Chính sách tiền tệ và tỷ giá Chính sách tiền tệ Từ năm 1999, việc điều hành chính sách tiền tệ CSTT được thực hiện theo các quy định tại Luật NHNN.. Cho đến năm 2007, nhìn chung việc đi
Trang 1ĐÔI ĐIỀU VỀ TỶ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
(Trích Báo cáo “Tác động của cam kết mở cửa thị trường trong WTO và FTAs
đến…VN ”, Dự án MUTRAP III, tháng 9/2011 1 )
I Chính sách tiền tệ, tỷ giá và tác động
I.1 Chính sách tiền tệ và tỷ giá
Chính sách tiền tệ
Từ năm 1999, việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) được thực hiện theo các quy định tại Luật NHNN Theo đó, CSTT về căn bản luôn theo đuổi mục tiêu
ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế Cho đến năm 2007, nhìn chung việc điều hành CSTT của NHNN đã đạt được các mục tiêu đề ra Tỷ lệ lạm phát cho đến mốc này hầu như đều ở mức thấp dưới
2 con số Tăng cung tiền và dư nợ tín dụng cũng góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất - kinh doanh và theo đó là tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, trong Luật NHNN không quy định rõ mục tiêu hàng đầu của CSTT Do vậy, trên thực tế việc điều hành CSTT có khó khăn nhất định, nhất là khi cần có sự đánh đổi giữa các mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh
tế Bên cạnh các mục tiêu được quy định trong Luật NHNN, trong từng giai đoạn
cụ thể, NHNN còn theo đuổi các mục tiêu như đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng Vì vậy, việc NHNN thường phải theo đuổi nhiều mục tiêu điều hành CSTT, chưa xác định rõ mục tiêu hàng đầu và một số mục tiêu chưa được lượng hóa đầy
đủ là những bất cập, gây khó khăn trong việc điều hành CSTT
Từ năm 2001 đến nay là các năm thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế 2001-2010 theo các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra Trong đó, mục tiêu dài hạn (2001 - 2010) của CSTT được xác định là: “Thực thi CSTT bảo đảm ổn định kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển” Để đạt được các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như Nghị quyết Đại hội Đảng IX đề
ra (tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7,5% cho thời kỳ 2001-2005, lạm phát bình quân hàng năm 5 - 6%), mức tăng trưởng M2 bình quân hàng năm được định hướng khoảng 15-20%/năm cho giai đoạn 2010 và khoảng 22% từ
2001-2005 Tỷ lệ M2/GDP tăng lên gần 50% vào năm 2005 và đạt 60% vào năm 2010;
1
Nhóm tác giả Báo cáo: Trương Đình Tuyển, Võ Trí Thành, Bùi Trường Giang, Phan Văn Chính, Lê Triệu Dũng, Nguyễn Anh Dương, Phạm Sĩ An, Nguyễn Đức Thành
Trang 2tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân hàng năm khoảng 20-25%, tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế khoảng 16-20% trong cả giai đoạn 2001 - 2010 (tăng bình quân 22% trong giai đoạn 2001 - 2005), phấn đấu đến 2005 tín dụng trung dài hạn đạt 40% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, tỷ lệ nợ quá hạn dưới 4%
Trên thực tế, để đạt được các mục tiêu nêu trên đòi hỏi nỗ lực lớn của các
