1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG THỂ VỀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ

55 728 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở CƠ SỞ 2.1 Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX và kết hợp thực hiện các ch

Trang 1

Dự thảo

ĐỀ ÁN TỔNG THỂ VỀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ.

Phần thứ nhất

SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN,

I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN;

1.1 Xuất phát từ vị trí, vai trò của Hệ thống chính trị ở cấp cơ sở:

Theo Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 quy định cơ sở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã hoặc cấp cơ sở) là đơn vị hành chính cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã từng dạy: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” 1 Cấp xã ổn định thì an

ninh, chính trị, xã hội của đất nước ổn định

Cấp xã là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống; Chính quyền cấp

xã, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức Đoàn thể chính trị- xã hội là cầu nối trực tiếp toàn

bộ hệ thống chính trị với dân, là nơi tổ chức, vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, khai thác mọi tiềm năng ở địa phương để phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Cán bộ cấp xã bao gồm cán bộ Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các

Đoàn thể chính trị- xã hội Thực tiễn ở cấp xã đã khẳng định “cán bộ nào thì phong trào nấy”; tình hình cấp xã tốt hay yếu kém chủ yếu là do cán bộ quyết

định Cán bộ cấp xã là người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân và là người trực tiếp tổ chức để nhân dân thực hiện

1.2 Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở cần hoàn thiện chế độ chính sách phù hợp cho cán bộ, công chức cấp xã

Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ban hành

Nghị quyết số 17/NQ- TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”.

Nghị quyết đề ra 5 nhiệm vụ trọng tâm là: đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở; đổi mới và nâng cao hiệu lực của Chính quyền

cơ sở; đổi mới công tác của Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể nhân dân; xây dựng

1 Hồ Chí Minh toàn tập - Tập 5 - NXB Chính trị quốc gia - năm 1995, trang 371.

Trang 2

đội ngũ cán bộ cơ sở; đổi mới sự chỉ đạo của cấp trên đối với cơ sở Do vậy, vấn

đề thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý cho cán bộ, công chức cấp xã là một trong những nội dung cần thiết khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ cơ

sở nhằm tiếp tục cụ thể hoá Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX góp phần xây dựng

hệ thống chính trị cấp xã vững mạnh và hoàn thiện bộ máy Nhà nước nói chung trong tiến trình cải cách nền hành chính hiện nay

1.3 Yêu cầu của thực tiễn cần có văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã:

Những yếu kém, bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở trong thời gian qua,

có nhiều nguyên nhân: do bản thân hệ thống chính trị ở cơ sở, do toàn bộ hệ thống chính trị; nhưng có một nguyên nhân quan trọng như ý kiến của Trung ương, Bộ chính trị đã nhấn mạnh trong Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương 5, khoá IX là: “Nguyên nhân chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của cơ sở, quan liêu,

để một thời gian quá dài không có chính sách đồng bộ đối với cán bộ, thiếu chăm

lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho cơ sở, không kịp thời bàn và đưa ra

những chính sách để củng cố và tăng cường cơ sở”

Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, khoá X cũng

đã nêu rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém hiện nay có nguyên nhân

khách quan, song chủ yếu là do một số nguyên nhân chủ quan, trong đó: “ việc ban hành các quy định, hướng dẫn của trung ương về công tác xây dựng đảng còn chậm, thiếu đồng bộ, một số quy định hướng dẫn chưa sát thực tế Chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở còn bất cập; đội ngũ cấp uỷ viên ít được bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ công tác xây dựng đảng và cập nhật những kiến thức mới, nhất là

về kinh tế, xã hội và pháp luật”.

Các Nghị định của Chính phủ đối với cán bộ, công chức cơ sở (Nghị định

số 121/2003/NĐ-CP, Nghị định số 114/2003/NĐ- CP) hơn 5 năm thực hiện đã bộc

lộ nhiều bất cập từ khâu quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, quản lý đến chế

độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cơ sở Bản thân đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở chưa được chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng, đến nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhiều cán bộ không vượt qua được khó khăn thử thách đã vi phạm pháp luật hoặc không được nhân dân tín nhiệm để tiếp tục công tác

1.4 Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ:

Văn phòng Chính phủ có công văn số 5875/VPCP- VX ngày 15 tháng 10

năm 2007 thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ “ Giao Bộ Nội vụ tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương xây dựng Đề án tổng thể về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở và soạn thảo Nghị định thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ ở xã, phường, thị

Trang 3

trấn phù hợp với nội dung các đề án sẽ trình và triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị trung ương 6, khoá X, trình Chính phủ xem xét ”.

Đề án này đề cập vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở bắt đầu từ việc xây dựng tổng thể về chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khoá IX, Nghị quyết Hội nghị trung ương 6, khoá X ; góp phần tạo ra khung pháp lý, môi trường thuận lợi, chế độ, chính sách thống nhất phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước để thu hút và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn

II CĂN CỨ VÀO NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:

2.1.Nghị quyết số 17/NQ- TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”;

2.2 Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X;

2.3 Nghị quyết số 17/NQ- TW ngày 01 tháng 8 năm 2007, hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành trung ương đảng khoá X về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”;

2.4 Nghị quyết số 22/NQ- TW ngày 02 tháng 2 năm 2008 hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành trung ương đảng khoá X “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”;

2.5 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;

2.6 Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam công bố ngày 28/11/2008;

2.7 Pháp lệnh thực hiện Dân chủ ở xã, phường, thị trấn;

2.8 Căn cứ các Nghị định của Chính phủ:

- Nghị định số 114/2003/ NĐ - CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán

bộ, công chức xã, phường, thị trấn;

- Nghị định số 121/2003/ NĐ - CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;

- Nghị định số 107/2004/ NĐ - CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ quy định

số lượng phó chủ tịch, cơ cấu thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp;

- Nghị định số 159/2005/ NĐ - CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn;

2.9 Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ Phê duyệt Định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010;

Trang 4

2.10 Công văn số 5875/VPCP- VX ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ: “Giao Bộ Nội vụ tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

và các địa phương xây dựng Đề án tổng thể về chế độ, chính sách đối với cán bộ

cơ sở và soạn thảo Nghị định thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ ở xã, phường, thị trấn phù hợp với nội dung các đề án sẽ trình và triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị trung ương 6, khoá X, trình Chính phủ xem xét trong quý II năm 2008”

a Thời kỳ kháng chiến chống Pháp đến năm 1980:

Từ 1945 đến 1946, Uỷ ban hành chính xã; số lượng Uỷ viên ở mỗi xã, từ 5 đến 7 người;

Từ 1947 đến 1957, Uỷ ban hành chính kháng chiến xã; số lượng Uỷ viên ở mỗi xã từ 5 đến 7 người;

Từ 1958 đến 1979, Uỷ ban hành chính xã; số lượng uỷ viên ở mỗi xã từ 5 đến 7 người;

b Thời kỳ từ 1980 đến nay: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đều quy định cụ thể số thành viên Uỷ ban nhân dân mỗi cấp, trong đó cấp xã giảm dần số thành viên Uỷ ban nhân dân (Luật năm 1983 quy định Uỷ ban nhân

dân cấp xã có từ 7 đến 9 thành viên nhưng đến Luật năm 2003 quy định Uỷ ban nhân dân cấp xã có từ 3 đến 5 thành viên)

1.2 Số cán bộ làm công tác Đảng, công tác Hội đồng nhân dân, thành viên

Uỷ ban nhân dân, cán bộ làm công tác đoàn thể, cán bộ giúp việc cho tổ chức Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn ngày càng được quy định rõ Riêng thành phố Hồ Chí Minh, Chính phủ đã cho thực hiện thí điểm mô hình tự đề xuất của thành phố từ ngày 20/3/1981 (đối với phường có 31 chức danh, đối với xã có 33 chức danh)

Hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn hiện nay, bên cạnh các tổ chức “cứng” như: tổ chức cơ sở đảng (có các ban của Đảng); chính quyền (có Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và công chức chuyên môn); Mặt trận Tổ quốc và

