Sự vận động và phát triển của lý luận phê bình văn học gắn bó chặt chế đến ý thức hệ giai cấp, liên quan trực tiếp đến đường lối của Đảng ta về văn hoá nghệ thuật, Chính vì vậy, để tài “
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN KHOA HỌC
Dé TAI CAP CO SO NAM 2006
SU VAN DONG VA PHAT TRIEN CUA
LY LUAN, PHE BINH VAN HOC TRONG
GIAI DOAN HIEN NAY
CO QUAN CHU TRI: VIEN VAN HOA VA PHAT TRIEN
CHỦ NHIỆM ĐỀTÀI: 7S Nguyễn Toàn Thắng
Ha Noi - 2007
Trang 2DANH SÁCH - CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỂ TÀI
1- PGS,TS Nguyễn Duy Bắc - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2- PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp - Viện Văn học
3- PGS,TS Phạm Duy Đức - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
4- ThS Vũ Phương Hậu - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
5- TS Nguyễn Thị Hương - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
6- TS Nguyễn Toàn Thắng - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
7- Th§ Nguyễn Văn Thắng - Viện Văn hóa và phát triển, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
8- ThS Trần Văn Toàn - Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Mở đầu on ng TY TH TH T013 Hee ereee 1
Chương 1: Những tác động của lý luận phê bình đối với sự phát triển của
văn học thời kỳ đổi mới -ccccccrrrrtrrrtir.riri.eA ArEkrrtrrrrrrrrrrrrerrree 9
1.1 Một số vấn đề về lý luận và phê bình văn học “4 _Ô 9 1.2 Những quan điểm và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ đối mới
1.3 Những tác động của lý luận, phê bình văn học đối với sự phát triển
của văn học Việt Nam từ 1986 đến nẠy ch cành he gu ưg 26 Chương 2: Sự vận động và phát triển của hoạt động lý luận phê bình văn
học Việt Nam từ năm 1986 đến nay - SH H100 01 e ca 35 2.1 Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới - e« 35 2.2 Xu hướng vận động của lý luận phê bình văn học Việt Nam những
/8./18/18294(0 0000008 41 2.3 Lý luận phê bình văn học Việt Nam trước xu thế giao lưu hội nhập với thế giới 49
Chương 3: Xây dựng và phát triển lý luận phê bình văn học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Vấn đề và giải pháp ngư 58 3.1 Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ lý luận phê bình 48
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phê bình văn học trong tương lai 72 3.3 Chính sách đối với đội ngũ trí thức trong lĩnh vực phê bình văn học nghệ
THULE BIEN NAY ng HA HA TH TT TH ch HH H00 tơ gàng 79
cả 0 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong Nghị quyết Đại hội VI (1986), Đảng ta đã khẳng định:“ Không hình
thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”
Tiếp tục quan điểm trên, Nghị quyết Trung ương 5 Khoá VIII đã xác định
phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật cách mạng thời kỳ đổi mới là một trong mười nhiệm vụ quan trọng để tiến tới xây đựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc Muốn xây dựng và chấn hưng văn học thì nhất thiết phải phát triển tư đuy lý luận nghiên cứu phê bình Lý luận phê bình văn học luôn soi
sáng cho thực tiễn sáng tác và thưởng thức tác phẩm văn học Thực tiễn sáng tác
văn học lại làm phong phú thêm cho lý luận phê bình Sự vận động và phát triển của lý luận phê bình văn học gắn bó chặt chế đến ý thức hệ giai cấp, liên quan trực tiếp đến đường lối của Đảng ta về văn hoá nghệ thuật, Chính vì vậy, để tài “Sự vận động và phát triển của lý luận, phê bình văn học trong giai đoạn hiện nay” được
thực hiện nhằm đáp ứng những yêu câu nhận thức tổng hợp về lý luận văn học
thời kỳ đổi mới
1.2 Trong xu thế giao lưu hội nhập với thế giới hiện nay, lý luận phê bình văn học nước ta có nhiều biến động phong phú và phức tạp Thực tiễn đòi hỏi
chúng ta cần phải nghiên cứu để khẳng định quan điểm đường lổi về văn hóa nghệ
thuật của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái Vấn đề đặt ra là cần phải nghiên
cứu đầy đủ và sâu sắc sự vận động tích cực của tư duy lý luận phê bình văn học, đấu tranh chống lại những quan điểm cực đoan, giáo điều Do đó dé tai mang ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc Trên cổ sở quan điểm đường lối văn nghệ của Đảng, đề tài
sẽ có ý nghĩa thời sự khi phân tích những quan điểm khác nhau về lý luận phê
bình văn học từng xuất hiện trên văn đàn nước ta thời gian qua
Trang 51.3 Viện Văn hoá & Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có nhiệm vụ nghiên cứu giảng dạy bộ môn Lý luận văn hoá và Đường lối văn hoá của Đảng, đặc biệt là nghiên cứu về đường lối văn học nghệ thuật của
Đảng qua các thời kỳ lịch sử Trên cơ sở đó, để tài đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp bách, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác nghiên cứu giảng dạy
2- Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và làm rõ các quan điểm cơ bản của Đảng ta vẻ lý luận, phê
bình văn học
- Nghiên cứu và nhận diện về sự vận động của lý luận, phê bình văn học
Việt Nam thời kỳ đối mới Trên cơ sở tìm hiểu bức tranh lý luận, phê bình văn học
diễn ra từ sau năm 1986, dé tai đi sâu phân tích, tổng hợp và bước đầu khái quát
một số xu hướng lý luận phê bình văn học
- Dự báo xu hướng vận động của lý luận, phê bình văn học Việt Nam trong
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh dao của Đảng trên lĩnh
vực nghiên cứu phê bình, nâng cao chất lượng phê bình văn học Việt Nam đương
3- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa
Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm lý luận của Đảng cộng sản
Trang 64- Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về lý luận phê bình văn học hiện nay là một vấn đề mới Nhìn
tổng thé, tình hình nghiên cứu diễn ra qua các chặng đường như sau:
này phải đánh dấu sự đổi thay của Đảng ta về tư duy, phong cách, tổ chức, cần
bộ” Cuộc gặp thân mật của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ
Sĩ ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987 là một khởi đầu tốt đẹp về tư duy văn nghệ nước ta Bộ Chính trị đã ra Wghị quyết 05 ngày 28 - 11 - 1987 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới :
Vào những năm 1987 - 1988, Nguyễn Minh Châu và Nguyên Ngọc chủ trương đánh giá lại thành quả của văn học chống Mỹ với nhận định có phần cực
đoan về “văn nghệ minh họa”, về “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” Nguyễn Minh
Châu viết một bài báo gây ấn tượng mạnh mẽ nhan đề: Hay doc loi ai diéu cho một giai đoạn văn nghệ mình họa vào tháng 10 - 1987, đăng trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn, đòi hỏi văn nghệ phải sáng tạo theo đúng nghĩa của từ này
* Từ 1989 đến 1999
Thời kỳ này diễn ra quá trình đổi mới hết sức can đảm của tư duy lý luận phê bình văn học nước ta: Từ một hệ thống thế giới quan lấy Chủ nghĩa Mác Lê nin lam nén tang trong tinh trạng tương đối còn khép kín biệt lập đến rộng mở bao
dung, từ tầm nhìn văn học gắn bó với quan điểm chính trị là chính sang tầm nhìn
là văn hóa, nhân học trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Tình hình nghiên
cứu về lý luận, phê bình văn học đã diễn ra sôi động, bám sát thực tiễn vận động
của lĩnh vực này Hoàng Trinh, Trương Đăng Dung, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn
Trang 7Dân, Phạm Vĩnh Cư, Dé Lai Thúy địch và giới thiệu về thi pháp học, văn học so sánh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa Hình thức Nga, phân tâm học của S Freud Hàng chục công trình nghiên cứu theo con đường thi pháp học và văn học so sánh
đã xuất hiện tạo ra những cái nhìn mới về các hiện tượng văn học quen thuộc như Nam Cao, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Vũ Trọng Phụng,
Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Hồ Xuân Hương
Hệ thống bài giảng Lý luận văn hoá và Đường lối văn hoá của Đảng do
khoa văn hóa XHCN (nay là Viện Văn hoá & Phát triển, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh biên soạn) đã có chuyên đề riêng về Văn hoá nghệ thuật Năm
1999, hệ thống bài giảng của khoa văn hóa XHCN đã tập hợp lại thành giáo trình chính thức Trong giáo trình hệ Cao cấp lý luận Chính trị của Viện Văn hoá &
Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã có chuyên đề về Phái triển sự nghiệp văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới Bài giảng đã phân tích khá kỹ
về thực trạng văn học thời kỳ này, tuy nhiên chưa có điều kiện đi sâu khảo sát về
lý luận phê bình văn học hiện nay
* Từ năm 2000 đến 2006
Từ sau năm 2000, tình hình nghiên cứu lý luận phê bình văn học ngày càng
chuyển động mạnh mẽ Nhu cầu chung của lý luận phê bình văn học là phải đổi
mới một cách thật sự lành mạnh tích cực Trên báo Văn nghệ số 20, ra ngày 19 - 5
- 2001, với tư cách là một nhà lý luận phê bình có kinh nghiệm hơn nửa thế kỷ
nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, GS VS Phan Cự Đệ đã viết bài Về một nên lý luận phê bình mác xit trong thé ky XX Tác giả bài báo đã tổng kết những
thành tựu quan trọng của nền lý luận phê bình mác xít Việt Nam thế kỷ XX trên mặt trận tư tưởng văn hóa chống đế quốc thực dân Lý luận phê bình văn học Việt
Nam đã đứng vững trên hệ thống phản ánh luận mác xít và từ điểm tựa vững chắc
này tiếp thu những thành tựu của các phương pháp phê bình mới trên thế giới Phan Cự Đệ đã tập hợp một phần thành quả quan trọng của lý luận phê bình văn
Trang 8học Việt Nam trong cuốn sách khá đồ sộ mà ông làm Chủ biên: Tuyển tập Lý luận phê bình văn học miền Trung thế kỷ XX (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001)
Nhằm mục đích tìm ra cách tiếp cận văn học, GS Nguyễn Đăng Mạnh đưa
ra sách: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (Nhà xuất bản Giáo dục, 2001) Đây là một hướng nghiên cứu thú vị mà tác giả gợi ý cho giới phê
