1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI

19 587 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 408,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy, quá trình thực thi chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề bức xúc trong quản lý sử dụng tài nguyên đất đai v

Trang 1

TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI

Phan Đình Nhã, Viện tư vấn phát triển (CODE)

I GIỚI THIỆU

Theo kết quả thống kê đất đai đến ngày 1/1/20111, trong tổng số hơn 33,095 triệu

ha diện tích tự nhiên của cả nước, diện tích sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp khoảng 10,126 triệu ha (chiếm 30,60% diện tích tự nhiên - DTTN), sử dụng vào mục đích lâm nghiệp khoảng 15,366 triệu ha (chiếm 46,43% DTTN ) và còn khoảng hơn 2,632 triệu ha đất đồi núi chưa sử dụng (đất trống đồi núi trọc) có tiềm năng lâm nghiệp (chiếm 7,95% DTTN) Đất đang sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và có tiềm năng lâm nghiệp (chiếm 54,38% DTTN) phân bố tập trung ở vùng miền núi, là vùng đầu nguồn của nhiều hệ thống sông suối, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới và là nơi định cư của gần

25 triệu người, trong đó có khoảng 13 triệu đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 14% dân số cả nước) Vì vậy rừng và đất lâm nghiệp của Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng của Việt Nam

Rừng và đất rừng là không gian sinh tồn gắn với truyền thống văn hoá xã hội và là nguồn lực tự nhiên rất quan trọng để duy trì sinh kế của cộng đồng các dân tộc miền núi Lịch sử phát triển của đất nước cho thấy, việc đảm bảo ổn định cuộc sống cho đồng bào miền núi có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc ổn định xã hội, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng của quốc gia cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi luôn là hậu phương vững chắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn xác định vấn đề nông nghiệp, nông thôn miền núi và vấn đề dân tộc là những lĩnh vực ưu tiên đặc biệt trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Nhiều chủ trương chính sách hỗ trợ phát triển kinh

tế xã hội, nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo đã được ban hành qua các giai đoạn phát triển của đất nước, trong đó quan trọng nhất là các chính sách giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi

Mặc dù có tiềm năng lớn về đất đai, đặc biệt là đất lâm nghiệp nhưng vùng miền núi hiện nay lại là những vùng có nhiều áp lực về thiếu quỹ đất để giao cho các hộ đồng

1

Quyết định 2282/QĐ-BTNMT ngày 8/12/2011

Trang 2

bào dân tộc thiểu số nghèo Thực tế cho thấy, quá trình thực thi chính sách phát triển kinh

tế xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề bức xúc trong quản lý sử dụng tài nguyên đất đai và tài nguyên rừng, đặc biệt là tình trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Vấn đề này đang trở thành rào cản trong quá trình đảm bảo sinh kế và ổn định xã hội tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam

Thời gian qua Viện tư vấn phát triển (CODE) đã phối hợp cùng với một số tổ chức khoa học công nghệ2 triển khai nghiên cứu ở một số điểm đại diện cho các vùng miền khác nhau về tình hình quản lý sử dụng đất đai của các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi Báo cáo này tổng hợp một số kết quả từ các nghiên cứu nhằm góp phần tham gia phản ánh tình hình thiếu đất sản xuất và thực tiễn về thực hiện chính sách pháp luật giải quyết đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số vùng miền núi

Các điểm nghiên cứu thực hiện gồm:

1 Các trường hợp nghiên cứu về tình trạng thiếu đất sản xuất và bức xúc trong quản lý sử dụng đất rừng và giao đất giao rừng:

 Vùng miền núi Bắc Bộ: (i) Xã Lùng Sui (dân tộc Mông), huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai; (ii) Xã Minh Sơn (dân tộc Nùng, Dao, Sán Dìu), huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;

 Vùng Bắc Trung Bộ: (i) Xã Hạnh Dịch (dân tộc Thái), huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; (ii) Xã Trường Sơn (dân tộc Vân Kiều), huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

 Vùng Nam Trung Bộ: Xã Ma Cooil (dân tộc Cơ Tu), huyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam

 Vùng Tây Nguyên:

(i) Xã Hơ Moong (dân tộc Rơ Ngao, Ba Na), huyên Sa Thầy, làng Tu Rằng (dân tộc M’Nâm) xã Măng Cành huyện Konplông, làng Plei Tơ Nghĩa (dân tộc

Ba Na) - Phường Quang Trung, TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum;

(ii) Làng Del (Dân tộc Gia Jai) xã IA Tô huyện IA Grai, tỉnh Gia Lai;

(iii) Buôn Akô Dhong (dân tộc Ê Đê), phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

(iv) Buôn Buzấp (dân tộc M’Nông), xã Nhân Cơ - huyện Đăk R’lấp, tỉnh Đắk Nông;

(v) Thôn 4 (làng Nào Lùng – dân tộc Châu Mạ)) xã Lộc Bắc - huyện Bảo Lâm

2

Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội (SPERI), Trung tâm Tư vấn Quản lý Bền vững Tài nguyên và Phát triển Văn hoá Cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM), Quỹ giảm nghèo và phát triển nông thôn huyện Quảng Ninh - Quảng Bình (RDPR), Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Hoà Bình, Nghệ An, Kon Tum…

Trang 3

tỉnh Lâm đồng

2 Các trường hợp nghiên cứu về thu hồi đất tái định cư xây dựng thủy điện:

 Vùng Đông Bắc - Thuỷ điện Tuyên Quang: Các điểm tái định cư (TĐC) xen ghép ở xã Nhân Mục và xã Tân Thành huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang (dân tộc Tày, Dao, Cao lan);

 Vùng Tây Bắc - Thuỷ điện Hoà Bình: Các điểm TĐC tại xã Hào Lý, huyện Đà Bắc - tỉnh Hoà Bình (dân tộc Mường, Tày)

 Vùng Bắc Trung Bộ - Thuỷ điện Bản Vẽ: Các khu TĐC ở xã Ngọc Lâm, huyện Thanh Chương - tỉnh Nghệ An (dân tộc Thái);

 Vùng Tây Nguyên - Thuỷ điện Yaly/Pleikrông: Các điểm TĐC ở xã Kroong Klah, TP Kon Tum - tỉnh Kon Tum (Dân tộc Rơ Ngao)

II TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI

QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI

Thực thi chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế xã hội vùng miền núi thời gian qua đã được một số kết quả có ý nghĩa quan trọng góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng miền núi, cải thiện được một bước đời sống của người dân, xoá đói giảm nghèo, tạo ra sự đồng thuận trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, củng cố thêm lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước Bên cạnh những kết quả đạt được, các vùng đồng bào dân tộc ít người miền núi nơi có nhiều đất rừng vẫn là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất cả nước: Vùng Tây Bắc 39,16%, vùng Đông Bắc 24,62; vùng Bắc Trung bộ 22,68%; vùng Tây Nguyên 22,48%3 Nguyên nhân cơ bản là tình trạng thiếu đất sản xuất của đồngbào dân tộc thiểu số vẫn chưa được giải quyết Vấn đề giải quyết đai đai cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi đang đứng trước những thách thức và nguy cơ sau đây:

1 Tình trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo miền núi ngày càng gia tăng

Đến tháng 9 năm 2012, cộng đồng các dân tộc thiểu số cả nước vẫn còn khoảng 32 nghìn hộ thiếu đất ở, khoảng 329 nghìn hộ thiếu đất sản xuất, gần tương đương số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất giai đoạn đầu tư hỗ trợ của nhà nước 2004 - 20084 Đối với

nhóm 16 dân tộc rất ít người5 (dân tộc có dân số dưới 10.000 người) có đến 40,7% số hộ

3

Công bố tỷ lệ đói nghèo theo quyết định 640/QĐ-BLĐTBXH ngày 30/5/2011

4

Báo cáo của đoàn giám sát thực hiện chính sách pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại phiên họp chiều 13/9/2012 của UB thường vụ Quốc hội

5

Bao gồm các dân tộc: La Ha, La Hủ, Pà Thèn, Chứt, Lự, Lô Lô, Mảng, Cống, Cờ Lao, Bố Y, Ngái, Si La, Pú Péo, Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu

Trang 4

thiếu đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có một số dân tộc có tỷ lệ thiếu đất sản xuất rất cao như Bố Y 78,7%, Pà Thẻn 62,9%, La Ha 49,1%, Chứt 44,9% Bình quân đất sản xuất của 16 dân tộc này chỉ khoảng 0,1ha/khẩu, trong đó thấp nhất là là dân tộc Pà Thẻn 0,04 ha, tiếp theo là dân tộc Phù Lá 0,06 ha và Pu Péo 0,08 ha… Bên cạnh thiếu đất, chất lượng đất sản xuất lại không đảm bảo điều kiện sản xuất: đất thường xấu và điều kiện canh tác khó khăn, chủ yếu là nương núi đá, nương núi đất có độ dốc cao6… Đối với đất lâm nghiệp, mặc dù cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng rừng núi nhưng diện tích đất rừng được giao cho hộ, cộng đồng quản lý còn rất ít