Trang 5

các Đoàn thể chính trị - xã hội, còn có các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp khác như: hội Người cao tuổi, hội Chữ thập đỏ, hội khuyến học, hội Người mù, hội Chất độc da cam, hội Tù yêu nước, hội Từ thiện, hội Đông y, hội Cựu quân nhân, hội Kế hoạch hoá gia đình, hội Làm vườn, hội Liên hiệp thanh niên, hội đình sản, Công đoàn xã, phường, thị trấn, Ban liên lạc hưu trí giúp việc Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn ngoài các bộ phận công chức chuyên môn nghiệp vụ, còn các Ban chỉ đạo và hội đồng như: Ban chỉ huy Quân sự xã, Ban Công an xã; Ban Thanh tra nhân dân; Ban vì sự tiến bộ Phụ nữ; Trạm y tế, Đài truyền thanh; Nhà văn hoá; Tổ thuế, trường học …và gần 30 Ban chỉ đạo: Ban chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; xoá đói giảm nghèo; dân số, kế hoạch hoá gia đình; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ hạnh phúc; phòng chống lụt, bão; tuyên truyền pháp luật; phòng chống tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường; bảo vệ rừng; xây dựng trường chuẩn Quốc gia; phòng chống dịch cúm gia cầm; phòng chống tội phạm; vận động phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc; xây dựng quỹ vì người nghèo; xây dựng quỹ Bảo trợ trẻ em; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây dựng xã văn hoá; xây dựng

xã, phường, thị trấn phù hợp ví trẻ em; xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân; ban chỉ đạo sinh hoạt hè; hội đồng nghĩa vụ quân sự; hội đồng tư vấn thuế; hội đồng tư vấn xét giao quyền sử dụng đất; trung tâm giáơ dục cộng đồng…dưới thôn, tổ dân phố có

tổ dân vận, tổ hoà giải, tổ liên gia tự quản

1.3 Bên cạnh những chuyển biến, tiến bộ nêu trên, Uỷ ban nhân dân một số

xã, phường, thị trấn chưa quy định chế độ làm việc cụ thể, còn sai sót trong vận dụng quy định của pháp luật, nặng về tập quán, thói quen, tình cảm; sự chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế còn lúng túng Một số Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn còn biểu hiện trì trệ, kém năng động, thiếu nhậy bén, hiệu quả quản lý còn hạn chế; một số nơi có biểu hiện dồn việc xuống cho trưởng thôn hoặc đùn đẩy công việc lên cấp trên, nếu không có biện pháp chấn chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến việc quan liêu

xa dân, nhất là khi cán bộ cấp xã chuyển sang chế độ công chức

Để giải quyết một số nhiệm vụ liên quan đến các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, một số chính quyền cấp xã vẫn thực hiện mô hình quyết định số 112/HĐBT ngày 15 tháng 10 năm 1981 của Hôi đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ và Tổ chức Bộ máy của Chính quyền cấp xã để thành lập một số ban giúp việc cho chính quyền cấp xã như: ban Tài chính, ban Văn hoá- Xã hội, ban kinh tế- kế hoạch, ban chỉ huy Quân sự xã, Công an xã

Đặc biệt điều 130 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quy định: “Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và hướng dẫn về tổ chức một số cơ quan chuyên môn để Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương”

Tuy nhiên, hiện nay ở cấp xã chưa được điều tra xác định rõ nhiệm vụ quản

lý hành chính cụ thể để có cơ sở xây dựng bộ máy; chưa có văn bản của Chính phủ

Trang 6

quy định thống nhất chính quyền cấp xã tổ chức theo 3 khối như tinh thần Nghị

quyết Trung ương 5, khoá IX (Khối kinh tế - tài chính; Khối văn hoá- xã hội; Khối nội chính), mỗi Khối bao gồm những thành phần nào để giúp ủy ban nhân dân

cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của cấp trên và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở

II CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở CƠ SỞ

2.1 Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở

Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX và kết hợp thực hiện các chỉ thị, nghị quyết khác của Trung ương, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở đã có một số chuyển biến tiến bộ và đạt được kết quả bước đầu về số lượng, chất lượng, cụ thể như sau:

Theo số liệu điều tra năm 2005, tổng số cán bộ, công chức cấp xã toàn quốc

có 192.438 người (trong khi đó cán bộ, công chức hành chính ở Bộ, ngành Trung ương, ở cấp tỉnh, cấp huyện của cả nước có 195.422 người) So với dân số tại thời điểm điều tra (toàn quốc 83.119.600 người) thì cán bộ, công chức cấp xã chiếm 0,23% dân số Như vậy, cứ 10.000 dân có 23 cán bộ, công chức cấp xã và 24 cán

bộ, công chức hành chính từ Trung ương đến địa phương So với diện tích tự nhiên (toàn quốc 32.992.918 km2) bình quân cứ 10km2 có 06 cán bộ công chức hành chính và cũng có gần 06 cán bộ, công chức cấp xã, trong đó:

+ Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử (sau đây gọi tắt là cán bộ chuyên trách) có 111.124 người = 57,75% so với tổng số;

+ Công chức chuyên môn cấp xã (sau đây gọi tắt là công chức) có 81.314 người = 42,25% so với tổng số;

+ Cán bộ, công chức là nam giới: 161.240 = 83,79%; nữ giới: 31.198 = 16,21%; người dân tộc thiểu số: 41.936 = 21,79%; đảng viên: 162.932 = 84,67%; tôn giáo: 7.469 = 3,88%

- Về độ tuổi của cán bộ, công chức :

+ Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử: dưới 30 tuổi có 7.716 người = 6,94 %; từ 30- 45 tuổi có 42.397 = 38,15%, từ 46- 60 tuổi có 55.535 = 49,98% và trên 60 tuổi có 5.476 = 4,93%;

+ Công chức: dưới 30 tuổi có 20.243 người = 24,89%, từ 30- 45 tuổi có 39.215 = 48,23%, từ 46- 60 tuổi có 21.486 = 26,42% và trên 60 tuổi có 370 = 0,46%

Trang 7

- Về cán bộ nữ: tỷ lệ bình quân 16,21% Một số nơi tỷ lệ khá cao như thành phố Hồ Chí Minh 40%, Hà nội 29%; một số tỉnh chỉ dưới 8% như: Sơn La, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cà Mau.

- Về Đảng viên: tỷ lệ đảng viên 84,67% nhưng không đồng đều, nhiều địa phương trên 90% như: Hải phòng, Hải dương, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Ninh Bình, Vĩnh Phúc; nhưng có nơi chỉ đạt 60% như: Khánh Hoà, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa- Vũng Tàu

- Trình độ văn hoá: chưa biết chữ có 253 = 0,13%, tiểu học 5644= 2,93%, THCS 41.343= 21,48%, THPT 145.198= 75,45% Nhìn chung trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ cơ sở còn thấp, một số tỉnh, thành còn có cán bộ trình độ học vấn tiểu học, nhất là các tỉnh miền núi, Tây nguyên như: Lai Châu 42%, Lào Cai 30%, Hà Giang 20%, Kon Tum 21%

- Trình độ chuyên môn: số cán bộ có trình độ trên đại học 64 = 0,04%; Cao đẳng& Đại học 17.391= 9,04%; Trung học 62.295 = 32,37%; Sơ cấp 18.886 = 9,81% Còn lại 93802 = 48,74% chưa được đào tạo về chuyên môn Số cán bộ có trình độ đại học ở các thành phố khá cao như: thành phố Hà Nội trên 33%, thành phố Hồ Chí Minh 21%, Đà Nẵng 19%, Hải Phòng 14% Các tỉnh trung du, miền núi, Tây nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệ này chỉ dưới 2%

- Trình độ lý luận chính trị: cán bộ có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị là 7.847= 4,09%; trung cấp 73.429 = 38,15%; sơ cấp 44.106 = 22,94%; còn lại 67.056 = 34,82% chưa được đào tạo về lý luận chính trị

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước và ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ ở cơ sở còn rất thấp: 55,53% chưa được đào tạo về quản lý hành chính nhà nước; 98,81% chưa có trình độ ngoại ngữ và trên 87% chưa có trình độ tin học

- Kiến thức An ninh- Quốc phòng: mới có 37.277 = 19,37% cán bộ được bồi dưỡng kiến thức về An ninh; 23.048 = 12,16% cán bộ được bồi dưỡng kiến thức về Quốc phòng

- Về thâm niên công tác: số cán bộ có thâm niên công tác giữ chức vụ hiện tại dưới 5 năm 12.411 = 64,49%; từ 5 - 10 năm có 46.415 = 24,11%; trên 10 năm

có 21.912 = 11,38%

- Về thời gian công tác nói chung của cán bộ: dưới 5 năm có 95.172 = 49,74%; từ 5- 10 năm có 64.745 = 33,65%; từ 16 - 30 năm có 27.039 = 14,05%; trên 30 năm có 4.933 = 2,56%

- Về nguồn cán bộ: có 100.508= 90,45% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử là người tại chỗ; 3.585 =3,23% là cán bộ tăng cường; 7.026 = 6,03% là cán

bộ hưu trí, mất sức (một số nơi cán bộ hưu trí, mất sức tham gia đông như Hà Nội,

Đà Nẵng 19%, thành phố Hồ Chí Minh 14%)

Trang 8

Nhìn chung, trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện tại còn nhiều bất cập và thấp so với yêu cầu của thực tế.

* Về cán bộ không chuyên trách cấp xã, cán bộ thôn, tổ dân phố: toàn quốc

có 764.733 Trong đó cán bộ không chuyên trách cấp xã: 197.025; cán bộ thôn, tổ dân phố, công an viên: 567.708 Nhìn chung, chất lượng đội ngũ cán bộ không chuyên trách thấp, chưa đáp ứng được với nhiệm vụ được giao (nhất là ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên)

2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng;

- Theo số liệu thống kê, trong 5 năm thực hiện Quyết định số 74/2001/QĐ- TTg ngày 7 tháng 5 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001- 2005; tổng số lượt cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng cả nước đạt 976.000 lượt người; việc nâng cao trình độ và năng lực hoạt động cho cán bộ, công chức cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội, góp phần phục vụ tốt mục tiêu của chương trình tổng thể cải cải cách hành chính và chiến lược cán bộ của Đảng Số cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng tăng lên gấp 3 lần so với giai đoạn 1996- 2000, trong đó số được đào tạo trình độ trung cấp chuyên môn trở lên tăng gấp 2 lần so với thời điểm năm 2000 Những năm gần đây đã thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức và kỹ năng hoạt động thực thi công vụ chuyên sâu theo chức danh như các khoá bồi dưỡng kỹ năng cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, đào tạo tiếng dân tộc, thiểu số cho gần 3.500 lượt cán bộ, công chức; quý 4/2004, quý 1/2005 các địa phương đã tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp trong đó đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là 267.960/278.960 đại biểu, đạt 96%

- Năm 2006, kết quả đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo quản lý, ngoại ngữ, tin học, tiếng dân tộc đựơc 137.494 lượt người; bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố được 91.310 lượt người

- Năm 2007,kết quả đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo quản lý, ngoại ngữ, tin học, tiếng dân tộc đựơc 183.021 lượt người; bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố được 134.812 lượt người

Tóm lại: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở trong những năm qua

mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, nhưng cũng tồn tại những yếu, kém bất cập:

+ Nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng còn chậm đổi mới, chưa cập nhật kịp thời những thay đổi từ thực tiễn; giáo trình, tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu

Trang 9

+ Cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

cơ sở còn thiếu;

+ Chế độ, chính sách cho người học còn chậm đổi mới chưa động viên kịp thời người học (nhất là cán bộ, công chức ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ)

2.3 Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ;

Thời gian qua, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở đã được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo tích cực; nhiều xã, phường, thị trấn đã xây dựng được quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt và Ban chấp hành Đảng bộ xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ 2005- 2010 Những năm gần đây việc thực hiện chế độ cử tuyển để đào tạo cán bộ, công chức theo địa chỉ và khuyến khích, thu hút sinh viên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

có chuyên môn phù hợp về địa phương công tác được một số tỉnh xác định là những biện pháp quan trọng để tiến tới chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở (đặc biệt ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ )

Tỉnh Lào Cai hợp đồng với 175 sinh viên trong đó bố trí đảm nhận các chức danh chuyên môn cấp xã 60 sinh viên, làm công tác xoá đói giảm nghèo thực hiện chương trình 135 được 46 sinh viên; tỉnh Hà Giang bố trí được 262 sinh viên về công tác ở xã; Nghệ An 360, Thành phố Hồ Chí Minh 280, Tuyên Quang 200, Khánh Hoà 90, Quảng Ngãi 84, Trà Vinh 64, Đà Nẵng 60, Ninh Thuận 19

Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập tiểu ban quy hoạch cán bộ dài hạn, thực hiện tuyển chọn học sinh, sinh viên khá, giỏi có khả năng phát triển để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng hoặc đưa về cơ sở làm việc theo chế độ công chức dự bị, ngoài

ra còn luân chuyển 114 cán bộ của Quận về công tác tại phường, luân chuyển 132 cán bộ giữa các phường Các tỉnh khác cũng thực hiện luân chuyển cán bộ về cơ sở như: Nghệ An 120 cán bộ, Quảng Ninh 40, Đăk Lăk 34, Kon Tum 33, Phú Yên 20 nhiều cán bộ luân chuyển về cơ sở đã phát huy tác dụng, có bước trưởng thành, góp phần đưa phong trào địa phương từ yếu, kém vươn lên

Về tạo nguồn cán bộ cơ sở : Các địa phương còn chú ý tới đối tượng tạo

nguồn cán bộ cho cơ sở bao gồm những người đã sản xuất tại địa phương (đặc biệt các em là con em người dân tộc thiểu số), người đã được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tình nguyện về địa phương công tác, bộ đội hết nghĩa vụ quân sự cho đi đào tạo ở nhiều loại hình: dài hạn, ngắn hạn, tập trung, tại chức ở các trường của trung ương, tỉnh, huyện

* Tóm lại: Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ cơ sở trong những năm qua

mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, nhưng cũng tồn tại một số vấn đề:

Trang 10

Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ cơ sở tuy đã được quan tâm nhưng trong một thời gian dài còn thiếu và yếu, chưa chủ động, chưa tích cực, chưa đều ở tất cả các địa phương.

III ĐÁNH GIÁ CỤ THỂ VỀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ Ở CƠ SỞ QUA CÁC THỜI KỲ:

3.1.Trước khi có Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21 tháng 10 năm

2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn:

Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội, chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở từ năm 1945 đến nay luôn được sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng đổi mới; việc quy định về chế độ, chính sách qua các thời kỳ luôn gắn liền với việc quy định chức danh, số lượng, tiêu chuẩn cán bộ:

3.1.1.Giai đoạn từ 1945 đến trước tháng 6 năm 1975:

- Sắc lệnh số 22- A ngày 18 tháng 2 năm 1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sửa đổi điều 65 sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 tổ chức các Hội

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quy định: các công chức được bầu vào Uỷ ban hành chính xã có thể vừa làm công chức vừa tham gia vào Uỷ ban hành chính xã, nhưng chỉ được lĩnh hoặc lương công chức hoặc phụ cấp của Uỷ viên hành chính xã.

Thời kỳ này mỗi xã có 01 Uỷ ban hành chính gồm có 5 Uỷ viên chính thức (01 chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, 01 Thư ký, 01 thủ quỹ , 01 Uỷ viên) và 02 Uỷ viên

dự khuyết; phân công như sau: Hành chính, Tư pháp; Xã hội, y tế, cứu tế, tài chính; Kinh tế, giao thông, địa bạ; Giáo dục, tuyên truyền, khánh tiết; Trị an và Quân vụ

3.1.2 Giai đoạn từ tháng 6/1975 đến tháng 5/1993:

Cán bộ cấp xã (từ đây gọi chung là cán bộ xã) giai đoạn này thực hiện theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ; Các thông tư hướng dẫn số 45- BT ngày 24/3/1976 và số 196- BT ngày 8/9/1977 của Bộ trưởng Phủ thủ tướng; Quyết định 111- HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Thông tư hướng dẫn số 01- TCCP- CQ ngày 12/1/1982 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ; Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng; Thông tư hướng dẫn số 74- ĐP/TCCP ngày 26/11/1985 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ

Đặc điểm của giai đoan này là đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, chế độ, chính sách thực hiện thống nhất trong toàn quốc; nền kinh tế của nước ta vừa trải qua giai đoạn dài có chiến tranh, gặp nhiều khó khăn, trì trệ; cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp nặng nề Năm 1986 Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta vẫn trong giai đoạn suy thoái nhưng đã có dấu hiệu khởi sắc

Trang 11

3.1.2.1.Về số lượng và đối tượng cán bộ xã:

Giai đoạn này số lượng cán bộ xã được quy định theo quy mô xã và xem xét các yếu tố cụ thể về tình hình chính trị, kinh tế, dân số, địa dư của xã để quyết định

Theo quyết định số 130/CP xã được bố trí từ 5 đến 6 cán bộ chuyên trách, từ

9 đến 10 cán bộ nửa chuyên trách tùy theo loại xã Đến Nghị định 235/HĐBT tùy theo loại xã được bố trí trong khoảng từ 20 đến 30 cán bộ (không kể cán bộ y tế) Đối tượng cán bộ xã được quy định cụ thể từng chức danh, bao gồm cán bộ đảng, chính quyền (gồm Hội đồng nhân dân và các cán bộ thuộc Ủy ban nhân dân), cán

bộ phụ trách công tác Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ; ở phía Nam có thêm chức danh Bí thư Nông hội; cán bộ Y tế xã

Theo quy định chung của Nhà nước, UBND các tỉnh quyết định việc bố trí

số lượng và các chức danh cán bộ cụ thể

3.1.2.2 Về chế độ đối với cán bộ cơ sở:

Chế độ sinh hoạt phí của cán bộ xã trong giai đoạn này có một số lần điều chỉnh, sửa đổi:

- Theo Quyết định số 130/CP, mức sinh hoạt phí được quy định dựa vào 3 yếu tố: theo chức danh, theo quy mô xã, là cán bộ chuyên trách hoặc nửa chuyên trách (cán bộ nửa chuyên trách mức sinh hoạt phí hưởng bằng ½ cán bộ chuyên trách)

- Theo Quyết định số 111- HĐBT, cán bộ xã được hưởng mức sinh hoạt phí khá cao, tùy theo chức danh và thâm niên công tác (Bí thư đảng ủy, Chủ tịch UBND hưởng ngang mức lương Trưởng phòng huyện; Phó Bí thư và Phó Chủ tịch UBND hưởng ngang mức lương Phó Trưởng phòng huyện; Trưởng các đoàn thể ngang Ủy viên thường trực của tổ chức đoàn thể cấp huyện; cán bộ, nhân viên của UBND hưởng ngang mức lương cán sự, nhân viên của huyện có cùng trình độ…)

- Theo Nghị định số 235- HĐBT, mức sinh hoạt phí được quy định dựa vào các yếu tố tương tự như Quyết định 130/CP Các cán bộ nửa chuyên trách được hưởng sinh hoạt phí bằng ½ cán bộ chuyên trách

Cán bộ xã còn được hưởng một số chế độ khác:

- Tại Quyết định 130/CP quy định cán bộ xã chỉ cần có 15 năm công tác giữ các chức vụ trưởng, phó ngành trở lên, trong đó có 5 năm là cán bộ chuyên trách, nửa chuyên trách (được tính cả thời gian làm chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kế toán trưởng HTX, thời gian hoạt động trước cách mạng tháng tám), nếu đủ điều kiện về tuổi đời theo quy định (nam 55 tuổi, nữ 50 tuổi), khi “ già yếu nghỉ việc” được hưởng trợ cấp hàng tháng Chính phủ cũng quy định những trường hợp được xét giảm tuổi khi nghỉ công tác (ốm đau, bệnh tật )

Trang 12

Ngoài chế độ già, yếu nghỉ việc, theo quy định của Chính phủ, cán bộ xã còn được hưởng các chế độ đào tạo bồi dưỡng, chế độ khen thưởng, chế độ khám chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ, chế độ trợ cấp khó khăn, mai táng phí, chế độ gửi con vào nhà trẻ đối với cán bộ xã là nữ

- Kể từ Quyết định số 111- HĐBT, thời gian công tác tại các hợp tác xã, bưu điện xã không được tính gộp vào thời gian là cán bộ xã để giải quyết chế độ khi nghỉ việc

Nhìn chung các chế độ, chính sách của nhà nước đối với cán bộ xã trong giai đoạn khá thông thoáng, cả về đối tượng cán bộ xã và chế độ chính sách Việc bảo đảm các chế độ của cán bộ xã do ngân sách cấp xã tự cân đối là chủ yếu, thiếu thì ngân sách cấp huyện, tỉnh hỗ trợ, kể cả trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc của cán bộ

xã Các chức danh cán bộ được quy định cụ thể, tạo sự thống nhất trong cả nước Cán bộ y tế xã là một bộ phận không tách dời của đội ngũ cán bộ xã, thậm chí từ khi thực hiện Quyết định 111-HĐBT cán bộ y tế xã được hưởng sinh hoạt phí tương đương cán bộ y tế của nhà nước cùng nghiệp vụ, chuyên môn đào tạo Có thể khẳng định: Quyết định 130/CP là một bước ngoặt lịch sử về chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với cán bộ

xã Nhiều chế độ lần đầu tiên được quy định, đặc biệt là chế độ trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc tạo sự phấn khởi, yên tâm công tác đối với cán bộ xã Chế độ trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc còn được áp dụng hồi tố đối với những trường hợp đã nghỉ trước khi Quyết định 130/CP có hiệu lực, góp phần tạo sự công bằng về mặt chính sách cán bộ

Quyết định 111-HĐBT năm 1981 là một bước cải tiến rất lớn về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, khẳng định rõ vị trí cán bộ xã, đồng thời đã có sự phân biệt, tách bạch giưa những người ở khu vực sản xuất kinh doanh với những người cán bộ xã do ngân sách xã đài thọ

Tuy nhiên, một số chế độ chưa có quy định cụ thể như chế độ quản lý, sử

dụng, kỷ luật cán bộ Số lượng cán bộ xã giai đoạn này khá đông do không quy định chặt chẽ Bộ máy hành chính cấp xã nhiều ban, trạm cồng kềnh Nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ khó khăn nhất là khu vực nông thôn mà việc chi trả các chế độ đối với cán bộ xã chủ yếu do ngân sách xã đảm nhiệm, trong khi nguồn thu ngân sách xã có hạn, không đủ sức cân đối các khoản chi theo chế độ cho cán

bộ xã, phường, thị trấn Việc xét quyết định cán bộ được hưởng chế độ trợ cấp khi nghỉ việc theo hai quyết định trên thuộc thẩm quyền cấp huyện, có phần chưa chặt chẽ, mức trợ cấp hàng tháng lại không lớn và do ngân sách địa phương chi trả Mặt khác, cán bộ xã nếu không đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian công tác theo quy định thì khi nghỉ việc lại không được hưởng chế độ gì Vì vậy đã có nhiều trường hợp không đủ điều kiện theo quy định cũng được chính quyền địa phương giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc, không chấp hành đúng quyết định của chính phủ

Trang 13

3.1.3 Giai đoạn từ tháng 6/1993 đến tháng 12 năm 1997:

Chế độ, chính sách ở cấp cơ sở giai đoạn này thực hiện theo Nghị định số 46/CP ngày 23/6/1993 của Chính phủ và Thông tư số 22 Liên bộ/TT ngày 09/10/1993 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính; Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ và Thông tư số 97/TTLB/TCCBCP-BTC ngày 16/8/1995 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính

Trong giai đoạn này các văn bản về chế độ chính sách đối với cán bộ xã tập trung vào một số vấn đề trọng tâm đó là việc giảm bớt số lượng và đối tượng hưởng chế độ sinh hoạt phí; ổn định và chuyên môn hoá một số cán bộ chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp xã và sửa đổi quy định về chế độ trợ cấp đối với cán

bộ khi nghỉ việc

3.1.3.1 Về số lượng và đối tượng cán bộ xã:

- Nghị định 46/CP ngày 23/6/1993 của Chính phủ quy định tuỳ theo quy mô dân số để bố trí số lượng cán bộ Đảng, HĐND, UBND (từ 8-11 người) Theo quy định này số lượng cán bộ xã sẽ giảm được khoảng 50% so với trước đây, gỉảm chi khá lớn đối với ngân sách cấp xã Việc quy định các đoàn thể chính trị – xã hội được cấp kinh phí cho hoạt động và sinh hoạt phí (thay cho quy định cấp trưởng của các tổ chức này hưởng sinh hoạt phí trước đây) nếu thực thi được sẽ giúp cho việc quản lý đội ngũ cán bộ xã dành mạch hơn, tiết kiệm chi ngân sách, tuy nhiên

có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này tiến tới việc phải điều chỉnh sau đó

- Nghị định 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ (thay thế Nghị định 46/CP) nhằm từng bước thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII khoá 7; kiện toàn chính quyền cấp xã, giải quyết vấn đề ngân sách và từng bước chuyên nghiệp hoá một số

vị trí công tác ở xã, đồng thời cải thiện một bước đời sống cán bộ xã phù hợp điều kiện kinh tế đất nước Về số lượng và đối tượng cán bộ xã hưởng sinh hoạt phí được tăng thêm so với Nghị định 46/CP Tuỳ thuộc vào dân số, vị trí địa lý, điều kiện khó khăn cụ thể, xã được bố trí từ 17-25 cán bộ đảng, chính quyền (quy định

rõ 4 cán bộ chuyên môn của UBND) và cấp trưởng của 5 đoàn thể chính trị xã hội (Nghị định 46/CP không quy định) Quy định này là phù hợp với thực tế hơn so với Nghị định 46/CP

3.1.3.2 Về chế độ đối với cán bộ xã.

- Theo Nghị định 46/CP, sinh hoạt phí đối với cán bộ xã chỉ có 3 mức:

Bí thư đảng uỷ và Chủ tịch UBND mức 160.000 đ/tháng; Phó Bí thư, Phó Chủ tịch UBND mức 140.000 đ/ tháng; các chức danh khác 120.000đ/tháng Cán

bộ nghỉ công tác hưởng trợ cấp hàng tháng trước đây nay chỉ có 2 mức phụ cấp: Bí thư, Chủ tịch UBND 40.000đ/tháng; các chức danh khác 30.000đ/tháng Việc quy định này là chưa sát thực tế, mức phụ cấp quá thấp, không tương xứng với nhiệm vụ

Trang 14

Nghị định quy định cán bộ xã thuộc các đối tượng theo quy định khi nghỉ việc chỉ được xét hưởng chế độ trợ cấp một lần nếu có thời gian công tác ở xã liên tục từ 10 năm trở lên và không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên Bãi bỏ chế độ trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc Những quy định trên đây tác động rất lớn đến tâm tư, tình cảm của cán bộ xã Họ có mặc cảm cho rằng bị phân biệt, đối xử, không được bình đẳng như cán bộ của cấp tỉnh, cấp huyện Chính những quy định chưa sát hợp trên đây làm cho nghị định có tính khả thi thấp, việc tổ chức triển khai thực hiện gặp nhiều vướng mắc, khó khăn, kém hiệu quả đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự thiếu yên tâm, kém phấn khởi công tác đối với cán bộ xã; là nguyên cớ để nhiều cán bộ xã kém phẩm chất lợi dụng chức quyền, lợi dụng cơ chế thị trường để trục lợi cá nhân Những cán bộ xã liêm khiết mà nghỉ công tác trong giai đoạn này thì chịu thiệt thòi về chế độ Đã có rất nhiều kiến nghị, đề nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định này không chỉ từ cấp cơ sở Chính vì vậy, chỉ sau 2 năm ban hành, thấy được sự bức xúc từ thực tế khách quan, Chính phủ đã ban hành Nghị định 50/CP ngày 26/7/1995 thay thế Nghị định 46/CP.

Theo Nghị định 50/CP, chế độ sinh hoạt phí được phân thành 4 mức theo các chức danh cán bộ và đã được nâng cao hơn so với trước Cán bộ xã được hưởng phụ cấp tái cử cùng một chức vụ sau 5 năm công tác Tuy các quy định này đã thể hiện sự cải tiến một bước so với Nghị định số 46/CP, song mức sinh hoạt phí so với mặt bằng chung thì vẫn còn thấp, chưa đáp ứng nguyện vọng cán bộ xã, chế độ phụ cấp tái cử quy định “cứng” hơn với chế độ tái cử ở các cấp khác

Nghị định 50/CP cũng quy định chế độ sinh hoạt phí của cán bộ xã đương chức, trợ cấp hàng tháng của cán bộ xã nghỉ chế độ theo quyết định 130/CP và quyết định 111-HĐBT do ngân sách xã chi trả, nếu thiếu thì ngân sách cấp trên hỗ trợ Cán bộ xã thuộc đối tượng được nhà nước quy định nếu có ít nhất 5 năm công tác liên tục là cán bộ xã và không bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên, khi nghỉ công tác cũng chỉ được xét trợ cấp một lần, không hưởng trợ cấp hàng tháng Đây cũng chính là 2 vấn đề tồn tại

Thứ nhất: ngân sách cáp xã không tự cân đối được, cả nước mới chỉ khoảng

30% số đơn vị hành chính cấp xã tự cân đối được ngân sách Mặt khác, nhiều địa phương cấp huyện và tỉnh cũng chưa đủ khả năng cân đối được ngân sách dẫn đến tình trạng “nợ đọng” sinh hoạt phí và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã khá phổ biến ở nhiều nơi, gây tác động thiếu an tâm công tác đối với cán bộ xã; dẫn đến tình trạng có xu hướng đùn đẩy việc của xã cho cán bộ thôn, bản, khu dân cư, tổ dân phố làm thay nhiệm vụ của cán bộ xã

Thứ hai, Chính phủ không quy định chế độ “già yếu nghỉ việc” được hưởng

trợ cấp hàng tháng như Quyết định 130/CP và Quyết định 111-HĐBT Đối với cán

bộ xã thuộc các đối tượng theo quy định của nhà nước khi nghỉ việc chỉ được hưởng chế độ trợ cấp một lần nhằm tạo khả năng tự điều tiết đối với ngân sách cấp

xã, giảm đối tượng cán bộ hưởng trợ cấp thường xuyên khi nghỉ việc, bớt gánh

Trang 15

nặng đối với ngân sách xã Song với quy định này, cán bộ xã cho rằng họ chưa được hưởng sự công bằng về chế độ, chính sách như cán bộ các cấp khác, tâm lý thiếu phấn khởi khi đương chức cũng như khi nghỉ công tác Mặt khác chế độ như vậy cũng là một trở lực, không tạo được sức hút đối với tầng lớp trẻ được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn tham gia công tác và gắn bó với cấp cơ sở, nhất

là ở nông thôn, xu hướng thoát ly địa phương khá phổ biến

3.1.3.3.Nhận xét: Có thể nhận thấy chủ trương của Chính phủ trong quá trình

ban hành hai Nghị định 46/CP và Nghị định 50/CP nhằm tinh giảm, gọn nhẹ bộ máy cấp xã và tiết kiệm chi ngân sách đối với cấp xã là hết sức rõ ràng Nhưng về mức sinh hoạt phí và chế độ chính sách khác là chưa thực sự phù hợp với thực tiễn

và đặc thù của nước ta Việc hoạch định chế độ, chính sách đối với cán bộ xã thiếu đồng bộ, toàn diện nên các chế độ, chính sách ban hành chưa thể hiện được sự kế thừa, tính khả thi không cao, thiếu sự ổn định, chưa tương xứng với vai trò to lớn của cấp cơ sở Chính phủ đã sớm nhìn nhận được những mặt tồn tại, vì vậy đã tiến hành việc điều chỉnh và sửa đổi

3.1.4 Giai đoạn tháng 1/1998 đến trước khi có Nghị định số 121/2003/NĐ- CP:

Giai đoạn này thực hiện theo các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 09/1998/NĐ- CP ngày 23/01/1998 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; Nghị định số 58/1998/NĐ- CP ngày 13/8/1998 về chế độ bảo hiểm y tế; Nghị định số 40/1999/NĐ- CP ngày 23/6/1999 về Công an xã; Nghị định số 46/2000/NĐ- CP ngày 12/9/2000 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 35/CP ngày 12/6/1996 của Chính phủ quy định chi tiết thực hiện Pháp lệnh dân quân tự vệ

3.1.4.1 Về số lượng và đối tượng cán bộ xã:

- Theo điều 1 Nghị định số 09/1998/NĐ- CP, số lượng cán bộ xã quy định theo dân số Xã dưới 10.000 dân: 17- 19 cán bộ; xã từ 10.000 dân đến 20.000 dân:

19 đến 21 cán bộ; xã có trên 20.000 dân, cứ thêm 3.000 dân thêm 01 cán bộ, tối đa không quá 25 cán bộ

Đối tượng cán bộ Đảng, Chính quyền, Mặt trận, Đoàn thể được hưởng sinh hoạt phí gồm:

+ Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

+ Các thành viên UBND;

+ Bốn chức danh chuyên môn: Địa chính, Tư pháp, Tài chính- Kế toán, Văn phòng UBND và các chức danh khác thuộc UBND

Trang 16

+ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và truởng các đoàn thể: Hội phụ nữ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân.

- Theo Nghị định số 40/1999/NĐ- CP, công an xã gồm Trưởng Công an, Phó trưởng công an và Công an viên (mỗi thôn, ấp, bản bố trí một người)

- Theo Nghị định số 46/2000/NĐ- CP, Ban chỉ huy quân sự xã gồm Chỉ huy trưởng (Xã đội trưởng), Phó chỉ huy trưởng (Xã đội phó) và Chính trị viên (do Bí thư đảng uỷ kiêm nhiệm)

3.1.4.2 Về chế độ:

a Chế độ sinh hoạt phí được quy định cụ thể đối với từng chức danh cán bộ đảng, chính quyền, Chủ tịch Mặt trận và Trưởng các đoàn thể Sinh hoạt phí có nhiều mức: Mức đối với Bí thư đảng uỷ; mức đối với Chủ tịch HĐND và Chủ tịch

UBND; mức đối với Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận

và Trưởng các đoàn thể, Xã đội trưởng và trưởng Công an xã; mức đối với Uỷ viên UBND; mức đối với 4 chức danh chuyên môn (có bằng cấp chuyên môn hưởng theo ngạch, bậc; không có bằng cấp hưởng mức 154.000 đồng/tháng); mức đối với các chức danh khác; mức đối với công an viên (bằng 1/3 mức của trưởng Công an)

Chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã được cân đối từ ngân sách nhà nước

và được cấp qua kho bạc nhà nước cấp huyện

- Cán bộ xã còn được hưởng các chế độ đào tạo bồi dưỡng, công tác phí, khen thưởng, theo quy định của nhà nước

- Theo quy định tại Nghị định số 58/1998/NĐ- CP về chế độ bảo hiểm y tế, cán bộ đương nhiệm được thực hiện chế độ bảo hiểm y tế như cán bộ công chức nhà nước

3.1.4.3.Nhận xét:

a Những mặt tích cực: Những chế độ, chính sách đối với cán bộ xã quy định

tại các Nghị định của Chính phủ sau hơn 5 năm thực hiện đã thể hiện những mặt tích cực:

- Mức sinh hoạt phí của cán bộ xã và mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ

xã đã nghỉ việc theo Quyết định 130/CP và Quyết định 111- HĐBT trước đây được điều chỉnh rõ rệt, nhìn chung có sự hợp lý hơn trước Chế độ sinh hoạt phí của cán

Trang 17

bộ xã và trợ cấp hàng tháng được ngân sách nhà nước bảo đảm chi trả qua hệ thống kho bạc cơ bản khắc phục tình trạng “nợ đọng” triền miên diễn ra ở nhiều nơi trước đây Điều này, thể hiện sự quan tâm, cố gắng rất lớn của Chính phủ.

- Bốn chức danh chuyên môn của UBND được tiếp tục khẳng định mục tiêu chuyên môn hoá, ổn định lâu dài bằng việc có những quy định chặt chẽ trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng và chế độ sinh hoạt phí được vận dụng theo ngạch, bậc lương của cán bộ khu vực hành chính có cùng trình độ chuyên môn đào tạo và cũng được xét nâng mức sinh hoạt phí cứ sau 5 năm công tác

- Có nhiều chế độ mới được quy định: Chế độ bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc, tính thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ năm 1997 trở về trước; chế độ đào tạo, bồi dưỡng, công tác phí, khen thưởng, bảo hiểm y tế Đây là những chế độ mà trước đây chưa từng được thực hiện, tạo sự động viên rất lớn đối với cán bộ Có thể nhận thấy rõ Nghị định 09/1998/NĐ- CP và các Nghị định của Chính phủ về cán

bộ xã ban hành 3 năm qua đã giải quyết tương đối cơ bản về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở, là một bước tiến so với trước đây, tạo được sự yên tâm phấn khởi công tác đối với đại bộ phận cán bộ đang ở cấp cơ sở, khích lệ cán bộ xã chịu khó rèn luyện, học tập nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất

- Việc quy định số lượng cán bộ xã chỉ tính theo quy mô dân số là chưa thực

sự phù hợp với tình hình thực tế Đối với xã quá ít dân cư (dưới 1.000 dân) thì quy dịnh số lượng cán bộ 17 là nhiều; xã có quá đông dân cư (trên 30.000 dân) và lại

có địa hình tự nhiên và tình hình kinh tế- xã hội phức tạp thì số lượng cán bộ tối đa

25 thì lại là ít, phát sinh tư tưởng muốn chia tách thêm đơn vị hành chính để giảm nhẹ công việc, lại được tăng thêm cán bộ Quy định Phó công an và công an viên, Phó xã đội chung cho cả nước khi thực hiện có sự phát sinh mới về số lượng cán

bộ xã và chế độ, chính sách cũng chưa hợp lý

- Cấp hành chính cơ sở gồm 3 loại hình xã, phường, thị trấn Ba loại hình này

có những khác biệt căn bản trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội, văn hoá, truyền thống, quan hệ dân cư Theo yêu cầu cải cách hành chính, Nghị định 09/1998/NĐ- CP chưa thể hiện được sự phân biệt, khác nhau giữa xã và phường, thị trấn cả về khối lượng công việc và nguyên tắc quản lý để có chế độ, chính sách cán bộ với từng

mô hình quản lý hành chính

- Về quy định mức sinh hoạt phí, tuy đã có sự điều chỉnh lại mức sinh hoạt phí phân theo chức vụ, chức danh công tác, nhưng chưa đạt được sự tương quan về quyền lợi- vai trò- trách nhiệm giữa các cán bộ trong cùng xã, phường, thị trấn và

Trang 18

sự tương quan giữa cấp xã với cấp huyện Qua kết quả khảo sát và điều tra cán bộ

xã, phường, thị trấn có nhiều ý kiến cho rằng mức sinh hoạt phí của trưởng các đoàn thể nhân dân bằng mức Phó chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch UBND là chưa sát thực tế đối với cấp xã Quy định mức sinh hoạt phí đối với cán bộ chuyên môn không có bằng cấp đào tạo là quá thấp so với công việc và trách nhiệm họ phải đảm nhận hàng ngày và so với cán bộ xã khác là quá thiệt thòi Quy định mức phụ cấp đối với công an viên ở thôn cao hơn mức của trưởng thôn dẫn đến nhiều vấn đề nảy sinh mới trong quá trình thực hiện

- Mức sinh hoạt phí đối với cán bộ xã nhìn chung còn thấp Cán bô xã tái cử

2 đến 3 nhiệm kỳ vẫn chỉ được hưởng một mức phụ cấp tái cử 5% so với mức sinh hoạt phí hiện giữ là chưa công bằng so với cấp huyện, tỉnh

- Chức danh cán bộ xã không có sự quy định thống nhất qua các thời kỳ, trước đấy lại do địa phương quy định cụ thể Do đó, việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ xã của tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với thời gian công tác trước năm 1998 đều có vướng mắc với ngành bảo hiểm

xã hội, đến nay vẫn chưa tháo gỡ được

- Về chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ xã, phường, thị trấn chỉ gồm trợ cấp khi nghỉ việc và mai táng phí Một số chế độ khác về bảo hiểm xã hội không được thực hiện thống nhất theo Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ, cụ thể là cán bộ xã, phường, thị trấn không được hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tuất chế độ hưởng bảo hiểm xã hội khi cán bộ xã, phường, thị trấn bị kỷ luật cũng chưa được quy định rõ

3.2 Từ khi có Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn đến nay:

- Nội dung cơ bản của Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị

trấn, quy định:

“Chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức cấp xã

1 Cán bộ chuyên trách cấp xã quy định tại khoản 1, điều 2 của Nghị định này được hưởng chế độ tiền lương như sau:

a) Bí thư đảng uỷ, Bí thư chi bộ cấp xã (nơi chưa thành lập Đảng uỷ xã); hệ

số 2,0 mức lương tối thiểu;

b) Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Bí thư chi bộ cấp xã (nơi chưa thành lập đảng

uỷ cấp xã), Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: hệ số 1,9 mức lương tối thiểu;

Trang 19

c) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Thường trực đảng uỷ (nơi chưa có Phó Bí thư chuyên trách công tác đảng), Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc: hệ số 1,8 mức lương tối thiểu;

d) Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Chủ tịch Hội nông dân, Chủ tịch Hội cựu chíên binh: hệ số 1,7 mức lương tối thiểu;

đ) Các chức vụ trên nếu được tái cử, kể từ nhiệm kỳ thứ 2 (từ tháng 61 trở đi) được hưởng phụ cấp thêm 5% hàng tháng theo mức lương chức vụ đảm nhiệm;e) Trường hợp công chức cấp xã được bầu giữ các chức vụ qua bầu cử nếu xếp lương theo chức vụ bầu cử mà thấp hơn mức lương của chức danh chuyên môn hiện hưởng thì được hưởng lương chức vụ đó và bảo lưu hệ số chênh lệch giữa mức lương chuyên môn và mức lương chức vụ

2 Công chức cấp xã được hưởng chế độ tiền lương như sau:

a Công chức cấp xã tốt nghiệp đào tạo đại học trở lên phù hợp chuyên môn của chức danh được hưởng lương theo bảng lương hành chính, ngạch chuyên viên; tốt nghiệp trung cấp phù hợp chuyên môn của chức danh được hưởng lương theo ngạch cán sự; tốt nghiệp sơ cấp phù hợp chuyên môn của chức danh được hưởng lương theo ngạch nhân viên văn thư Được nâng lương theo niên hạn như đối với cán bộ, công chức ngạch tương ứng ở cấp huyện trở lên

b Người đang tập sự công chức cấp xã được hưởng 85% lương theo các ngạch công chức tương ứng; thời gian hưởng lương tập sự thực hiện theo quy định hiện hành của nhà nước;

c Công chức cấp xã đang công tác chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn theo quy định thì được hưởng: hệ số lương bằng 1,09 mức lương tối thiểu

d Riêng đối với Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng quân sự, hưởng theo lương chức danh, nếu thấp hơn mức sinh hoạt phí hiện hưởng thì được bảo lưu khoản chênh lệch để bằng mức sinh hoạt phí hiện hưởng cho đến hết năm 2005 sau đó hưởng theo lương chức danh”

Về phụ cấp tái cử: Liên Bộ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ-

CP của Chính phủ, quy định:

“Cán bộ chuyên trách cấp xã nếu được tái cử cùng chức vụ hoặc được bầu giữ chức vụ khác trong số cán bộ chuyên trách thì từ tháng thứ 61 trở đi kể từ thời điểm được bầu giữ chức vụ lần đầu theo Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ hoặc theo Nghị định số 121/2003/NĐ - CP, được hưởng phụ cấp thêm 5% hàng tháng theo mức lương chức vụ hiện đang đảm nhiệm (sau đây gọi là phụ cấp tái cử); mức hưởng phụ cấp tái cử thêm 5% hàng tháng ổn định trong suất thời gian tái cử

Chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế

Trang 20

1 Cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội theo Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ và Nghị định số 01/2003/NĐ- CP ngày 09/1/2003 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ và Bảo hiểm y tế theo điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ- CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ; khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động, nếu có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí.

2 Cán bộ chuyên trách cấp xã khi thôi đảm nhiệm chức vụ, có đủ 10 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và còn thiếu tối đa 5 năm thì đủ tuổi nghỉ hưu, chưa nhận trợ cấp một lần về bảo hiểm xã hội và tự nguyện đóng tiếp 15% tiền bảo hiểm

xã hội hàng tháng theo mức lương trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú cho đến khi đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội và đủ tuổi nghỉ hưu thì được hưởng chế độ hưu trí

Cán bộ không chuyên trách cấp xã bao gồm: Trưởng ban tổ chức đảng; Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra đảng; Trưởng ban tuyên giáo; cán bộ văn phòng đảng uỷ; Phó trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Phó chỉ huy trưởng Quân sự; Cán bộ kế hoạch giao thông thuỷ lợi- nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; Cán bộ lao động- thương binh và xã hội; cán bộ dân số – gia đình và trẻ em; Thủ quỹ văn thư lưu trữ; Cán bộ phụ trách đài truyền thanh; cán bộ quản lý nhà văn hoá; Phó chủ tịch uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh); Chủ tịch hội người cao tuổi; Chủ tịch hội chữ thập đỏ Việt Nam

Cán bộ không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bao gồm: Bí thư chi bộ; Trưởng thôn; Công an viên ở thôn và Bí thư chi bộ, Tổ trưởng tổ dân phố ở phường, thị trấn

Số cán bộ không chuyên trách được hưởng phụ cấp; mức phụ cấp của một chức danh do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định