PGS, TS Dé Lai Thúy rất quan tâm đến lý luận phê bình văn học Việt Nam
đương đại theo các phương pháp mới như thi pháp học, văn học so sánh Ông cho
rằng lý luận phê bình nghiên cứu văn học của ta đang chòng chành mà tiến tới Các Hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc đã được tổ chức ở
Tam Đảo (năm 2002) và tại Đồ Sơn (năm 2006) Hàng trăm ý kiến tranh luận đã
xuất hiện nhầm tìm cách đánh giá, chấn hưng lý luận phê bình văn học phù hợp
với sự phát triển của lý luận phê bình văn học đương đại
Trong sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ chủ biên, nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội - 2004) có “Phần bảy” viết riêng về lý luận phê bình do nhà
nghiên cứu GS, TS Trần Đình Sử thủ bút, đã mô tả chi tiết sự vận động của lý luận phê bình văn học Việt Nam qua bốn giai đoạn:
- Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1900 - 1932
~ Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1932 - 1945
- Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1945 - 19 85
- Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1986 - 2000
Với xu hướng tổng kết về lý luận phê bình văn học, Viện Văn học đã tổ chức
nhiều cuộc Tọa đàm và Hội thảo khoa học trong các năm 2004, 2005 và ấn hành
kỷ yếu: Lý luận và phê bình văn học - Đối mới và phát triển (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội - 2005) Tập kỷ yếu tổng hợp ý kiến phát biểu tham luận và bài viết của hàng trăm nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn trong cả nước
Tại Hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc điễn ra vào
tháng 3 - 2006, nhà thơ Hữu Thỉnh đã trình bày “Báo cáo đề dẫn” với tiêu đề: Tiếp
Trang 9tục đổi mới và xây dựng nên lý luận, phê bình văn học, ngghệ thuật Việt Nam hiện
đại, khoa học, giàu tính nhân văn, đáp ứng nhu câu phát triển của nên văn hĩa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng Ban Tư
tưởng Văn hĩa Trung ương đã đến dự và kết luận Hội nghị
Trên các tạp chí và báo chí chuyên nghiệp về văn chương nghệ thuật xuất hiện này càng nhiều bài viết nghiên cứu về lý luận nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện đại GS, TS Trần Đình Sử nêu ra Vấn đề hiện đại hĩa lý luận văn học Việt Nam hiện nay (Báo Văn nghệ, số 10, ra ngày 11- 3 - 2006) Theo ơng thì
lý luận phê bình văn học Việt Nam cĩ hai hệ hình: Hệ hình lý luận văn học truyền thống dựa trên lý thuyết phản ánh vốn là sản phẩm của thế kỷ XI%X Hệ hình lý
luận văn học thế kỷ XXI cĩ những đột phá quan trọng bằng quan niệm: “Đặc trưng văn học được xem như một cấu trúc mang nghĩa, một ngơn ngữ trên cơ sở lý thuyết hệ thống, ký hiệu Văn học trước hết là biểu hiện và tưởng tượng sắng tạo”,
Tác giả Mai Quốc Liên đưa ra Mộti vài nhận thức về lý luận văn nghệ hiện thời (Báo Văn nghệ số 16, ra ngày 22 - 4 - 2006) và cho rằng: “ Hệ thống lý luận
văn nghệ của chúng ta là một hệ thống mở, mà cơ sở của nĩ vấn là những nguyên
lý vĩnh hằng về mối quan hệ giữa văn nghệ với cuộc đời, với con người, thể hiện
chủ nghĩa nhân văn của thế kỷ mới, thể hiện khát vọng Chân Thiện Mỹ” Nĩi về
vai trị của nhà phê bình, tác giả bài báo nêu rõ: “Chúng ta phải là những người
thực tiễn, những chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ theo lời dạy của Bác Hồ Vì văn
nghệ văn hĩa là mặt trận, nhiều khi là trận tuyến chiến đấu, phức tạp căng thẳng
Khơng nên ngây thơ nghĩ rằng đĩ là chính trị hĩa lý luận văn nghệ, khi cĩ người
dùng văn nghệ như là vũ khí để chống phá và lật đổ”
Trên Diễn đàn văn học trẻ của báo Văn nghệ Trẻ (số 15 ra ngày 9- 4 - 2006), Nguyễn Trí Hoan nêu ra quan điểm Phê bình phát hiện giá trị, cho rằng phê bình văn học khơng cịn đơn thuần tình trạng quan hệ giữa “ngọn rọ” phê
bình và “con ngựa” tác phẩm văn chương.
Trang 10Trên báo Văn nghệ số 13 (ngày 1 - 4 - 2006), PGS,TS Phan Trọng Thưởng
đã nêu ra vấn để: Tỉnh thân dân chủ lý luận như một thành tựu và như một kinh
nghiệm Phan Trọng Thưởng khẳng định: “dân chủ lý luận không có nghĩa toàn
dân làm lý luận mà đân chủ lý luận cần được hiểu là quyển độc lập suy nghĩ, quyền được công khai tư tưởng, quyền bảo vệ và bảo lưu ý kiến để xuất của cá
nhân khi ý kiến đó không phản tiến bộ, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc
Dân chủ là tỉnh thần đấn tranh bảo vệ chân lý, là ý thức trách nhiệm cao về các kiến giải, đề xuất của mình nhưng không rơi vào sùng bái cá nhân bảo thủ trì trệ”
Vừa qua, tác giả Phạm Xuân Thạch có bài viết : Ba sự lựa chọn hay là con đường ải của phê bình lý luận văn chương (Thu ngỏ gửi ông Trịnh Bá Đĩnh)
(Báo Văn nghệ Trẻ số 20, ra ngày 14 - 5 — 2006) Tác giả bài báo thẳng thắn trao đổi với Trịnh Bá Đĩnh về vấn đẻ dịch thuật giới thiệu các trường phái lý luận phê bình văn học của phương Tay với khát vọng “ bước đầu vẽ được tấm bản đồ tổng thể về sự phát triển lý thuyết văn chương trên thế giới trong thế kỷ XX”, làm được vai trò của người “môi giới lý thuyết” Vấn đề là cần phải lựa chọn lý thuyết
phương Tây như thế nào cho hợp lý và cân thiết cho lý luận phê bình Việt Nam đương đại, chứ không phải lựa chọn “giống hệt” hoặc “cho hay vậy thôi”
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng thành quả nghiên cứu của nhhững người đi trước, đẻ tài Sự vận động và phát triển của lý luận phê bình văn học trong giai
đoạn hiện nay sẽ tiếp tục nhận điện về thành tựu cũng như các xu hướng vận động
của lý luận phê bình văn học nước ta hiện nay Do khuôn khổ hạn hẹp về quy mô
và thời gian (12 tháng), đề tài khó có thể bao quát hết được các vấn đề lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, để tài sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về lý luận và thực tiễn phê bình văn học nước ta
5- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài có ý nghĩa tổng kết về những thành tựu của lý luận phê bình văn
học Việt Nam đương đại, cố gắng tìm ra sự vận động của hệ hình tư duy lý luận
Trang 11phê bình văn học Việt Nam, đồng thời có thể dự báo xu thế phát triển của lý luận
phê bình văn học trong giai đoạn tiếp theo
- Đề tài sau khi thực hiện thành công có thể được dùng làm tư liệu học tập
và nghiên cứu cho học viên các hệ nghiên cứu sinh, cao học văn hóa, cao cấp lý
luận chính trị, cử nhân chính trị, sinh viên khoa Ngữ văn các trường Đại học sư
phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
6- Cấu trúc của đẻ tài: Ngoài phân Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo,
các luận điểm khoa học của để tài được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Những tác động của lý luận phê bình đối với sự phát triển của văn học thời kỳ đổi mới
1.1 Một số vấn đề về lý luận và phê bình văn học
1.2 Những quan điển và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển văn
hóa, văn nghệ trong thời kỳ đổi mới
1.3 Những tác động của lý luận, phê bình văn học đối với sự phát triển của văn
học Việt Nam từ 1986 đến nay
Chương 2: Sự vận động và phát triển của hoạt động lý luận phê bình
văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay
2.1 Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới
2.2 Xu hướng vận động của lý luận phê bình văn học Việt Nam những năm đầu thế
ky XXT
2.3 Lý luận phê bình văn học Việt Nam trước xu thế giao lưu, hội nhập với thế giới
Chương 3: Xây dựng và phát triển lý luận phê bình văn học Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay - Vấn đề và giải pháp
3.1 Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ lý luận phê bình
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phê bình văn học trong tương lai
3.3 Chính sách đốt với đội ngũ trí thức trong lĩnh vực phê bình văn học nghệ thuật hiện nay
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1 Một số vấn đề về lý luận và phê bình văn học
Phê bình văn học là bộ phận không thể thiếu của một nên văn học phát triển Không phải bây giờ mà từ xa xưa, phê bình văn học đã đồng hành cùng với
sự phát triển của văn học Trong lịch sử văn học Trung Quốc cổ điển, người ta
từng biết đến tên tuổi của Kim Thánh Thán gắn với Thủy Hử (Thi Nại Am), hai
cha con Mao Luân và Mao Tôn Cương với Tam Quốc chí diễn nghĩa (La Quán
Trung) Nói tới Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 ở Việt Nam không thể không
nhắc tới Hoài Thanh nhà phê bình tài hoa của thế kỷ XX, người đã tổng kết mười
năm phát triển của một cuộc cách mạng trong thi ca Việt Nam
Phê bình văn học được coi là một hình thái tiếp nhận Nếu không có tiếp
nhận thì tác phẩm văn học không thể tồn tại Các nhà phê bình đã giúp cho người đời hiểu sâu thêm về tác phẩm và cũng khiến cho tác phẩm sống mãi với thời gian
Muốn phê bình tất nhiên phải có lý luận phê bình Trong thực tế, văn học phải
phát triển đến một trình độ nhất định mới xuất hiện phê bình văn học Phê bình
văn học là sự tự ý thức cao nhất của một nền văn học Lẽ đương nhiên phê bình
văn học phải gắn với tư tưởng triết học trong sự cất nghĩa về thế giới, ở đây chủ
yếu là thế giới nghệ thuật của nhà văn - hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan trong các liên hệ chằng chéo phức tạp
Phê bình văn học là sự tiếp tục sáng tạo trên cơ sở tác phẩm văn học -
những sáng tạo khởi nguyên của nhà văn Chính phê bình văn học sẽ tìm ra những vỉa tầng ý nghĩa đa dạng của tác phẩm, có tác dụng làm phong phú ý nghĩa tác
phẩm Nhà phê bình thường đi trên con đường “thám hiểm”, “chỉnh phục ”tác
Trang 13phẩm: đằng sau chữ là nghĩa; đằng sau nghĩa là ý ; đằng sau chữ, nghĩa, ý là lẽ đời, những quy luật của cuộc đời, những thông điệp nghệ thuật tỉnh hoa nhất
mà người nghệ sĩ nhắn gửi qua tác phẩm
Phê bình văn học là một hoạt động khoa học nhằm mục đích khái quát đánh
