thải rắn lạc hậu, chưa đảm bảo kỹ thuật và vệ sinh môi trường; chưa quan tâm đến việc đầu
tư công nghệ để tái chế chất thải Thậm chí, không ít doanh nghiệp vì lợi nhuận đã sẵn sàng xả thải ra môi trường khi chưa xử lý
3.2 Môi trường
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá trình tồn tại và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và
ở từng thời kì
Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội - Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn
sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này bị các quá trình vật
lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên