1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 2016 cực hay (Phần 3: Truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945)

79 1,8K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 9,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần này, sự thử thách của hoàn cảnh dữ dội khốc liệt quá, người thân cô thế cô như Chí không đủ bản lĩnh và dũng khí để đối chọi lại được với cái Ác, không thể lựa chọn cách sống để giữ

Trang 2

MOON.V N

* Lời vào bài:

Nazim – Hikmet (1902- 1963)- nhà thơ, nhà hoạt động chính trị Thổ Nhĩ Kỳ từng có lời tha thiết: “Con hãy nghe nỗi buồn của rừng cây héo khô, của hành tinh lạnh ngắt, của chim muông què quặt…nhưng trước nhất, xin con hãy nghe tiếng kêu thống thiết của nỗi đau con người”

Vâng, từ bao giờ đến bây giờ, tiếng kêu con người bao giờ cũng khiến lòng ta đau đớn Điều đó lại càng đúng với những nghệ sĩ chân chính, những nhà nhân đạo chủ nghĩa từ trong cốt tủy như Nam Cao

Ở lớp 8, các em đã cảm nhận nỗi buồn cắn xé từng trang trong nỗi đau của Lão Hạc khi con người đáng kính ấy thà chịu chết để cố giữ bằng được mảnh vườn cho con, giữ tròn nhân cách Cùng viết về đề tài người nông dân, nhưng giờ học này, chúng ta sẽ chứng kiến một nỗi đau khác, day dứt, dữ dội hơn trong nỗi đau của một thân phận sinh ra là người nhưng không được làm người qua truyện ngắn Chí Phèo

* Giới thiệu cấu trúc bài học:

Tiết 1: Tác giả, tác phẩm, tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: quãng đời lương thiện) Tiết 2: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: bi kịch bị từ chối quyền làm người)

Tiết 3: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật thị Nở, Bá Kiến- giá trị của tác phẩm

I - Tìm hiểu chung

1 Tác giả: (1915-1951)

- Nhà văn hiện thực xuất sắc của nền VHVN hiện đại

- Tác phẩm xoay quanh hai đề tài chính: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám

- Nhưng dù viết về đề tài nào, Nam Cao vẫn trăn trở, day dứt đến đau đớn trước vấn đề nhân phẩm, đạo đức của con người bị xói mòn, thậm chí bị hủy hoại cả về nhân hình lẫn nhân tính Điều đó được

thể hiện tập trung và xuất sắc trong tác phẩm Chí Phèo

- Đặt tên truyện là Cái lò gạch cũ :

+ sự luẩn quẩn bế tắc của những người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám, gắn với hình

ảnh Chí Phèo ở đầu truyện , cuối truyện Cái lò gạch cũ như là biểu tượng tất yếu của hiện tượng

Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm

+ Mặt khác, hình ảnh cái lò gạch cũ còn đổ bóng xuống không gian và thời gian của tác phẩm, hằn

in trên số phận các nhân vật, định vị trong ta mảnh đất chật hẹp khép kín của làng Vũ Đại ngày xưa Không gian tù túng, chật hẹp, bức bối; sự hoang vắng, trống trải, ảm đạm, u buồn Nếu một lần đặt

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 1)

Trang 3

MOON.V N

những ngụi nhà nằm rải rác, đõy đó lách cách tiờ́ng thoi đưa người cần cù dợ̀t vải, ta võ̃n cảm nhọ̃n khụng khớ Nam Cao đã miờu tả trong truyợ̀n ngắn Chớ Phèo Dù cảnh vọ̃t và con người đã khác xưa

nhiờ̀u lắm

- Nhan đờ̀ Đụi lứa xứng đụi :

+ Hướng sự chú ý vào Chớ Phèo và Thị Nở, một con “quỷ dữ của làng Vũ Đại” mặt mũi bị vằm

ngang dọc và một mụ đàn bà xṍu “ma chờ quỷ hờn” Cách đặt tờn Đụi lứa xứng đụi là một cách gõy

sự tò mò, kớch thớch thị hiờ́u tầm thường của một lớp cụng chúng bạn đọc

+ Tác phẩm khụng tọ̃p trung vào chuyợ̀n ái tỡnh, nhưng với độc giả, cái tờn ṍy ớt nhiờ̀u võ̃n gợi sự xa xót : họ là đụi lứa nhưng chẳng được xứng đụi Cái khát vọng nhỏ nhoi được có một gia đỡnh với người vợ xṍu ma chờ quỷ hờn như thị Nở, với Chớ Phèo võ̃n ngoài tầm tay với Như vọ̃y, xét vờ̀ một phương diợ̀n nào đó, cái tờn đó khụng phải khụng có ý nghĩa

- Dùng tờn nhõn vọ̃t chớnh Chí Phèo làm tờn truyợ̀n, đó khụng phải là điờ̀u mới mẻ Nhưng sức sụ́ng

tự thõn của nhõn vọ̃t khiờ́n ta có cảm giác dứt khoát cái tờn ṍy phải là của nhà văn ṍy, tác phẩm ṍy, khụng thờ̉ khác Chúng sinh ra là phải thuộc vờ̀ nhau, giả sử Nam Cao có đặt lại tờn nhõn vọ̃t một lần

nữa, bạn đọc võ̃n cứ gọi tác phẩm là Chớ Phèo, như nhõn dõn võ̃n gọi Đoạn trường tõn thanh của Nguyờ̃n Du là truyện Kiều Nói như vọ̃y đờ̉ thṍy rằng :

+ Chớ Phốo là nhõn vọ̃t trung tõm, là nơi hội tụ sức sụ́ng và linh hụ̀n của tác phẩm, là nhõn vọ̃t làm

nờn sức mạnh tư tưởng và nghợ̀ thuọ̃t của văn- nhõn vọ̃t độc đáo, có một khụng hai trong lịch sử văn học Viợ̀t Nam Toàn bộ ý nghĩa của nội dung truyợ̀n ngắn hầu như toát ra từ hỡnh tượng nhõn vọ̃t này ; Chớ Phèo “là kờ́t tinh những thành cụng của Nam Cao trong đờ̀ tài nụng dõn”

+ Một cái tờn giản dị, bỡnh thường, dờ̃ nhớ và đã trở nờn đáng nhớ nhṍt của văn học hiợ̀n thực phờ phán Viợ̀t Nam 1930-1945

2.3 Đề tài

- Tác phẩm viết về đề tài ng-ời nông dân tr-ớc Cách mạng tháng Tám nh-ng có sự khám phá

hết sức mới mẻ Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố quá đau đớn khi phải bán con, bán sữa, bán

chó của mình trong mùa s-u thuế nh-ng Chí Phèo đi đến tột cùng của nỗi đau vì phải bán dần nhân phẩm, linh hồn của mình cho Bá Kiến mà bán rất rẻ, mỗi lần chỉ lấy một vài đồng uống r-ợu Vì thế,

khi tiểu thuyết “B-ớc đ-ờng cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời năm 1938, “Tắt đèn” của Ngô Tất

Tố ra đời năm 1939, ng-ời ta nghĩ rằng khó có thể nói gì thêm về nỗi đau thân phận ng-ời nông dân

Vậy mà năm 1941, “Chí Phèo” ngọ̃t ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao, người ta mới nhọ̃n

ra “đây mới là hình ảnh thê thảm nhất của kiếp sống ng-ời dân cày trong xã hội thực dân phong kiến”

(GS Nguyễn Đăng Mạnh) Như vọ̃y, vṍn đờ̀ của Chớ Phèo khụng phải bi kịch cơm áo gạo tiờ̀n, mà là

bi kịch bị xói mòn vờ̀ nhõn phõ̉m Đó là cạnh sắc khỏc trong tác phẩm của Nam Cao khiờ́n ụng

vượt hơn hẳn những tác phẩm viờ́t vờ̀ nụng dõn và nụng thụn cùng thời

- Chớ Phèo trước hờ́t là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn Viợ̀t Nam trước Cách mạng tháng Tám, nhưng nó khụng chỉ là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn, đó còn là vṍn đờ̀ con người, là bi kịch của con người

bị từ chụ́i quyờ̀n làm người, vṍn đờ̀ có tính triết học và mang ý nghĩa khái quát xã hụ̣i Chớ Phèo

vừa tiờu biờ̉u cho sụ́ phọ̃n cùng cực của người nụng dõn bị đè nén, bóc lột, vừa tiờu biờ̉u cho sự tha hóa phổ biờ́n trong xã hội tàn phá tõm hụ̀n con người, đó là sự phờ phán mãnh liợ̀t, sõu sắc ớt có ở ngòi bút Nam Cao

2.4 Chủ đề tỏc phẩm

Qua tác phẩm Chớ Phèo, Nam Cao

+ tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dõn nửa phong kiờ́n tàn bạo đã cướp đi của người dõn lương thiợ̀n cả

nhõn hỡnh lõ̃n nhõn tớnh

+ Đụ̀ng thời nhà văn cũng trõn trọng phát hiợ̀n và khẳng định bản chṍt tụ́t đẹp của những con

người này ngay khi tưởng chừng họ đã bị biờ́n thành quỷ dữ

Trang 4

MOON.V N

II Đọc hiểu văn bản

1 Tóm tắt cốt truyện

- Xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính ;

+ Chí Phèo sinh ra trong thân phận một đứa trẻ bị bỏ rơi- Bất hạnh nhưng lớn lên, vẫn trở thành anh

canh điền khỏe m ạnh, hiền lành, có lòng tự trọng Khi ấy, anh khoảng 20 tuổi, làm thuê cho nhà lí

Kiến- Đoạn đời 1 : Bất hạnh nhưng lương thiện- Sự vận động tính cách Chí Phèo khá thuần nhất

+ Chỉ vì ghen tuông vô cớ, bị đẩy vào tù Sau 7,8 năm, ra tù, trở thành lưu manh, quỷ dữ, làm tay sai cho Bá Kiến- Đoạn đời 2 : Bi kịch bị tha hóa- tính cách lưỡng hóa, phức tạp

+ Gặp thị Nở, muốn được trở lại làm người Bị bà cô thị Nở + định kiến xã hội ngăn cản, tuyệt vọng, CP đã tìm đến cái chết đau đớn trong tiếng kêu bàng hoàng nhân thế- Đoạn đời 3 : Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

(Sơ đồ hóa bằng bốn hình tượng không gian : Đoạn đời 1: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Lương thiện Đoạn đời 2 : Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều làng Vũ Đại : Quỷ dữ Đoạn đời 3 : Túp lều- Cái lò gạch : bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người)

2 Cấu trúc thời gian, không gian và kết cấu của truyện

- Thời gian : Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi Buổi chiều đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái

bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ

vào nhà Tự Lãng Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị

Nở Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ Và năm ngày tiếp theo, quãng

thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự Câu chuyện về

Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự vẫn Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết (sang ngày thứ 7) Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề

ngay sau đó

- Không gian: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều- Cái lò gạch- những không gian nghệ

thuật giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại những giá trị thẩm mĩ cao

- Cấu trúc dồn nén sự kiện, vừa có những biến hóa bất ngờ, độc đáo Toàn tác phẩm là một sức

căng Vừa diễn đạt tính quyết liệt của mâu thuẫn xã hội, vừa làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo sức

hấp dẫn cho người tiếp nhận

3 Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo

Bước 1 : Khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí của nhân vật (Đây là nhân vật trung tâm, hội tụ những giá trị đặc sắc của tác phẩm)

Bước 2 : Sơ lược về cốt truyện và cuộc đời nhân vật (các em nói như phần tóm tắt)

Có thể chia cuộc đời Chí Phèo làm ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất: từ lúc Chí ra đời tới lúc bị đẩy

vào tù: Quãng đời lương thiện Giai đoạn hai: từ khi Chí Phèo ra tù tới khi gặp thị Nở : Bi kịch tha

hóa Giai đoạn ba: từ khi gặp thị Nở đến khi bị thị Nở khước từ tình yêu: Bi kịch bị từ chối quyền làm người

Bước 3: Phân tích hình tượng nhân vật

a Sự xuất hiện của nhân vật :

Trang 5

MOON.V N

- Một trong những nét đặc sắc của Nam Cao là vào truyện rất nhanh, bỏ qua bằng hết những chi tiết

thừa Chưa kịp bước chân vào làng Vũ Đại, ta đã gặp hắn, chưa kịp biết hắn là ai, diện mạo, lai lịch

thế nào, ta đã phải nghe một tràng chửi tới tấp Thế là, giữa buổi trưa hè nắng gắt trên con đường làng Vũ Đại vắng ngơ vắng ngắt, Chí Phèo đột ngột xuất hiện với bước chân ngật ngưỡng và những

tiếng lè bè của một kẻ say, một loạt đối thoại chỉ có một phía: Hắn vừa đi vừa chửi

- Đó là sự xuất hiện tự nhiên (như là nhìn thấy hắn đi, nghe thấy hắn chửi, rút gần khoảng cách với nhân vật); hấp dẫn, độc đáo (Có đối tượng nhưng đối tượng luân chuyển, không hướng về ai Thông thường không ai thích nghe người ta chửi lại, nhưng ở đây ngược lại, hắn rất thèm nghe chửi Chửi

mà không hả dạ, ngược lại, càng chửi càng tức tối) LẠ ! => thu hút sự chú ý của người đọc, tạo nên sức căng cho tác phẩm, cuốn ta vào không khí âm ỉ, quyết liệt của hận thù đòi được trả thù, báo hiệu cuộc đời đầy giông bão của nhân vật Hãy nghe cụ thể xem Chí Phèo chửi ai ? Chửi cái gì ? Vì sao lại thế ?

Đối tượng của tiếng chửi Dân làng Chí Phèo

Trời Có hề gì ? Trời có của riêng nhà

nào ? Đời Cũng chẳng sao ! Đời là tất cả

nhưng chẳng là ai Tất cả làng Vũ Đại Không ai lên tiếng (chắc nó trừ

mình ra)

Tức thật ! Ờ ! Thế này thì tức thật ! Tức đến chết được mất ! Đã thế, hắn chửi cha đứa nào

không chửi nhau với hắn

Không ai ra điều Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu

không ? Thế thì có khổ hắn không ?

Đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn

(Trong câu nói đã có ngấn

nước mắt rồi !)

Hắn không biết Cả làng Vũ Đại cũng không ai biết

A ha ! Phải đấy hắn cứ nghiến

răng vào mà chửi

THU HẸP DẦN

Nhu cầu thèm được giao

tiếp

ĐÔNG ĐẢO- IM LẶNG

(Tiếng chửi rơi tõm vào khoảng không, Chí xa lạ với chính mình, lạc lõng với đồng loại)

ỒN ÀO, SÔI SỤC- CÔ ĐƠN Ngày càng vật vã, đau đớn

khủng khiếp

- Đoạn văn không một trạng ngữ chỉ thời gian, như những tháng năm triền miên trong cơn say của Chí là dài vô tận ; không một trạng ngữ chỉ không gian, như con đường say mà Chí đang đi thăm thẳm vô cùng Cuộc đời như bóng đen khủng khiếp mà càng khao khát sẻ chia càng nhận về hoang

mạc Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng : tiếng chửi của Chí Phèo là tiếng hát lộn ngược của tâm

hồn méo mó Có phải vậy chăng mà trong im lặng, ta nghe âm vang tiếng lòng đang quằn quại của

một nhân cách đòi được sống làm người ? Ta lắng nghe khát khao giao cảm trong tiếng chửi Chí Phèo, ta lặng người trước khoảng không đáng sợ của sự hững hờ vô cảm ?

- Tại sao hắn phải chửi vung lên như thế ? Tại rượu ? Đúng ! Từng tiếng chửi như phả ra nồng nặc men rượu Câu chữ, giọng điệu Nam Cao cũng như ngất ngưởng chuệnh choạng, con đường làng (hẳn thế !) cũng ngả nghiêng theo bước chân ngật ngưỡng Vừa đi vừa chửi, rõ là hắn đã say mèm!

- Nhưng nếu để ý, không khó để nhận thấy, đối tượng của tiếng chửi ngày càng thu hẹp dần và trở

nên tấy buốt : dám chửi Trời : đấng linh thiêng, tối cao của muôn loài : thật là phạm thượng ! Không biết kiêng nể một ai- Kế đó là Đời : to tát nhưng vu vơ ; Làng : không gian sinh tồn, cộng đồng làng xã là đất sống, nếu phải bỏ làng mà đi, bị làng chối bỏ là chết Đứa nào không chửi nhau với hắn-

Trang 6

MOON.V N

tột cùng của sự tha hóa Chụ́i bỏ nguụ̀n gụ́c, giụ́ng nòi Một sự miờu tả như vọ̃y, hẳn khụng phải là vụ tỡnh

- Qua tiờ́ng chửi, hiợ̀n lờn hai tầng chõn dung nhõn vọ̃t :

+ Kẻ lưu manh cụn đụ̀, cứ rượu vào là chửi

+ Nạn nhõn đau khổ cùng cực, ra sức quõ̃y cựa, như con cá mắc cạn, càng quõ̃y càng đau Có lẽ chưa bao giờ người ta được chứng kiờ́n nụ̃i khát thèm hơi ṍm của cộng đụ̀ng đau đớn như thờ́ : thèm được nghe người ta chửi nhau với mỡnh đờ̉ còn được thṍy mỡnh cũng được là người bỡnh thường như họ !

- Với ngụn ngữ đa thanh đa giọng, vừa trần thuọ̃t, vừa bỡnh luọ̃n, người trần thuọ̃t và nhõn vọ̃t đa giọng, song thanh, ta thṍy nụ̃i trăn trở và hơi thở nóng hực của nhà văn, xót thương cho kiờ́p người đau khổ, sinh ra nhưng khụng được là người

- Tiờ́ng chửi mở đầu và kờ́t thúc cõu chuyợ̀n (hiờ̉u theo cả nghĩa bóng), lặp đi lặp lại nhiờ̀u lần trong tác phẩm, tạo nờn kờ́t cṍu liờn hoàn, làm tăng tớnh kịch cho cõu chuyợ̀n Cả cuộc đời Chớ Phèo sẽ nằm trọn trong những tiờ́ng chửi ṍy Như vọ̃y, ngay từ đầu, với tiờ́ng chửi này, ta đã nhọ̃n ra vṍn đờ̀ trung tõm của tác phẩm : bi kịch bị từ chụ́i quyờ̀n làm người Nhưng làm sao đờ́n nụng nụ̃i ṍy ? Nam Cao đã khụng vội vàng Từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, Nam Cao sẽ dõ̃n ta ngược dòng thời gian, truy

tỡm nguyờn nhõn, nguụ̀n cội đờ̉ trả lời cõu hỏi: ai đã đẻ ra Chí Phèo !

b Lai lịch cuụ̣c đời- quãng đời bṍt hạnh nhưng lương thiợ̀n

- Lai lịch : Con sụ́ Khụng- Khụng gia đỡnh, khụng ai làm giṍy khai sinh cho Chớ

Sau dòng đời sụi sục, ngả nghiờng, giọng văn trở nờn trầm lắng, xa xụi trong hụ̀i ức Tác giả đưa ta vờ̀ với một buổi sáng tinh sương, người ta nhặt được đứa trẻ trần truụ̀ng, xám ngắt trong một cái váy đụp đờ̉ bờn một cái lò gạch bỏ khụng Như vọ̃y, khổ hơn cả phọ̃n mụ̀ cụi, ngay từ thuở lọt lòng, Chớ đã khụng biờ́t đõu là nguụ̀n cội, chưa bao giờ biờ́t đờ́n bàn tay chăm sóc của mẹ cha, thiờ́u hẳn tỡnh ṍp ủ yờu thương của những người thõn, khụng biờ́t ai là ruột thịt Trở thành vọ̃t trao tay hờ́t người này

đờ́n người khác : anh thả ụ́ng lươn rước lấy, người đàn bà góa mù đem về nuụi, bán cho bác phó cụ́i

khụng con, rụ̀i bác phó cụ́i qua đời, Chớ lại trở vờ̀ khụng nơi nương tựa

- Số phọ̃n, tính cách : Đau đớn tủi nhục như thờ́ nhưng Chớ võ̃n lăn lóc sụ́ng như một mầm cõy

mạnh mẽ Dù tuổi thơ bơ vơ đi ở cho hờ́t nhà này đờ́n nhà khác, khụng một ai thõn thớch họ hàng, khụng một mái nhà che thõn, nhưng những người như Chớ hỡnh như cũng tuyợ̀t nhiờn khụng biờ́t đờ́n tủi cực oán hờn, khụng kờu than cho sụ́ phọ̃n Từ trong lṍm láp, lầm lũi, Chớ võ̃n cứ lớn lờn, trở thành anh canh điờ̀n khỏe mạnh, mang bản tớnh tụ́t đẹp của những người dõn lương thiợ̀n: thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn, khụng nhờ vả cướp giọ̃t

của ai “hiờ̀n như đṍt” là bản tớnh đã được chớnh Bá Kiến, Nam Cao, sau này là thị Nở xác nhọ̃n, hiờ̀n đờ́n mức nhỳt nhỏt, đáng thương, nhưng đằng sau vẻ nhát sợ và nhịn nhục cụ́ hữu của những người yờ́u thờ́, ta thṍy ở trong con người ṍy có hạt nhõn cụ́t lõi của lòng tự trọng Vỡ tự trọng nờn

anh nụng dõn hai mươi tuổi này chỉ thṍy nhục khi bị bà ba bóc lột Còn biờ́t nhục, chứng tỏ Chí có

nhân phẩm của một con ng-ời biết phân biệt giữa cao th-ợng- thấp hèn; biờ́t đõu là tỡnh yờu chõn chớnh và đõu là những cái xấu xa cần khinh bỉ Không có tầm hiểu biết cao rộng nh-ng Chí có nhân cách “20 tuổi, ng-ời ta không là gỗ đá nh-ng cũng không hoàn toàn là xác thịt” Còn lí trí, Chớ không

chấp nhận cuộc sống bản năng, thú vật Đõy là điểm sáng lṍp lánh của nhõn cách Chớ Phèo trong thử thách đầu tiờn của hoàn cảnh

- Những phõ̉m chṍt tốt đẹp của Chí :

+ Chớ thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn + Bản tớnh rṍt hiờ̀n lành, có phần nhút nhát

+ Có lòng tự trọng

Trang 7

MOON.V N

+ Có ước muốn giản dị về một cuộc sống gia đình- “có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn, cày thuê Vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm

ba sào ruộng làm”

- Giai đoạn thứ nhất- Đoạn đời lương thiện lướt qua cuộc đời Chí Phèo như cơn gió thoảng, lướt

qua bằng mấy câu ở đầu tác phẩm, đến giữa truyện mới có một số chi tiết như là ngẫu nhiên kể tạt

ngang, tất cả chỉ gói gọn trong không quá mươi dòng Còn lại phải chăng chỉ là những năm tháng tù

tội, những lần rạch mặt ăn vạ và sự khinh miệt của người đời ? Không ! Hai chữ lương thiện hiện ra

không chỉ trong một đoạn đời, nó vừa là Khát vọng, cũng là Bi kịch, là vấn đề cốt lõi trở đi trở lại trong suốt mấy chục trang văn, làm nên hạt nhân cơ bản của cả tác phẩm

- Như vậy, quãng đời lương thiện đúng nghĩa của Chí chỉ nằm trong 20 năm đầu cuộc đời- tuổi ấu

thơ và thời trai trẻ- nhưng lại được kể quá ngắn ngủi, chưa đầy 01 trang trong tổng số 25 trang truyện với 14 ngàn chữ Ngắn vì nó nhanh chóng bị cướp mất, ngắn vì nó bị tầng tầng lớp lớp những tủi nhục và định kiến đè lên Nhưng ngắn ngủi mà không mờ nhạt, cái gì làm cho người ta đau khổ

người ta thường nhớ về nó rất lâu Sau này, khi gặp thị Nở, sự lương thiện lại hiện hữu trong âm

thanh cuộc sống đời thường với tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, là xã hội bằng phẳng thân thiện mà Chí mơ ước được làm hòa, là thị Nở và hơi cháo hành; là những giây phút được

khóc cười và hạnh phúc bên thị Nở Nó là quá khứ để anh Chí nhớ về, là ảo ảnh để anh mơ mộng, là sợi dây hiện thực đã níu Chí ở lại được với cõi người Từ trong hố sâu tuyệt vọng, Chí đã cố sức bám lấy và leo lên, nhưng gần đến nơi, anh lại bị định kiến xã hội đẩy xuống sâu hơn Khao khát được quay trở về quãng đời lương thiện cuối cùng chỉ là giấc mơ khởi đầu bằng nước mắt (hắn thấy mắt hình như ươn ướt) và khép lại cũng bằng nước mắt (hắn ôm mặt khóc rưng rức)

- Tác phẩm kết thúc trong một dấu chấm hết bằng máu, khi Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu

là máu tươi, miệng còn ngáp ngáp như muốn nói điều gì? Chí muốn nói điều gì với chúng ta? Những điều mà Chí muốn nói với dân làng, với cái xã hội của những người lương thiện không bao giờ còn

được nói ra nữa Chí Phèo đã dám chết để không phải tiếp tục phạm tội nhưng lại không thể làm một thành viên của xã hội lương thiện Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh khi sự lương thiện của Chí lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn

Để được làm người lương thiện thực sự sao mà khó khăn? Bao năm rồi, câu hỏi ấy vẫn có giá trị thức tỉnh lương tâm con người mỗi khi bị đặt trong những hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ gìn nhân cách Nam Cao lớn vì thế, người vẫn đàng hoàng sống giữa cõi bất diệt của đời sống nhân sinh bởi đã gợi nên được những vấn đề lớn lao và tầm vóc

* Kết thúc giờ học: Trong cuốn “Chí Phèo mất tích”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đề dòng chữ:

“Kính tặng hương hồn nhà văn Nam Cao”, dưới đó có bốn câu thơ:

"Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống

Nào có dài chi một kiếp người Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai"

Gần một thế kỉ đã trôi qua, vượt qua gió bụi thời gian, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm đã chứng minh sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo Thậm chí, chỉ cần với hình tượng nhân vật này, Nam Cao có thể đàng hoàng đi vào cõi bất diệt Mỗi thời đại, với mỗi góc nhìn, ta lại phát hiện

ra những giá trị và vẻ đẹp khác nhau của tác phẩm

Trang 8

MOON.V N

1 Hình tượng nhân vật Chí Phèo

a Sự xuất hiện của nhân vật

b Quãng đời lương thiện- Trước khi đi tù

c Quãng đời của con quỷ dữ- Khi ở tù về- Bi kịch tha hóa

- Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù: là cái nút thắt đầu tiên cho cốt truyện, điểm khởi đầu cho sự thay

đổi tính cách Chí Phèo Lần này, sự thử thách của hoàn cảnh dữ dội khốc liệt quá, người thân cô thế

cô như Chí không đủ bản lĩnh và dũng khí để đối chọi lại được với cái Ác, không thể lựa chọn cách sống để giữ được hai chữ “thiên lương”

- Ra tù, Chí Phèo đă trở thành con người khác hẳn

+ Thể xác: dữ dằn, “trông gớm chết” : “Cái đầu thỡ trọc lốc, cỏi răng cạo trắng hớn…hai mắt gườm

gườm […] Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ” Xã hội nhà tù đã cào xé nhân hình của Chí,

nhuộm đen nhân tính của Chí

+ Tâm hồn: chai lì tê dại, khụng còn cảm giác “nhục” Triền miên trong cơn say rượu; sống bất cần,

khụng mơ ước, khụng nghĩ suy (khụng biết mình là ai, bao nhiêu tuổi, quá khứ của mình ra sao

+ Hành động: Phá phách cuụ ̣c sống yên vui của dân làng, đâm thuê chém mướn…Để tồn tại, Chí

phải gây ra cảnh đổ máu, phải hung ác, lưu manh, phải gây gổ, cướp giật, phải rạch mặt ăn vạ Muốn vậy phải gan, phải mạnh; muốn gan, muốn mạnh Chí phải tìm ở rượu làm bất cứ những gì người ta sai làm, tác oai tác quái cho dân làng Càng ngày Chí càng trở nên xa lạ với người dân làng Vũ Đại

Cả làng ai cũng tránh Chí mỗi lần hắn qua Qua đoạn đầu ta đă thấy, không ai thèm chửi nhau với hắn Nhưng trong tiếng chửi, võ̃n thấy niềm khát khao giao tiếp, hoà nhập với cộng đồng, sự vật vã

bế tắc của con ngưòi bị loài người xua đuổi Nhưng có phải ngay từ đầu, Chí Phèo đă trở nên dữ tợn

và hung ác với những thú tính học được từ phương xa như vậy không? Tất cả mọi điều diễn ra có vẻ chóng vánh, bất ngờ, đầy kịch tính, nhưng vẫn ngầm chứa cái logic hiện thực của nó Từ một Chí Phèo mới ra tù đến khi hoàn toàn bị tha hóa, quá tŕnh ấy diễn ra trong ngót chục năm Ng ̣i bút miêu

tả tâm lí bậc thầy của Nam Cao đă cho ta thấy cả một quá tŕnh:

- Quá tŕnh tha hóa: Gắn với những lần đến nhà Bá Kiến- những mốc quan trọng trong cuộc đời

Chí

+ Lần 1:

Hoàn cảnh: Sau khi ra tù

Mục đích: “trả thù”. Chí đã đến nhà Bá Kiến lần này vì lòng hờn căm, sự phẫn nộ cao độ kẻ huỷ hoại cuộc sống và tước đoạt nhân phẩm của mình Đây là một mối thù sâu sắc, một mất một còn

Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi Nhưng tao mà chết thì có đứa sạt nghiệp Mà có thể còn rũ tù nữa cũng chưa biết chừng"! Qua cõu nói đau khổ và dữ dội này, ta thấy, dù có bị tước đoạt

quyền sống và nhân phẩm nhưng Chí võ̃n đau đáu khát vọng được quay trở lại làm người, giải bài toán công bằng theo cách của Chí Bởi vậy Chí mới đòi một cách quyết liệt như thế Nhưng sự hung hãn của Chí đã không thể nào thắng nổi cái thâm hiểm, gian hùng của Bá Kiến Đây là một cuộc đối chọi không cân sức giữa một bên là Chí Phèo đơn thương độc mã hành động manh động chỉ bằng ngọn lửa hận thù với một bên là Bá Kiến già đời đục khoét Y là kẻ “khôn róc đời”, áp bức, bóc lột có

lí luận, có phương sách, và y đã dùng hình thức ngọt ngào để xoa dịu ngọn lửa hận thù trong lòng người nông dân cùng đinh ấy

Kết quả: Chí mắc mưu Bá Kiến, trở về trong tư thế vô cùng hả hê Sau hỏa mù của thắng lợi, Chí

càng lao vào trạng thái mất cân bằng, tiếp tục trượt sâu vào cái ác Chí càng uụ́ng rượu, càng phá phách Nhưng đằng sau đ ̣i hỏi của miếng ăn vẫn là một Chí Phèo đang quẫy cựa với khát vọng lớn hơn

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 2)

Trang 9

MOON.V N

- Hoàn cảnh: hết tiền

- Động cơ, lí do: đòi nhà cửa và ruộng đất- dưới hình thức xin đi ở tù

"Bây giờ về làng về nước một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn Bẩm cụ, cụ lại bắt con đi

ở tù Nếu không được thì thì Con sẽ đâm chết dăm ba thằng rồi cụ bắt con giải huyện" Lão Bá

đọc vị ngay ra cái ngầm ý của Chí Lão chặn luôn, rồi chuyển sát khí của Chí Phèo ngay sang đối thủ

khác, với mặc cả :"Anh này bứa lắm, nhưng muốn giết người cũng không khó gì Đội Tảo còn nợ tôi

năm mươi đồng Nếu đòi được tự khắc sẽ có nhà" Thật tuyệt xảo: chỉ bằng bữa cơm rượu và vài lời

nói ngọt, lão Bá tức khắc biến kẻ đến chực hành hung mình thành tay sai của mình !!! Rõ ràng, đòi đi

ở tù chỉ là kiếm chuyện, uy hiếp lão Bá, bắt phải nhả nhà đất Lí do nói ra nghe có vẻ vô lí: ở tù

sướng Hoá ra, cái làng Vũ Đại dưới quyền cai quản của cha con Bá Kiến còn ngột ngạt hơn cả một nhà tù khi nó đẩy con người trong tình cảnh sống trên bờ vực giữa tồn tại và không tồn tại,

mong manh giữa sự sống và cái chết

- Kờ́t quả: Chí Phèo đã đến nhà đụ̣i Tảo và đòi đựơc nợ cho Bá Kiến, việc làm này khiến Chí

vênh vang ra về trong lòng tự đắc “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta…” Sự thâm hiểm, tàn

bạo của Bá Kiến vừa dập tắt mầm thiện vừa khơi lên mầm ác trong Chí Phèo, lợi dụng những khát khao về quyền làm người để đẩy Chí Phèo vào con đường làm tay chân cho hắn Chí thực sự rơi

xuống vực thẳm, trở thành công cụ làm giàu trong tay Bá Kiến

- Từ đây, Chí sống tăm tối như thú vật, xa lạ với mọi người, với xó hội loài người Từ chỗ hung hăng xách vỏ chai đến nhà bá Kiến, Chí Phèo đó nhanh chúng trở thành anh đầy tớ chõn tay mới, kẻ

mự quỏng gõy tai hoạ cho những nông dân lương thiện, “bao nhiờu việc ức hiếp, phá phách,

đâm chém, mưu hại người ta giao cho hắn làm”, “hắn đó phỏ bao nhiờu cơ nghiệp, đập nát bao

nhiờu cảnh yờn vui, đạp đổ bao nhiờu hạnh phỳc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiờu người

lương thiện” (Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đó khụng cũn được

cuộc sống của một người b́nh thường Những năng lực vốn có của một con người - năng lực cảm xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ cũn lại năng lực đâm chém, phá phách Năm lần tác

giả dùng từ “bao nhiờu”: nỗi đau thống thiết của Nam Cao khi nh́n thấy đứa con tinh thần của ḿnh

ngày một biến dạng đi Không thể kể xiết những việc đâm chém phá phách của Chí, chính Chí cũng

không ư thức được hết việc làm của ḿnh- mức độ của sự việc: phá- đập nát- đạp đổ- làm chảy máu

và nước mắt được miêu tả theo chiều tăng tiến Cái Ác đă chiếm lĩnh từ h́nh hài đến tâm tính- đó

là đỉnh cao của bi kịch phá sản lương tâm- “Văn Nam Cao quằn quại như ai đă cướp mất Chí

Phèo từ trong trái tim rướm máu của ông Từng câu từng chữ như thấm nước mắt đau đời Trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam, thật không nhiều những trang dữ dội như thế, xúc động đến như thế!” (Nguyễn Quang Trung- Tập san phổ thông trung học- Khoa học Xă hội, số 1, 1988)

Rồi cuộc đời Chí sẽ đi đến đâu? Ng ̣i bút Nam Cao tưởng đă đến chỗ sơn cùng thủy tận th́ một bước ngoặt mới đă mở ra trong cuộc đời Chí Phèo

d Cuộc gặp gỡ Chí Phèo- thị Nở: Khát vọng hoàn lương

Khát vọng hoàn lương gắn với giai đoạn thứ ba của cuộc đời Chí, thể hiện tập trung qua mối tỡnh

giữa nhõn vật này và thị Nở Cuộc gặp gỡ với thị Nở là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Chí

Trang 10

MOON.V N

+ Sáng hôm sau: tỉnh dậy sau một đêm, sau một cơn say dài Tỉnh rượu: cảm nhận về không gian

(căn lều), về cuộc sống xung quanh (những âm thanh hằng ngày của cuộc sống); tỡnh trạng thờ thảm (già nua, cụ độc, trắng tay) (Buổi sáng hôm sau chính là điểm khởi đầu của một giai đoạn mới- giai đoạn làm người Biểu hiện đầu tiên của tính người trong Chí, đấy là nỗi buồn và cảm giác cô độc)-

Tỉnh ngộ, cảm động trước tỡnh người, khi được nhận sự chăm sóc giản dị ân cần mộc mạc của thị

Nở

+ Bát cháo hành- chi tiết nghệ thuật đặc sắc- Mắt ươn ướt- ăn năn, vui, buồn- những dấu hiệu của

nhân tính bị vùi lấp đang trở về

+ Thèm lương thiện Đặt hi vọng lớn vào thị Nở Hỡnh dung về tương lai sống cùng thị Nở Ngỏ lời

với thị Nở Khát khao lương thiện và hi vọng là biểu hiện mạnh mẽ của nhân tính trong chí Phèo

- Tình người của Thị Nở như một liều thuốc hồi sinh làm sống dậy phần người của Chí Đoạn văn

viết về sự thức tỉnh của linh hồn Chí Phèo sau lần gặp gỡ với Thị Nở là một đoạn tuyệt bút đầy chất thơ Dường như chính chất người ở nhân vật đã làm nên chất thơ ở ngòi bút Người đàn bà xấu ma

chê quỷ hờn đã thắp lên ngọn lửa tình yêu trong một trái tim tưởng chừng đã băng giá, đã đem ánh sáng đến cho một trái tim tưởng chừng đã u tối trong những cơn say triền miên

- Ý nghĩa:

+ Qua khát vọng hoàn lương của Chí, phải chăng Nam Cao muốn nói với chúng ta rằng, lương thiện

vốn là bản tính tốt đẹp và khá bền vững của người nông dân Xó hội tàn ỏc dõ̃u có ra sức huỷ diệt

bản tính ấy nhưng nó vẫn âm thầm sống trong đáy sâu tâm hồn họ Ngay cả khi bị coi là quỷ dữ, ta vẫn thấy một Chí Phèo vật vã bế tắc khi bị loài người xua đuổi; khát khao giao tiếp, hoà nhập với cộng đồng; một tâm hồn đau khổ, tuyệt vọng, nỗ lực vùng lên để đ ̣i lại quyền sống, nghĩa là vẫn c ̣n

có tính người

+ Tình yêu có thể có sức mạnh mở đường sống và hạnh phúc Tỡnh người có sức mạnh hơn bất cứ thứ bạo lực nhà tù nào Để nhào nặn nên con quỷ dữ Chí Phèo, nhà tù thực dân phải mất bảy, tám năm trời nhưng để biến Chí thành một con người Thị Nở chỉ cần có vài ngày ngắn ngủi

+ Trên hành tŕnh trở về của Chí, luôn có bóng người bạn tri kỉ đồng hành Nam Cao trong biết bao giờ phút cảm động, trân trọng phát hiện, nâng đỡ phần nhân tính c ̣n ch́m khuất- sứ mệnh nhân đạo

cao cả của nhà văn, làm cho người gần người hơn

- Chuyển ư: Nhưng Nam Cao đồng thời cũng chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, thứ hạnh phúc muộn

mằn gọi được lương tri Chí trở về lại càng nhanh chóng đẩy bi kịch Chí Phèo đến hồi chót Thị Nở giúp Chí Phèo phát hiện lại chính ḿnh nhưng thị Nở cũng là nỗi đau sâu thẳm của Chí Lúc Chí Phèo

thiết tha trở về nhất cũng là khi anh ư thức không thể trở về Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người thực

sự đă xảy ra khi Chí Phèo có ư thức

e Đỉnh cao của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

- Quá tŕnh bị từ chối quyền làm người thực ra đă bắt đầu từ lâu, nó diễn ra đồng thời với quá tŕnh bị

tha hóa Nhưng kể từ sau khi gặp thị Nở, tức là từ khi Chí Phèo thức tỉnh, bi kịch mới thực sự lên đến đỉnh điểm

- Khởi nguồn: sự từ chối của thị Nở Cuộc gặp gỡ với Thị Nở chỉ như một vệt sao băng loé lên

trong cuộc đời dằng dặc, tối tăm, để rồi nhanh chóng tan biến Mối tình vừa mới chớm hé đã tàn phai, hạnh phúc tưởng chừng nằm trong tầm tay vậy mà mãi mãi không thể nào với tới được, nó đă vĩnh viễn qua đi không bao giờ quay trở lại Cánh cửa cuộc đời vừa mới hé mở ra thì đã bị đóng sầm

Định kiến Xã hội thông qua lời bà cô Thị Nở và chính lời Thị Nở đă từ chối quyền hạnh phúc,

quyền trở lại lương thiện của Chí Phèo Chí Phèo rơi vào đỉnh điểm của bi kịch

- Tõm trạng bi kịch của Chí Phèo (diễn biến rất phức tạp, có thể làm theo một trong hai cách: Dựa

theo mạch truyện để phân tích hoặc Khỏi quát thành những trạng thái nổi bật của tõm trạng rồi phõn

tớch, phải làm rừ những diễn biến chớnh của tõm trạng nhõn vật chớ Phốo :thất vọng -đau đớn- căm hận mù quáng- phẫn uất- tuyệt vọng Cần thấy tính chất bế tắc và các chi tiết dự báo về sự tiếp diễn của tấn bi kịch)

+ Lúc đầu, không hiểu, hắn c ̣n thấy thú vị, lắc lư cái đầu cười- nghĩ ngợi một tí, h́nh như hắn hiểu,

hắn bỗng nhiên ngẩn người Thoáng một cái, hắn lại như hít thấy hơi cháo hành- hắn cứ ngồi ngẩn

mặt, không nói ǵ

Trang 11

+ Đau đớn, phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở Trong ý định, Chí định đến nhà đâm

chết con "khọm già", con "đĩ Nở" nhưng sự thức tỉnh ý thức về thõn phận và bi kịch đó đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn Chí đến thẳng nhà Bá Kiến Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng kẻ đó làm mỡnh ra nụng nỗi khốn cựng này chớnh là Bá Kiến Anh càng thấm thía tội ác kẻ đó cướp đi quyền làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mỡnh Chớ Phốo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một

nô lệ thức tỉnh, đũi quyền làm người:

- Tao muốn làm người lương thiện ?

- Ai cho tao lương thiện ?

+ Đú là những cõu hỏi vỳt lờn đầy cay đắng và không lời giải đáp Câu hỏi chất chứa nỗi đau của

một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân, đánh thẳng vào bộ mặt của xó hội bất lương, cứa vào tâm can người đọc về một phận người đầy đắng cay trong xó hội cũ Lương

thiện là di sản tinh thần của mỗi người: “Nhân chi sơ tính bản thiện” Tại sao phải đi đũi lương thiện

? V́ xó hội vụ nhõn tớnh ấy cướp mất

- Hành động giết Bá Kiến: Nhanh, mạnh , dứt khoát:

+ Nhận rõ kẻ thù giai cấp, kẻ cướp quyền làm người của Chí

+ Khao khát trả thù và vạch trần tội ác của g/c thống trị

- Hành động tự sát:

+ Khao khát mãnh liệt được làm người lương thiện

+ Ý thức sâu sắc về nỗi đau bị từ chối làm người

+ K chấp nhận cuộc sống thú vật

-> hành động tự phát, đấu tranh trong tuyệt vọng và bất lực

Hành động đó là chỗ mạnh nhưng đồng thời cũng là chỗ yếu đuối của Chí Sự từ chối của những

người lương thiện đó giết chết Chớ Phốo, đó giết chết Lang Rận, đó làm cho Đức phát điên Với giới hạn trong học vấn và nhận thức về giá trị cá nhân, các nhõn vật của Nam Cao đều chưa có cách nào thoát ra khỏi bi kịch, họ dám chết hay phải chọn cái chết để được sống? Giăng Van giăng cũng

bị đẩy vào tù, cũng nhận bao sự khinh khi, miệt thị, nhưng dưới cái nh́n của chủ nghĩa lăng mạn, nhân - vật đó đă đứng cao hơn hoàn cảnh

Bước 4: Đánh giá khái quát về ư nghĩa của h́nh tượng

- Thông qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính, nhà văn đó gửi đến người đọc những thông điệp mang giá trị nhân văn cao đẹp:

+ Sự đồng cảm với những nỗi khổ đau, bị đày đọa và lăng nhục của người nông dân

+ Sự lờn ỏn, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đó đàn áp và bóc lột nhân dân lao

động

+ Quy luật đáng sợ của xă hội xưa: muốn tồn tại phải lưu manh, muốn lương thiện phải chết

+ Sự phỏt hiện và trõn trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật, khao khát thay đổi thực tại để mang đến một cuộc sống tốt đẹp hơn Niềm khao khát được sống lương thiện cao hơn cả tính mạng Từ cái

Trang 12

MOON.V N

chết tuyệt vọng của Chí hé ra luồng áng sáng yêu thương và cảm động, thể hiện niềm tin vào sự nỗ

lực của con người: Chí đã chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, chết trong niềm đau thương lớn

lao vì khát khao mãnh liệt: muốn được sống làm người chứ không cam tâm quay lại làm thú vật

Chớ Phốo là sản phẩm của tỡnh trạng bị đè nén, áp bức ở nông thôn trước Cách mạng Vỡ bị đè nén,

áp bức quá đáng, người lao động lương thiện không cũn cỏch nào khỏc đó buộc phải chống trả bằng cách lưu manh hoá Trong khụng ớt tỏc phẩm của Nam Cao, ta đă gặp những nhân vật vốn hiền lành

trở thành ngang ngược (Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giũ, cu Lộ trong Tư cách mừ, Đức trong

Nửa đêm, ), Năm Thọ và binh Chức trong Chớ Phốo Và Chớ hoàn toàn cú thể cú kẻ tiếp nối…

+ Chí Phèo c ̣n ghi nhận thành cụng trong nghệ thuật xõy dựng nhân vật với những nét điển hỡnh sắc cạnh vừa cú ý nghĩa tiờu biểu, vừa hết sức sinh động, có cá tính độc đáo, gây ấn tượng mạnh cho người đọc

Bước 5: Kết luận

Con người vốn lương thiện, bị xă hội thực dân phong kiến cướp và đă được t́nh yêu làm sống lại trong mấy ngày Nhưng khoảnh khắc ấy thật quá ngắn ngủi Một khi, nhân phẩm bị xă hội ấy lấy đi

th́ nó sẽ măi măi không trả lại Những kẻ như Bá Kiến không hiểu được cái khát vọng tinh thần nhiều

khi c ̣n quan trọng hơn nhu cầu cơm áo Anh cần ǵ? Tao đă bảo tao không đ̣i tiền Tao muốn làm

người lương thiện! Bá Kiến cười ha hả: Ồ tưởng ǵ Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm sao mất hết những vết mảnh chai trên mặt này? Như

vậy, nói đến Chí Phèo, không thể không kể đến Bá Kiến và thị Nở Đó là hai nhân vật quan trọng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hai bi kịch của Chí Phèo- nội dung t́m hiểu giờ sau

Trang 13

3.2 Sự xuất hiện của Bá Kiến

- Xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm với giọng nói đầy uy quyền: “Nhưng kìa, cụ ông đã về…Cụ cất

tiếng rất sang hỏi: “Cái gì mà đông thế này?” Chỗ này “lạy cụ”, chỗ kia “lạy cụ”, người ta kính cẩn đứng dãn ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích”…

- Nhớ đến Bá Kiến, người ta không hình dung được khuôn mặt (bộ mặt thật rất khó nhận diện), mà

ấn tượng nhất tiếng cười Đó là điệu cười rất sang, ngay cả khi cười nhạt (kiểu cười xã giao), tiếng

cười vẫn giòn giã lắm (như là chân tình, nồng mặn) Đó là tiếng cười ẩn chứa sự ranh mãnh, tinh quái, độc ác Tiếng cười khanh khách để thử thần kinh con người- Điệu cười Tào Tháo là dấu hiệu

riêng chỉ có ở Bá Kiến, vừa bộc lộ một phần tính cách Giọng cười ha hả đắc thắng khi hắn tưởng

“đọc vị” được Chí Phèo Người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười đó; bao nhiêu người chết cũng

vì cái cười và giọng nói ấy…Tiếng cười ấy đi kèm với những cử chỉ, hành động Ta hãy xem cụ làm

gì khi có thằng như Chí Phèo đến nhà ăn vạ?

- Hành động: Quát mấy bà vợ…quay lại người làng, dịu giọng hơn, lay gọi Chí Phèo bằng giọng

thân mật, xốc Chí Phèo, mắng con…Bên trong, là kẻ khôn lõi đời Khác với Nghị Hách (Giông tố –

Vũ Trọng Phụng) dâm ô, Nghị Lại (Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan) tàn ác, Nghị Quế hủ lậu, Bá Kiến điển hình là con cáo già lọc lõi, lắm mưu nhiều kế, vô cùng nham hiểm và thâm độc Khắc họa nhân vật này, Nam Cao không chỉ nhấn mạnh khía cạnh áp bức bóc lột người nông dân mà

khắc sâu một nét bản chất đặc biệt của lão Đó là một tên cường hào có nghệ thuật thống trị, đàn

áp người nông dân rất thâm hiểm Đây là nhân vật mang rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao

3.3 Nghệ thuật “dùng người” của Bá Kiến

Nam Cao để cho nhân vật Bá Kiến độc thoại nội tâm, nhằm phơi bày những suy nghĩ tỉnh táo, nham hiểm, tự rút ra được những phương châm, thủ đoạn thống trị người nông dân rất khôn ngoan và hiệu quả mà Bá Kiến đã đúc rút từ bốn đời làm tổng lý

+ Trị không được thì cụ dùng

+ Lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò

+ Ngấm ngầm cho nhau ăn bùn

3.4 Trong quan hệ với tầng lớp những người cùng đinh, bá Kiến bộc lộ bản chất: nham hiểm

và thâm độc, già đời trong nghề đục khoét

- Một mặt lão tìm cách bóp nặn đám dân hiền lành và yên phận vào những vụ thuế;

- Mặt khác, lão thu dụng những tên “bạt mạng” sinh chuyện với những kẻ có máu mặt trong làng

để mà ăn, mà kiếm

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 3)

Trang 14

MOON.V N

- Nhờ biết mờ̀m, biết cứng, lão biết thu dụng những kẻ bạt mạng, khụng sợ chết và khụng sợ bị tù, rất được việc trong chuyện đối phú với bất cứ anh nào khụng nghe mỡnh, mà Bỏ Kiến tập hợp được mụ̣t phe cỏnh, bè đảng xung quanh lão đầy thế lực Một tay hắn đã đẩy bao người nụng dõn lương thiện vào con đường tha húa, cựng quẫn, làm tay sai cho hắn Chớnh tờn cỏo già lọc lõi, gian hùng

ấy đã đưa Binh Chức, Năm Thọ vào tù, vào con đường tha hoỏ, bị đày đoạ, và khi cần thỡ sẵn sàng thớ mạng những con người khốn khổ đú Việc Bỏ Kiến xỳi Chớ Phèo đi đòi tiờ̀n Đội Tảo chẳng khỏc nào cài sẵn một cỏi bõ̃y để mượn tay Đội Tảo giết chết Chớ Phèo Với những thủ đoạn nham hiểm, Bá

Kiến có thể biến tội nhân thành ân nhân, biến một nạn nhân trở thành tội nhân Chính Bá Kiến

đã đẩy ng-ời lao động l-ơng thiện vào con đ-ờng tha hoá, cấu kết với nhà tù thực dân cào xé, c-ớp

đoạt nhân hình và nhân tính của ng-ời dân l-ơng thiện

3.5 Trong quan hệ với tõ̀ng lớp thống trị: bờ̀ ngoài bằng mặt, bờn trong luụn sắp sẵn ý định cho

nhau ăn bùn Với tầng lớp bị trị, chỳng bộc lộ mõu thuõ̃n gay gắt, với tầng lớp thống trị, chỳng cũng xõu xộ vỡ quyờ̀n lực, vỡ lợi lộc ở mảnh đất quần ngư tranh thực Nội bộ lục đục trong tầng lớp thống trị làng xã là dự cảm vờ̀ một “đờm trước của cỏch mạng” trong cảm quan nhạy bộn và tinh tế của người cầm bỳt

3.6 Trong quan hệ gia đình: bỏ Kiến còn bụ̣c lụ̣ sự ớch kỉ, xṍu xa, đồi bại

Dù đã ngoài 60 tuổi, một lỳc cú đến bốn vợ, nhưng võ̃n chưa vừa lòng, võ̃n hay ghen búng ghen giú với những trai trẻ Nhưng chớnh lão cỏo già hỏo sắc và thớch chơi “trống bỏi” ấy lại bớ mọ̃t đi lại với

vợ Binh Chức đã cú bốn con, rồi còn lờn tỉnh ngồi chung xe, chơi bời trỏc tỏng

3.7 Cỏi chết bṍt ngờ của Bá Kiến: Khụn ngoan lọc lõi đến vọ̃y, nhưng húa ra hắn võ̃n khụng hiểu

được Chớ Phèo, khụng sao hiểu nổi khỏt vọng hoàn lương đang gào thột Tiếng cười khanh khỏch cùng cõu mai mỉa: “ễ̀ tưởng gỡ! Tụi chỉ cần anh lương thiện cho thiờn hạ nhờ” đã cứa vào tõm can Chớ, chạm đỳng nụ̃i đau của Chớ Như giọt nước tràn li, Chớ đã thột lờn: “Khụng được! Ai cho tao lương thiện? chỉ còn một cỏch này là…biết khụng?” Bỏ Kiến đã đõ̉y Chớ vào con đường cùng, kẻ thủ phạm đã phải nhọ̃n lấy nhỏt dao đổi mạng