giá, xác định giá trị tính chất và các quy luật của đối tượng Hơn nữa, phê bình văn học còn là một hoạt động có tính nghệ thuật Nhà phê bình ngoài tư duy trí tuệ còn phải có tư duy mỹ cảm, liên tưởng và tưởng tượng Ngôn ngữ phê bình vừa khoa học chính xác, vừa có hình ảnh thẩm mỹ trong các phán đoán và chứng minh khoa học thuyết phục Đó là ngôn ngữ phê bình có tính triết mỹ sâu sắc
Chính vì thế, người ta chia phê bình văn học ra thành mấy loại như sau:
- Thứ nhất là phê bình của người đọc: là ý kiến đánh giá cảm thụ của các loại bạn đọc ở nhiều tâm đón nhận khác nhau Hình thức phổ biến của loại này là
“phê bình miệng” thường diễn ra một cách phóng túng: tại mọi nơi, mọi chỗ, mọi lúc và tùy hứng Đây là kiểu phê bình trực cảm, ấn tượng cảm tính nhiều hơn là lý
tính Xưa các nhà nho thường có cái thú “bầu rượu”, “túi thơ”, ngâm vịnh, tán
thưởng, bình văn, bình thơ trong những tiệc trà, tiệc rượu: Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên Phê bình văn học xuất hiện bằng hình thức giao tiếp như thế qua bao thế
kỷ Ngày nay, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng là diễn đàn công
khai cho loại phê bình này Và với sức mạnh dư luận, “phê bình miệng” của người
đọc nhiều khi trở thành một thế lực lớn trong phê bình, thưởng thức văn học
- Thứ hai là phê bình chuyên nghiệp Đay là kiểu phê bình của các chuyên gia học thuật, những người có chuyên môn sâu về văn học Loại phê bình này
nặng nhiều vẻ trí tuệ uyên bác, hàn lâm kinh viện, quan sát tác phẩm văn học
trong hệ thống cả một nền văn học với các quan hệ đồng đại, lịch đại, trên phạm
vi rộng rãi của trong nước và thế giới Vai trò của phê bình chuyên nghiệp hết sức quan trọng Nó là trọng tài của mọi chuyện tranh cãi văn chương Không thể có
một nền phê bình văn học nếu thiếu phê bình chuyên nghiệp
- Thứ ba là phê bình theo kiểu nghệ sĩ Đay thực sự là kiểu tư duy trí tuệ
uyên bác sâu sắc kết hợp với tư duy nghệ sĩ thẩm mỹ độc đáo Loại phê bình này
Trang 14thật sự hấp dẫn bởi sản phẩm của nó là những fác phẩm phê bình thực thụ, chứ _ không phải lối viết khô khan trừu tượng, dày đặc thuật ngữ khoa học trừu tượng
Phê bình nghệ sĩ thường đi liền với sự tài hoa, thẩm mỹ, tưởng tượng, hư cấu, hình
ảnh phong phú Trong lịch sử văn học thế giới đã từng xuất hiện các nhà phê bình kiểu nghé si nhw Banlzac, Goethe, Baudelaire, Hemingway, Brecht, L6 Tấn Duong nhiên các nhà phê bình này đảm nhiệm hai chức năng: vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là nhà phê bình Trong văn học Việt Nam, người đọc không thể quên
được những tên tuổi Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Tuân, Nguyễn
Đình Thi Đó là những nhà văn nhà thơ, đồng thời là nhà phê bình tài năng với những phong cách độc đáo Tiếng nói của họ về văn chương là tiếng nói của người
trong cuộc - những người vừa sáng tác lại vừa biết thẩm bình văn chương hết sức tàihoa —
Là bộ phận quan trọng của một nền văn học, lý luận phê bình còn luôn gắn
bó mật thiết đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thời đại Sự vận động của lý luận phê bình văn học đương nhiên là một hiệu ứng “Đôminô” tất
yếu diễn ra trong quá trình phát triển văn học nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nói chung Khi văn học vươn tới những trình độ mới, nó đòi hỏi phải có một nền
lý luận văn học tương ứng, trong đó có lý luận phê bình Sự đổi thay của cơ sở đời sống kinh tế xã hội, sự vận động và tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội bao giờ cũng tác động đến các khuynh hướng lý luận phê bình Trong thực tế, truyền thống văn hóa, tư tưởng, triết học, đạo đức, tâm lý, tôn giáo, tín ngưỡng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lý luận phê bình văn học Ngày nay, giao lưu văn hóa Đông - Tây đã chi phối rất lớn đến sự vận động phát triển lý luận phê bình văn học nước
ta Phê bình văn học không phải là “cái đuôi” của sáng tác, mà còn giữ vai trò tư vấn, tham mưu, điều chỉnh hoạt động sáng tạo văn học, thúc đẩy nên văn học phất
triển
Như vậy, phê bình văn học là một hoạt động mang ý nghĩa xã hội sâu sắc
góp phần lý giải, đánh giá và thúc đẩy sự phát triển của sáng tạo và thưởng thức
văn học Phê bình văn học vừa là người bạn tri âm của sáng tạo văn học vừa là
11
Trang 15người đóng vai trò “môi giới” tác phẩm văn học đến với công chúng Đời sống
văn học sẽ điễn ra sôi động và phong phú hơn nếu như lý luận và phê bình văn học
phát triển và ngược lại Nhận thức lại một số vấn để lý luận và phê bình văn học là điều cần thiết để chúng ta đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu lý luận và phê bình văn học trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trước hết, chúng ta cần phải trở lại những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về những vấn đề cán bộ của văn học để soi sáng cho công tác phê
bình văn học Đã có nhiều sách báo bàn về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về văn học nghệ thuật Tuy nhiên, việc nhận thức lại những quan điểm này trong
bối cảnh của hiện thực xã hội sôi động của thời kỳ toàn cầu hóa là điều cần thiết
để chúng ta khẳng định những điểm đúng đắn, những điều cần bổ sung, những
điểm đã bị vượt qua trong quan điểm của các nhà kinh điển mác - xít :
Lý luận phê bình của chúng ta đang đứng trước những bước ngoặt của lịch
sử xã hội Sự nghiệp đổi mới đất nước đang đặt ra cho đội ngũ sáng tác văn học và
lý luận phê bình văn học những vấn đề hoàn toàn mới Đó là quá trình phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Đây chính là quá trình cấu trúc lại nền sản xuất xã hội theo hướng thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa
Trong lời tựa cuốn “Phê phán chính trị, kinh tế học”, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã nhận xét: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tốt cả cái kiến trúc thượng tâng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng Khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn ấy, bao
giờ người ta cũng cần phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất - mà người ta có thể lấy sự chính xác của khoa học tự nhiên ra để xét nghiệm - trong những điều kiện
kinh tế của sản xuất, với những hình thái tư tưởng mà người ta dàng để quan niệm cuộc xung đột và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy Nếu ta không thể
phán đoán một người mà chỉ căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản
thân, thì ta cũng không thể phán đoán một thời đại đảo lộn như thế nào mà chỉ
Trang 16căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại, phải giải thích § thức ấy bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sẵn xuất của xã hội với những quan hệ sản xuất"
Chính điều này liên quan đến tâm nhìn và cách nhìn của người làm công tác nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền dé vật chất mới trên cơ sở biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội Từ đó làm này sinh những giá trị tư tưởng
và thẩm mỹ mới trong đời sống hiện thực, bao gồm cả tích cực và tiêu cực Hơn nưa, trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ đưới tác động của công nghệ truyền thông, hàng loạt những biến thái đa dạng và phức tạp khác nhau trong đời sống tư tưởng, triết học và mỹ học đang tác động vào đời
sống văn hóa tỉnh thân của đất nước Sự chuyển đổi mạnh mẽ cả về đời sống vật
chất và tinh thần của xã hội đòi hỏi đội ngũ lý luận phê bình phải không ngừng nâng cao năng lực và trình độ tư duy khoa học của mình để có thể nắm bắt thực
tiễn sôi động của đời sống và của văn học Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn luôn là nền tảng tư tưởng khoa học cơ bản nhất để đội
ngũ phê bình quan sát, trải nghiệm, sáng tạo và đánh giá đời sống thẩm mỹ, nghệ
thuật và văn học Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về vị trí vai trò của văn học nghệ
thuật trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, về đặc trưng của văn học nghệ thuật, về nguyên tắc tính đẳng, tính dân tộc và tính nhân dân của văn học nghệ thuật, về trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ là những quan điểm có ý nghĩa cơ bản, lâu đài để chúng ta xây đựng nên văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc
đân tộc
Cần phải nhấn mạnh rằng, quá trình đổi mới toàn diện của đất nước ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng phấn đấu vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh” không phải là từ bổ con đường xã hội chủ nghĩa mà trở lại với những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
khấc phục hững sai lầm và yếu kém trong nhận thức và hành động của thời kỳ kế
! C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1970, tr.439-440
13
Trang 17hoạch hóa tập trung quan liêu, phấn đấu để từng bước đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển và vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa
Đánh giá hai mươi năm đổi mới vừa qua, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định đó là: “những thành tựu to lớn và có Š nghĩa lịch
sứ”, Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn,
sáng tạo, phù hợp với thực tiến Việt Nam Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận
về công cuộc đổi mới, về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản
Văn kiện Đại hội X cũng xác định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây đựng là một xã hội dân giàu, nức mạnh, công bằng, dân chủ, văn mình; do
nhân dân làm chủ; có nên kinh tế cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nên văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức
bất công, có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đông Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ; có Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với
nhân dân các nước trên thế giới”?