Bộ, ngành, địa phương và nhất là của NHNN trong việc điều hành CSTT Trong giai đoạn 2001 - 2005, kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sụt giảm của các nền kinh tế lớn Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU và tình hình bất ổn về chính trị ở một số khu vực có ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế nước ta Để góp phần thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế đã được Quốc hội đề ra, mức tăng trưởng tín dụng luôn định hướng từ 21 - 25%, và huy động vốn tăng ở mức từ 23 - 25% Đặc biệt, trong các năm 2003 - 2005, mục tiêu điều hành CSTT được xác định gắn chặt với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, nhất là mục tiêu tăng trưởng GDP (ở mức 7 - 7,5%/năm)
Trước sức ép của chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng nhanh trong năm
2005 và mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt trên cơ sở phân tích diễn biến lãi suất tiền tệ, lạm phát trong nước, và lãi suất trên thị trường quốc tế, với 2 lần điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 7,5%/năm lên 7,8%/năm và 8,25%/năm, 3 lần điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn từ 5,0-5,5-6,0-6,5%/năm, và 3 lần tăng lãi suất tái chiết khấu từ 3,0-3,5-4,0-4,5%/năm Mặt khác, NHNN thực hiện kiểm soát tăng trưởng tín dụng song song với nâng cao chất lượng tín dụng
Tuy nhiên, CSTT phải điều chỉnh nhanh và mạnh hơn, theo các hướng khác nhau, trong giai đoạn sau khi nước ta gia nhập WTO Hứng khởi sau mốc hội nhập này, CSTT vẫn được duy trì theo hướng mở rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Trong giai đoạn từ 2007 đến đầu 2008, kiên trì với chính sách ổn định tỷ giá, NHNN đã phải tăng cung tiền đồng để mua lại các khoản ngoại tệ gia tăng cùng với các dòng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối Mặc dù vậy, NHNN chưa thực hiện hiệu quả việc trung hòa hóa đối với lượng tiền tăng thêm này, khiến cung tiền tăng nhanh Cùng với áp lực dồn tụ từ tăng trưởng đầu tư công và tín dụng trong một thời gian dài, cũng như việc giá thế giới tăng mạnh, điều này đã làm tăng áp lực lạm phát Lạm phát đã tăng nhanh và đạt đỉnh ở mức 28,3% vào tháng 8/2008 (so với cùng kỳ năm 2007)
Trang 3Trước tình hình lạm phát tăng cao trong năm 2008, Chính phủ đã chuyển hướng từ chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao sang chính sách tiền tệ thắt chặt, chấp nhận tốc độ tăng trưởng thấp hơn Kinh tế vĩ mô dần được ổn định Tuy vậy, cùng với động thái thắt chặt tiền tệ mang tính hành chính của NHNN, các NHTM đã có những phản ứng không thích hợp, dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản trong những tháng đầu năm 2008 Đồng thời, NHNN cũng thực hiện cơ chế điều hành lãi suất mới, với trần cho vay ở mức 150% lãi suất cơ bản, biên độ tỷ giá liên tục được nới rộng trong khi tỷ giá tham chiếu được điều chỉnh tăng dần
Từ tháng 9/2008 đến hết năm 2009, tình hình kinh tế thế giới có xu hướng đảo chiều: khủng hoảng tài chính toàn cầu đi kèm suy thoái và xu hướng giảm đáng kể giá dầu và nhiều nguyên liệu khác Một lần nữa, Chính phủ lại chuyển hướng sang tập trung chống suy giảm kinh tế CSTT lại được nới lỏng dần một cách thận trọng NHNN cũng đã ban hành một số văn bản nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2009 phù hợp với cơ cấu nguồn vốn, bảo đảm các tỷ lệ an toàn và tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, không hạ thấp các điều kiện tín dụng Tính chung, tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 20,3% trong năm 2008, song đã tăng xấp xỉ 29,0% trong năm 2009 Tương tự, dư
nợ tín dụng đã tăng 39,6% trong năm 2009