Qua điều tra thực tế cho thấy, thiếu đất sản xuất nông lâm nghiệp là tình trạng chung của phần lớn hộ dân ở các điểm nghiên cứu trường hợp:

- Tại huyện Si Ma Cai: Đây là địa bàn cư trú truyền thống lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số (phần lớn là đồng bào dân tộc Mông) với tập quán sinh kế và sinh hoạt văn hoá chủ yếu dựa vào rừng và đất rừng Tỷ lệ nghèo đói của dân cư trong vùng rất cao, thuộc khu vực cao nhất cả nước chiếm khoảng 70% - 75%, nếu tính cả hộ cận nghèo lên đến 80 – 90% Nguyên nhân cơ bản là do thiếu quỹ đất cho phát triển kinh tế xã hội Bình quân đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 0,2 ha đất ruộng bậc thang/hộ (chỉ làm được 1 vụ), 0,9 ha đất nương rẫy/hộ (điều kiện sản xuất khó khăn do đất dốc xen núi đá) Đất rừng chủ yếu thuộc quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ, các hộ dân chỉ được giao bình quân 0,3 – 0,4 ha/hộ (nhưng phần lớn lại chưa được giao chính thức) (điều tra của SPERI/CODE năm 2011);

- Tại xã Minh Sơn (huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) nơi định cư của nhiều hộ đồng bào dân tộc Nùng, Dao…, tình trạng thiếu đất sản xuất cũng diễn ra phổ biến Bình quân đất sản xuất nông nghiệp rất thấp, chỉ có 0,18 ha đất ruộng/hộ và 0,48 ha đất màu/hộ Đất rừng cũng mới chỉ được giao bình quân 0,12 ha/hộ còn lại thuộc quyền quản

lý của Công ty lâm công nghiệp Đông Bắc Thiếu đất sản xuất nên các hộ dân buộc phải lấn chiếm đất của công ty lâm nghiệp gây nên mâu thuẫn tranh chấp trong quản lý sử dụng đất rừng… (điều tra của CODE/CIRUM năm 2008 – 2011);

- Tại xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong - tỉnh Nghệ An), nơi định cư của đồng bào dân tộc Thái, thiếu đất sản xuất là tình trạng chung và thiếu tràm trọng của phần lớn các

hộ trên địa bàn Đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân ở tất cả các bản rất hạn chế, chủ yếu là đất lúa Bình quân đất lúa chỉ khoảng 0,1 ha/hộ (lúa 1 vụ) và 0,05 ha nương rẫy/hộ Đất lâm nghiệp mới chỉ giao cho khoảng 40% số hộ, còn lại 60% vẫn chưa được giao đất giao rừng Thiếu đất sản xuất nên tình trạng nghèo đói còn rất cao khoảng 70 – 80% (điều tra của SPERI/CODE năm 2011)

6

Báo cáo của Bộ NN&PTNT 3348/BC-BNN-KTHT ngày 1/10/2012 về tình hình thực hiện chính sách phát triển nông lâm ngư nghiệp của các dân tộc rất ít người: thực trạng và giải pháp

Trang 5

- Tại xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) có khoảng 60,7% dân