Trong sự nghiệp đổi mới này, Đảng ta đã xác định nên văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, có nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dựa trên cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới phụ vụ con người, vì sự tự đo và
hạnh phúc của nhân dân
Đảng ta đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm để xây đựng nền
văn hóa tiên tiến là phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, phấn đấu sáng tạo
! Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, H.2006, tr.68
? Sđd: tr.68
Trang 18nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm
nhuần tỉnh thần nhân văn, dân chủ, có tác đụng sâu sắc xây dựng con người Đảng
ta chủ trương khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách
sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tỉnh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suỷ đồi
Trong lĩnh vực sáng tác, Đảng chỉ rõ “Hướng văn nghệ sĩ nước ta phản ánh
hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách
mạng và trong kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
cũng như tái hiện lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc Đặc biệt khuyến khích
các tác phẩm về công cuộc đổi mới thể hiện nổi bật những nhân tố tích cực trong
xã hội, những nhân vật tiêu biểu của thời đại Cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp
trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư, tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn Sáng tác nhiêu tác phẩm văn học, nghệ thuật cho thiếu niên, nhỉ đồng với hình thức, nội
dung thích hợp; nghiêm cấm xuất bản loại sách kích thích bạo lực ở trẻ em",
Trong lĩnh vực lý luận phê bình, Đảng ta đã khẳng định: “Phớt huy vai trò
thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dự luận xã hội phê bình văn học, nghệ thuật
Đảm bảo tự do sáng tác di đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu lý luận Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với
đường lối văn nghệ của Đảng”
Đại hội X của Đảng vừa qua khẳng định: “Phát huy tiêm năng, khuyến
khích sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư
tưởng và nghệ thuật” Đông thời Đảng ta cũng nhấn mạnh: “Bảo đảm tự do, dân
chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sĩ Có chính sách trọng dụng các tài năng văn
` Đăng cộng sản Việt Nam: Vấn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lẫn thứ năm khéa VIII, h.1998, tr.61
? Sđd: tr.61-62
3 Sđd: tr.6106-107
15
Trang 19hóa, chăm lo đời sống vật chất và tỉnh thân của văn nghệ sĩ Đẩy mạnh hoạt động
lý luận phê bình văn học - nghệ thuật”
Như vậy, quan điểm của Đảng về tự do sáng tạo đi đôi với tự do phê bình và
nâng cao trách nhiệm công dân của đội ngõ trí thức văn nghệ sĩ
Trong những năm đổi mới vừa qua, lý luận và phê bình văn học của chúng
ta đã tích cực đóng góp vào đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng xã hội của văn học, khắc phục tình trạng giáo điều, gò bó, đơn giản trong quan niệm về
văn học, kiên trì khẳng định tính nguyên tắc chung trong xây dựng nên văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, công tác lý luận phê bình cũng còn
nhiều yếu kém, bất cập Đảng ta đã chỉ rõ những yếu kém là: “Có biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng trong lý luận - phê bình và sáng tác, trước những tác động ngày càng phức tạp của quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa Xu hướng “thương mại hóa ”, chạy theo thị hiếu thấp kém trong một bộ phận báo chí, xuất bản, hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa được ngăn chặn có hiệu quả, đã làm giảm sút, hạ thấp chức năng nhận thức,
giáo dục thẩm mỹ của văn hóa”
Để khắc phục tình trạng yếu kém trên Đảng và Nhà nước phải có kế hoạch sắp xếp và tổ chức tốt hơn lực lượng nghiên cứu phê bình để lĩnh vực này thực sự
trở thành “một mặt trận”, đoàn kết những người làm công tấc nghiên cứu, phê
bình tạo nên sự thống nhất và đồng thuận về tư tưởng và tình cảm, kiên quyết đấu
tranh chống cái ác, cái xấu, cái giả, bảo vệ và vun đắp đời sống tỉnh thần lành
mạnh của nhân dân Có thể nhận thấy một điều là công tác lý luận phê bình văn học của chúng ta trong hai mươi năm đổi mới chỉ là sự tiếp nối thành quả của
thành tự lý luận phê bình thời kỳ trước đó, chưa có sự đổi mới về chất lượng Đội ngũ những nhà lý luận phê bình thực thụ mang tính chuyên nghiệp cao dần dần vắng bóng hoặc chững lại trước sự biến đổi của thời cuộc Đội ngũ mới thì chưa
' Sđd: tr6106-107 -
? Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương làn thứ mười khóa IX, Xem Thông tin
Văn hóa và phát triển, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Số 1/2004, tr.3
Trang 20được đào tạo nghiêm túc và mang tính năng tự phát Hệ thống báo chí phát triển
rộng khắp tạo thuận lợi cho những người mới vào nghề tự do hơn trong trao đổi học thuật và phê bình văn học Tuy nhiên, sự nhiễu loạn trong phê bình dẫn đến
làm mất niềm tin của công chúng văn học vào đội ngũ lý luận phê bình Mặt khác,
do trình độ dân trí của xã hội ngày càng tăng, quá trình dân chủ hóa về thông tin
phát triển mạnh mẽ nên uy tín của nhà phê bình văn học không phải ở chỗ “quyền
uy” mà là sự thuyết phục mang tính khoa học, vừa thấu tình vừa đạt lý Như vậy, vấn để cấp bách hiện nay là đào tạo lại đội ngũ phê bình văn học mang tính
chuyên nghiệp cao, với am hiểu thực tiễn đổi mới của đất nước và sự vận động của
thế giới đương đại, vừa có tài năng và bản lĩnh để lý giải và trao đổi một cách
thẳng thắn và đân chủ những vấn để mà văn học đặt ra Việc tạo ra môi trường
“văn hóa phê bình” lành mạnh trên báo chí là cần thiết và kiên quyết chống lại những biểu hiện tự do vô chính phủ, tự do bôi nhọ lẫn nhau trên báo chí, nhất là: các cơ quan báo chí đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Các cơ quan quản lý báo chí phải kiên quyết xử lý những trường hợp
lợi dụng tự do báo chí để tuyên truyền cho những tư tưởng sai trái và những ý đồ
cá nhân, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội
Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật, Hội nhà văn Việt Nam và các Hội ở
Tỉnh và Thành phố cần thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo và bồi đưỡng nghiệp
vụ lý luận và phê bình văn học cho đội ngũ trẻ Đồng thời cần mở rộng giao lưu giữa các thế hệ, có chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý để khai thác tri thức và kinh nghiệm nghiên cứu, phê bình của các thế hệ đi trước, thông qua sự giúp đỡ trực
tiếp hoặc thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn Trong công tác đào tạo và bồi dưỡng, cần chú trọng đến những vấn đẻ lý luận cốt lối về chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, những vấn
đề kinh tế, xã hội, văn hóa đang đặt ra hiện nay để họ cùng chia sẻ thong tin, chia
sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước
Lý tưởng thẩm mỹ nghệ thuật và lý tưởng chính trị tiến bộ luôn luôn là động lực tỉnh thần để đội ngũ nghiên cứu và phê bình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của
17
Trang 21mình, xứng đáng là người đi trước dẫn dắt, đánh giá và giới thiệu những thành tựu
văn học nghệ thuật cho nhân dân, góp phần fo lớn vào việc xây dựng nên văn học
tiên tiến, đậm đà bản sắc đân tộc
1.2 Những quan điểm và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ đổi mới
Đại hội VI (1986) của Đảng như một luồng gió mới làm tăng thêm sinh khí
cho đời sống văn hóa văn nghệ nước ta Về vị trí vai trò của văn hóa văn nghệ, Văn kiện Đại hội VỊ khẳng định: "Không hình thái tự tưởng nào có thể thay thế
được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người ( ) Đảng yêu cầu các văn
nghệ sĩ thường xuyên trau dôi ý thức trách nhiệm của công dân, chiến sĩ, thực
hiện chức trách cao quý: tạo nên những giá trị tỉnh thần, bồi dưỡng tâm hồn và tình cảm, xây dựng nhân cách và bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi
trường đạo đức trong xã hội"), Với nhận thức và quan niệm như vậy, hoạt động văn học nghệ thuật không thể lẫn lộn, càng không thể đồng nhất với bất cứ hoạt
động xã hội hoặc hình thái tư tưởng nào Tính độc lập tương đối, vị trí không thể thay thế được của văn học và nghệ thuật được xác định rõ
Cùng với Đại hội VI, công cuộc đổi mới tư duy nói chung và đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ nói riêng đã được bắt đầu Nhưng trong khuôn khổ của một Đại hội Đảng, lĩnh vực văn hóa văn nghệ cũng chỉ mới được để cập ở khía cạnh những quan điểm và phương hướng cơ bản ghị quyết 05 của Bộ Chính
trị khóa VỊ) thực sự là một cột mốc lớn trong tư duy lý luận về văn hóa văn nghệ
của Đảng ta Nghị quyết của Bộ Chính trị đã tập trung trình bày một cách hệ
thống các quan điểm mới của Đảng về văn hóa văn nghệ, phương hướng đổi mới
sự lãnh đạo và quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ
Cái mới đầu tiên của Mghị quyết 05 là cách tiếp cận mới, đúng đắn và sâu sắc về văn hóa, văn nghệ: "Văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tỉnh thần
+ VỆ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 10-
Trang 22của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là
Tĩnh vực sản xuất tính thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ
thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con
người ( ) Văn học nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện
khát vọng của con người về chân thiện mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn nhân cách bản lĩnh của các thế hệ công dân xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa")
Nghị quyết 05 đã đề ra một số biện pháp quan trọng về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ
- Khai thác mạnh mẽ tiểm năng sáng tạo là tư tưởng chỉ đạo bao trùm dé phát triển văn hóa văn nghệ hiện nay
- Tỉnh thần chung của các chính sách, biện pháp là phải bảo đảm những