Cùng với việc phục hồi kinh tế, chúng ta đã phải đối mặt lại với vấn đề lạm phát cao - vốn chưa được giải quyết triệt để trong năm 2008 CSTT theo đó được thực hiện nhằm góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa tái lạm phát cao trở lại.Trong 8 tháng đầu năm 2010 khi lạm phát còn ở mức thấp, NHNN đã duy trì mức lãi suất chỉ đạo, tăng cung tiền nhằm hỗ trợ giảm mặt bằng lãi suất Mặt khác, NHNN cũng từng bước hủy bỏ các quy định ràng buộc về các loại lãi suất của các tổ chức tín dụng Trong 4 tháng cuối năm 2010, do lạm phát có dấu hiệu tăng cùng với áp lực giảm giá VNĐ, NHNN đã áp dụng CSTT thắt chặt từ ngày 5/11 bằng cách nâng thêm 1% các mức lãi suất chỉ đạo, quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của các tổ chức kinh tế ở mức 1% năm, và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% Đến cuối năm 2010, do cạnh tranh huy động trên thị trường, NHNN phải quy định bắt buộc trần lãi suất tiền gửi VNĐ ở mức 14%/năm Về tín dụng, NHNN cũng khuyến khích tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu và DNNVV, đồng thời tiếp tục kiểm soát chặt chẽ vốn vay cho lĩnh vực phi sản xuất
Những giải pháp CSTT trong từng giai đoạn đã ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Trong những
Trang 4thời kỳ CSTT được nới lỏng, hoạt động xuất nhập khẩu cũng được tạo thuận lợi hơn Cùng với nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng
và hệ thống thanh toán quốc tế, đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng thương mại và tăng trưởng kinh tế Trong những thời kỳ CSTT được thắt chặt với lãi suất cao, hoạt động xuất nhập khẩu cũng phần nào bị ảnh hưởng Ngay
cả trong các thời kỳ này, các ảnh hưởng này khó được quan sát ở các số liệu năm
vì CSTT vẫn có xu hướng ưu tiên mục tiêu tăng trưởng cao nên thường được nới lỏng “đôi chút” về cuối năm
Nhìn chung, công tác điều hành CSTT ở Việt Nam đã có những thành tựu nhất định kể từ năm 1999 đến nay Diễn biến lãi suất trên thị trường đã được theo dõi sát sao hơn để có những giải pháp điều hành/can thiệp phù hợp Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều chỉnh ngày càng linh hoạt phù hợp với mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ Cơ chế tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở cũng được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế điều hành của Luật NHNN
Tuy nhiên, công tác điều hành CSTT vẫn còn bộc lộ không ít vấn đề Thứ
nhất, CSTT đã được nới lỏng trong một thời gian khá dài nhằm thúc đẩy tăng
trưởng nhanh, làm gia tăng áp lực lạm phát Điều này phần nào xuất phát từ sự nhận thức không đầy đủ về những đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô Đây cũng là một lý do làm gia tăng đầu tư, nhập khẩu, lạm phát và kết quả là làm khó dễ việc có được một chính sách tỷ giá hợp lý (đảm bảo khả năng cạnh tranh xuất khẩu, song đủ linh hoạt cho điều hành CSTT, nhất là trong bối cảnh kinh tế nước ngày càng hội nhập sâu rộng hơn)
Thứ hai, hiệu quả phối hợp giữa CSTT với các chính sách khác (kể cả chính
sách tài khóa) cũng còn phải cải thiện rất nhiều, do năng lực điều phối giữa các chính sách này còn hạn chế và/hoặc do chưa tính đến đầy đủ mối tương tác, độ trễ tác động của các chính sách này
Cuối cùng, công tác điều hành CSTT chưa nhận được sự hỗ trợ của hệ thống
thông tin, đặc biệt là hệ thống số liệu thống kê cho phân tích và dự báo diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, v.v Mặt khác, khả năng xử lý thông tin của ngành ngân hàng vẫn còn thiếu và yếu, khiến những đánh giá, nhận định dựa trên những thông tin đã có của hệ thống ngân hàng (về tình hình tín dụng, lãi suất, v.v.) chưa
có nhiều ý nghĩa cho công tác điều hành CSTT
Trang 5Chính sách tỷ giá
Nhằm hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và tăng trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu nói chung, nước ta đã thực hiện chế độ neo tỷ giá điều chỉnh dần Cụ thể, đồng Việt Nam được điều chỉnh để giảm giá danh nghĩa so với USD Mức độ giảm giá danh nghĩa này phụ thuộc vào đánh giá của NHNN về diễn biến thương mại thế giới và tình hình cụ thể trên thị trường ngoại tệ Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ chính sách tỷ giá có sự khác biệt đáng kể trong các giai đoạn
2000-2006 và 2007-2010 Trong giai đoạn 2000-2006, việc điều chỉnh chính sách
tỷ giá chủ yếu là tăng dần tỷ giá liên ngân hàng được NHNN công bố chính thức hàng ngày Theo đó, đồng Việt Nam gần như liên tục mất giá danh nghĩa so với USD, trừ một số thời điểm nhỏ Tỷ giá VNĐ/USD bình quân liên ngân hàng đã tăng từ mức hơn 14.000 vào đầu năm 2000 lên 16.091 vào cuối năm 2006 Trong giai đoạn này, biên độ tối đa chỉ được điều chỉnh tăng một lần duy nhất, từ 0,1% lên 0,25% vào tháng 7/2002
Bảng 1: Thay đổi biên độ giao dịch tỷ giá so với tỷ giá VND/USD được công
bố trên thị trường liên ngân hàng
Ngày Biên độ cho phép
01/07/2002 +/- 0,25%
31/12/2006 +/- 0,5%
24/12/2007 +/- 0,75%
10/03/2008 +/- 1%
27/06/2008 +/- 2%
06/11/2008 +/- 3%
24/03/2009 +/- 5%
01/12/2009 +/- 3%
11/02/2011 +/- 1%
Nguồn: Tổng hợp của các tác giả từ nhiều nguồn
Đến giai đoạn 2006-2010, tỷ giá VNĐ/USD bình quân liên ngân hàng vẫn giữ xu hướng tăng, thể hiện việc đồng Việt Nam mất giá danh nghĩa so với đồng USD Tuy nhiên, tỷ giá này có xu hướng giảm nhẹ trong các tháng đầu năm 2008 khi dòng vốn ngoại tệ vào nước ta là khá dồi dào Tuy nhiên, khác với các giai đoạn trước, NHNN đã điều chỉnh biên độ giao dịch một cách linh hoạt và thường xuyên hơn (Bảng 1) Tuy nhiên, những điều chỉnh này phụ thuộc vào diễn biến cụ thể trên thị trường ngoại tệ Cụ thể, biên độ giao dịch đã được nới rộng dần, từ mức
Trang 60,25% từ 2002 lên 0,5% vào cuối 2006, 1% vào tháng 3/2008, và 5% vào tháng 3/2009 Trong các giai đoạn sau đó, biên độ giao dịch đã được thu hẹp dần, xuống còn 3% vào tháng 12/2009 và còn 1% vào tháng 2/2011
Nhìn chung, công tác điều hành chính sách tỷ giá trong 10 năm qua đã có những chuyển biến tích cực Việc đổi mới cơ bản trong điều hành tỷ giá theo các nguyên tắc thị trường và việc can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá giữa đồng VND và USD tương đối ổn định (ngoại trừ một số thời điểm phải điều chỉnh mạnh) Tuy vậy, chính sách tỷ giá trong một số trường hợp vẫn chưa phối hợp tốt với các công cụ CSTT khác Như đã phân tích ở trên, việc duy trì tỷ giá ổn định trong bối cảnh vốn nước ngoài tăng mạnh, trong khi lại thiếu trung hòa hóa phù hợp đã làm tăng cung tiền và góp phần gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô trong năm
2008
Mặt khác, chính sách tỷ giá nói riêng và chính sách kinh tế của nước ta nói chung chưa tạo được niềm tin đáng kể đối với tiền đồng và/hoặc chưa tạo được sự thuận tiện trong giao dịch/tích trữ so với đồng USD Điều này khiến tình hình đô-la hóa vẫn còn nghiêm trọng