Sau hơn 01 năm thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ- CP thì thực hiện điều chỉnh lại bậc lương của cán bộ chuyên trách cấp xã tại Nghị định số 204/2004/NĐ- CP

- Nội dung cơ bản của Nghị định số 204/2004/NĐ- CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng

vũ trang, trong đó quy định :

Bảng lương cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

(Ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ- CP )

Trang 21

2,85826.500 đ

2,45710.500 đ

2,25652.500 đ

3 Công chức cấp xã được bầu giữ chức danh chuyên trách, thực hiện theo điểm e, khoản 1, điều 4 Nghị định số 121/2003/NĐ- CP của Chính phủ

4 Chế độ tiền lương đối với cán bộ xã đội quy định tại điều 22 Nghị định số 184/2004/NĐ- CP ngày 2/11/2004 của Chính phủ được tính lại mức lương mới để hưởng từ 01/10/2005 theo mức lương mới của cán bộ chuyên trách (riêng hệ số 1,46 của Xã đội phó được xếp 1,86)

Trang 22

Thực hiện quy định trên đây thì lương của Xã đội phó (với hệ số 1,86) sẽ cao hơn lương cuả Xã đội trưởng là thành viên Uỷ ban nhân dân xã (hệ số 1,75) Vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến: “Giao Bộ quốc phòng chủ trì phối hợp với

Bộ Nội vụ và các cơ quan có liên quan dự thảo nội dung sửa đổi Nghị định của Chính phủ số 184/2004/NĐ- CP ngày 02/11/2004 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh dân quân tự vệ, để đảm bảo tính thống nhất về chế độ, chính sách đối với cán

bộ, công chức cấp xã” (Công văn số 2304/VPCP- NC ngày 29/4/2005 của Văn phòng Chính phủ)

3.2.1.Về ưu điểm: Việc tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX

ở hầu hết các địa phương (từ cấp xã đến cấp tỉnh) đều triển khai thực hiện theo chỉ thị số 11/ CT- TW ngày 08 tháng 4 tháng 2002 của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban tư tưởng- Văn hoá Trung ương Sau học tập và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, vị trí của hệ thống chính trị ở cơ sở được nâng lên, tuyệt đại cán bộ, đảng viên

và nhân dân phấn khởi, tin tưởng, đồng tình với Nghị quyết của Đảng

a) Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX thì đây là lần đầu tiên Đảng và Nhà nước có quy định “Cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước” nên khi thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi) và các Nghị định của Chính phủ về cán bộ, công chức cấp xã đã tạo ra không khí yên tâm, phấn khởi trong cán

bộ và nhân dân

b) Kết quả thu được từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX và các Nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành trung ương về chế độ chính sách cho cán bộ, công chức cấp xã là:

- Chế độ chính sách mới của Đảng và Chính phủ đã được tổ chức thực hiện nghiêm túc, bước đầu đã tạo sự khấn khởi, phát huy được sự năng động sáng tạo của cán bộ công chức cơ sở, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện

- Đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn từng bước được phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhờ việc thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ và một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ, sinh viên mới tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có chuyên môn phù hợp về công tác ở cơ

sở nên đã từng bước nâng được trình độ và trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

- Kỷ cương hành chính, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, được nhân dân đồng tình

- Dân chủ ở cơ sở được phát huy, thu hút đông đảo nhân dân tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, công chức và thẳng thắn, chân tình góp ý phê bình cán bộ

Trang 23

cơ sở Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất đối với công tác quản lý và sử dụng cán bộ, công chức cấp xã.

c) Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức cấp xã đã được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm giải quyết cụ thể, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền

a Về chức danh cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã: một số Bộ, ngành ở

Trung ương và nhiều địa phương đề nghị tăng thêm chức danh cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Tổ chức Trung ương,

Uỷ ban kiểm tra Trung ương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế )

- Một số địa phương đề nghị các chức danh: Trưởng ban Tổ chức, Chủ nhiệm

Uỷ ban kiểm tra, Trưởng ban Tuyên giáo, cán bộ Văn thư- Thủ quỹ, cán bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cán bộ Dân số Gia đình và Trẻ em, cán bộ Tài nguyên- Môi trường hiện đang là cán bộ không chuyên trách cấp xã được là cán bộ chuyên trách hoặc công chức cấp xã;

- Một số chức danh như Phó Bí thư xây dựng hệ thống chính trị các xã trọng điểm vùng Tây Nguyên (đã có hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương); cán bộ chuyên trách làm công tác biên giới theo quyết định số 120/2003/QĐ- TTg đến nay Chính phủ chưa có hướng dẫn cụ thể để các địa phương thực hiện

b Về số lượng:

- Về số lượng đơn vị hành chính cấp xã:

Năm 2002 khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX cả nước có 10.590 xã, phường, thị trấn (trong đó có: 8.973 xã, 1.042 phường, 575 thị trấn) Đến ngày 15 tháng 04 năm 2008 cả nước có 11.011 xã, phường, thị trấn (trong đó: 9.103 xã, 1.290 phường, 618 thị trấn), tăng 421 xã, phường, thị trấn Tổng số thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố hiện nay là: 103.840 (trong đó: thôn là: 81.202, tổ dân phố: 22.638)

- Hiện nay Nghị định số 159/2005/NĐ- CP về phân loại đơn vị hành chính cấp xã đã được thực hiện nhưng chưa có chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức hoặc chưa tăng số lượng cán bộ cho xã, phường, thị trấn đạt loại 1 và loại 2

- Thực tế cho thấy, cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã đảm đương rất nhiều công việc quản lý trên địa bàn và đang tiếp tục được phân cấp, uỷ quyền

Trang 24

thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng chỉ chiếm 1/3 tổng số cán bộ xã; trong khi đó cán bộ không chuyên trách chiếm tới 2/3 tổng số cán bộ xã Cán bộ xã (bao gồm cả cán bộ chuyên trách, công chức, cán bộ không chuyên trách) thì cán

bộ khu vực đảng, đoàn thể chiếm tỷ lệ cao (khoảng 60%), cán bộ làm công tác chuyên môn ít hơn (khoảng 40%)

c Về chế độ, chính sách:

- Không ổn định:

Việc nghiên cứu chế độ, chính sách cho cán bộ xã, phường, thị trấn chưa cơ bản, toàn diện, thường là chạy theo giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt, nên chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở thay đổi luôn Chỉ trong vòng 10 năm (1993 - 2003), Chính phủ đã 4 lần ra nghị định về chế độ sinh hoạt phí đối với cán

bộ xã, phường, thị trấn (Nghị định số 46/CP năm 1993; Nghị định số 50/CP năm

1995, Nghị định số 09/1998/NĐ-CP năm 1998 và Nghị định 121/2003/NĐ-CP năm 2003)

- Thiếu nhất quán, không đồng bộ:

+ Đối tượng được hưởng chế độ do Chính phủ quy định, mỗi giai đoạn một khác Giai đoạn 6/1975 - 5/1993, đối tượng được hưởng chế độ không chỉ có cán

bộ đảng, chính quyền, đoàn thể mà còn có cả cán bộ sự nghiệp và cán bộ kinh tế

Từ tháng 6/1993 đến nay, các Nghị định 46/CP, 50/CP và 09/1998/NĐ-CP chỉ quy định các đối tượng hưởng chế độ là cán bộ Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội Các đối tượng khác do các văn bản của các Bộ, ngành điều chỉnh dẫn đến sự thiếu thống nhất và bất hợp lý giữa các loại cán bộ ở cơ sở Nghị định 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 và Nghị định 46/2000/NĐ- CP ngày 12/9/2000 cho Phó công an, Phó chỉ huy trưởng quân sự hưởng sinh hoạt phí và bảo hiểm xã hội, nhưng đến Nghị định số 121/2003 thi các chế độ của Phó công

an, Phó chỉ huy trưởng quân sự hưởng chế độ của một cán bộ không chuyên trách cấp xã

+ Chế độ chi trả hàng tháng: lúc thấp, lúc cao so với mặt bằng chung; khi thì lấy mặt bằng kinh tế - xã làm cơ sở, khi thì dựa vào mức thu nhập của cán bộ, công chức làm căn cứ

+ Về chế độ trợ cấp nghỉ việc: có giai đoạn cán bộ khi nghỉ việc chỉ được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên (từ tháng 6/1975 - 5/1993), có giai đoạn chỉ được giải quyết chế độ một lần (từ tháng 6/1993 - 12/1997) Từ năm 1998 đến nay

có cả chế độ trợ cấp thường xuyên và trợ cấp một lần Đến Nghị định 121/2003/NĐ- CP thì khó giải quyết với các trường hợp chưa đủ tuổi, thiếu năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng sau khi nghỉ việc

Trang 25

- Bất hợp lý:

+ Cấp cơ sở là một trong 4 cấp thuộc hệ thống hành chính Nhà nước, nhưng cán bộ, công chức 3 cấp Trung ương, tỉnh, huyện được hưởng lương và đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội khi đang công tác cũng như khi về hưu, trong khi đó cán bộ cấp cơ sở lúc thì được hưởng, lúc thì không được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội khi đang công tác, chỉ được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên

+ Lương của cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử thấp hơn lương của công chức có cùng trình độ đào tạo (vì chỉ có 2 bậc lương, còn công chức được nâng bậc lương thường xuyên) Cán bộ chuyên trách (Bí thư hoặc Phó Bí thư) kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân chưa được hưởng 10% phụ cấp kiêm nhiệm chức vụ lãnh đạo (chỉ vì Hội đồng nhân dân không có tài khoản riêng

ở kho bạc- theo Thông tư số 78/2005/TT- BNV ngày 10/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp kiêm nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác);

+ Thời gian đóng bảo hiểm và tuổi nghỉ hưu của cán bộ, công chức cấp xã qua các thời kỳ cũng thay đổi …làm cho cán bộ cơ sở suy nghĩ có sự phân biệt đối

xử giữa cán bộ, công chức Nhà nước với cán bộ cơ sở Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội thì thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ, công chức

xã là 20 năm và phải đủ 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam mới đủ điều kiện nghỉ hưu trí là rất khó khăn cho cán bộ, công chức cấp xã

+ Xã, phường, thị trấn rất đa dạng nhưng số lượng cán bộ giữa các xã, phường, thị trấn chênh nhau không lớn (từ 17 đến 25 định biên), mức lương và chế

độ chính sách các chức danh lại như nhau: xã đồng bằng, xã miền núi, xã hải đảo,

xã ven đô; xã thuần nông, xã kinh tế ngành nghề phát triển; có xã lớn diện tích, dân

số đông (trên 30.000 dân) đến xã nhỏ về diện tích, dân số thấp (dưới 1000 dân) chế

độ chính sách đều như nhau Vì chưa có chế độ, chính sách và cơ chế phù hợp nên các xã, phường, thị trấn lớn về diện tích, đông về dân số muốn chia tách thành các

xã nhỏ nên địa giới hành chính cấp xã trong những năm qua không ổn định, ảnh hưởng đến hiệu quả, hiệu lực quản lý

+ Mặc dù Nghị định 121/2003/NĐ-CP quy định cán bộ, công chức cơ sở được hưởng các chế độ đào tạo, bồi dưỡng, nhưng thực tế khi cán bộ cơ sở đi học tập, bồi dưỡng thì kinh phí khó khăn hơn nhiều so với cán bộ, công chức đi học tập, bồi dưỡng (nhất là đối với cán bộ, công chức ở các vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên)

+ Xã và phường (đô thị và nông thôn) có những đặc điểm rất khác nhau; nội dung và khối lượng công việc quản lý Nhà nước khác nhau, chế độ làm việc khác nhau, điều kiện và môi trường sống khác nhau nhưng chế độ, chính sách đối với cán bộ lại như nhau

- Chưa có tác dụng khuyến khích và thu hút:

Trang 26

Những mặt chưa được nêu trên làm cho cán bộ, công chức cấp xã đương chức thiếu yên tâm công tác; đã có một số xã cán bộ xin nghỉ công tác Những người còn trẻ, ngay cả các cán bộ là người địa phương được đào tạo cơ bản không muốn về cơ sở công tác; ở đô thị xảy ra tình trạng nhiều người không muốn làm tổ trưởng, tổ phó dân phố.

Về một số vấn đề khác:

- Một số chức danh như: Chủ tịch MTTQ, Chủ tịch Hội cựu chiến binh, Chủ tịch Hội nông dân tập thể, Chủ tịch Hội Phụ nữ có tuổi tham gia lần đầu quá cao (55 đến 65 tuổi) không phù hợp với Luật lao động; đối với công chức cấp xã tuổi tuyển dụng lần đầu lại quá thấp (không quá 35 tuổi) không phù hợp với Pháp lệnh cán bộ, công chức

-Ý kiến của một số địa phương: bỏ khái niệm “cán bộ chuyên trách”, “cán bộ không chuyên trách”, “ở cấp xã; mà quy định chung cấp xã có “cán bộ cấp xã” ;

ở thôn, tổ dân phố thì có “cán bộ không chuyên trách”

Nếu quy định như vậy thì đỡ nhầm lẫn, không gây sự phân biệt đối với cán

bộ ở cấp xã

- Cán bộ xã già yếu nghỉ việc theo Quyết định số 130/HĐBT và Quyết định

số 111/CP của Chính phủ chưa có quy định được tiếp tục hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng khi chấp hành xong hình phạt tù

- Chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ xã tham gia bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 09/1998/NĐ- CP của Chính phủ đã nghỉ việc trước khi chuyển sang Nghị định số 121/2003/NĐ- CP của Chính phủ, mà không đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng, đến nay không giải quyết được vì các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội không có quy định chuyển tiếp cho đối tượng này

- Theo hướng dẫn tại khoản 6, mục IV Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT- BNV- BTC- BLĐTB&XH ngày 14/5/2004 thì cán bộ chuyên trách, công chức cấp

xã là người đang hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, bệnh binh hạng 1

và hạng 2 không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khi nghỉ việc không được tính hưởng bảo hiểm xã hội Nhưng theo quy định tại khoản 1, mục I Thông

tư liên tịch số 82/2005/TTLT- BNV- BTC ngày 10/8/2005 về sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT- BNV- BTC thì cán bộ cấp xã đang hưởng chế độ thương binh các hạng, bệnh binh các hạng mà không hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động thì được xếp lương theo chức danh đang đảm nhận Tuy nhiên, cũng tại thông tư số 82/2005/TTLT- BNV- BTC này, mục IV về hiệu lực thi hành không quy định thay thế khoản 6 mục IV thông tư số 34/2004/TTLT- BNV- BTC- BLĐTB&XH Mặt khác, các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định một người vừa hưởng chế độ bệnh binh, vừa hưởng chế độ hưu trí; do đó, Bảo

Trang 27

hiểm xã hội Việt Nam không có cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ cấp xã đang hưởng chế độ bệnh binh hạng 1 và hạng 2.

- Đối với những người trước đây đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hoặc sinh hoạt phí cán bộ chức danh theo quy định được cấp có thẩm quyền quyết định điều động làm cán bộ lãnh đạo hợp tác xã quy mô toàn xã là Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp chưa được tính hưởng bảo hiểm xã hội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng có ý kiến chỉ đạo liên Bộ xem xét giải quyết trong nội dung Nghị định thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ- CP Vấn đề này đang còn nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng cán bộ này đã được hưởng chế độ khi làm chủ nhiệm hợp tác xã

- Đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã, cấp thôn : Hiện nay có tình

trạng là lương của cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã được quy định và áp dụng thống nhất (quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ- CP của Chính phủ) trong khi đó phụ cấp của cán bộ không chuyên trách lại do địa phương quyết định;

cơ chế này dẫn đến chênh lệch mức phụ cấp giữa các địa phương có khả năng cân đối ngân sách với địa phương không có khả năng cân đối ngân sách quá lớn, gây bất hợp lý; thậm chí có địa phương không cân đối được ngân sách quyết định mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách cao hơn địa phương cân đối được ngân sách gây áp lực lớn đến hỗ trợ của ngân sách trung ương (mức phụ cấp hiện nay đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã nơi cao như An Giang là 1,75 mức lương tối thiểu, thấp như Bắc Kạn là 0,45 mức lương tối thiểu; ở thôn, tổ dân phố phụ cấp cao như Kiên Giang là 1,13 mức lương tối thiểu, thấp như Sơn La là 0,20 mức lương tối thiểu) Một số địa phương đề nghị Trung ương quy định mức phụ cấp (tối thiểu, tối đa) đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã để thực hiện thống nhất trong toàn quốc

Nhiều địa phương quyết định thêm nhiều chức danh cán bộ không chuyên trách ngoài quy định của Nghị định số 121/2003/NĐ- CP làm cho số lượng cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn quá đông, gây khó khăn cho ngân sách địa phương Tổng số cán bộ không chuyên trách tính đến ngày 01 tháng 9 năm 2007 toàn quốc có 764.733 người Trong đó bố trí theo quy định của Nghị định số 121/2003/NĐ- CP là 589.166 người( trong đó ở cấp xã 178.727= 30,34%; ở thôn,

tổ dân phố 410.439= 69.66%) Có 41/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo tự quy định và bố trí thêm chức danh cán bộ không chuyên trách cấp xã, cán

bộ thôn, tổ dân phố (đến cả đoàn thể cấp xã, trưởng ban Mặt trận Tổ quốc thôn, tổ dân phố; dưới thôn, tổ dân phố một số tỉnh còn có tổ dân vận, tổ hoà giải, tổ liên gia được hưởng phụ cấp)

Một số Bộ, ngành tham mưu cho chính phủ, Thủ tướng Chính phủ văn bản triển khai nhiệm vụ chuyên môn để địa phương thực hiện trong đó quy định cả số lượng cán bộ tới cấp xã, cấp thôn (ngoài số lượng quy định ở Nghị định số 121/2003/NĐ- CP); Bộ, ngành có chương trình dự án thì quy định mức phụ cấp

Ngày đăng: 08/03/2016, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w