điều kiện để văn hóa văn nghệ làm tốt vai trò xã hội với chức năng cao cả của nó
- Thực hiện đầy đủ quyền tác giả, khẩn trương nghiên cứu để sớm ban hành
các chế độ thù lao nghệ thuật, bảo đảm cho nghệ sĩ chuyên nghiệp có thể sống và tiếp tục sáng tạo
- Khắc phục, ngăn ngừa những hiện tượng cấp ủy đảng, chính quyển can thiệp thô bạo vào các vấn đề văn hóa nghệ thuật và từng cá nhân tùy tiện quyết
định số phận một tác phẩm hoặc một tiết mục, trừ trường hợp những vấn đề nghệ thuật trở thành vấn đề chính trị có phương hại chung đến quyền lợi của Tổ quốc,
của nhân đân
- Trân trọng nhân cách, tài năng và sự độc đáo của văn nghệ sĩ, chu đáo, tế
nhị, chân tình trong quan hệ đối xử, có cách làm việc thích hợp với từng cá tính
sáng tạo
Đại hội VI của Đảng đã tiếp tục và phát triển những luận điểm cơ bản của
Đại hội VI, của Wghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ Báo cáo chính trị tại Đại
hội ghi rõ: "Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
“ Vé lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Tidd, w 15-17
19
Trang 23Khuyến khích tự đo sáng tạo văn học, nghệ thuật vì sự hoàn thiện con người, bồi đưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, để cao tỉnh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự
cường, phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh, phê phán những thói hư tật xấu,
cái độc ác, thấp hèn "
Tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ
là nhằm tạo điều kiện để văn hóa văn nghệ phát triển, tạo nên những giá trị mới, nhằm mục đích xây dựng "một đời sống tỉnh thân cao đẹp, phong phú và ẩa dạng,
có nội dung nhân đạo, dân chú, tiến bộ” như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xác định Văn kiện Đại hội Đảng VI, 1X,
đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nên văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đưa ra hệ thống các quan điểm
mới làm đường hướng phát triển và thành tựu của văn học nghệ thuật dân tộc thời hiện đại Đảng ta xác định và cổ vũ văn nghệ sĩ " Khuyến khích tìm tòi, thể
nghiệm mọi phương pháp, moi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tỉnh thân lành mạnh bổ ích cho công chúng Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đổi, phi nhân tính" Đây là những quan điểm cơ bản hàm chứa rất rõ sự tiếp
tục đối mới của Đảng ta trong quan niệm về văn nghệ và hoàn toàn là cơ sở lý
luận cần vận dụng trong hoạt động lý luận (phê bình) văn học ở nước ta Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương khóa IX nhấn mạnh:
"Bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa ( ) tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chân thành cởi mở đối với đội ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng
dụng người tài đông thời chăm lo định hướng chính trị và có ý thức trách nhiệm
công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ ( ) cho sự nghiệp phát triển văn hóa"
Có thể nói những quan điểm trên là cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết nhiều vấn để lý luận văn học hiện đại Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII xác
Trang 24định: "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm cho văn hóa, văn học nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của
Đảng, vừa bảm đảm thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sắng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật ( ) trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích
đúng đắn"
Các quan điểm đổi mới của Đảng về văn học, về lãnh đạo và quản lý văn
học nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý hoạt động lý luận phê bình văn học như: Chỉ
thị 52/CT/TW ngày 08-06-1989 của Ban Bí thư Trung ương khóa VI về đổi mới và
nâng cao chất lượng phê bình văn học; Quyết định của Ban Bí thư Trung ương khóa IX về thành lập Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương,
đã tạo ra những tiên đề lý luận và tổ chức quan trọng làm cho hoạt động lý luận phê bình Đó không chỉ là vấn đề bó hẹp trong phạm vi văn học (lý luận văn học)
mà còn là vấn đề chung của lý luận nhận thức, của lý luận mỹ học và nguyên tắc của sáng tạo nghệ thuật Những định hướng tư tưởng của Đảng đã xác định và chỉ rõ
nhiệm vụ chính trị, tư tưởng đối với hoạt động văn học nghệ thuật trong thời kỳ cách
mạng mới; tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo dưới ánh sáng các
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Chỉ thị 61-CT/TW ngày 21-6-1990 của Ban Bí thư (khóa V]) đã chỉ rõ: "Cần
khắc phục tinh trang can thiệp thô bạo, tùy tiện, xam phạm quyên tự đo, dân chủ của văn nghệ sĩ trong sáng tạo và hoạt động văn hóa, văn nghệ”
Một trong những việc quan trọng để tạo điều kiện cho sự sáng tạo là các cấp ủy đảng và các cơ quan quản lý nhà nước phải thực sự có mối quan tâm đặc biệt về chế độ, chính sách, khuyến khích vật chất và tỉnh thần cho đội ngũ văn
nghệ sĩ có điều kiện cần thiết để sáng tạo Hội nghị Trung ương 6 (khóa VỊ) để xuất
việc chuyển các cơ sở văn hóa nghệ thuật sang cơ chế tự trang trải từng bước và từng phần Bộ Văn hóa và Bộ Tài chính sau đó đã có Thông tư Liên bộ số 356/TT- LB/VH-TC ngày 22-7-1989 về Cơ chế lãnh đạo quản lý tài chính và chính sách tài trợ của Nhà nước đối với các đoàn nghệ thuật biểu diễn Chính phủ đã có
21
Trang 25Quyết định số 25/TTg ngày 29-1-1993 và Quyết định số 583/QĐ-TTg ngày 1-6-
1999 về zài trợ cho hoạt động sáng tạo tác phẩm văn nghệ, công trình văn học
nghệ thuật Đó là những quyết định đúng đắn, cần thiết, kịp thời
Quyết định số 25/TTg ngày 29-1-1993 của Thủ tướng Chính phủ Về một số
chính sách nhầm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật nêu rõ:
"Phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân Nhà nước tạo điều kiện, xây dựng cơ sở hạ tầng và
trang bị phương tiện cho việc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc đân tộc
Bất đầu từ nắm 1993 và những năm sau, hàng năm ngân sách nhà nước
dành kinh phí đầu tư cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật, xây dựng các công trình văn hóa quy mô lớn, không nhằm mục đích kinh doanh mà nhằm đáp ứng
nhu cầu đời sống văn hóa tỉnh thần của nhân dân Thực hiện chế độ đặt hàng đối với một số tắc phẩm viết cho thiếu nhỉ, một số tác phẩm văn hóa nghệ thuật về để
tài lịch sử, về các cuộc chiến tranh cách mạng, các tuyển tập chọn lọc về văn học nghệ thuật cách mạng của các văn nghệ sĩ tiêu biểu, hồi ký của các nhà cách mạng lão thành, những sách phổ biến và giải thích pháp luật của Nhà nước Nhà nước hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo như khôi phục các nhà sáng tác, phụ cấp cho các đợt đi tìm hiểu thực tế, bảo trợ cho các nhà hoạt động văn hóa và nghệ thuật lão thành, khuyến khích các nghệ sĩ trẻ”
Quyết định số 583/QĐ-TTg ngày 1-6-1999 của Thủ tướng Chính phủ Về tdi trợ cho hoạt động sắng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật, báo chí hai năm 1999 - 2000 tiếp tục nêu rõ: "Để khuyến khích các văn nghệ sĩ, nhà báo sáng
tạo tác phẩm, công trình (sau đây gọi chung là tác phẩm), Nhà nước tiếp tục thực
hiện viéc tai frợ cho các văn nghệ sĩ, nhà báo đi thực tế, tham nhập cuộc sống, sáng
tạo tác phẩm; hỗ trợ cho việc giới thiệu, phổ biến các tác phẩm có chất lượng cao"
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách nhằm tạo những điều kiện thiết thực bước đâu đảm bảo cho các hoạt động sáng tạo, phổ
biến và tiếp nhận tác phẩm văn học nghệ thuật như: chính sách đầu tư theo đơn
Trang 26đặt hàng Nhà nước, chính sách tài trợ các tài năng, chính sách về nhuận bút và quyền tác giả, chính sách trợ giá, trợ cước, phụ cấp cho nghề nghiệp nghệ thuật, chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các bộ môn nghệ thuật truyền thống
và đặc thù trong các trường văn hóa nghệ thuật Từ năm 1999 đến nay Thủ tướng
Chính phủ đã quyết định đành khoản kinh phí 10 tỷ đồng/ năm để tài trợ cho hoạt
động sáng tạo văn học nghệ thuật, báo chí :
Công tác lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước đã ngày càng nhằm
bảo đảm các quyền tự do dân chủ trong sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật, tránh can thiệp thô bạo bằng những biện pháp hành chính, mệnh lệnh không cần thiết đối với sự sáng tạo văn học nghệ thuật Các cơ quan quản lý nhà nước về văn
học, nghệ thuật dựa vào định hướng của Đảng, dựa vào pháp luật của Nhà nước
để quản lý các hoạt động văn hóa, nghệ thuật bằng bộ máy của chính quyền và theo trách nhiệm, quyền hạn đã được phân cấp theo quy định của Luật Xuất bản,
Luật Báo chí, Bộ luật dân sự, Luật Di sản văn hóa, Pháp lệnh Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện, Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước, Pháp lệnh Quyên tác giả, Nghị định 4SICP về điện ảnh, Nghị định 87, 88SICP về quản lý dịch vụ văn hóa nghệ thuật,
Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp v.v
Lãnh đạo và quản lý văn học nghệ thuật là nhằm đảm bảo có nhiều tác
phẩm tốt và hay được sáng tạo và được phổ biến tới công chúng, làm cho công
chúng được thưởng thức ngày càng nhiều hơn các tác phẩm văn nghệ lành mạnh
và bổ ích Vì vậy, lãnh đạo, quản lý việc xé? đuyệt và công bố, phổ biến tác phẩm
văn nghệ là một nhiệm vụ quan trọng, là một nội dung được Đảng và Nhà nước rất chú trọng thời kỳ từ năm 1986 đến nay
Chỉ thị 61-CT/TW ngày 21-6-1990 của Ban Bí thư Trung ương (khóa VI)
nêu rõ: "Việc xét đuyệt tác phẩm cần được thực hiện trước khi phổ biến rộng rãi trong công chúng ( ) Đối với những tác phẩm đã tồn tại trước Cách mạng tháng Tám, trong vùng địch tạm chiếm cũ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước 30-4-1975 và các tác phẩm nhập từ nước ngoài, nhất thiết phải qua sự xét
23
Trang 27duyệt và được phép của cấp có thẩm quyền mới được phổ biến rộng rãi Cần quy
định rõ trách nhiệm và thủ tục xét duyệt tác phẩm ở trung ương, ở địa phương và ở