Bên cạnh đó, cách điều hành tỷ giá cũng là một trong những yếu tố làm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn của các nước Một mặt, trong một thời gian tương đối dài, USD giảm mạnh trên thị trường thế giới, nhưng lại tăng giá mạnh ở Việt Nam, đã làm cho “nhập khẩu lạm phát” bị khuếch đại (hàng nhập khẩu tính bằng USD tăng lên và khi tính ra VND lại tăng lên một lần nữa) Mặt khác, tỷ giá VND/USD ở trong nước lại gắn rất chặt chẽ với các đồng tiền khác, nên việc nhập khẩu đối với các thị trường thanh toán bằng các đồng tiền khác còn bị đắt lên nhiều hơn nữa, làm cho tác động “nhập khẩu lạm phát” càng lớn hơn
Cuối cùng, NHNN trong một số trường hợp đã thể hiện sự lưỡng lự và không nhất quán trong chính sách tỷ giá Việc sử dụng biên độ tỷ giá thay cho việc phá giá chính thức đôi khi không có tác dụng như mong muốn Bất chấp các biện pháp hành chính (như yêu cầu các tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng) cũng như các công bố của lãnh đạo NHNN, NHNN đã không thể kéo tỷ giá thị trường tự do về sát với tỷ giá NHTM như mong muốn Thêm vào đó, do phải giữ ổn định tỷ giá trong thời gian dài, NHNN đã phải bán ra hơn một lượng lớn USD làm giảm dự trữ ngoại hối Điều này khiến kỳ vọng mất giá của đồng tiền Việt Nam hiện vẫn còn khá lớn
Trang 7Hình 1: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD trung bình năm, 2000-2010
12,000
14,000
16,000
18,000
20,000
p-Nguồn: Cơ sở dữ liệu CEIC
Hình 1 phản ánh diễn biến tỷ giá chính thức VND/USD trong giai đoạn 2000-2010 Có thể thấy diễn biến tỷ giá có hai giai đoạn chính: (i) từ tháng 1/2000
đến tháng 10/2007; và (ii) từ tháng 11/2007 đến tháng 12/2010 Giai đoạn từ đầu
2000 đến tháng 10/2007 chứng kiến cơ chế tỷ giá neo giữ theo đồng USD một cách tương đối cứng nhắc Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trên thị trường tự do cũng ổn định và theo sát với tỷ giá chính thức Nguyên nhân là do giai đoạn trước
đó tỷ giá chính thức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngang bằng với
tỷ giá thị trường tự do
Trong giai đoạn từ tháng 11/2007 đến tháng 12/2010, tỷ giá đã có những biến động tăng giảm nhanh và mạnh hơn Cho đến tháng 5/2008, tiền đồng đã lên giá so với USD do nguồn cung USD đã tăng mạnh Trong giai đoạn tiếp sau đó, xu hướng chung của tiền đồng là mất giá danh nghĩa so với USD Cho đến cuối năm
2009, tỷ giá chính thức VND/USD đã tăng 5,6% so với cuối năm 2008 Trong khi trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, đầu năm còn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 lại là một năm mà tỷ giá NHTM luôn ở mức trần của biên độ dao động so với tỷ giá liên ngân hàng mà NHNN công
bố Tuy nhiên, những áp lực trên thị trường ngoại hối tại một số thời điểm (do doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ đến hạn trả nợ, doanh nghiệp nhập khẩu đến kỳ thanh toán các khoản nhập khẩu, tâm lý găm giữ USD và hành vi mua bán mang
Trang 8tính bầy đàn của người dân), NHNN đã phải điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá VND/USD, dẫn đến việc tăng tỷ giá chính thức
Hộp 1: Tỷ giá và chênh lệch lãi suất bằng tiền đồng - lãi suất bằng USD