Với tất cả tội ỏc của mỡnh, Bỏ Kiến đã phải chết như một điờ̀u tất yếu- kẻ gieo giú sẽ phải gặt bão

Cảm quan hiện thực sõu sắc của nhà văn cho ta thấy tỡnh trạng xung đột giai cấp ở nụng thụn Việt

Nam là hết sức gay gắt và chỉ cú thể được giải quyết bằng những biện phỏp quyết liệt Lưỡi dao Chớ Phèo vung lờn tuy đơn độc, tự phỏt, nhưng nú là tia chớp bỏo hiệu sấm rung bão tỏp cỏch mạng sẽ nổ

ra trong nay mai

3.8 Nghệ thuật

- Bỏ Kiến là nhõn vọ̃t điển hỡnh

+ Bỏ Kiến cú nột chung của giai cấp thống trị tham lam tàn bạo khụng từ một thủ đoạn nào để búc lột người nghốo (giống Nghị Quế, Nghị Lại…)

+ Bỏ Kiến cú nột riờng của tờn ỏc bỏ gian hựng, nham hiểm, thủ đoạn (cỏi cười để thử dõy thần kinh người, lối núi giả dối…)

+ Nghệ thuọ̃t độc đỏo, sắc sảo của Nam Cao: Cỏc nhà văn hiện thực khỏc chỉ chỳ ý miờu tả ngoại hỡnh giai cấp thống trị, cũn Nam Cao ớt chỳ ý ngoại hỡnh khi xõy dựng nhõn vọ̃t Bỏ Kiến ễng chủ

yếu khắc họa tõm địa “Cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm”, “Bao giờ cụ cũng quát để thử dõy thần

kinh người”, “tiờ́ng cười Tào Tháo”…Bỏ Kiến là nhõn vọ̃t tiờu biểu cho giai cấp thống trị đương thời, hội

tụ những nột tàn bạo, xảo quyệt, đểu cỏng của bọn người búc lột Truyện ngắn Chớ Phốo thể hiện cuộc đấu

phõ̉m Nam Cao là đồng minh khụng ngờ của cỏch mạng

Kết luận

Bỏ Kiến là tờn cường hào điển hỡnh sắc sảo, vừa cú những nột cỏ tớnh sinh động vừa cú những nột chung phổ biến, tiờu biểu cho bọn cường hào, địa chủ gian ỏc Nhõn vọ̃t Bỏ Kiến cũng là một hỡnh tượng mang rõ nột tài năng của Nam Cao Trong dòng văn học hiện thực phờ phỏn lỳc bấy giờ, ớt cú ngòi bỳt nào khắc hoạ được một hỡnh tượng sinh động, bộc lộ giỏ trị hiện thực mới mẻ và sõu sắc đến thế

Trang 15

MOON.V N

4 Nhõn vật Thị Nở

Giới thiệu: Cú hai người đàn bà tạo nờn những bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chớ Phèo (7 ý) Nếu bà

ba xinh đẹp thỡ Thị Nở lại là một sự “mỉa mai của húa cụng” Bà ba lẳng lơ một cỏch ranh mãnh còn Thị Nở thỡ vụ tõm “ngõ̉n ngơ như những người đần trong cổ tích” Bà ba chủ động tỡm cỏch “tiếp

cọ̃n” Chớ Phèo còn Thị Nở lỳc đầu hoàn toàn bị động trong cuộc gặp gỡ với Chớ Sự “ưu ỏi” của bà

ba dành cho Chớ chỉ để thỏa mãn nhục dục còn sự chăm chỳt của Thị Nở là hoàn toàn tự nguyện Với

bà ba, Chớ tuy “khụng phải là đá” nhưng chỉ cảm thấy nhục vỡ phải phục dịch còn khi được Thị Nở chăm chỳt, Chớ chỉ mong “giá cứ thờ́ này mãi thì thích nhỉ” Việc buộc phải quan hệ với bà ba là

nguyờn nhõn trực tiếp đầu tiờn để Chớ trở thành con quỷ dữ thỡ sự kiện gặp gỡ với Thị Nở lại là

nguyờn nhõn quan trọng để Chớ Phèo dần thức tỉnh ý thức làm người Bà ba như “con quỷ cái”, còn

thị Nở như một “thiờn thần” cứu rụ̃i linh hồn của Chớ

4.1 Giới thiệu, vị trớ của nhõn vật

- Truyện "Chí Phèo" đ-ợc Nam Cao viết năm 1941 để phản ánh hiện thực về con ng-ời nông thôn Việt nam tr-ớc cách mạng tháng Tám Bức tranh hiện thực mà Nam Cao tạo ra trong "Chí Phèo" vô cùng phong phú với những mối quan hệ phức tạp, chồng chéo, vừa gắn bó, phụ thuộc vào nhau, vừa mâu thuẫn, xung đột với nhau Từ những mối quan hệ phức tạp ấy, cả một hệ thống các nhân vật hiện lên cũng sinh động và đa dạng không kém giỳp nhà văn bộc lộ cách nhìn và thể hiện ý đồ t- t-ởng- nghệ thuật

- Trong thế giới nhân vật mà Nam Cao xây dựng ở "Chí Phèo", Thị Nở tuy chỉ là một nhân vật phụ song lại có một vai trò vô cùng quan trọng trong cấu trúc hình thức cũng nh- ý nghĩa nội dung của toàn tác phẩm

4.2 Phân tích cụ thể

a Thị Nở thuộc loại nhân vật cá biệt với ngoại hình bất thành nhân dạng (xấu dị dạng)

- Đõy là loại nhân vật đ-ợc xây dựng khá nhiều trong những sáng tác của Nam Cao tr-ớc cách mạng Cũng nh- những nhân vật khác thuộc loại này, Thị Nở đ-ợc ngòi bút Nam Cao đặc tả thật khách quan, thật trần trụi để hiện lên nh- là nơi hội tụ tất cả những gì kém cỏi nhất của cõi ng-ời "Một ng-ời ngẩn ngơ nh- những ng-ời đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn"

- Đần (dở hơi, ngẩn ngơ): hành động hoàn toàn theo bản năng và không có khả năng nghĩ tới hậu quả, nghĩ rất lâu mới xong cả những chuyện đơn giản nhất

- Xấu ma chê quỷ hờn: từng đ-ờng nét trên g-ơng mặt đều không giống với những gì có thể có

và nên có trên g-ơng mặt con ng-ời (mũi, răng, môi, g-ơng mặt )

- Nghèo và có mả hủi: l-ớt qua nh-ng đủ để gợi cho ng-ời đọc hiểu rằng đó là những thứ "tội nợ" trong lý lịch để ngăn cản hạnh phúc Đây là sự cố ý của nhà văn Cả giọng điệu và từ ngữ

mà Nam Cao sử dụng đều cho thấy rõ điều đó: giọng hài h-ớc lẫn chua chát

b Đối lập với ngoại hình bất thành nhân dạng là một nội tâm tràn đầy nhân tính

Mục đích của Nam Cao khi xây dựng nhận vật Thị Nở không phải để miệt thị, hạ thấp con ng-ời mà tr-ớc hết là để làm nổi bật những giá trị chân chính Nam Cao đã cố ý sử dụng thủ pháp đối lập để thể hiện một quan điểm rất hiện đại về hai chữ "con ng-ời": không có con ng-ời hoàn toàn thánh thiện, không có con ng-ời hoàn toàn xấu xa, con ng-ời hiện diện với tất cả sự phức tạp của những mặt đối lập Đối lập với ngoại hình bất thành nhân dạng là một nội tâm tràn đầy nhân tính

Trang 16

MOON.V N

+ Giá trị: giải cảm và cũng giải độc cho Chí Phèo để Chí rũ bỏ cái vỏ quỷ dữ mà trở lại với bản tính ng-ời vốn có Điờ̀u đú khiến cho chính thị cũng trở nên có giá trị hơn: có duyên, đáng yêu

và đáng là ng-ời (khác hẳn với bà ba Bá Kiến là quỷ cái - khiến Chí khinh bỉ và ghê sợ)

- Tình nghĩa: ý thức trách nhiệm trong mối quan hệ với Chí khiến thị không bỏ mặc Chí khi

ốm đau, khiến thị tự nguyện chăm sóc Chí

- Khao khát hạnh phúc: thích cuộc sống gia đình có vợ có chồng và nghĩ rất nghiêm túc về

mối quan hệ với Chí (cảm giác "ng-ờng ng-ợng và thinh thích", hành động về xin phép bà cô, cám giác tức giận khi bị bà cô từ chối)

-> Đây là chỗ rất nhân đạo của ngòi bút Nam Cao khi cảm thông với những khát khao chính

đáng trân trọng những giá trị ng-ời trong con ng-ời Chỗ nhân đạo nhất của ngòi bút Nam Ca o

là phát hiện ra vai trò, giá trị và sức mạnh của tình th-ơng trong cuộc sống con ng-ời

c Thị Nở là chất "xúc tác" làm hiện hình trọn vẹn vấn đề trung tâm của tác phẩm: tính chất bi thảm trong bi kịch cuộc đời của Chí Phèo

Mục đích lớn nhất của Nam Cao khi xây dựng nhân vật Thị Nở không ở việc làm hoàn chỉnh

chân dung nhân vật này mà là để tạo ra một chất "xúc tác" làm hiện hình trọn vẹn vấn đề trung tâm của tác phẩm: tính chất bi thảm trong bi kịch cuộc đời của Chí Phèo

+ Ban đầu Thị Nở chỉ khơi dậy bản năng sinh vật ở gã đàn ông Chí Phèo Nhưng sự chung đụng xỏc

thịt giữa đờm trăng giú lạnh ngoài bờ sụng khi đang say rượu chỉ đem lại cho Chớ trọ̃n ốm thọ̃p tử

nhất sinh

+ Sau đó, nhờ tình thương và sự chăm sóc õn cõ̀n, giản dị (gắn với hình ảnh bỏt chỏo hành)

mới làm thức dậy nhõn tớnh: (Chớ Phèo chưa ăn cỏc em nhộ!) Ban đầu thằng này rất ngạc nhiờn

Hết ngạc nhiờn thỡ hắn thấy mắt mình hình như -ơn -ớt- nước mắt hiếm hoi giữa sa mạc khụ hộo tỡnh người Cũng nh- những nhân vật khác của Nam Cao trên hành trình trở về luơng thiện cũng bắt

đầu từ n-ớc mắt (còn biết khúc, biết đau khổ ăn năn, lương tri còn cơ hội thức tỉnh- chợt nhớ giọt nước mắt cay đắng của Hộ trong “Đời thừa”; hàng lệ chúi ngời nhõn cỏch của lão Hạc) Một bát cháo

bình th-ờng được đón nhọ̃n vô cùng cảm động, hắn nhìn bát cháo mà bâng khuâng Thị Nở nhìn

trụ̣m hắn rụ̀i toe toét cười (lòng tốt giản dị, mộc mạc) Hắn vừa vui vừa buồn, một cỏi gỡ như là ăn

năn…(Cụ Mai lưu ý: chi tiết Chớ Phèo ăn chỏo và liờn quan đến chỏo- giữa nú là những hồi ức, so sỏnh, liờn tưởng, cảm xỳc…được miờu tả rất kĩ lưỡng, chi li đến từng chi tiết suốt 2,5 trang (khoảng

86 dòng- 1500 chữ/ trờn tổng số tỏc phõ̉m là 25 trang, 14 ngàn chữ) Tỡnh thương của Nam Cao như

bao bọc trong từng cõu chữ: Thị cắp mụ̣t cái rụ̉, trong cú một nồi gì đọ̃y vung Đú là nụ̀i cháo còn

nóng nguyờn…vừa sáng thị đã đi tìm gạo, hành thì nhà may lại còn Thị nấu bỏ vào cỏi rổ, mang

ra cho Chớ Phèo… nhỡn bỏt chỏo bốc khói, cầm lấy bỏt chỏo đưa lờn mồm Trời ơi chỏo mới thơm làm sao! Chỉ khói xụng vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm Hắn húp mụ̣t húp và nhận ra

rằng: …bỏt chỏo húp xong rồi, thị Nở đỡ lṍy bát cháo và múc thờm bát cháo nữa…mấy bỏt chỏo

ý chừng đã ngṍm…sau này, cứ thoang thoảng thấy hơi chỏo hành) Đến bên kia dốc của cuộc đời Chí mới biết rằng: cháo hành ăn rất ngon

+ Như vọ̃y, bỏt chỏo hành là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, là hương vị quyến rũ của hạnh phỳc,

tỡnh yờu, biểu tượng thơm tho của tỡnh người Đú cũng là yếu tố chuyển húa tớnh cỏch Chớ Phèo sang điờ̀u tốt lành, là liờ̀u khỏng sinh cực mạnh trong một ca cấp cứu, một chiếc thang từ bi vớt Chớ Phèo lờn từ đỏy vực, là cỏi bản lờ̀ khẽ xoay nghiờng để mở ra một giai đoạn mới trong đời Chớ, tuy khụng

đổi được số phọ̃n, nhưng đã cứu mụ̣t tõm hồn Lần đầu tiờn sau bấy nhiờu năm người ta lại thấy Chớ

Phèo khúc, lần đầu tiờn sau bấy nhiờu năm lại thấy Chớ Phèo cười (còn biết khúc biết cười là còn cú cảm xỳc và ý thức của người) Tuy là tỡnh yờu của hai kẻ khụng được coi là người nhưng Nam Cao đã trõn trọng và chăm chỳ phỏt hiện, diờ̃n tả, lắng nghe từng rung động nhỏ nhoi trong đỏy sõu tõm

hồn nhõn vọ̃t Nhìn Thị hắn cảm đụ̣ng "Hắn cảm thṍy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với

thị như làm nũng với mẹ ” Đú là giõy phỳt người nhất của Chớ Ta quen nhỡn đụi lứa này bằng con

mắt cười cợt, rẻ rỳng, nhưng những cụ gỏi thời này cú làm được như thị khụng?

- Dỏm đi ngược lại định kiến đờ̉ vờ̀ với Chớ Phèo Và chỉ gần Chớ thị mới biết rằng: “ễi sao mà

hắn hiờ̀n!" rồi “hắn cười nghe thật hiờ̀n” Cảm giỏc được yờu thương và chở che đã làm Chớ trụ̃i dọ̃y

Trang 17

MOON.V N

mọi người" Cảm giỏc hạnh phỳc khiến con người ta trở nờn hiờ̀n lành hơn bao giờ hết: "Giá cứ như

thờ́ này mãi thì thích nhỉ? “Hay là mình sang đõy ở với tớ mụ̣t nhà cho vui" ễi! Phải là lời của Chớ

Phèo đú khụng? Nghe sao ngờ nghệch, hồn nhiờn mà lại rất đụ̃i chõn thành Lời cầu hụn khụng tỡnh tứ nhưng lại khiến cho trỏi tim chỳng ta nghẹn ngào thương cảm Từ một con quỉ dữ, nhờ tỡnh thương của Thị Nở, Chớ thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn cú Một chỳt tỡnh thương, dù là tỡnh thương của một con người dở hơi, thụ kệch, xấu xớ, cũng đủ để làm sống dọ̃y cả một bản tớnh người nơi Chớ Phèo Thế mới biết sức cảm húa của tỡnh thương kỳ diệu biết nhường nào! Bỳt phỏp phõn tớch tõm lớ sắc sảo cùng những yờu thương õm thầm sõu sắc của Nam

Cao giỳp người đọc dần bước vào những ngõ nẻo sõu kớn khuất, nao nao theo nụ̃i lòng Chớ

- Như vậy, khi Thị Nở xuất hiện với t- cách một con ng-ời có tình ng-ời ở bên cạnh Chí, Thị

Nở khiến Chí hồi sinh: thoạt đầu là tỉnh r-ợu, tiếp đó là tỉnh ngộ rồi cuối cùng khao khát làm

ng-ời l-ơng thiện, khao khát hoàn l-ơng Nghĩa là trong mối quan hệ với Thị Nở, Chí Phèo đã trở lại với tính ng-ời trọn vẹn

- Khi Thị Nở từ chối Chí, sự từ chối ấy đẩy Chí từ đỉnh cao của khát khao hạnh phúc xuống đáy cùng của nỗi bất hạnh: tủi nhục, khốn khổ vì bị một ng-ời đàn bà "xấu ma chê quỷ

hờn, bị cả làng tránh nh- tránh vật gì rất tởm" từ chối Đau đớn tuyệt vọng vì cánh cửa trở vào thế giới l-ơng thiện đã đóng lại, con d-ờng trở lại làm ng -ời l-ơng thiện bị chặn đứng Uất ức, thù hận vì bị khinh bỉ, coi th-ờng, bị t-ớc đi cơ hội đ-ợc sống nh- một con ng-ời (khi Thị Nở trút vào mặt Chí những lời của bà cô, khi Chí đùng đùng xách dao đi "trả thù") Tất cả những yếu tố ấy đẩy Chí đến chỗ tự sát một cách nhanh chóng, quyết liệt và bi thảm

3 Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao đã làm nổi bật khao khát sống l-ơng thiện của Chí Phèo Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao cũng đã làm nổi bật thực tế tàn bạo của xã hội Việt Nam thời ấy: con ng-ời mốn sống l-ơng thiện thì đồng thời phải chọn cho mình cái

chết đề tự bảo vệ phần ng-ời l-ơng thiện ấy

4.3 Tổng kết, đánh giá

- Thị Nở đ-ợc xây dựng nh- một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên một tình huống đặc biệt của truyện (cuộc gặp gỡ Chí Phèo- Thị Nở) và thúc đẩy quá trình diễn tiến của cốt truyện Trong tình huống truyện mà Nam Cao xây dựng, cả Chí Phèo và Thị Nở đều bộc lộ trọn vẹn

những gì tốt đẹp bấy lâu vẫn bị che khuất Ả ngớ ngõ̉n gã khùng điờn, khi tình yờu đờ́n bụ̃ng

nhiờn thành người (Lờ Đình Cánh- Trăng nở nụ cười) Trong diễn tiến của cốt truyện "Chí

Phèo", sự hiện diện của Thị Nở một mặt tạo cho truyện cái ý vị trữ tình đặc biệt qua sự tỏa sáng của tình th-ơng, tình ng-ời, một mặt khác tạo ra tính b-ớc ngoặt cho mạch truyện khiến ch ủ đề của tác phẩm trở nên sáng rõ

- Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao đã hé mở một phần hiện thực cuộc sống của ng-ời phụ nữ ở nông thôn và thể hiện sâu sắc tấn bi kịch của ng-ời nông dân tr-ớc cách mạng, bị đẩy

đến chỗ cùng đ-ờng, tha hóa, biến chất và tuyệt vọng trên con đ-ờng tìm về l-ơng thiện Cách xây dựng nhân vật nhìn từ bề ngoài có vẻ theo chủ nghĩa tự nhiên, song trong chiều sâu ý nghĩa của nó lại là tinh thần nhân đạo sâu sắc (Đề cao vai trò, sức mạnh của tình th-ơng)

Trang 18

MOON.V N

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI VÀ LÀM CÁC ĐỀ LUYỆN TẬP

1 Dạng đề Đọc- hiểu: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị đã nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:

- Nói dại, nếu mình chửa, giờ hắn chết rồi thì làm ăn thế nào?

Đột nhiên, thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”

(Ngữ văn 11, tập 1, tr.155)

1 Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của ai? Vị trí của đoạn trích trong tác phẩm?

2 Nhân vật “thị” và “hắn” trong đoạn văn trên là ai? Xác định mối quan hệ của hai người trong tác phẩm

3 Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn bản

3 Lời thoại của nhân vật thuộc loại nào trong các phương án dưới đây:

a Độc thoại

b Đối thoại

c Độc thoại nội tâm

4 Vì sao nhân vật “thị” phải nhìn trộm bà cô rồi nhìn nhanh xuống bụng? Chi tiết đó đã bộc lộ khía cạnh nào trong tính cách nhân vật?

5 Hình ảnh cái lò gạch cũ ở đoạn văn trên có ý nghĩa gì?

Hướng dẫn trả lời các câu hỏi

1: Tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao Đoạn trích thuộc phần kết của tác phẩm

2 Phương thức tự sự: Độc thoại

3 Vì nhân vật chợt nghĩ đến một điều đáng sợ, nếu “chửa hoang” thì không biết sẽ phải chịu sự trừng phạt của lệ làng và của bà cô thị như thế nào Chi tiết bộc lộ khía cạnh nhạy cảm rất đàn bà của thị Lúc này, thị rất tỉnh táo, biết lo xa Về cơ bản, thị vẫn là số phận hoàn toàn bị lệ thuộc vào những định kiến, luật lệ khắt khe ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ

4 Hình tượng cái lò gạch:

- Nam Cao có một cái kết đầy ám ảnh, nó không chỉ tạo nên một kiểu kết thúc khép kín, đầu cuối tương ứng mà còn để lại một nỗi day dứt và bi thương trong lòng độc giả “Cái lò gạch cũ” đầu tác phẩm là nơi mở đầu một số phận, một kiếp người đau khổ đầy bi kịch thương tâm Hình ảnh “cái lò gạch cũ” ở cuối tác phẩm không phải là một hình ảnh thực mà là một hình ảnh tưởng tượng nói lên rằng: Rất có thể từ cái lò gạch cũ ấy, Thị Nở lại cho ra đời một Chí Phèo con ngỗ ngược hơn bố nó để nối nghiệp Chừng nào còn tồn tại xã hội “người ăn thịt người”, thì còn tồn tại hiện tượng Chí Phèo

- Nghĩa là Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo chưa chấm dứt (Hiện tượng Chí Phèo là hiện tượng hàng vạn người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm thương) - Chi tiết này cho thấy số phận người nông dân như rơi vào một vòng luẩn quẩn “Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào” không lối thoát Đây là một cái kết đầy bi quan, phản ánh giá trị hiện thực sâu sắc Nó khác xa với kết thúc của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) với hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ báo hiệu cách mạng đã trở về Qua đó, nhà văn ngầm đưa ra một thông điệp mang tính dự báo: chỉ có cách mạng mới có thể giải phóng cho nỗi thống khổ của nhân dân

2 Dạng đề phân tích các nhân vật (Các em dựa vào bài giảng của cô và tư liệu tham khảo)

2.1 Nhân vật Chí Phèo với bi kịch bị từ chối quyền làm người

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 4)

Trang 19

MOON.V N

- Lưu ý: Việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và

gửi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng Nam Cao phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị

Nở, Chí Phèo đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh

thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… nhờ tình thương của Thị

Nở, Chí được trở lại làm người với tất cả những năng lực vốn có Ai đó có thể thích thú theo dõi

cuộc tình này bằng cái nhìn tò mò về cuộc gặp gỡ người ngợm, khúc khích che mặt nhìn đôi lứa xứng đôi dìu nhau trong văn đàn Họ không biết rằng những cuộc hẹn hò thơm phức mùi nước hoa trong văn học lãng mạn đương thời có khi còn chưa bằng một phần cái thẳm sâu nhân bản trong mối

tình CP_TN, chưa hiểu bản chất mối tình này coi như chưa hiểu Chí Phèo

2.2 Nhân vật Bá Kiến

2.3 Nhân vật thị Nở

3 Dạng đề phân tích giá trị của tác phẩm

3.1 Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo (Xem tư liệu)

3.2 Những nét đặc sắc trong nghệ thuật: Kết cấu, miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng ngôn ngữ,

giọng điệu, lời văn…

Đề tham khảo:

“Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật” (Hà Minh Đức) Anh chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Hãy làm

sáng tỏ bằng việc phân tích sơ đồ không gian trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao: Cái lò gạch

bỏ không- Nhà tù- Túp lều Chí Phèo- Cái lò gạch bỏ không

Gợi ý làm bài

a Giải thích nhận định:

- Cái đẹp trong tác phẩm văn học chủ yếu thể hiện ở nội dung tư tưởng cao cả, hình thức nghệ thuật hấp dẫn, độc đáo

- Cái đẹp của sự thật đời sống bắt nguồn từ hiện thực, phản ánh sâu sắc những vấn đề con người quan tâm, trăn trở, phục vụ và góp phần cải tạo cuộc sống…

- Cái đẹp được khám phá một cách nghệ thuật: Sự tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, độc đáo trong phản ánh thực tại, tạo nên sự hài hòa giữa nd và ht, đem lại giá trị thẩm mĩ cao Ý nghĩa khái quát: Khẳng định tầm quan trọng của hiện thực cuộc sống và tài năng nhà văn với việc sáng tạo cái đẹp

b Phân tích, chứng minh:

- Ý nghĩa sơ đồ không gian: Đó là hệ thống các chi tiết không gian được nhà văn sắp xếp để phản ánh những bước ngoặt cuộc đời nhân vật Chí Phèo Mỗi chi tiết có ý nghĩa quan trọng khác nhau đối với số phận nhân vật (Cái lò gạch bỏ không: một cuộc đời bị bỏ rơi; Nhà tù: nơi giam cầm và tha hóa người lương thiện; Túp lều Chí Phèo tối tăm, nơi Bá Kiến giam cầm linh hồn quỷ dữ, cũng là nơi gặp

gỡ của tình yêu thương và thức tỉnh bản chất lương thiện của Chí; Lò gạch bỏ không được nhắc lại theo kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng, gợi số phận quẩn quanh, bế tắc của người nông dân trong xã hội cũ)

- Cái đẹp toát ra từ sơ đồ không gian: các chi tiết này là những hình ảnh cụ thể, trong cuộc sống ở nông thôn xưa và gắn trực tiếp với cuộc đời nhân vật CP Nhưng qua tấm lòng và sự tìm tòi, khám phá sáng tạo của một nhà văn tài năng, đã trở thành những không gian nghệ thuật giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại những giá trị thẩm mĩ cao

c Đánh giá:

- Nhận định trên khẳng định tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm VH chân chính, đưa ra yêu cầu với người sáng tác, phải phản ánh cái đẹp cuộc sống, nhưng không phải là cái đẹp thuần túy mà là cái đẹp Chân Thiện Mĩ

-Tác phẩm phải đạt phẩm chất nghệ thuật cao

- Định hướng cho người tiếp nhận tác phẩm

4 Dạng đề cảm nhận, phân tích tâm trạng nhân vật trong một đoạn văn

Trang 20

MOON.V N

Đề bài tham khảo: Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo (truyện ngắn: “Chí Phèo” của Nam Cao)

từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để làm nổi rõ bi kịch của nhân vật này

Hướng dẫn làm bài

1 Khái quát tác giả, tác phẩm và bi kịch nhân vật

a Nam Cao (1915 – 1951) là nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo vừa sâu sắc, vừa mới mẻ,

độc đáo Sáng tác của ông trước Cách mạng xoay quanh hai đề tài chính là trí thức tiểu tư sản và người nông dân cùng khổ Điều làm ông day dứt đến đau đớn là tình trạng nhân cách con người bị hủy hoại

Là nhà văn có biệt tài phân tích tâm lí, Nam Cao đã khám phá ra những diễn biến nội tâm nhân vật vừa tất yếu, vừa bất ngờ rất thú vị

Qua việc tìm hiểu diễn biến tâm trạng Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó

b “Chí Phèo” là kiệt tác của Nam Cao về đề tài người nông dân và là kết tinh khá đầy đủ cho tài

năng của Nam Cao Tác phẩm đi sâu vào tấn bi kịch tinh thần của nhân vật chính Chí Phèo

Bi kịch của Chí Phèo gồm hai bi kịch nối tiếp nhau

Thứ nhất, bi kịch bị tha hóa, đầy đọa lăng nhục, từ một con người nông dân lương thiện bị xã hội biến thành một kẻ bất lương, thậm chí thành “con quỷ dữ”

Bi kịch thứ hai là bị từ chối quyền làm người

Đoạn mô tả Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời thuộc bi kịch thứ hai

2 Phân tích cụ thể diễn biến tâm trạng Chí Phèo

a Trước hết là sự thức tỉnh Bắt đầu là tỉnh rượu

“Sau những cơn say vô tận”, “bây giờ thì hắn tỉnh” sau đêm gặp Thị Nở, Chí Phèo đã sống lại những cảm xúc đầy nhân tính Hắn cảm nhận được không gian xung quanh với “cái lều ẩm thấp mới chỉ lờ mờ” Đặc biệt hắn đã cảm nhận được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống quanh mình: “Tiếng cười nói của những người đi chợ; tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” Những âm thanh bình dị ấy ngày nào chả có, nhưng xưa nay, vì say hắn bị xã hội làm cho “mù điếc cả tâm hồn”, không nghe được Giờ đây được Thị Nở làm cho tâm hồn hắn sáng tỏ, thì những âm thanh ấy bỗng vọng sâu vào trái tim hắn như tiếng gọi tha thiết của sự sống

Cùng với sự cảm nhận bức tranh cuộc sống xung quanh, Chí Phèo cũng đã cảm nhận được một cách thấm thía về tình trạng thê thảm của bản thân mình (già nua, cô độc, trắng tay)

Đoạn đối thoại của hai người đàn bà đã gợi nhắc cho hắn mơ ước về một gia đình hạnh phúc, bình dị Nhưng giờ đây, Chí chỉ thấy một thực tại buồn bã, cô đơn: “Chí Phèo dường như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc, điều này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”

b Sau khi tỉnh rượu, Chí Phèo tỉnh ngộ và hi vọng Chí Phèo ăn bát cháo hành được trao từ bàn tay

ấm nóng đầy tình thương của Thị Nở, hắn vô cùng cảm động và thực sự phục sinh tâm hồn Hắn “rất ngạc nhiên”, “mắt hắn hình như ươn ướt”, bởi vì “đây là lần thứ nhất hán được người ta cho cái gì” Hắn nhận ra “Trời ơi, chào mới thơm làm sao!” Hương vị của bát chào hành hay hương vị của tình yêu chân thành và cảm động, hạnh phúc giản dị và thấm thía lần đầut tiên Chí Phèo được hưởng đã đánh thức nhân tính vùi dập bấy lâu?

“Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”, mọi người sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng của những con người lương thiện Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi Chúng nhất định sẽ lấy nhau Câu trả lời của Thị Nở lúc này sẽ quyết định số phận của Chí: được kết nạp lại xã hội loài người hay vĩnh viễn bị đày đọa trong kiếp sống thú vật?

Chí Phèo hồi hộp hi vọng Nhưng cánh của hi vọng vừa hé mở thì đã bị đóng sầm ngay lại Vì bà cô không cho Thị Nở “đâm đầu” đi lấy “thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”

Chí Phèo nghĩ ngợi một lát rồi bỗng nhiên “ngẩn người” Hắn “sửng sốt” Hắn lôi rượu ra uống

“Nhưng càng uống càng tỉnh ra! Chao ôi! Buồn” Hắn cứ thoảng lấy hơi cháo hành - hơi của tình yêu hạnh phúc đang sắp tuột khỏi bàn tay cố níu kéo của Chí và “ôm mặt khóc rưng rức” Đây chính là đỉnh điểm của bi kịch tinh thần trong Chí Phèo

Trang 21

MOON.V N

c Quằn quại trong đau khổ và tuyệt vọng, Chí Phèo lại xách dao ra đi Nhưng hắn không rẽ vào nhà

Thị Nở như đã dự định ban đầu (đến đâm chết con đĩ Nở và con khọm già kia) mà đến thẳng nhà Bá Kiến Trong cơn say, hắn càng thấm thía tội ác của kẻ đã cướp đi hình người và hồn người của hắn Chí Phèo đã vung lưỡi dao căm thù lên giết chết Bá Kiến và quay lại tự kết liễu cuộc đời Chí Phèo chết vì không tìm ra lối thoát, vì xã hội không cho hắn sống

Gấp trang sách “Chí Phèo” lại, ta vẫn nghe văng vẳng đâu đây câu hỏi găy gắt đến tuyệt vọng của Chí: “Ai cho tao lương thiện?” Đó là “Một câu hỏi lớn Không lời đáp” còn làm day dứt hàng triệu trái tim người đọc: Làm thế nào để được sống cuộc sống con người trong cái xã hội tàn bạo vùi dập nhân tính ấy? Đấy cũng chính là bi kịch lớn nhất ở nhân vật yêu quý này

Tác phẩm kết thúc, Chí Phèo Chết Nhưng dường như hiện tượng Chí Phèo - hiện tượng hàng vạn người nông dân lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và khi ý thức nhân phẩm trở về thì bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt vẫn chưa chấm dứt Chi tiết cái lò gạch bỏ không, vắng người qua lại hiện ra ở cuối tác phẩm khi Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng, bỗng tưởng tượng ra hình ảnh này đã nói với ta điều gì đó

Kết luận

Quá trình diễn biến tâm trạng nói trên của Chí Phèo đã làm nổi rõ bi kịch: “Sinh ra là người mà không được làm người” Qua đó, Nam Cao đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với khát vọng lương thiện trong con người và sự bế tắc của hiện thực xã hội bấy giờ

Giáo viên Nguyễn Quang Ninh

Trung tâm Hocmai.vn

- Đoạn buổi sáng tỉnh dậy (Xem tư liệu tham khảo)

- Đoạn kết (Xem đáp án câu III.b Khối D- 2012- Câu 5 điểm)

5 Dạng đề liên kết

- Tưởng tượng của anh/chị về cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Lão Hạc ở thế giới bên kia…

- Cảm nhận về của anh/chị tiếng chim hót trong Chí Phèo và tiếng còi tàu trong Hai đứa trẻ

- Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí

Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ

(Đời Thừa – Nam Cao) (Xem đáp án câu III.b Khối D- 2010- Câu 5 điểm)

- Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh: Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết

thúc bằng hình ảnh: Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…Cảm nhận

của anh/ chị về ý nghĩa của những kết thúc trên (Xem đáp án câu III.b Khối D- 2012- Câu 5 điểm)

- Qua một nhận định, bày tỏ ý kiến về tình cảm của nhà văn thể hiện trong tác phẩm Chí Phèo và Đời

thừa (Xem phần cô chữa trong Đời thừa)

6 Dạng đề mới: (hai vấn đề trong một tác phẩm)

- Trong tác phẩm, Nam Cao miêu tả Thị Nở là kẻ đần, dở hơi, ngẩn ngơ, xấu xí, ế chồng, nhưng có nhà phê bình lại chứng minh được rằng, đó là người thông minh nhân hậu nhất làng Vũ Đại

Ý kiến của anh, chị?

- Sự đối sánh giữa các nhân vật bà cô thị Nở – thị Nở – bà ba Bá Kiến

- Sự đối sánh giữa bát cháo hành và bữa cơm rượu nhà Bá Kiến (liên hệ bát cháo cám trong Vợ nhặt

của Kim Lân)

- “Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi, miệng hắn ngáp ngáp như còn muốn nói

điều gì” Cảm nhận của anh/chị về những điều Chí Phèo muốn nói?

- Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người hay tự cự tuyệt quyền làm người?

- Có người cho rằng, Chí Phèo là gã mất trí, suốt ngày say xỉn Cũng lại có ý kiến cho rằng đó là đầu óc sáng sủa nhất của làng Vũ Đại Ý kiến của anh/chị?