số là đồng bào dân tộc Vân Kiều Bình quân đất sản xuất nông nghiệp chỉ khoảng 0,6ha/hộ nhưng chủ yếu là đất màu điều kiện sản xuất khó khăn (thiếu nước) Đặc biệt một số bản 100% đồng bào Vân Kiều như bản Khe cát, đất sản xuất nông nghiệp của bản bình quân khoảng 1,5 sào (0,15ha)/hộ chủ yếu là đất màu trồng lạc, đậu, sắn nhưng cho thu nhập thấp Mặc dù sống ở vùng rừng núi nhưng 91,5% đất rừng của xã Trường Sơn lại do các tổ chức nhà nước quản lý, đất rừng giao cho các hộ gia đình toàn xã không đáng kể (theo thống kê giao cho các hộ khoảng 1040 ha, nhưng thực tế các hộ dân được giao 444 ha) bình quân mới chỉ được giao khoảng 0,48ha/hộ tính chung toàn xã) Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp, chưa được tiếp cận đất rừng nên cuộc sống của cộng dân tộc Vân Kiều ở Bản Khe Cát nói riêng và xã Trường Sơn nói chung gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao (tỷ lệ đói nghèo của Bản Khe Cát khoảng 80%, chung toàn xã khoảng 60%) Đặc biệt tại xã Trường Sơn có tới 5 bản giáp khu vực biên giới (bản Trung Sơn, Dốc Mây, Đìu Đo, Ploang, Rình Rình) thiếu đất sản xuất trầm trọng, hàng năm phải nhận trợ cấp của nhà nước khoảng 80% nhu cầu lương thực của người dân (điều tra của RDPR năm 2011)

- Kết quả điều tra tại 6 buôn làng Tây Nguyên (điều tra tháng 7/2012) đối với các

hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, chỉ có 22,53% số hộ cho rằng họ có đủ hoặc thừa đất sản xuất để ổn định đời sống, còn lại 77,47% số hộ tự đánh giá thiếu đất sản xuất

Bảng 1: Đánh giá của các hộ về quy mô đất sản xuất của gia đình

Hạng mục Chung 6

buôn làng (%)

Phân theo buôn làng (%) Plei Tơ

Nghia

Tu Rằng Del Akô

Dhông

Bu Zấp Nào

Lùng Đủ/thừa 22.53 12.86 21.43 23.68 16.67 17.02 38.10 Thiếu 77.47 87.14 78.57 76.32 83.33 82.98 61.90

- Đối với các hộ dân tái định cư của các dự án thuỷ điện, thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ xảy ra ở một vài dự án đơn lẻ mà là tình trạng phổ biến của các dự án thủy điện có thu hồi đất và di dân tái định cư: Hoạt động kinh tế của phần lớn cộng đồng phải di dời TĐC của các dự án xây dựng thuỷ điện là dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, nhưng hầu hết các dự án TĐC đều không đủ quỹ đất (cả đất ở và đất sản xuất) để thực hiện bồi thường/đền bù bằng đất đổi đất Do vậy ở nhiều dự án, một phần đất sản xuất phải bồi thường bằng tiền để người dân tự lo liệu, thậm chí một số nơi không có đất nên buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp (như trường hợp một số điểm TĐC ở

Trang 6

thuỷ điện Pleikrông, Tuyên Quang,…) làm suy giảm nguồn lực sinh kế cơ bản của người dân gắn với nông nghiệp nông thôn là đất sản xuất nông lâm nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phục hồi sinh kế sau TĐC

Về quy mô đất ở, trừ một số dự án TĐC trong lĩnh vực thuỷ điện trước đây cấp đất ở/đất vườn tương đối phù hợp với quy mô 800 – 1000m2/hộ (như dự án thuỷ điện Yaly), còn lại hầu hết đất ở chỉ được cấp theo tiêu chuẩn nông thôn 400m2/hộ là chưa phù hợp với đặc điểm, tập quán sinh sống của cộng đồng dân tộc nông thôn miền núi Như vậy, đất ở của đa số các hộ TĐC được cấp mới chỉ đáp ứng về nhu cầu mặt bằng để xây dựng nhà ở và công trình phụ, đất ở chưa gắn với đất vườn nhà và thường bố trí tách với vườn rừng, đồi rừng liền kề sau nhà như tập quán định cư của phấn lớn các dân tộc miền núi

2 Thiếu quỹ đất sản xuất nông lâm nghiệp để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số

Vùng miền núi mặc dù chiếm phần lớn quỹ đất đai của cả nước, nhưng đã và đang chịu nhiều áp lực để khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu

số Đất sản xuất sản xuất nông nghiệp (đất lúa nước) vốn đã hạn chế đối với vùng miền núi (những nơi có điều kiện hầu như đã được cộng đồng các dân tộc khai thác đưa vào sử dụng gần hết) ngày càng bị thu hẹp do thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển, đặc biệt là xây dựng các dự án thuỷ điện Đất lâm nghiệp tuy có tiềm năng lớn nhưng chủ yếu thuộc quyền quản lý của các tổ chức, công ty nông lâm nghiệp Đất chưa giao, đất thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất… lại đang chịu cạnh tranh gay gắt của các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường Hộ gia đình, cộng đồng theo quy định của chính sách là đối tượng ưu tiên được giao đất, nhưng trên thực tế họ lại trở thành đối tượng yếu thế do gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và chuẩn bị hồ sơ xin giao đất