các loại cơ sở Cần thành lập Hội đồng văn học - nghệ thuật (gợi tắt là Hội đồng nghệ thuật) ở trung ương, ở địa phương (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) và Ở cơ sở theo quyết định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước (Bộ
Văn hóa - thông tin - thể thao và du lịch, ỦY ban nhân dân hoặc Sở văn hóa thông tin được ủy nhiệm) Hội đồng có chức năng tư vấn cho thủ trưởng cơ quan quản lý
nhà nước trong việc thẩm định giá trị và kiến nghị về việc phổ biến tác phẩm
Các cấp nếu phát hiện thấy có tác phẩm cần hạn chế công bố hoặc cấm lưu hành thì nêu ý kiến của mình với cơ quan được giao quyền ra quyết định xử lý
Trước khi ký quyết định, nhất thiết phải tham khảo ý kiến của Hội đồng nghệ
thuật, nghe tác giả trình bày Đặc biệt đối với tác phẩm được đánh giá là có nhiều
giá trị sáng tạo, tìm tòi nhưng thấy cần hoãn công bố hoặc công bố hạn chế, cần trao đổi ý kiến, thuyết phục tác giả và mua lại bản thảo theo chế độ nhuận bút hiện hành nhằm bảo đảm quyên lợi tỉnh thần và vật chất của tác giả
Luật xuất bản được Quốc hội khóa TX thông qua tại kỳ họp thứ ba (1992) ở
Chương I, Điều 2 ghi rõ: "Nhà nước đảm bảo quyên phổ biến tác phẩm dưới hình
thức xuất bản phẩm Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản,
trừ trường hợp cân thiết do Thủ tướng Chính phủ quyết định" Nghị định số 79/CP
ngày 6-11-1993 của Chính phủ Quy định chỉ tiết thi hành Luật xuất bản ghi rõ:
"Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản, trừ trường hợp nội dụng tác phẩm có dấu hiệu vi phạm Điêu 22 Luột xuất bản"
Chương II, Điều 11 Luật xuất bản có ghi: " Giám đốc có trách nhiệm quản lý nhà xuất bản về mọi mặt, bảo đảm thực hiện tôn chỉ, mục đích phục vụ
đúng đối tượng của nhà xuất bản ( ) ký duyệt bản thảo ( ) chịu trách nhiệm về
mọi hoạt động của nhà xuất bản Giám đốc, tổng biên tập nhà xuất bản chịu trách
nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm của nhà xuất bản "
Trong xã hội ta, việc xét duyệt tác phẩm trước khi công bố là việc làm hết
Trang 28sức cần thiết Tất nhiên, xét đuyệt phải theo phương thức dân chủ, bàn bạc, trao đổi ý kiến với tác giả, đạo diễn, tranh thủ ý kiến của các chuyên gia văn học nghệ
thuật, ý kiến của Hội đồng nghệ thuật, Hội đồng thẩm định thăm dò ý kiến của
công chúng để có những quyết định hợp lý, không để lọt tác phẩm xấu, độc hại ra
xã hội Đồng thời, không bỏ sót các tài năng, các tác phẩm hay, tác phẩm tốt có
đóng góp tích cực cho đời sống tỉnh thần của xã hội
Luật báo chí (được Quốc hội ban hành năm 1989 và sửa đổi, bổ sung năm
1999) đã quy định (Điều 10) Những điều không được thông tin trên báo chí (trong
đó bao gồm cả tác phẩm văn nghệ)
“1 Không được kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2: Không được kích động bạo lực, tryên truyền chiến tranh xâm lược gây
hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm 6, déi truy, tdi ác
3 Không được tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an nình, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định
4 Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vụ khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân"
Nghị định số 88 ngày 14-12-1995 của Chính phủ quy định Về xử phạt vi phạm
hành chính trong các hoạt động văn hóa, dịch vụ khác và một số tệ nạn xã hội, quy
định các hình thức xử phạt bằng tiền, bằng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự các vi phạm trong việc xuất nhập khẩu, phổ biến, nhân bản các /ác phẩm văn nghệ có
nội dung đôi trụy, khiêu dâm, kích động bạo lực
Như vậy, từ 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới trong
quan điểm và chính sách, phương thức lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ Những thể chế này phù hợp với tình hình mới của đất nước và thời đại,
phù hợp với bản chất, đặc trưng của văn nghệ Hành lang tư tưởng - pháp lý quan trọng trong đường lối, chính sách về văn nghệ của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền
đề thuận lợi cho sự phát triển của văn học nghệ thuật và là cơ sở quan trọng để tạo
25
Trang 29nên những thành tựu của văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới
1.3 Những tác động của lý luận, phê bình đối với sự phát triển của văn học
Việt Nam từ 1986 đến nay
* Vai trò của lý luận, phê bình đối với sự phát triển của văn học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam
Trở lại thế kỷ trước, vấn đề trước hết mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm là vấn đề nguồn gốc, tính chất, vai trò của văn học nghệ thuật, trách nhiệm của văn nghệ sĩ đối với đời sống xã hội
Riêng về vai trò của phê bình văn học, trong tác phẩm "Góp phân phê phán
triết học về pháp luật của Hê ghen", Mác chỉ rõ: "Phê bình không phải là sự phẫn
nộ của lý trí, mà là lý trí của sự phẫn nộ Phê bình không phải là con đao mổ xẻ,
Phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen, Lênin khẳng định văn học nghệ
thuật chính là tấm gương của đời sống xã hội Bởi vậy, Lênin đánh giá rất cao các sáng tác của L.Tôn-xtôi, Người cho rằng tác phẩm của L.Tôn-xtôi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga Theo Lênin, văn học nghệ thuật không phải là một tấm gương thụ động, mà bằng các hình tượng nghệ thuật, tấm gương đó tác động
mạnh mẽ trở lại đối với xã hội, góp phần bồi đưỡng tư tưởng, tình cảm tốt đẹp cho con người Vấn đề nhạy cảm mà Lênin còn đề cập tới là tính đảng và tự do sáng
tác Theo Lênin, vấn để "tự do tuyệt đối" trong sáng tác dưới chủ nghĩa tư bản chẳng qua là một thứ giả dối mà thôi, bởi vì trong xã hội xây đựng trên quyền lực của đồng tiền, trong xã hội mà quần chúng lao động phải ăn xin, và một nhúm ít người giàu có thì ăn bám, quyết không thể có tự do thực sự và chân chính Cần phải xé toạc cái chiêu bai “tw do tuyét đối" đó
Là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, văn học nghệ thuật ít chịu nhượng
bộ hơn cả đối với sự bình quân máy móc Lênin chỉ rõ: "Không thể chối cãi được
rằng trong sự nghiệp đó tuyệt đối phải đảm bảo phạm vi hết sức rộng rãi cho sáng
Trang 30kiến cá nhân, cho khuynh hướng cá nhân, bảo đảm phạm vi hết sức rộng rãi, bao
la cho tư tưởng và sức tưởng tượng, cho hình thức và nội dung"
Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 70 năm qua được
bất nguồn và phát triển từ lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác - Lênin Năm
1943, Đảng ta đã công bố "Để cương văn hóa”, nêu lên ba phương châm của nền
văn hóa, văn nghệ Việt Nam là: Dán tộc, Khoa học và Đại chúng Tháng 7-1948, Hội văn nghệ Việt Nam được thành lập Các lần Đại hội văn nghệ toàn quốc, Trung ương Đảng thường gửi thư tới đại hội Đường lối văn nghệ của Đảng cũng được thể hiện trong văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, trong một số nghị quyết
của các hội nghị Trung ương và đặc biệt là trong ý kiến về văn nghệ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước như: Trường Chỉnh,
Phạm Văn Đồng Đảng ta đặt vấn đề văn học nghệ thuật phải mang tính đảng, phải phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, văn nghệ sĩ phải là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng Trong bức thư "Gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa
1957", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một
mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"
Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối của Đảng, các nhà lý luận phê bình Việt Nam đã có những vận dụng
cụ thể GS Trần Đình Sử quan niệm: "Lý luận văn học là lý luận khoa học về văn học lấy văn học làm đối tượng nghiên cứu Lý luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng, cấu tạo, quy luật tồn tại và phát triển của văn học,
giúp cho con người hiểu được mọi hiện tượng văn học từ tác phẩm, tác giả, thể
loại, trào lưu, phong cách Lý luận, văn học có nhiệm vụ cung cấp một hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ với tư cách là những công cụ để người
đọc và các nhà phê bình, các nhà văn học sử có thể vận dụng để nghiên cứu văn
học một cách hữu hiệu”
Cùng với quan điểm này là quan điểm của GS Phương Lựu, PGS La Khắc
Hòa, PGS Lê Ngọc Trà, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân v.v GS Phương Lựu trong giáo trình "Lý luận văn học” xác định: "Lý luận văn học bao giờ cũng lấy
27
Trang 31quan điểm, đường lối làm hạt nhân chỉ đạo Lý luận văn học cũng không phải chỉ
có ý nghĩa chỉ đạo riêng cho sáng tác, mà nó là bộ môn triết lý cụ thể và tổng quát
cho tất cả các ngành hoạt động văn học" Lý luận văn học có nhiệm vụ tổng kết ở
cấp độ lý thuyết những quan điểm, kiến thức và phương pháp chung nhất từ sáng
tác, phê bình đến việc nghiên cứu văn học sử và trở lại chỉ đạo cho các ngành hoạt động văn học đó Một khi các ngành hoạt động văn học nói chung phong phú hơn, các phân môn nghiên cứu văn học nói riêng đa dạng và phức tạp thêm, thì vai
Lại Nguyên Ân quan niệm phê bình văn học là "sự phán đoán, bình phẩm,
đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình
luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới Phê
bình văn học ưu tiên sơi rọi những quá trình, những chuyển động đang xảy ra trong văn học hiện thời, phản xạ với các hiện tượng văn học, với sự cảm thụ văn
học của công chúng" Phê bình văn học có thể trở thành văn học, tức là thuộc nghệ thuật ngôn từ một khi những trang viết phê bình ấy đạt tới tính nghệ thuật
cao về ngôn từ thẩm mỹ, bộc lộ một phong cách độc đáo của người viết Đối với phê bình văn học hiện đại, người viết không chỉ tìm kiếm “nhãn tự", "thần cú”, không chỉ phê điểm, phẩm bình, mà còn nghiên cứu sự liên hệ bên trong và bên
ngoài của sáng tác với đời sống xã hội; nó không chỉ là một bộ phận của dư luận,
mà còn tác động vào dư luận, xã hội
Sau 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng một lần nữa khẳng định phát