(Gợi ý: Sự độc đáo của hình tượng Chí Phèo chính là ở trạng thái say tỉnh bất phân:

+ Tiếng chửi: say-tỉnh

+ Quan hệ với hai người đàn bà

+ Cơn say cuối cùng của đời mình, ý thức đươc nỗi đau, Ai cho tao…Sáng suốt nhất khi nhận ra

bi kịch đời mình là do đâu, điều mà dân làng Vũ Đại xôn xao không nhìn thấy: khi xã hội còn

Trang 22

7 Dạng đề tích hợp với Nghị luận xã hội

Ví dụ 1: Viết bài luận trả lời câu hỏi: Ai cho tao lương thiện?

Từ câu trả lời trên, anh/chị hãy bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề giữ gìn nhân phẩm của con người trong xã hội

8 Cảm nhận chung về tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của nhà văn

Ví dụ 1: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn

đọc một vấn đề nhân sinh”- Phân tích truyện ngắn Chí Phèo để làm sáng tỏ nhận định trên

Ví dụ 2: “Nam Cao đã tìm thấy những hạt trân châu lóng lánh trong sâu thẳm những thân phận con

người” Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên

Đề tham khảo: Cảm nhận về bức tranh sơn dầu “Làng Vũ Đại ngày ấy” của Đinh Quang Tỉnh

(Chí Phèo đang quẫy cựa phá phách trong một chiếc chai, bên ngoài là thị Nở bưng bát cháo hành nghi ngút khói- Phía hậu trường là chân dung nhà văn Nam Cao cùng một số phác họa về làng quê với nét vẽ đen trắng tỏ mờ)

Gợi ý:

A.Trong cảm nhận của Đinh Quang Tỉnh, ấn tượng về Chí Phèo là:

1.Số phận người nông dân nghèo khổ

2 Ấn tượng mạnh về sự tha hóa, vùng vẫy của Chí Phèo và tình cảm của thị Nở

3 Ẩn sau tất cả số phận ấy là tình yêu thương trìu mến của Nam Cao

B Cảm nhận của bản thân:

+ Đề tài

+ Cách khai thác đề tài

+ Những biểu hiện khác nhau của sự tha hóa

+ Điển hình cho người nông dân bị tha hóa là Chí Phèo Qua sự miêu tả cuộc đời Chí Phèo, Nam Cao phát hiện ra sự quan tâm chân thành của con người, những giây phút thăng hoa trong cuộc sống có sức cảm hóa mạnh mẽ làm thức tỉnh phần thiện, con người bị tha hóa vũng vẫy quyết liệt và có sự lựa chọn đứng đắn hướng đi cho mình một cách dũng cảm cũng như sự hướng thiện không lời của tình yêu thương

+ Trên tất cả là tấm lòng của Nam Cao với cuộc đời Tấm lòng ấy thổi vào tác phẩm niềm tin về những con người biết hướng mình đến những điều tốt đẹp Tấm lòng ấy dẫn đường cho nhà văn lựa chọn cách thể hiện hữu hiệu nhất, phát huy tối đa tài năng văn chương sẵn có

Trang 23

+ Trước Cách mạng tháng Tám: Nguyễn Tuân là nhà văn “xê dịch” luôn “Thiếu quê hương”

và ngày càng u uất, bế tắc Sau cách mạng: Nguyễn Tuân quyết lột xác rời bỏ những căn bệnh nặng

nề cũ kĩ, tiếp tục đi dọc ngang đất nước để viết về cuộc đời mới Ông cũng tiếp tục tung hoành trong

thể văn sở trường của mình: Tuỳ bút Chống Pháp; ông viết Đường vui, Tình chiến dịch, Tuỳ bút

Kháng chiến Xây dựng miền Bắc và chống Mĩ ông viết Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi và nhiều

bài kí đặc sắc

Nói đến Nguyễn Tuân người ta nghĩ ngay đến một cây bút có phong cách viết độc đáo Phong

cách ấy thể hiện rõ trong tác phẩm- Vang bóng một thời

2 Tác phẩm- Vang bóng một thời

Gồm 11 tác phẩm – Là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Tuân trước Cách mạng

- Tập truyện viết về những thú chơi tao nhã đầy nghệ thuật của lớp nhà Nho cuối mùa, thất thế muốn lấy cái tài hoa hơn đời để đặt mình ra ngoài và lên trên xã hội Tây, Tầu nhố nhăng phàm tục đã đẩy lùi họ vào quá khứ Đằng sau những câu chuyện và những bức tranh phong tục, tác phẩm chứa đựng một tấm lòng yêu nước thiết tha, gắn với thái độ trân trọng những giá trị văn hóa, nghệ

thuật cổ truyền của dân tộc Lòng yêu nước đôi khi kín đáo, khi rõ rệt, thậm chí táo bạo (Bữa rượu

máu, Chữ người tử tù) Đây là tác phẩm đã “gần đạt tới sự hoàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan)

II- Đọc hiểu văn bản

1- Tình huống truyện độc đáo

1.1 Vai trò của việc tạo dựng t́nh huống: Sáng tạo tình huống là một trong những khâu

quan trọng bậc nhất của nghệ thuật viết truyện ngắn

1.2 Gọi tên tình huống

Ở tác phẩm “Chữ người tử tù”: Huấn Cao và viên Quản ngục được đặt trong tình huống hết sức éo le : cuộc gặp gỡ oái oăm giữa Huấn Cao và Quản ngục

1.3 Phân tích tình huống

1.3.1 Diện mạo của tình huống

+ Không gian: nhà tù Đây không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ

+ Thời gian: những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao

=> Không gian và thời gian góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống

+ Sự éo le trong thân phận hai nhân vật xét ở bình diện xã hội, họ là hai kẻ đối địch, xét ở bình

diện nghệ thuật, họ lại là tri kỉ Quản ngục bị đẩy đến trước một lựa chọn nghiệt ngã đầy tính xung

đột Một là, khư khư giữ lấy chức phận quan lại, thì hãy chà đạp lên lòng tri kỉ Nếu hành động theo

hướng này, QN là kẻ tầm thường Vì ông ta không dám thuỷ chung với những gì mình cho là cao quí, sẵn sàng phản bội lại những gì mình tôn thờ Và câu chuyện sẽ là khúc bi ca hoặc trang phẫn nộ

về thực tại, rằng : thực tại này chỉ là chỗ cho sự tầm thường ngự trị thôi ! Hai là, nếu trọn đạo tri kỉ,

thì phải phớt lờ chức phận quan lại Hành động theo hướng này, QN là người cao quí Vì thuỷ chung

với những giá trị cao quí mình tôn thờ, ông ta đã dám bất chấp sự thiệt thòi về quyền lợi lẫn sự an nguy đến tính mệnh Và câu chuyện sẽ là khúc ca ca ngợi chiến thắng của cái đẹp

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN (TIẾT 1)

Trang 24

+ Cuộc đối mặt ngang trái Nhìn phía này, đó là cuộc giáp mặt giữa hai loại tù nhân Huấn Cao là

tử tù Còn Quản ngục là kẻ bị tù chung thân Ông ta bị cầm tù chính trong môi trường sống của mình Người này bị cầm tù về nhân thân nhưng luôn tự do về nhân cách, còn người kia tự do về nhân thân nhưng lại bị cầm tù về nhân cách

1.3.2 Diễn biến của tình huống Có sự chuyển biến trong quan hệ giữa Huấn Cao và Quản

ngục : quan hệ có phần đối địch nhường chỗ cho quan hệ tri kỉ hoàn toàn Nhìn trong mạch truyện

thì diễn biến này gắn liền với hai phiến trát mà Quản ngục phải tiếp nhận Trước tiên là chuyển biến trong thái độ, về sau là trong hành động

- Ban đầu, Quản ngục vẫn có một tấm lòng, nhưng Huấn Cao chưa biết Thái độ của Huấn

Cao dành cho Quản ngục là khinh bỉ không cần giấu diếm, vì bấy giờ ông mới chỉ coi Quản ngục là một kẻ tiểu nhân làm nghề thất đức Thái độ đối địch của Huấn Cao đã tạo ra một vực sâu ngăn cách giữa họ

- Về sau, quan hệ đã hoàn toàn biến đổi Nhận được phiến trát thứ hai, Quản ngục đã choáng

váng Tình thế ấy buộc Quản ngục phải hành động gấp Tâm nguyện lớn đã khiến Quản ngục bất chấp mối nghi ngại vây khốn bao năm, không còn nghĩ đến tự vệ, giữ thân như trước nữa Tấm lòng thuần khiết của Quản ngục đã xoá bỏ hoàn toàn vực sâu ngăn cách giữa hai nhân cách Quan hệ có phần đối địch đã nhường chỗ cho một quan hệ tri kỉ hoàn toàn Quản ngục cúi đầu trước Huấn Cao,

mà Huấn Cao cũng cúi đầu trước Quản ngục Cả hai đều cúi đầu trước những vẻ đẹp cao quí mà mình tôn thờ

- Từ xúc động lớn, Huấn Cao đã cho chữ Cảnh cho chữ là tình tiết sau chót hoàn tất cuộc gặp gỡ oái oăm này

1.3.3 Ý nghĩa tư tưởng

a Tình huống ấy chứa đựng một quan niệm sâu sắc: Cái đẹp là bất diệt Dù thực tại có hắc ám đến

đâu cũng không tiêu diệt được cái đẹp Nó mãi mãi là một lí tưởng nhân văn cao cả của cõi người này

b Tình huống như thế cũng chứa đựng một niềm tin mãnh liệt, rằng : Cái đẹp sẽ thanh lọc cuộc

đời này "Cái đẹp sẽ cứu vớt nhân loại"- đó là tư tưởng của Đôtxtôiepxki, người có ảnh hưởng rất lớn

đến tư tưởng của người nghệ sĩ lãng mạn Nguyễn Tuân

2 Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao

Ý 1 : Giới thiệu đôi nét về tác phẩm và hình tượng:

- Chữ người tử tù là tập truyện ngắn rỳt từ tập Vang búng một thời của Nguyễn Tuõn (1940)

- Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm bộc lộ tập trung trong hỡnh tượng nhân vật Huấn Cao

- Huấn Cao là nguyên mẫu của Cao Bá Quát, một danh sĩ nổi tiếng đời nhà Nguyễn Ông là

một tài năng lỗi lạc về tài văn “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” và đồng thời cũng là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình Tự Đức và thất bại Ông để lại câu nói nổi tiếng

“Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” Được gợi cảm hứng từ nguyên mẫu Cao Bá Quát, xây dựng theo lối

lí tưởng hóa của chủ nghĩa lăng mạn, Huấn Cao đă trở thành biểu tượng cho vẻ Đẹp rực rỡ, cao cả,

phi thường Vẻ đẹp đó là sự hội tụ của tài hoa, khí phách, thiên lương

Ý 2: Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài ba

- Huấn Cao là nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp Chữ Huấn Cao viết là chữ Hán, loại văn tự giàu tính tạo hình Các nhà nho thuở xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái chí Viết chữ thành một môn nghệ thuật gọi là thư pháp, có người viết chữ thì có người chơi chữ Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang trọng trong nhà, xem đó như một thú chơi tao nhã

“Tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” của ông nổi tiếng khắp một vùng tỉnh Sơn “Chữ ông

Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (…) có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời”

Cho nên “Sở nguyện của viờn quan cai ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu

đối do ông Huấn Cao viết” Để có được chữ ông Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng

công, phải nhẫn nhục mà cũng phải liều mạng Bởi vì biệt đãi Huấn Cao một kẻ tử tù là việc làm nguy hiểm có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình

Trang 25

- Ở đây, tài viết chữ của Huấn Cao được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết Ngay từ đầu truyện, khi Huấn Cao chưa xuất hiện, tài năng của ông đã được nói tới một cách kính nể qua cuộc nói chuyện giữa Quản ngục và thơ lại: có phải ông Huấn nổi tiếng với cái tài viết chữ nhanh và đẹp đó

không? Có nghĩa là chỉ cần nhắc đến cái tên đó thôi là đủ làm sống dậy cả một vùng tâm thức Dùng

bóng chữ để nói tài năng Đạt được đến mức độ ấy, nét chữ ấy dứt khoát không phải sản phẩm của

sự khéo tay thạo nghề của một người thợ Mà mỗi lần đặt bút phải là một lần tài hoa sáng tạo, mỗi nét bút phải là sự kết tụ của tài năng nghệ sĩ, những con chữ không chỉ là chữ mà như một sinh thể nghệ thuật được lưu truyền trong hậu thế, danh tiếng bay tới tận nơi nhà giam hẻo lánh tỉnh Sơn Ngay cả viên quan quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết

+ Tài năng ấy được thể hiện qua thái độ sùng kính của Quản ngục Nhắc đến con chữ ông

Huấn, Quản ngục như vẫn còn xúc động buông lời thán phục: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông

lắm (…) có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời” Cho nên, từ khi mới biết

đọc vỡ nghĩa sách Thánh hiền, Quản ngục đă mơ có ngày xin được chữ ông Huấn“Sở nguyện của

viên quan cai ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do ông Huấn Cao viết” Sau này dù có lăn lóc trong cái nghề coi ngục, hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với những tṛ

tiểu nhân, lũ cặn bă, nhưng ước nguyện cao quý ấy không nhạt phai Với Quản ngục, có được chữ của ông Huấn treo trong nhà coi như có một báu vật Gặp Huấn Cao, có lúc Quản ngục như quên hết bổn phận chức trách, chỉ đau đáu một sở nguyện xin chữ- thậm chí, sẵn sàng đánh cược cả tính mạng, đánh đổi cả sĩ diện để có được chữ Huấn Cao Để có được chữ ông Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục mà cũng phải liều mạng

+ Sự tài hoa thể hiện rực rỡ trong cảnh cho chữ Giữa không gian khói tỏa như đám cháy, một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ Không phải những nét chữ thông thường, đó là sự hội tụ của cả tài hoa, khí phách, hoài bão và nhân cách ở đời Huấn Cao quả là nghệ

sĩ trong nghệ thuật thư pháp

- Ý nghĩa của vấn đề: Qua việc miêu tả tài hoa bằng ngọn bút tài hoa, Nguyễn Tuân đă thể hiện thái

độ trân trọng cái tài, cái đẹp, lòng luyến tiếc cái nhã thú văn hoá cổ truyền của con người Việt Nam

đang lụi tàn và gửi gắm kín đáo triết lí nhân bản: “Biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu”

Một lời đề nghị của nhà văn về lối sống tao nhã và biết trọng người tài

Trang 26

Ý 3: Huấn Cao mang vẻ đẹp của khí phách hiên ngang, bất khuất

- Dù chưa trực tiếp xuất hiện, nhưng qua câu chuyện của quản ngục và thơ lại, ta đã biết đó là con

người có khí phách hiên ngang, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, coi nhà tù thực dân như chốn không người, “ra tay tháo cũi xổ lồng như chơi”; có tài bẻ khóa vượt ngục; “văn võ kiêm toàn”; lí tưởng sống cao đẹp, dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh bỉ

+ Thái độ quản ngục và thơ lại: thán phục

+ Thái độ bọn lính: kiêng nể tên này nguy hiểm và ngạo ngược nhất trong bọn

+ Chi tiết: đứng đầu gông, nhận phần nặng nhất

- Dù chí lớn không thành tư thế của Huấn Cao lúc nào cũng hiên ngang, bất khuất Bị dẫn vào huyện ngục ông không chút run sợ (câu văn: “cánh cửa đề lao mở rộng” tạo tâm thế cho sự xuất hiện của Huấn Cao)

+ Đáp lại thái độ xấc xược của bọn lính, Huấn Cao thản nhiên không thèm chấp Lạnh lùng, chúc mũi gông, thúc xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái, thay cho câu trả lời Chủ động vượt lên mọi hoàn cảnh

- Trước những kẻ nắm giữ vận mệnh của mình, thái độ của Huấn Cao: vô cùng khinh bỉ Đối với quản ngục, ông thản nhiên nhận rượu thịt, ung dung tự tại như việc phải làm trong cái hứng sinh bình Nhận sự biệt đãi, ông còn tỏ thái độ khinh bạc đến điều, nói lời tàn nhẫn như dội vào ngục quan gáo nước lạnh - Là tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường vậy mà Huấn Cao vẫn giữ phong thái ung dung, đường hoàng

Ý 4: Huấn Cao là người có “thiên lương” trong sáng, cao đẹp

- Trong truyện Chữ người tử tù khái niệm “thiên lương” được Nguyễn Tuân sử dụng với nhiều ý

nghĩa khác nhau Với quản ngục và thơ lại thì “thiên lương” là ý thức của ông trong việc sử dụng cái tài của mình

- Huấn cao có tài viết chữ nhưng không phải ai ông cũng cho chữ Chữ quý chỉ dành cho người biết quý Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng ngọc hay quyền thế Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp, cái tài…Trước khi cho chữ, Huấn Cao mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân

- Ông tỏ thái độ khinh bạc đến điều với viên quan coi ngục và thầy thơ lại, vì tưởng quản ngục có ý

đồ đen tối gì khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình

- Ông “cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục và thơ lại, khi biết họ thành tâm xin chữ Ông quyết không phụ tấm lòng của họ, nên mới diễn ra cảnh cho chữ trong tù được tác giả gọi là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

Ý 5: Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng ở hình tượng Huấn Cao

- Sự thống nhất đó biểu hiện tập trung trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm

- Trong cảnh đó, Nguyễn Tuân đã để cho vẻ đẹp của cái tâm, của “thiên lương” chiếu rọi, làm cho cái đẹp của cái tài của khí phách anh hùng bừng sáng, tạo nên nhân cách chói lọi của Huấn Cao Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng là lí tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân là chuẩn mực để ông đánh giá nhân cách của con người Nguyễn Tuân đặt nhân vật dưới ánh sáng của lí tưởng