Do vậy vướng mắc lớn nhất để khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất cho cộng đồng dân tộc miền núi là thiếu quỹ đất và chưa thực sự quan tâm đến tổ chức giao lại cho cộng đồng

a Về quỹ đất sản xuất nông nghiệp:

Nghiên cứu các trường hợp ở Tây Nguyên cho thấy, trên địa bàn một số buôn làng không còn quỹ đất sản xuất nông nghiệp Nhiều hộ dân phải đi xâm canh ở nơi khác để sản xuất, ví dụ:

(i) Bon Buzấp (xã Nhân Cơ - huyện Đăk R’lấp - Đắk Nông) chỉ có khoảng 50 ha đất sản xuất nông nghiệp nằm trong khu vực đất đai thuộc quản lý của bon (đất trồng cây công nghiệp), bình quân 0,4 ha/hộ Chương trình 134 hỗ trợ đất sản xuất thực hiện không đáng kể, chỉ cấp được khoảng 10 hộ, mỗi hộ 0,5 ha đất đồi núi nhưng ở khu vực thôn khác điều kiện sản xuất khó khăn (đất dốc, đất xấu) Do thiếu đất sản xuất nên phần lớn các hộ dân phải xâm canh/lấn chiếm đất sản xuất ở các vùng khác (đất chưa giao, đất của nông lâm trường) ở xã Đắk Moun của Thị xã Gia Nghĩa, xã Trường Xuân của huyện Đắk

Trang 7

Song, cách thôn khoảng 10 – 25km với tổng diện tích khoảng 236 ha (chiếm tới 82,5% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của bon)

(ii) Làng Plei Tơ Nghĩa (Phường Quang Trung – TP Kon Tum) chuyển sang khu vực dân cư đô thị từ những năm 90 nhưng hơn 90% các hộ trong làng vẫn dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp Làng định cư trong khu vực đô thị nên quỹ đất không còn để cấp cho các hộ thiếu đất (bình quân đất sản xuất khu vực làng quản lý chỉ có 0,27 ha đất màu/hộ) Thiếu đất sản xuất nhưng không chuyển được nghề nghiệp, nên nhiều hộ dân phải xâm canh/lấn chiếm đất sản xuất (phá rừng phát rẫy, xin các hộ tại chỗ) ở xã Đắk Cấm (TP Kon Tum) với khoảng 32 ha (bằng 50% diện tích hiện có trên địa bàn làng quản lý);

(iii) Nằm trong trường hợp như làng Plei Tơ Nghĩa, Buôn Ako Dhông (Phường Tân Lợi – TP Buôn Ma Thuột) cũng thuộc khu dân cư đô thị, nhưng các hộ dân vẫn sống dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, việc chuyển đổi nghề nghiệp rất khó khăn Trong khi

đó đất sản xuất nông nghiệp trong buôn ngày càng bị thu hẹp do thu hồi để phát triển đô thị Hiện nay bình quân chỉ khoảng 0,11 ha đất màu (trồng cây công nghiệp)/hộ Để ổn định cuộc sống, nhiều hộ dân phải đi xâm canh (mua đất sản xuất, khai hoang lấn chiếm)

ở huyện Cư M’Gar cách buôn khoảng từ 30 – 70 km với diện tích khoảng 36,2 ha (gấp 1,6 lần diện tích hiện có tại buôn)…

Tình trạng thiếu quỹ đất để bồi thường và cấp đất sản xuất cho các hộ TĐC là hạn chế, tồn tại lớn nhất và là vấn đề bức xúc rất khó khắc phục ở hầu hết các dự án TĐC trong lĩnh vực thuỷ điện hiện nay Kết quả điều tra ở các điểm nghiên cứu cho thấy, có đến 83% số hộ có diện tích đất sản xuất ít hơn nơi ở cũ, 5% có diện tích tương đương và chỉ có 3% là được cấp nhiều hơn nơi ở cũ Kết quả điều tra tại khu TĐC của thuỷ điện Yaly cho thấy, có 95/135 hộ (hay 70,3%) có đất sản xuất nông nghiệp ít hơn nơi ở cũ Khảo sát tại một số dự án thủy điện với hình thức TĐC xen ghép cũng chỉ có 25% số hộ TĐC đủ đất sản xuất bằng hạn mức bình quân chung của địa phương nơi đến, 48% số hộ