triển văn hóa - nền tảng tỉnh thân của xã hội, nhưng đặc biệt nhấn mạnh vấn dé
chất lượng Trong bối cảnh của nên kinh tế thị trường định hướng XHCN với
những tác động rất mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống xã hội, bối cảnh của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế thì vai trò của lý luận, phê bình đối với sự phát triển của nền văn học nghệ thuật không những không được xem nhẹ mà còn phải
được đề cao mạnh mẽ hơn Đảng ta đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh hoạt động lý
luận - phê bình văn học, nghệ thuật, gắn nhiệm vụ này với việc đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của các hội văn học, nghệ thuật từ Trung
Trang 32ương đến các địa phương, tạo ra môi trường và điều kiện tốt nhất để văn học nghệ
thuật phát triển, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại bóa đất nước Trong
suốt hơn nửa thế kỷ qua, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng thực sự là bó đuốc soi đường, hướng văn học, nghệ thuật nước nhà phát triển, đạt được những thành
tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
* Những tác động của lý luận phê bình đối với văn học nước ta từ sau
Công cuộc đổi mới toàn diện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước do
Đảng ta khởi xướng từ Đại hội VI (1986) là sự thay đổi có tính cách mạng, phù hợp với quy luật khách quan, thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Trong xu thế đổi mới đó, văn học nghệ thuật cũng không là một ngoại lệ Văn học, nghệ thuật
nước nhà phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng dưới ánh sáng của đường lối
đó Riêng về lý luận, phê bình văn học, thành tựu của nó là không thể phủ nhận
Mới đây, tại Hội nghị lý luận, phê bình văn học toàn quốc lần thứ hai tại Đồ Sơn (10/2006), trong Báo cáo đề dẫn trình bày tại hội nghị, nhà thơ Hữu Thỉnh -
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã chỉ rõ: "Lý luận đóng vai trò tiên phong trong đổi mới nhận thức, mở rộng các hệ quy chiếu của văn học Khắc phục những lý thuyết giáo điều, xơ cứng, gò bó, một loạt vấn đê như vị trí, vai trò, chức
năng của văn học, quan hệ văn học với chính trị, văn học với hiện thực, văn học với công chúng, phương pháp sáng tác, nhân vật, ngôn ngữ được chỉnh sửa diễn
đạt chuẩn xác, tỉnh tế hơn Khái niệm dân chủ được bổ sung bên cạnh khái niệm
tự do trong mọi hoạt động sáng tạo văn học "
Trong bản báo cáo trên, Hữu Thỉnh cũng khẳng định ưu điểm của phê bình
thời gian qua là nhạy bén, đã sớm bảo vệ, khẳng định những tác phẩm có giá trị, cách phê bình đơn giản hóa, xã hội học cố chấp bị phê phán, các phương pháp phê bình văn bản, so sánh, tiếp nhận, trực giác, phán đoán được vận dụng, mở ra nhiều
29
Trang 33kênh tiếp cận tác phẩm Bên cạnh những thành tựu, nhà thơ Chủ tịch Hội Nhà văn
Việt Nam cũng thừa nhận những hạn chế về lý luận, phê bình văn học thời gian
qua như tình trạng tấn mạn kéo đài, nhiều vấn đẻ lý luận chưa được tổng kết
nghiêm túc, còn tồn nghi, ngộ nhận, tầm bao quát của phê bình còn hẹp, tình trạng
trung bình, sàn sàn là căn bệnh trầm kha của văn học ta hiện nay không được phê
phán đến nơi đến chốn, văn hóa phê bình, văn hóa tranh luận chưa được tôn trọng
Đóng góp cho sự phát triển của lý luận, phê bình văn học từ sau 1986, bên cạnh những tên tuổi nổi tiếng như Hà Xuân Trường, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Hồ Sĩ Vịnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Trần
Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Xuân Nam, Trân Văn Bính, Đỗ Đức
Hiểu, Lê Ngọc Trà, Lê Bá Hán, Phạm Vĩnh Cư, Phong Lê là La Khắc
Hòa, Trần Đăng Xuyên, Trương Đăng Dung, Phan Trọng Thưởng, Vương Trí Nhàn, Đỉnh Xuân Dũng, Ngô Vĩnh Bình, Lê Thành Nghị, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thúy, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Duy Bắc, Hà Văn Đức, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Hòa v.v
Bên cạnh những người chuyên làm công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình, nhiều nhà văn, nhà thơ đã tham gia vào địa hạt này như Nguyễn Đình Thị,
Nguyễn Khoa Điểm, Huy Cận, Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa, Phạm Tiến Duật, Vũ
Quần Phương, Nguyễn Huy Thiệp Công việc "bếp núc" của họ trong quá trình
sáng tác đã phát huy tác dụng không nhỏ trong việc làm sáng tỏ nhiều vấn dé như
chủ thể sáng tạo, kiểu sáng tác, thi pháp, phong cách, đời tư, quan niệm nghệ
thuật về con người
Cùng với các bộ giáo trình "Lý luận văn học" của Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (thuộc Đại học quốc gia Hà Nội), Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, có thể kể ra đây một số công trình
đáng chú ý như: Trên đà đổi mới văn hóa văn nghệ, Viện Văn hóa, Sở VHTT Quảng Ngãi, 1994 Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ (Nguyễn Văn Hạnh,
Huỳnh Như Phương, Nxb Giáo dục, H, 1995), Văn hóa Việt Nam - một chặng đường (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa - Thông tin, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất
Trang 34bản, 1994), Văn học đổi mới và giao lưu văn hóa (Phan Cự Đệ, Nxb Chính trị
quốc gia, H, 1977), Lý luận và phê bình văn học (Trần Đình Sử, Nxb Hội Nha
văn, H, 1996), 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 (Nhiêu tác gia,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1996), Văn hóa văn học một hướng tiếp cận (Hồ Sĩ Vịnh, Nxb Văn học và Viện Văn hóa, H, 1998), Chặng đường mới của văn học
Việt Nam (Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1998), Từ cái nhìn
văn hóa (Đỗ Lai Thúy, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1999), Chân đụng và đối thoại
(Trân Đăng Khoa, Nxb Thanh niên, H, 1999), Văn hóa một số vấn đề lý luận
(Trường Lưu, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999), 60 năm đề cương văn hóa với văn hóa và phát triển ở Việt Nam hôm nay (Đỗ Thị Minh Thuý chủ biên, Viện Văn
hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin, H, 2003), Mấy cảm nhận về văn hóa (Đinh
Xuân Dũng, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004), Lý luận, phê bình văn học - đổi mới và phát triển (Nhiêu tác giả, Nxb Khoa học xã hội, H, 2005), Cảm nhận về văn hóa và văn học trong hành trình đổi mới (Nguyễn Duy Bắc, Nxb Văn hóa dân
tộc, H, 2006) Nhiều báo và tạp chí cả ở Trung ương và địa phương đã tham gia
vào không khí sôi động của lý luận, phê bình văn học Đáng chú ý là: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tạp chí Văn học (nay là Tạp chí Nghiên cứu văn học), Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Văn nghệ, Đài Truyền hình Việt Nam Đã có hàng chục cuộc hội
thảo quy mô lớn, nhỏ khác nhau về lý luận, phê bình văn học Đáng chú ý là hội
thảo do Hội nhà văn Việt Nam và Viện văn học tổ chức vào tháng 8/2003 tại Tam Đảo Đặc biệt, từ năm 2004, khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định thành
lập Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, các cuộc tọa đàm,
hội thảo khoa học về lý luận, phê bình văn học diễn ra khá sôi động Tháng 3/2006, tại Hà Nội đã điễn ra Hội nghị lý luận, phê bình văn học nghệ thuật toàn
quốc lân thứ nhất, tiếp đó, tháng 10/2006, tại Đồ Sơn đã diễn ra Hội nghị lý luận, phê bình văn học lần thứ hai với nhiều bản tham luận có giá trị, để cập khá nhiều
31
Trang 35các vấn đề nóng bỏng, bức xúc của văn học, nghệ thuật nước nhà thời gian qua và
thời gian tới _
Lý luận, phê bình văn học từ 1986 đến nay vẫn giữ được vai trò người
dẫn đường và cổ vũ cho sáng tác văn học, góp phần quan trọng vào việc đổi mới
tư duy của người sáng tác và đổi mới chính nó Đa số các nhà lý luận, phê bình đã
tham gia vào việc hình thành một tư duy lý luận mới, một nhận thức khoa học mới
về nhiều vấn để của văn học nước nhà Không ai có thể phủ nhận sạch trơn giá trị
của phương pháp hiện thực XHCN hay nên văn học cách mạng đã và đang tồn tại, phát triển Trong bối cảnh dân dần hình thành nẻn kinh tế thị trường định hướng XHCN với những tác động tích cực và tiêu cực của nó, quan niệm mới về con người được hình thành, kéo theo sự phát triển của nhiều thể tài, thể loại văn học Nhiều nhà lý luận, phê bình vẫn cổ vũ các tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng, song thể tài thế sự và đời tư với những tác phẩm viết về hậu chiến tranh cũng vẫn được đánh giá cao, miễn là thực sự có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, nhất
là giá trị nhân văn Nhân vật chính, bên cạnh những người lính từng xông pha
ngoài mặt trận là những người lính trở về đời thường với nhiều tâm trạng giằng xé,
là số phận éo le của những người phụ nữ nhưng vẫn không mất đi những nét đẹp vốn có, những con người với khát vọng vươn lên chiến thắng nghèo hèn, hay những sai trái, cái xấu, cái ác Những vấn đề vốn rất nhạy cảm như tự do sáng tác
của nhà văn, vấn đề mặt trái của cơ chế thị trường, những điều xấu xa của con
người, thành tựu của công cuộc đổi mới, có hay không có sự bôi nhọ, xuyên tạc sự
thật về lịch sử, về lãnh tụ, văn học và chính trị, văn học trong nhà trường, vấn đề
sex trong văn chương v.v đều có nhiều ý kiến trái ngược nhau, đôi khi cực đoan, gay gắt, song phần nào dân dân được lý giải một cách khá thuyết phục, giúp cho
nhiều nhà văn tự tin hon trong quá trình sáng tác
Cân khẳng định một cách khách quan rằng trước 1986 đã xuất hiện rất rõ
nhu cầu đổi mới, nhất là về nhận thức đời sống xã hội Đây là thời kỳ tiên đổi mới
Thời kỳ này người ta nhận thấy chính bản thân nền văn học cũng đã có sự phát
triển với những tác phẩm văn học mang tính dự báo và cảnh báo dữ dội, được dư
Trang 36luận đặc biệt chú ý Các tác phẩm này đẻ cập trực điện tới các van dé vừa lớn vừa bức thiết lúc bấy giờ, đó là các chính sách về kinh tế, về cơ chế quản lý của Nhà nước, đem đến một luồng sinh khí mới cho đời sống văn học lúc bấy giờ Có thể