ấy để các hình tượng bộc lộ vẻ đẹp với những mức độ khác nhau Trên cái nền đen tối của nhà tù, quản ngục và thơ lại là hai điểm sáng bên cạnh cái vần sáng rực rỡ của Huấn Cao Cũng chính lý tưởng thẩm mĩ ấy chi phối mạch vận động của truyện, tạo thành cuộc đổi ngôi kì diệu để kẻ tử tù trở thành người làm chủ tình huống, ban phát cái đẹp, truyền dạy cách sống, quan coi ngục thì khúm núm sợ hãi Hình tượng Huấn Cao vì thế trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn của khí phách ngang tàng đối với thói quen nô lệ

Ý 6: Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN (TIẾT 2)

Trang 27

- Để làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện độc đáo Đó là cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quản ngục và thơ lại- cuộc gặp gỡ của tử tù với viên quan cai ngục nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ “liên tài tri kỉ”

- Miêu tả Huấn Cao để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm và khí phách ngang tàng Nguyễn Tuân triệt để sử dụng sức mạnh của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạng đối lập giữa ánh sáng và bóng tối giữa cái đẹp cái cao cả với cái phàm tục dơ bẩn Có sự tương phản ở những chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không khí của cảnh cho chữ (bóng tối phòng giam, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, tấm lụa bạch còn nguyên vẹn…) Có sự đối lập tương phản giữa

sự cho chữ (công việc tạo ra cái đẹp “nói lên hoài bảo tung hoành của một đời người”) Với hoàn cảnh cho chữ (nơi hôi hám, bẩn thỉu, nơi giam cầm cùm trói tự do) Có sự đối lập phong thái của người cho chữ (đường hoàng) với tư thế của kẻ nhận chữ (khúm núm)

- Ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân giàu chất tạo hình Ông sử dụng nhiều từ hán việt lời

ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng thêm vẻ đẹp của một thời vang bóng ở hình tượng Huấn Cao

Ý 7: Kết luận

- Nhân vật Huấn Cao thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân Đó là biểu tượng cho sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm trước cái phàm tục, dơ bẩn của khí phách ngang tàng đối với thói quen nô lệ Đây là lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn, là ý tưởng tư tưởng của hình tượng

- Hình tượng Huấn Cao được xây dựng trên cơ sở nguyên mẫu Cao Bá Quát một nhà nho có tài văn thơ, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là người từng tham gia lãnh đạo khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình nhà Nguyễn Xây dựng nhân vật Huấn Cao Nguyễn Tuân bộc lộ tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc thầm kín của mình

Trang 28

mộ một cách kín đáo “” => Chỉ một chi tiết nhưng cũng đủ để người đọc có những ấn tượng đầu tiên

về nhân vật Sự quan tâm đặc biệt dành cho HC và nhất là cái tài viết chữ “nhanh và đẹp” của kẻ tử

tù như một sự chuẩn bị trước của nhà văn để gây ấn tượng về nhân vật

- Từ cách giới thiệu ban đầu đó, nhà văn đã giúp ta hiểu rõ hơn về nhân vật này Trong đêm đầu tiên hình ảnh QN được khắc hoạ với dáng ngồi tư lự “khuôn mặt băn khoăn ngồi bóp thái dương…” Có

lẽ trong lòng viên quản ngục có một tâm sự kín đáo QN băn khoăn bởi sự xuất hiện của HC trong

nhà ngục cũng có nghĩa là một kẻ tài hoa sắp phải chịu án tử hình Một nỗi tiếc nuối mơ hồ trước một ngôi sao chính vị sắp từ biệt vũ trụ Một khao khát thầm kín “Có ông HC trong tay…chữ”

- Chỉ đến khi nghĩ là sẽ đối đãi để HC đỡ cực trong những ngày còn lại khuôn mặt QN mới giãn ra

“như mặt nước ao …” => QN là một con người kín đáo, điềm tĩnh và ẩn chứa một nỗi niềm khó nói

- Sống nơi nhà ngục tăm tối ở chỗ người ta thường đối xử với nhau bằng lừa lọc, tàn nhẫn thế mà QN lại là một “tính cách dịu dàng…”, lại biết đọc “vỡ nghĩa sách thánh hiền từ ngày còn bé” QN thực sự

“được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay HC viết Khao khát có được chữ của HC khiến

QN dám làm những điều có thể nguy hại tới tính mạng

=> Sở nguyện cao quý của QN giúp ta hiểu hơn con người QN Con người biết qúy trọng nâng niu cái đẹp hẳn không phải là một người xấu

+/ Tấm lòng biệt nhỡn liên tài:

• Nói về kẻ tử tù với một thái độ kính trọng không che giấu “Tôi nghe rất đẹp đó không?”

• Cảm thấy tiếc nuối khi biết HC sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu vũ trụ”

• Dũng cảm biệt đãi HC để HC đỡ khổ hơn trong những ngày cuối cùng còn lại ngay cả khi bị HC coi thường, khinh bỉ

=> Đọc CNTT không chỉ thấy thái độ không biết sợ của HC đẹp mà thái độ biết sợ của QN cũng đẹp

không kém Thái độ không biết sợ của HC là cái đẹp của khí phách anh hùng Thái độ biết sợ của

QN là cái đẹp của thiên lương trong sáng

4.3 Sự gặp gỡ của viên QN với HC chính là sự gặp gỡ của những nhân cách cao đẹp khiến cho cảnh cho chữ càng giàu ý nghĩa

- Cảnh cho chữ lại diễn ra trong một nơi nhà ngục “đêm hôm đó trong trại giam tỉnh Sơn, ở một không gian chật hẹp, ẩm tối”… “tường đầy mạng nhện…” Nhưng giữa không gian chật hẹp đó, với bút pháp tương phản, nhà văn đã gây ấn tượng cho người đọc với hình ảnh tráng lệ, nổi lên giữa không gian tăm tối là bó đuốc tẩm dầu …là tấm lụa trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ…và mùi thơm của chậu mực Ánh sáng từ ngọn đuốc, ngọn lửa như xua đi khung cảnh tăm tối ảm đạm chốn lao tù

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN (TIẾT 3)

Trang 29

- Những nột vẽ như khắc như chạm đó vẽ lờn một hỡnh ảnh hào hựng “Một người tự…” cạnh đú là

thầy thơ lại và QN Sự khỳm nỳm, run run khụng phải là biểu hiện của sự hốn nhỏt mà là thỏi độ

ngưỡng vọng trước cỏi đẹp, cỏi tài

- Động tỏc của họ ăn ý nhịp nhàng “HC…” thể hiện sự thấu hiểu tận đỏy lũng

=> Khụng cũn nhà ngục, khụng cũn kẻ tử tự, khụng cũn viờn quan coi ngục nắm quyền sinh quyền sỏt trong tay, chỉ cũn lại những dũng chữ tươi tắn

- Những lời khuyờn chõn thành và thỏi độ õn cần của HC đó làm cho QN bừng tỉnh, vỏi lạy người tự

Cú cỏi vỏi lạy làm cho con người ta trở nờn thấp hốn, nhưng cũng cú cỏi vỏi lẫy khiến tầm vúc con người lớn lao hơn Và cỏi vỏi lạy của QN trước HC là một cỏi vỏi lạy tụn cao nhõn cỏch Đú là cỏi vỏi lạy trước cỏi đẹp

=> Quan niệm nghệ thuật của nhà văn: trong mỗi con người đều cú một người nghệ sĩ, đều ẩn chứa tõm hồn yờu cỏi đẹp, cỏi tài Khụng phải ai cũng xấu hết, bờn cạnh phần ỏc quỷ vẫn cú “thiờn lương” Cỏi đẹp tồn tại cả trong mụi trường của cỏi ỏc, cỏi xấu, nhưng khụng vỡ thế mà nú lụi tàn, trỏi lại, nú

cú thể càng mạnh mẽ và bền bỉ vươn lờn như hoa sen giữa đầm lầy

4.4 Nghệ thuật xõy dựng nhõn vật

- Thủ phỏp tương phản đối lập

- Nghệ thuật miờu tả tõm lớ nhõn vật tinh tế

- Đặt nhõn vật vào tỡnh huống giàu kịch tớnh

- Ngôn ngữ chính xác, góc cạnh, tinh tế, có nhịp điệu giàu sức biểu cảm

III Tổng kết

1 Nội dung

- Truyện ngắn “Chữ người tử tự” (Nguyễn Tuõn)- một minh chứng tiờu biểu cho nhận xột: “… Cỏc

nhà văn lóng mạn thường tỡm kiếm những giỏ trị cao đẹp trong những cảnh đời tầm thường, tăm tối, khỏm phỏ cỏi cao cả trong những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp …” Từ sự đối lập giữa cỏi đẹp, cỏi

cao cả với cỏi xấu, cỏi tầm thường, tỏc giả đó đề cao những giỏ trị tốt đẹp của con người:

 Phỏt hiện tài năng, khớ phỏch Huấn Cao trong sự đối lập với cỏi nhỡn của xó hội phong kiến

 Vẻ đẹp tài hoa của Huấn Cao trong hoàn cảnh ngục tự tăm tối

 Sự tỏa sỏng nhõn cỏch người tử tự trong những phỳt giõy cuối cựng của cuộc đời

 Vẻ đẹp tõm hồn của viờn quản ngục trong sự tương phản với nghề quản ngục (…)

2 Nghệ thuật

- Bút pháp điêu luyện, ngôn ngữ phong phú, đầy giá trị tạo hình và đạt hiệu quả thẩm mĩ cao

- Dựng cảnh, dựng ng-ời khắc hoạ rõ nét: “Viết văn mà nh- chạm khắc” (Văn Tâm )

- Cách sử dụng ngôn ngữ tạo dựng không khí cổ kính “Vang bóng một thời”

Trang 30

LUYỆN TẬP

Đề 1: (2 điểm) Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ người

quản ngục trong nhà giam? (“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân - SGK Ngữ văn 11; Tập 1 - NXB Giáo dục, 2009)

Đáp án gợi ý:

Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ ngời

quản ngục trong nhà giam? (“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân - SGK Ngữ văn 11;

Tập 1 - NXB Giáo dục, 2009)

1 Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn trích 0,25

2

Trước hết, cảnh cho chữ thể hiện tập trung cái tài, cái tâm và khí phách hiên ngang

của Huấn Cao và tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục Đặt trong hoàn

cảnh xã hội đương thời, việc Nguyễn Tuân ca ngợi Huấn Cao có tài, có tâm, có khí

phách là một ẩn dụ để nhà văn ca ngợi những người đang dũng cảm chiến đấu vì

quê hương, đất nước

0,25

3

Không chỉ cho chữ, Huấn Cao còn khuyên quản ngục thay đổi chốn ở Như vậy

Huấn Cao không chấp nhận cái tài, cái đẹp sống chung với cái xấu, cái ác Do đó,

muốn thưởng thức, chăm lo cái đẹp thì phải giữ lấy cái tâm ở đời

0,25

4 Giá trị tư tưởng: cảnh cho chữ thể hiện chiều sâu tư tưởng và giá trị nhân văn đẹp

đẽ mới mẻ của tác phẩm: sự lên ngôi của cái Đẹp, cái Tài và Thiên lương

0,5

5

Giá trị nghệ thuật: Nguyễn Tuân đã miêu tả không gian, thời gian diễn ra cảnh cho

chữ một cách ấn tượng: không gian chật hẹp của phòng giam tử tù; không khí trang

nghiêm thành kính; thủ pháp tương phản làm nổi bật ý nghĩa của cái đẹp Trong

cảnh ấy, vị thế của các nhân vật đã thay đổi

0,5

6

Đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ người quản ngục trong nhà giam là đoạn

văn giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm,

kết tinh vẻ đẹp lãng mạn và sự tài hoa uyên bác của ngòi bút Nguyễn Tuân

0,25

Đề 2 (Câu 5 điểm)

Nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã, một nét đẹp văn hóa của người Việt Vậy mà trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân lại nói cảnh cho chữ là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Anh/chị hãy phân tích để lí giải đánh giá trên của nhà văn

Hướng dẫn làm bài

1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Tuân xuất thân trong gia dình nhà Nho (trong hoàn cảnh nền Hán học đã tàn) Ông là một trí thức giàu lòng yêu nước, nặng tình dân tộc; luôn yêu quí và trân trọng những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Ông sáng tác thành công ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

- Chữ người tử tù là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Tuân trong giai đoạn trước Cách mạng tháng

Tám năm 1945 với vẻ đẹp “Vang bóng một thời” Cảnh cho chữ cuối thiên truyện này đã đươc chính tác giả đánh giá là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Điều đó có vẻ lạ lùng bởi nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã, một nét đẹp văn hóa của người Việt Vì sao Nguyễn Tuân

có thể nói như vậy? Điều đó có ý nghĩa gì?

Trang 31

ngọn lửa rực rỡ muốn xua tan bóng tối nhà tù Trong ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu là một cảnh

tượng hào hùng: “Một người tù… bưng chậu mực” Đúng là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng

có”

3 Giải thích, phân tích vế thứ nhất: Nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã

- Nghệ thuật thư pháp được nói tới ở đây là nghệ thuật viết chữ đẹp, thường dùng bút lông,

mực tàu, giấy, nghiên mài mực để viết Thứ chữ được nhắc đến trong truyện là chữ Hán (các cụ vẫn gọi là chữ Nho) là thứ chữ tượng hình được viết bằng bút lông và mực Tàu, thứ chữ khối vuông có nét đậm nét nhạt, nét mềm mại gân guốc, rắn rỏi Các nét chữ hoà hợp với nhau tung hoành bay lượn như trên một bức hoạ sinh động, thể hiện tâm hồn và cá tính của người viết

- Từ xưa, người Việt Nam và người Trung Quốc đã có thú chơi chữ, mời người viết chữ đẹp

về nhà viết vào bức lụa hay khắc vào phiến gỗ để treo ở trong nhà (Hoành phi hoặc câu đối) Người viết chữ đẹp cũng được kính phục như những danh hoạ Tất nhiên thú chơi chữ này là của những người ít nhiều có chữ nghĩa, có văn hoá và có khiếu thẩm mĩ, bởi lẽ họ không chỉ thấy cái đẹp của chữ mà còn thấy được cả chiều sâu của nét nghĩa

- Như vậy, nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã, một nét đẹp văn hóa của người Việt Cảnh các nhà Nho, thấy đồ cầm bút lông bên nghiên mực viết chữ, câu đối là hình ảnh không còn xa lạ gì của người Việt

- Vậy mà trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân lại nói cảnh cho chữ là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

Đề 2 (Câu 5 điểm)

Nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã, một nét đẹp văn hóa của người Việt Vậy mà trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân lại nói cảnh cho chữ là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Anh/chị hãy phân tích để lí giải đánh giá trên của nhà văn

Hướng dẫn làm bài

1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

2 Vị trí đoạn trích

3 Giải thích, phân tích vế thứ nhất: Nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã

- Nghệ thuật thư pháp được nói tới ở đây là nghệ thuật viết chữ đẹp, thường dùng bút lông,

mực tàu, giấy, nghiên mài mực để viết Thứ chữ được nhắc đến trong truyện là chữ Hán (các cụ vẫn gọi là chữ Nho) là thứ chữ tượng hình được viết bằng bút lông và mực Tàu, thứ chữ khối vuông có nét đậm nét nhạt, nét mềm mại gân guốc, rắn rỏi Các nét chữ hoà hợp với nhau tung hoành bay lượn như trên một bức hoạ sinh động, thể hiện tâm hồn và cá tính của người viết

- Từ xưa, người Việt Nam và người Trung Quốc đã có thú chơi chữ, mời người viết chữ đẹp

về nhà viết vào bức lụa hay khắc vào phiến gỗ để treo ở trong nhà (Hoành phi hoặc câu đối) Người viết chữ đẹp cũng được kính phục như những danh hoạ Tất nhiên thú chơi chữ này là của những người ít nhiều có chữ nghĩa, có văn hoá và có khiếu thẩm mĩ, bởi lẽ họ không chỉ thấy cái đẹp của chữ mà còn thấy được cả chiều sâu của nét nghĩa

- Như vậy, nghệ thuật thư pháp xưa nay vẫn là một thú chơi tao nhã, một nét đẹp văn hóa của người Việt Cảnh các nhà Nho, thấy đồ cầm bút lông bên nghiên mực viết chữ, câu đối là hình ảnh không còn xa lạ gì của người Việt

- Vậy mà trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân lại nói cảnh cho chữ là “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

4 Giải thích, phân tích vế thứ hai: đó lại là cảnh đặc biệt xưa nay chưa từng có?

4.1 Đặc biệt ở không gian, thời gian, người viết chữ, người cho chữ

- Không gian: không phải lầu son gác tía, thư phòng hay viện sảnh, khung cảnh trữ tình, diễn

ra ở những địa chỉ văn hoá, chẳng hạn thư phòng, văn phòng, trà thất, xưởng họa mà là buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián

- Thời gian: cho chữ vốn là việc đường đường chính chính giữa bạch nhật thanh thiên, ở đây lại diễn ra vào canh khuya Canh khuya đã đem lại cho cảnh tượng một không khí bí mật và thiêng liêng Đồng thời, đó lại cũng là những giờ khắc cuối cùng của Huấn Cao Lẽ thường, ở vào thời điểm

ấy, một người sắp lìa đời phải lo làm chúc thư, nói lời trăng trối với thân nhân Thế mà Huấn Cao lại

Trang 32

dành những giây phút hiếm hoi cuối cùng ấy vào việc cho chữ, việc sáng tạo những bức thư pháp Bởi vậy, những bức thư pháp kia cũng chính là di chúc đặc biệt của một nhân cách cao đẹp gửi lại người tri kỉ, gửi lại cuộc đời này “Đêm hôm ấy” là thời điểm đặc biệt có ý nghĩa trọng đại với cả người cho chữ và nhận chữ: với Huấn Cao, đó là đêm cuối cùng của một đời người.Với quản ngục,

đó là đêm cuối cùng của một hoài bão, một khát vọng Chỉ còn đêm hôm ấy, hoặc không bao giờ