có đất sản xuất bằng 70% hạn mức bình quân chung và 27% số hộ chưa có đất sản xuất, một số phải quay về nơi cũ để sản xuất như ở dự án thuỷ điện Bản Vẽ, thuỷ điện Tuyên Quang Thôn K’roong K’lah (TĐC thủy điện Yaly) với 186 hộ tại thời điểm di dân, thì có đến 123 hộ có hoa màu lại bị ngập khi xây dựng thủy điện Pleikrông với tổng diện tích bị ngập là 143ha, trong đó có 54 hộ vẫn chưa có đất sản xuất thay thế

Một vấn đề khá phổ biến ở các dự án TĐC là đất sản xuất nông nghiệp cấp cho các

hộ ít hơn so với quy hoạch ban đầu Ví dụ, tại dự án TĐC của thuỷ điện Bản Vẽ ở huyện Thanh Chương, công tác di dân hoàn thành từ đầu năm 2009 nhưng đến năm 2010 quỹ đất huy động cho dự án mới đạt 36,9% so với quy hoạch, thậm chí ở khu TĐC xã Ngọc Lâm hoàn toàn chưa có đất ruộng để cấp cho các hộ TĐC theo kế hoạch Ở khu TĐC Nhân Mục/Tân Thành huyện Hàm Yên thuộc thuỷ điện Tuyên Quang, diện tích đất lúa

Trang 8

nước được cấp cho các hộ dân mới chỉ đạt 60 - 80 % (350 – 400m2) so với kế hoạch của

dự án (500m2) Nhiều hộ dân TĐC thuộc dự án thuỷ điện Yaly, Bản Vẽ, Pleikrông… đã đến định cư 2 - 3 năm, nhưng dự án TĐC vẫn chưa chuẩn bị đủ quỹ đất sản xuất để cấp cho người dân theo kế hoạch Ví dụ tại xã Hơ Moong (thuỷ điện Pleikrông) đến cuối năm

2010, sau gần 5 năm dân đến TĐC vẫn còn khoảng 99 hộ dân chưa được cấp đất sản xuất

b Về quỹ đất lâm nghiệp:

Trong khi đất sản xuất nông nghiệp (chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng) từ sau

thời kỳ đổi mới nhà nước đã cơ bản giao đồng loạt toàn bộ quyền sử dụng đất cho người

dân (theo Nghị định 64/1993/NĐ-CP) và tạo bước đột phá quan trọng về đảm bảo an

ninh lương thực và ổn định cuộc sống cho người dân ở vùng đồng bằng (đến năm 2011

hộ gia đình được giao sử dụng 89,4% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp); thì ở vùng miền núi đất lâm nghiệp đến năm 2011(7) chủ yếu vẫn giao cho các tổ chức 7,24 triệu ha (chiếm 47,1%) và đất chưa giao do UBND xã quản lý 3,42 triệu ha (22,3%) Hộ gia đình

cá nhân nhân mới được giao quản lý khoảng 28,7% và giao cho cộng đồng dân cư thôn bản khoảng 1,8% đất lâm nghiệp Riêng đất có rừng, đến 31/12/2010(8), đã giao cho các

tổ chức quản lý 7,59 triệu ha (56,7%), diện tích có rừng chưa giao do UBND xã quan lý 2,108 triệu ha (15,75%), giao cho hộ gia đình 3,43 triệu ha (chiếm 25,63%) và cộng đồng khoảng 258 nghìn ha (1,93%)

Bảng 2: Đất lâm nghiệp phân theo đối tượng quản lý, sử dụng đến 1/1/2011

Đơn vị tính: ha

Giao đất lâm nghiệp đến 1/1/2011 (Bộ TNMT)

Diện tích có rừng giao đến 31/12/2010 (Bộ NN)

1 Tổ chức, đơn vị nhà nước 4.553.726,0 29,60 4.734.887 35,37

2 Tổ chức kinh tế 2.679.087,0 17,40 2.855.209 21,33

3 Tổ chức nước ngoài, liên

4 Hộ gia đình/cá nhân 4.414.838,0 28,70 3.431.555 25,63

5 Cộng đồng thôn bản 279.551,0 1,80 258.265 1,93

6 UBND xã (*) 3.422.559,0 22,30 2.108.159 15,75

Ghi chú: (*) Trong số đất của UBND xã quản lý, cộng đồng được tạm giao để quản lý 513.632,0 ha