Đầu năm 2010, NHNN cho phép nhà xuất khẩu vay ngoại tệ và bán ngoại tệ đó lấy VND Lãi suất vay USD lúc này chỉ ở mức 4% - 4,5%/năm, thấp hơn khoảng 5 điểm phần trăm so với lãi suất VND Diễn biến này đã khiến cung ngoại hối tăng khá mạnh, song cũng kéo theo việc giảm cung ngoại hối trong thời kỳ sau đó Cũng do chênh lệch lớn giữa lãi suất VND và lãi suất USD, các doanh nghiệp nhập khẩu không vay bằng VND và mua ngoại tệ như trước mà chuyển sang vay ngoại tệ Xu hướng này làm giảm cầu ngoại tệ, song lại làm tăng cầu ngoại tệ trong tương lai khi các nhà nhập khẩu đến hạn trả nợ Kết quả là tỷ giá trong quý II/2010 có xu hướng giảm, song áp lực đối với tỷ giá trở lại vào ngay đầu quý III/2010
Dư nợ tín dụng ngoại tệ trong 6 tháng đầu năm 2010 đã tăng tới 24% so với cùng kỳ năm 2009 Do đó, đến đầu tháng 7/2010, NHNN cảnh báo tình hình cho vay ngoại tệ quá mức, nhằm nhắc nhở các ngân hàng thương mại thực hiện cân đối lượng ngoại tệ huy động với cho vay để đảm bảo an toàn trong thanh toán Vấn đề là ở chỗ cảnh báo này không đi kèm với việc công bố dư nợ ngoại tệ đến hạn trả nợ ở từng thời điểm, mặc dù không phải tất cả các khoản vay đều đến hạn cùng lúc Vì vậy, với thông điệp này, thị trường kỳ vọng là cầu ngoại tệ đã trở lại sau một thời gian suy giảm Theo đó, việc găm giữ, đầu cơ ngoại tệ trở nên phổ biến hơn vào đầu quý III/2010, gây thêm áp lực đối với tỷ giá Điều này cũng ảnh hưởng đến việc cân đối ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu
Nguồn: Nguyễn Hoài (2010)
Mặc dù vậy, tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do vẫn có những chênh lệch đáng kể (Hình 2) Cho đến tháng 3/2008, tỷ giá trên thị trường tự do luôn ở mức sàn biên độ so với tỷ giá chính thức Tuy vậy, từ tháng 4 đến hết năm
2009, tỷ giá trên thị trường tự do thậm chí còn vượt xa so với tỷ giá trên thị trường chính thức (đã cộng biên độ cho phép)
Sang năm 2010, thị trường ngoại hối diễn biến khá phức tạp Tỷ giá bán ra tại các NHTM liên tục kịch trần ngay từ đầu năm và sức ép tỷ giá chỉ nới lỏng (dưới mức trần) đôi chút trong vòng từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 7 Trong năm
2010, NHNN cũng đã 2 lần điều chỉnh tỷ giá chính thức: lần thứ nhất vào đầu tháng 2 và lần 2 vào đầu tháng 8, tổng cộng 2 lần điều chỉnh tỷ giá chính thức đã tăng 5,5% Mặc dù vậy, những lần điều chỉnh này vẫn không xóa bỏ được khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, và cũng chưa giải tỏa
Trang 9được tâm lý thị trường Đây chính là cơ sở để NHNN phải tiến hành một lần điều chỉnh rất lớn (tới 9,3%) vào đầu tháng 2/2011
I.2 Tỷ giá thực
Hình 3 thể hiện diễn biến của tỷ giá thực2 và tỷ giá VNĐ/USD chính thức trong giai đoạn 2000-2009 Mặc dù tỷ giá chính thức có xu hướng tăng rõ rệt, đặc biệt là từ năm 2007, tỷ giá thực diễn biến hoàn toàn theo chiều ngược lại và khoảng cách giữa hai tỷ giá ngày càng mở rộng, nhất là hai năm 2008 và 2009 So với năm 2000, chỉ số giá tiêu dùng của nước ta trong năm 2009 đã tăng tới xấp xỉ 99,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng ở Hoa Kỳ (23,7%) Trong khi đó, tỷ giá VNĐ/USD chính thức chỉ tăng xấp xỉ 23,6% Như vậy, nếu lấy năm 2000 làm gốc thì đồng Việt Nam đã lên giá thực tế xấp xỉ 23,37%
2 Tỷ giá đã được điều chỉnh để loại trừ yếu tố lạm phát của hai nước liên quan
Trang 1010
Hình 2: Tỷ giá VND/USD và biên độ dao động, 2006-2009
Nguồn: Viện NCQLKTTW (2010)