kể đến các vở kịch "Tôi và chúng ta" của Lưu Quang Vũ, "Mùa hè ở biển" của
Xuân Trình, "Nhán danh công lý" của Doãn Hoàng Giang, tiểu thuyết "Củ iao tràm" (tập 1) của Nguyễn Mạnh Tuấn, tiểu thuyết "Gặp gỡ cuối năm" của Nguyễn Khải, tiểu thuyết "Sao đổi ngôi" của Chu Văn, ký "Cái đêm hôm ấy đêm gì" của
Phùng Gia Lộc, thơ "Mùa xuân nhớ Bác" của Nguyễn Thị Xuân Khải v.v Suy
đến cùng các vấn dé đó đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến số phận con
người, bởi trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng lúc đó, số phận con người được đặt ra bức thiết chẳng kém gì trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh
Sau này, chính tư đuy mới của lý luận, phê bình văn học đã bảo vệ, cổ vũ sự
ra đời của "Tướng về hưu", "Không có vua" (Nguyễn Huy Thiệp), "Bến quê",
"Phiên chợ Giát", "Cỏ lau", "Bức tranh" (Nguyễn Minh Châu), "Mảnh đất lắm
người nhiều ma" (Nguyễn Khắc Trường), "Thời xa vắng" (Lê Lựu), "Bến không
chồng" (Dương Hướng), "Nỗi buôn chiến tranh" tức "Thân phận tình yêu" (Bảo
Ninh), "Mia Id rung trong vườn" (Ma Văn Kháng", "Thiên sứ" (Phạm Thị Hoài)
hay một loạt tác phẩm ký và phóng sự của Minh Chuyên về đề tài hậu chiến tranh
Trong mạch những tác phẩm thế sự ấy, gần đây có thể kể tới "Cơn giông" (Lê Văn
Thảo), "Sông cạn" (Dũng Hà) Một số tác phẩm đã và đang thu hút được sự chú ý
của bạn đọc là tiểu thuyết "Luật đời và cha con" của Nguyễn Bắc Sơn, truyện vừa
"Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư
Không thể phủ nhận sự nhạy bén của lý luận, phê bình văn học trong những năm gần đây Chính sự nhạy bén đó đã góp phần làm nên tính thời sự của các tác
phẩm "Mãi mãi tuổi hai mươi" (Nguyễn Văn Thạc), "Nhật ký Đặng Thưỳ Trâm"
và một trào lưu mới về ký sự, phóng sự
33
Trang 37Gần đây, nhiều ý kiến khen chê trái ngược nhau về chuyện sex trong văn học, cụ thể là trong “Bóng đè” (Đỗ Hoàng Diệu), “Cánh đông bất tận” (Nguyễn Ngoc Tu), tho Vi Thuy Linh, thơ của nhóm Ngựa Trời Điều đáng chú ý là lý
luận, phê bình văn học không còn là công việc “độc quyên” của các nhà lý luận,
phê bình Đông đảo công chúng rất tích cực tham gia vào đời sống văn học của
đất nước Nhiều báo và tạp chí, nhất là báo, chí văn học đã mở hàng loạt mục như
“Diễn đàn văn học”, “Bạn đọc”, “Hồi âm truyện ngắn dự thị” v.v để bạn đọc
thẩm định tác phẩm văn học Vì thế một số tác phẩm có tính chất ám chỉ như
Dòng xoáy, Vết sẹo và cái đâu hói ban đầu có thu hút được nhiều người tò mò,
song mất đi rất nhanh số lượng bạn đọc nghiêm túc
Cũng do đổi mới lý luận, phê bình văn học mà những sáng tác, những công
trình nghiên cứu trước đây của Lê Đạt, Trần Dần, Trương Tửu, Phùng Quần
được nhiều bạn đọc biết đến với cái nhìn cởi mở hơn Đặc biệt, chưa bao giờ toàn
tập, tuyển tập hoặc loại sách "Nhà văn - thơ, văn và đời” được xuất bản rộng rãi
như những năm vừa qua Cùng với sáng tác của các nhà văn thế hệ trước được tôn vinh, sáng tác của các tác giả trẻ cũng được khuyến khích, tôn trọng mọi sự tìm
tòi cả về nội dung và hình thức nghệ thuật
Trang 38CHƯƠNG II
SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN PHÊ ©
BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU NĂM 1986
2.1 Lý luận văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, lý luận văn học Việt Nam đã có
những biến đổi rất to lớn và đã thu được những kết quả rất tích cực
Một là, thành tựu của lý luận văn học trong cách tiếp-cận mới về văn học
Nếu trước đây chúng ta chủ yếu xem xét văn học từ góc độ phản ánh nhận thức, từ góc độ ý thức hệ và tiến trình lịch sử của văn học thì nay giới lý luận đã tập
trung chú ý nhiều hơn vào bản thể của văn học, vào chủ thể của văn học (chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận), vào đặc trưng quá trình sản xuất tỉnh thần của sáng tạo văn học, vào bản chất thế giới tính thần của văn học, vào vai trò sắng tạo văn
hóa của văn học, cấu trúc của tác phẩm, thế giới nghệ thuật, thi pháp của tác
phẩẩm v.v Việc xem xết văn học từ các bình điện mới này đã làm xuất hiện và bổ
sung nhiều thuật ngữ (lý luận) văn học mới: kiểu sáng tác, chủ thể sáng tạo, chủ
thể tiếp nhận, hình tượng tác giả, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, cái
nhìn, điểm nhìn, đối thoại, độc thoại, ẩa thanh, phúc điệu sử thi, thế sự, đời tư, mã
(code) nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, thi pháp, tâm
đồn nhận v.v Nhiễu bộ từ điển thuật ngữ văn học được xuất bản những năm gần đây đã cho thấy rõ điều này®),
Những khái niệm lý luận mới này là kết quả của cách tiếp cận mới, hệ quy chiếu mới về văn học, từ góc độ bản thể luận, giá trị luận, cấu trúc luận, ký hiệu học, hiện tương học, văn hóa học, phong cách ngôn ngữ Có thể nhận thấy một
trong những thành tựu quan trọng nhất của lý luận văn học Việt Nam 20 năm qua
© Xin xem: - La Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên): Từ điển thuật ngữ văn học, Ñxb Giáo duc,
Hà Nội, 1992
- Lại Nguyên Ân (biên soạn): 50 /huật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 1999,
35
Trang 39gắn liên với thành tựu của xu hướng nghiên cứu Thi pháp học với những đóng góp
của Phan Ngọc, Hoàng Trinh, Trân Đình Sử, Nguyễn Kim Đính, Phạm Vinh Cu,
Đỗ Đức Hiểu, Đỗ Lai Thúy Hướng tiếp cận mới mẻ này có nhiều khuynh
hướng, nhưng khuynh hướng nổi bật và có nhiều thành tựu hơn cả là thi pháp học
lịch sử, với các cấp độ nghiên cứu (thi pháp) ngày càng được mở rộng: Thi pháp tác phẩm văn học, thi pháp tác giả, thi pháp thể loại, thi pháp giai đoạn văn họo, thi pháp văn học dân tộc v.v cùng sự vận dung lý luận sáng tạo, thuyết phục để
nghiên cứu văn học”),
Một cách thật tự nhiên là nghiên cứu Th¡ pháp học, phong cách học tất yếu sẽ tiếp cận nghiên cứu, khám phá văn học từ góc độ văn hóa Đây là một
thành tựu mới của lý luận văn học những năm qua Mot mat là sự khám phá nội
dung thế giới văn hóa tỉnh thần trong văn học, cái mã (code) văn hóa của văn học mặt khác, là sự tìm hiểu sự ánh hưởng và tác động của truyền thống văn hóa, của văn hóa hiện đại, văn hóa quốc tế đối với sáng tạo và tiếp nhận văn học Như vậy văn hóa và văn học có mối tương tác hai chiểu, có sự thâm nhập và chuyển hóa bên trong sâu sắc Văn học có vai trò to lớn trong sáng tạo văn hóa Sự giàu có về nội dung và hình thức của văn học trực tiếp làm giàu cho văn hóa Văn học phản ánh, sáng tạo những hiện tượng mới của đời sống, sáng tạo ra nhân sinh
quan, sáng tạo cách cảm nhận mới và đánh giá mới, đổi mới đời sống, sáng tạo
ngôn ngữ mới, hình thức mới Những thành tựu về lý luận và nghiên cứu văn học trong thời kỳ qua đều có được từ cách nghiên cứu văn học trên hệ hình tư duy mới
® Xin xem: - Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiểu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1985
- Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987
~ Trần Đình Sử, Mấy vấn đê Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999
~ Trần Đình Sử, Thi pháp Truyện Kiểu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002 -
~- Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, Nxb Khoa học xã hội và Mii Cà Mau, 1994
- Đỗ Đức Hiểu, Thí pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2000
- Hoàng Trinh, Từ ký hiệu học đến thi pháp học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992
- Đỗ Lai Thúy, Can mắt thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998
- Đại học Sư phạm Hà Nội: Tự sự học - một số vấn để lý luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2004
Trang 40Sự cổ vũ khuyến khích của Đảng về việc "tìm tồi thể nghiệm mọi phương pháp và phong cách sáng tác" ở giới sáng tác cũng đã mở đường cho giới lý luận nghiên cứu tìm tòi những quan niệm và nhận thức mới, cách tiếp cận nghiên cứu mới vẻ
văn học, từ góc độ hình thức nghệ thuật, văn hóa tỉnh thần mà không sợ mang tiếng là theo chủ nghĩa hình thức
Hai là, nhờ công cuộc đổi mới, lý luận phê bình được mở rộng biên độ tiếp
nhận, vì thế một trong những thành tựu về lý luận văn học trong gần hai thập kỷ
qua là việc dich thuật, giới thiệu di sản lý luận văn học thế giới
Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu các di sản lý luận văn học của
ông cha: Lê Quý Đôn, Hải Triều, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Lê Thanh v.v và
tỉnh hoa lý luận văn học Trung Quốc, các nước phương Đông; nhiều công trình lý luận văn học nghệ thuật của các tác giả ở Liên Xô, Đông Âu trước đây và ở phương Tay dân dân được dịch thuật, giới thiệu và ít nhiều được vận dụng: M Bakhtin, DX
Likhachev, V.Propp, Y Lotman, L Vêxêlốvxki, M Kagan, G Lukács, R Jakobson,
R Barthes, C Lévi - Stauss, T Todorov, R Ingerden, R Jaus, Wellek - Warren,
Martin Heidegger (được dịch thuật và giới thiệu bởi Phan Ngọc, Trần Đình Sử,
Phương Lựu, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Phạm Vĩnh Cư, Trương Đăng Dung,
Đỗ Lai Thúy, Trịnh Bá Đĩnh, Đào Tuấn Ảnh vxv ) Mặc dù sự giới thiệu còn ít và
chưa có hệ thống, nhưng việc giới thiệu ấy cùng sự vận dụng ít nhiều vào lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học đã cho thấy một sự khởi sắc của đời sống lý luận văn học Thời gian qua, lý luận và phê bình văn học nước ta vượt qua những giới hạn chật
hẹp của xã hội học, gắn kết giữa phân tích đặc trưng nghệ thuật với nội dung phản
ánh một phần là nhờ có việc giới thiệu, phổ biến và vận dụng sáng tạo các lý thuyết
văn học nước ngoài vào nghiên cứu các hiện tượng và vấn đề văn học trong nước Vì
vậy, cần sớm khắc phục tình trạng hoặc bị động, hoặc vồ vập, thiếu tỉnh táo trong
việc tiếp nhận một số lý thuyết văn nghệ và mỹ học nước ngoài Nhưng cũng cần phê phán thái độ bài ngoại, coi việc giới thiệu và phổ biến lý thuyết văn học nước ngoài là
sùng ngoại, là giáo điều mới, công thức mới Cần thấy rằng, nếu "văn hóa Việt Nam
là sự ảnh hưởng lẫn nhau văn hóa phương Tây và phương Đông chung đúc lại" (Hồ
37