Việc giao quyền sử dụng rừng và đất rừng quá lớn cho các tổ chức đã thu hẹp không gian sinh tồn, không gian văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số

7

Quyết định 2282/QĐ-BTNMT ngày 8/12/2011 về công bố thống kê đất đai đến 1/1/2011

8Quyết định 1828/QĐ-BNN-TCLN ngày 11/8/2011 về công bố diễn biến rừng đến 31/12/2010

Trang 9

vùng miền núi Nhiều nơi người dân sống ở ngay cạnh rừng nhưng việc tiếp cận đất và tài nguyên rừng rất hạn chế Ví dụ:

- Tại huyện Si Ma Cai, quỹ đất rừng chủ yếu thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ (chiếm 55,6%), quỹ đất chưa giao do UBND xã quản lý chỉ còn 371 ha nhưng phân bố manh mún rải rác, thực chất đã bị người dân tự quản lý sử dụng Trong đó xã Lùng Sui chỉ còn khoảng 3 ha trong khi nhu cầu được giao đất giao rừng còn rất lớn (điều tra của SPERI/CODE năm 2011)

- Tại các buôn làng khu vực nông thôn miền núi vùng Tây Nguyên như buôn Buzấp, làng Del…, toàn bộ diện tích gần buôn làng (cách 7 – 10 km) không còn đất rừng

mà đã được chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp Định cư ở vùng miền núi và có tập quán sống dựa vào rừng nhưng thực tế các thôn này đã bị tách khỏi rừng hoàn toàn, sinh

kế hoàn toàn dựa vào trồng cây công nghiệp Các nguồn thu nhập quan trọng truyền thống trước đây như nương rẫy hoa màu ngắn ngày, chăn nuôi gia súc hiện nay không còn (điều tra của CODE năm 2012)

Tài nguyên đất rừng chưa được quản lý sử dụng hiệu quả, rừng do các lâm trường quốc doanh quản lý vẫn bị chặt phá, tình trạng xâm lấn đất đai ngày càng nhiều và kéo dài Trong khi đó cuộc sống của cộng đồng miền núi đang đứng trước nguy cơ ngày càng khó khăn hơn do tác động của việc gia tăng dân số và thiếu quyền quản lý và sử dụng đất rừng để phát triển kinh tế gia đình Do thiếu đất sản xuất, vì sinh kế buộc họ phải khai thác rừng, xâm lấn đất rừng của lâm trường làm nương rẫy góp phần làm suy giảm diện tích rừng Mâu thuẫn tranh chấp về quyền quản lý đất rừng giữa người dân địa phương với các lâm trường quốc doanh/công ty lâm nghiệp ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến ổn định xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái vùng miền núi, vùng biên giới

3 Quỹ đất chưa giao (đất thu hồi và UBND xã quản lý) đang chịu sức ép cạnh tranh lớn với các thành phần kinh tế khác theo cơ chế thị trường:

Mặc dù chính sách của nhà nước ưu tiên giao đất cho người dân địa phương và chi phí thực hiện giao rừng do ngân sách nhà nước chi Tuy nhiên trên thực tế, chính quyền các cấp có thẩm quyền nhiều nơi chưa thật sự quan tâm đến lợi ích người dân nên chưa chú trọng chuẩn bị và huy động kinh phí để tổ chức giao đất giao rừng cho dân Trong khi đó các tổ chức/công ty tư nhân sẵn sàng có nguồn lực tài chính để thực hiện giao đất rừng và có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh hơn người dân địa phương Do vậy, trong cuộc cạnh tranh để được giao đất rừng, cộng đồng người dân địa phương thường là đối tượng yếu thế so với các tổ chức/công ty tư nhân Tại các điểm nghiên cứu, trường hợp này xảy ra ở xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong - tỉnh Nghệ An), xã Đồng Thắng (huyện Đình Lập - tỉnh Lạng Sơn), thôn Tu Rằng (xã Măng Cành, huyện Konplông - tỉnh Kon

Trang 10

Tum), Xã Hơ Moong (huyện Sa Thầy - tỉnh Kon Tum) và thôn 4 – Nào Lùng (xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm - tỉnh Lâm Đồng) Cụ thể:

- Quỹ đất rừng chưa giao do UBND xã quản lý ở xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong

- tỉnh Nghệ An) còn khá lớn với khoảng hơn 3400 ha Việc giao đất giao rừng theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP thực hiện năm 2003 mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% số hộ hiện nay có nhu cầu giao nhận đất rừng nhưng được giao Mặc dù còn quỹ đất chưa giao còn khá lớn những các hộ dân và cộng đồng (khoảng 60% số hộ và 8 cộng đồng có rừng truyền thống) chưa được tiếp cận GĐGR (do không được biết đất là quỹ đất chưa giao) Trong khi đó vùng đất này đã và đang trở thành đối tượng cho các công ty tư nhân và công ty cao su Nghệ an (thuộc tổng công ty cao su Việt Nam) xúc tiến xin giao đất để chuyển sang trồng cao su, trong đó Tổng đội thanh niên xung phong (hiện nay đã át nhập với công ty Cao su Nghệ An) đã được tạm giao một phần Vấn đề người dân và cộng đồng rất bức xúc là diện tích đất rừng này ở gần khu dân cư, trong đó có nhiều khu rừng truyền thống của cộng đồng (rừng thiêng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng thuốc nam) trong khi họ đang thiếu đất nhưng lại không được tiếp cận GĐGR và có nguy cơ rừng truyền thống của cộng đồng cũng bị mất theo (điều tra của SPERI/CODE năm 2011);

- Khu vực làng Tu Rằng (xã Măng Cành, huyện Konplông - tỉnh Kon Tum) là vùng còn nhiều rừng tự nhiên và đất nương rẫy luân canh (đất lâm nghiệp) từ lâu đời của người dân Toàn bộ đất có rừng (rừng tự nhiên) thuộc quyền quản lý của Lâm trường Măng Cành (Công ty TNHHNN MTV lâm công nghiệp Konplông) Sống gần vùng nhiều rừng nhưng các hộ dân chưa được giao đất giao rừng, mà mới chỉ được khoán bảo vệ rừng cho lâm trường để hưởng lợi theo chương trình 30a (từ 2011) Trong khi nhiều hộ đang thiếu đất sản xuất, mong muốn được giao đất, thì một phần đất nương rẫy luân canh (đất lâm nghiệp) gần khu dân cư trước đây (thuộc đất rừng do lâm trường Măng Cành quản lý) lại được giao cho một số hộ người kinh (ở ngoài vùng) trồng cà phê và dự án trồng rau, cây cảnh phục vụ khu du lịch sinh thái Măng Đen (điều tra của CODE năm 2012)

- Tại xã Hơ Moong (huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum), toàn bộ các hộ dân trong xã thuộc diện tái định cư của dự án thuỷ điện Pleikrông (thuộc dân tộc Banna-Rơ Ngao, Gia Rai) Sau khi đến tái định cư được 5 năm (2005 – 2010), tình trạng thiếu đất sản xuất vẫn chưa được giải quyết, nhiều hộ chưa được cấp đủ đất theo dự án TĐC (Báo cáo của UBND xã Hơ Moong), do vậy tình trạng đói nghèo cao khoảng 81% Trong khi đó trên địa bàn vẫn còn khoảng 2000 ha đất có rừng do UBND xã quản lý nhưng chưa được giao cho các hộ gia đình Hệ quả là do thiếu đất sản xuất, toàn bộ diện tích còn rừng tự nhiên này đến 2011 người dân đã tự phát phá rừng và chuyển sang đất nương rẫy… Trong khi chưa tổ chức giao cho các hộ dân, thì các tổ chức/công ty tư nhân đã xúc tiến để được giao đất rừng này, trong đó Công ty nguyên liệu giấy Miền Nam đã được giao khoảng

Ngày đăng: 08/03/2016, 06:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đánh giá của các hộ về quy mô đất sản xuất của gia đình - TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
Bảng 1 Đánh giá của các hộ về quy mô đất sản xuất của gia đình (Trang 5)
Bảng 2: Đất lâm nghiệp phân theo đối tượng quản lý, sử dụng đến 1/1/2011 - TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
Bảng 2 Đất lâm nghiệp phân theo đối tượng quản lý, sử dụng đến 1/1/2011 (Trang 8)
Bảng 5: Nhu cầu đất sản xuất để ổn định cuộc sống ở buôn làng điều tra - TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
Bảng 5 Nhu cầu đất sản xuất để ổn định cuộc sống ở buôn làng điều tra (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w