- Trong không gian, thời gian ấy, người cho chữ không phải là bậc tao nhân mặc khách mà lại chính là tử tù: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván” Ngoại trừ trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, ta chưa gặp cảnh như thế bao giờ

4.2 Đặc biệt hơn nữa là ở sự đảo lộn vị thế giữa tử tù và những người trông coi nhà tù (quản ngục, thơ lại)

- Về quyền uy: kẻ có quyền hành thì không có quyền uy, uy quyền lại thuộc về người đã bị

tước đi mọi thứ quyền, kể cả cái quyền tối thiểu là quyền sống

- Về thái độ: kẻ không việc gì phải sợ thì "khúm núm sợ sệt", người đáng ra phải sợ thì lại

"đường bệ ung dung “

- Về chức phận : Cai tù không giáo dục tội phạm, trái lại tội phạm lại đang giáo dục cai tù,

trong khi đó, cai tù lại đang lắng nghe một cách thành tâm, thành kính như nhận những lời chỉ giáo thiêng liêng của một bậc thầy về nhân cách

- Về vị thế: tử tù phạm tội lại nổi lên uy nghi, cao lồng lộng, còn viên quản ngục và thơ lại,

những kẻ đại diện cho triều đình quyền lực tối cao thì khúm núm, run run trước tử tù Con người

đầy uy quyền nơi trại giam lại nhún nhường, khép nép gọi Huấn Cao là Ngài một cách tôn kính, lại

còn lễ phép “xin lĩnh ý”; “xin bái lĩnh”, rồi cung kính cúi đầu vái lạy tù nhân (xưa nay chỉ có tù nhân vái lạy cai tù)

- Mối quan hệ đối lập trên bình diện xã hội bị xóa bỏ hoàn toàn Không còn kẻ thù, nhà ngục,

tội phạm hay quan coi ngục Chỉ còn là cuộc tri ngộ của những tấm lòng thiết tha với cái Đẹp

5 Bình giá

5.1 Vì sao có cảnh cho chữ đặc biệt ấy?

- Đó là kết quả của cái nhìn biệt nhỡn liên tài cùng quá trình biệt đãi khổ công và khổ tâm của

quản ngục

- Do sự xúc động mãnh liệt của tử tù Huấn Cao khi nhận ra một tấm lòng Vừa là mối xúc động đạo đức của con người tri kỉ trước những nghĩa cử mà người kia dành riêng cho mình, nó khiến ông Huấn phải cầm lấy bút để viết như một hành vi đáp nghĩa; vừa là mối xúc động thẩm mĩ của con người nghệ sĩ bởi bất ngờ đối diện với cái đẹp mà mình suốt đời tôn thờ, nó khiến ông Huấn phải cầm lấy bút để viết như một hành vi sáng tạo Tức là, trong hưng phấn sáng tạo ấy, cái Tâm và cái Tài đang chuyển hoá sang nhau để sinh thành cái Đẹp Thiếu một trong hai phía đó thì không thể có

được cảnh cho chữ Cái đẹp nghệ thuật (của những bức thư pháp) có ngọn nguồn từ cái đẹp của tình

người

5.2 Ý nghĩa: cảnh cho chữ tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc

- Nó khắc sâu ý nghĩa nhan đề và chiều sâu giá trị nhân văn cao đẹp: cái đẹp là bất diệt

Trên mảnh đất chết, nơi cái ác cái xấu ngự trị, cái đẹp lại được sinh ra Những nét chữ như rồng bay phượng múa chứa đựng hoài bão tunh hoành của một đời người lại được sáng tạo ở nơi nhà tù, nơi con người bị giam cầm, mất tự do Dù ngày mai Huấn Cao phải ra pháp trường thi hành án, phải rơi đầu trước máy chém, nhưng phẩm chất tài hoa, khí phách và nhân cách của ông sẽ vào cõi vĩnh hằng Với viên quản ngục, từ cử chỉ cảm động và dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào, từ

ngày mai, có thể ông sẽ là một con người khác Cái đẹp có sức cảm hóa Như vậy, cảnh cho chữ đã

khắc sâu chủ đề: ca ngợi cái đẹp, thiên lương trong sáng và sức mạnh lớn lao của cái đẹp đối với việc giáo dục nhân cách con người

- Cảnh cho chữ khắc sâu chân dung hai nhân vật, hình tượng người nghệ sĩ tài hoa bất tử

và kẻ biệt nhỡn liên tài với sự cảm hóa của cái đẹp Hình ảnh Huấn Cao, nhà thư pháp, người anh hùng mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ chính là hoài niệm về một thời nay chỉ còn vang bóng Qua đó, ta cảm nhận được lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc của tác giả được thể hiện một cách kín đáo, tế

Trang 33

nhị Còn với quan coi ngục, thầy thơ lại, những thanh âm trong trẻo đã đi theo tiếng gọi của cái đẹp cũng được thể hiện một cách cảm động, có chiều sâu

- Cảnh cho chữ cũng góp phần làm nên nét cổ kính, khung cảnh xưa của thời vang bóng,

nỗi xúc động thiêng liêng mà tác phẩm đem đến cho người đọc Không chỉ ngục quan và thơ lại nghẹn ngào, bất cứ trái tim đa cảm nào cũng phải rung lên thổn thức, đó cũng là một phần giá trị nhân văn của tác phẩm

5.3 Cảnh tượng ấy thể hiện sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của thiên lương đối với tội ác, của cái đẹp đối với sự xấu xa nhơ bẩn

- Có những con người phải sống trong cái ác, cái xấu nhưng vẫn hướng về cái thiện, cái đẹp- niềm tin vào con người của nhà văn

- Lời di huấn của Huấn Cao đối với viên quản ngục bộc lộ rõ quan niệm của nhà văn về cuộc sống và nghệ thuật: Cái đẹp gắn liền với cái thiện, người nghệ sĩ trước hết phải có thiên lương, không thể có cái ác, cái xấu lại chung sống lẫn lộn với cái Đẹp Những con người có tài cao, đức trọng sẽ bất tử, sẽ được người đời trân trọng, lắng nghe và giữ gìn mãi mãi Nguyễn Tuân đề nghị một lối

sống, đề cao một mẫu người “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

5.4 Nghệ thuật: Cảnh cho chữ hội tụ tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân

+ Cảnh tượng được nhà văn miêu tả thật sống động, gợi cảm, chi tiết nào cũng rõ nét như khắc chạm, ngôn ngữ giàu giá trị tạo hình, giàu chất điện ảnh => Tài năng bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc của Nguyễn Tuân Từ dùng phong phú, câu văn có nhịp điệu, có dư ba…Nhà văn đã dựng lên

thật đẹp nhóm tượng ba người – “Nhóm tượng đài thiên lương” với bút pháp điện ảnh

+ Nguyễn Tuân phát huy cao độ bút pháp lãng mạn và nghệ thuật đối lập Người quản ngục kính sợ, vái lạy tên tử tội Tội nhân dõng dạc răn dạy đạo lí cho kẻ quản tù Nơi bóng tối làm chủ bỗng rực rỡ ánh sáng Nơi bất lương ngự trị bỗng toả sáng thiên lương và nhân phẩm Nơi xưa nay chỉ có nhơ bẩn, hôi hám và sự thô bỉ dẫn đến chết chóc, huỷ diệt, bỗng trở thành địa điểm của sự sáng tạo nghệ thuật

+ Cảnh cho chữ được dựng trên tình huống truyện oái oăm, giàu kịch tính

Đề 2 (12điểm- Dành cho học sinh giỏi)

Cảnh Huấn Cao cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và cảnh hai chị em Liên đợi tàu trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam là những trang tuyệt bút Anh/chị hãy làm rõ: dù chung một khuynh hướng lãng mạn nhưng hai cảnh trên thể hiện những khám phá riêng cho tấy cái nhìn độc đáo của mỗi nhà văn về hiện thực

Gợi ý nội dung cơ bản làm bài

1 Tương đồng

- Đều là những nhà văn lãng mạn, bất mãn với xã hội đương thời, cái tôi luôn mong muốn thoát khỏi thực tại, hướng tới cái đẹp, cái cao cả, dù chỉ còn ở trong quá khứ (Liên với những hồi ức mơ tưởng, Huấn Cao với những cử chỉ, hành động chỉ còn ở một thời vang bóng)

- Cùng khai thác những ấn tượng mạnh thông qua thủ pháp đối lập triệt để của bút pháp lãng mạn: + Hai đứa trẻ: đối lập giữa bóng tối- án sáng; đoàn tàu- phố huyện, hiện tại- quá khứ

+ Chữ người tử tù: ánh sáng- bóng tối; xấu xa- đẹp đẽ; độc ác- lương thiện; cao cả- thấp hèn

Chủ yếu qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, miêu tả trực tiếp Kiểu đặc trưng của nhân vật lãng mạn: nhân vật

lí tưởng

Nghệ thuật dựng cảnh Miêu tả doàn tàu từ xa đến gần,

gần đến xa, đan xen hồi ức và thực tại, mang tính chất ĐỘNG

Cảnh có độ lùi thời gian, như diễn ra trong thế giới xưa Mang tình chất TĨNH

Ngôn ngữ Nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất

thơ

Ngôn ngữ góc cạnh, giàu tính tạo hình

Ý nghĩa tư tưởng Khát khao đổi đời, niềm hi vọng Khẳng định sự chiến thắng của cái

Trang 34

mong manh về cuộc sống khác, nhưng chưa vượt lên khỏi hiện thực

đẹp, cái thiện bằng những hình tượng sống và hành động vượt lên trên hiện thực

3 Bình luận

- Hai cảnh ở cuối mỗi truyện thể hiện tập trung nhất quan niệm thẩm mĩ và quan niệm nhân sinh của mỗi nhà văn

- Khẳng định rõ nét hai phong cách văn chương, một bên tài hoa phóng túng, một bên đa cảm tinh tế

- Khẳng định bản chất sáng tạo thực sự: cần có cái nhìn riêng, quan niệm và cách khám phá riêng trước hiện thực đời sống

- Nguyên nhân của sự khác biệt: do quan niệm của nhà văn về hiện thực, do tạng văn chương của mỗi nhà văn (Nguyễn Tuân cá tính mạnh; Thạch Lam đôn hậu, giàu trắc ẩn, tinh tế

Trang 35

Lời mở: “Và tôi sống như đóa hoa này, tỏa ngát hương thơm cho đời…” Bài hát “Sống như

những đóa hoa” của nhạc sĩ Tạ Quang Thắng từ khi ra đời đã làm thổn thức bao trái tim người Nó hay không chỉ bởi giai điệu ngọt ngào mà còn vì lời ca vô cùng ý nghĩa Đại văn hào Pháp Vích to

Huy gô cũng từng nói những lời tha thiết: “Con người ta sinh ra không phải để kéo lê xiềng xích mà

là để dang cánh bay trên bầu trời” Niềm khao khát được làm đầy trái tim, khao khát được sống mạnh mẽ, sâu sắc, chói sáng, vượt lên trên cái bằng phẳng tầm thường luôn những điều da

diết trong tâm hồn những con người chân chính Từ Xuân Diệu với Phấn thông vàng, Tỏa

nhị kiều đến Nguyễn Tuân trong Thiếu quê hương, Thạch Lam trong Hai đứa trẻ…ta đều

gặp những nỗi niềm day dứt ấy Nhưng làm thế nào vượt lên trên những bi kịch đời thường

để tỏa sáng? Giờ học hôm nay, chúng ta sẽ cùng đến với truyện ngắn Đời thừa của Nam

Cao để cùng tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên

TIẾT 1

Đời thừa- Nam Cao

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả

Nam Cao (1915 - 1951) là bút danh của Trần Hữu Tri Quê ở Đại Hoàng, Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Trước 1945, dạy học, viết văn, 1943 gia nhập Hội Văn Hóa Cứu quốc Tham gia cướp chính quyền ở địa phương, 1946 làm phóng viên mặt trận miền Nam Trung Bộ Sau đó lên Việt Bắc làm công tác Văn nghệ, 1951 hy sinh tại vùng địch hậu Liên khu III

Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng Tác phẩm gồm có trên 60 truyện ngắn và một

tiểu thuyết Sống mòn Chí Phèo, Lão Hạc, Mua nhà, Đời thừa… là những truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao Sau Cách mạng Nam Cao viết truyện ngắn Đôi mắt, Nhật ký ở rừng, Chuyện Biên giới

Nam Cao có tài kể chuyện, ngôn ngữ uyển chuyển, gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng, giỏi phân tích tâm lý nhân vật Nhiều trang văn của ông thấm đượm ý vị triết lý trữ tình Đề tài nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản được Nam Cao viết rất hay và cảm động

2 Tác phẩm

2.1 Xuất xứ

Truyện ngắn “Đời thừa” ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trong tuần báo “Tiểu thuyết số 7” số 490 ra ngày 4/12/1943 Cùng viết về đề tài này có “Mực mài nước mắt” của Lan Khai, “Nợ văn” của Lãng

Tử “Đời thừa” còn gần gũi về đề tài với một số tác phẩm của Nam Cao như “Trăng sáng”, “Nước

mắt” và tiểu thuyết “Sống mòn” Qua tác phẩm, Nam Cao đã miêu tả thành công tâm trạng của một

người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng

Trang 36

Hộ là một nhà văn trẻ có tài, viết thận trọng, ôm ấp một lý tưởng một hoài bão xây dựng nên một sự nghiệp văn chương Nhưng từ khi mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ - một cô gái lỡ làng, bị tình nhân phụ - Hộ nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ, Hộ mới hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền, những bận rộn tẹp nhẹp ngốn phần lớn thì giờ của anh Hộ phải cho in nhiều cuốn văn viết vội để rồi phải đỏ mặt xấu hổ khi đọc văn mình, tự mắng mình là một thằng khốn nạn Nhưng rồi, anh tự nhủ mình đành phí đi vài năm để kiếm tiền nuôi gia đình, bởi anh không thể sống mà không có tình thương Nhưng khát vọng không thể ngủ yên Gặp Trung và Mão, bạn văn, Hộ lại say mèm mới trở về nhà Lần này hắn đánh Từ, đuổi vợ con ra khỏi nhà lúc đang đêm Gần sáng, tỉnh rượu, hắn nhớn nhác đi tìm Từ Thấy Từ xanh xao ôm con thơ đang thiếp đi trên võng Hắn thương cảm, ngắm mặt Từ, rồi khẽ thở dài, lắc đầu ái ngại, dịu dàng nắm lấy tay Từ, rồi khóc nức nở Từ tỉnh giấc, choàng tay ôm lấy cổ chồng Nước mắt Từ giàn giụa Nức nở Từ nói: “… Chính vì em mà anh khổ!”… Giật mình, con thơ khóc Từ vừa dỗ con, vừa cất tiếng ru qua làn nước mắt:

“Ai làm cho khói lên giời,

Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;

Ai làm cho Nam, Bắc phân kì,

Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân”

II Phân tích

1/ Tấn bi kịch của nhân vật Hộ trong xã hội cũ

1.1 Khái niệm về bi kịch tinh thần: Là trạng thái tinh thần của con người có ước mơ, có hoài bão,

có khát vọng cao đẹp mà vì hoàn cảnh khách quan nào đó không thể thực hiện được, khiến con người luôn sống trong tâm trạng dằn vặt, giằng xé đau khổ

- Những biểu hiện của bi kịch tinh thần của Hộ, đó là bi kịch nghề nghiệp và bi kịch tình thương

1.2 Bi kịch nghề nghiệp (bi kịch văn chương; bi kịch “vỡ mộng”)

a) Hộ vốn là một nhà văn nghèo, nhưng giàu tài năng và khát vọng nghề nghiệp

+ Có lí tưởng sống cao đẹp, có niềm say mê lạc thú về văn chương, luôn khát khao khẳng

định vị trí của mình bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội, được xã hội công nhận “Lòng hắn

đẹp Đầu hắn mang một hoài bão lớn hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở ” Đối với anh “nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời ” Đây là

ước mơ chân chính của một con người muốn sống có ý thức về giá trị của sự sống không chấp nhận cuộc sống mờ nhạt, vô danh, vô nghĩa, muốn khẳng định giá trị của đời mình bằng sự nghiệp vinh quang

chói sáng của một người

+ Có nỗ lực hành động, say mê đọc, tìm tòi, suy ngẫm không biết chán Luôn sùng bái cái đẹp, Hộ

luôn giữ được những nhu cầu tinh thần cao quý, có phần bất chấp những đòi hỏi vật chất tầm thường,

tủn mủn: “Khi được đọc một đoạn văn mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dầu ăn một món ăn

ngon đến đâu cũng không bằng” Sau này, dù nợ áo cơm ghì sát đất, “Hộ điên người lên vì phải

xoay tiền” nhưng hắn vẫn thấy “khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy

cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi” Mở đầu tác phẩm, là gương mặt khắc khổ của Hộ đang chú

mục trên từng trang sách Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra

+ Có quan điểm đúng đắn

b/ Nhưng vấp phải thực tế, tất cả mộng đẹp đều vỡ tan "Hoài bão lớn" mà Hộ quyết đạt tới

bằng một ý chí phi thường đã không thể thực hiện được Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang "đau đớn không bờ bến": bị một gã Sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ

Hộ đã "cuối xuống nỗi đau khổ của Từ ( ) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ" Trước số

Trang 37

đã phản bội lại chính mình Nhà văn chân chính nơi anh cảm thấy hết sức đau đớn, nhục nhã chứng kiến gã "bất lương", "đê tiện" cũng chính là anh đang làm thứ hàng giả: "Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến cho văn chương"

+ Vốn tràn đầy say mê khao khát >< giờ đây Hộ phải oằn lưng để mưu sinh

+ Mong khẳng định tên tuổi bằng sự nghiệp >< Càng ngày Hộ càng để mất ý nghĩa và giá trị cá

nhân mình Một nhà văn nhưng cái tên cũng không được lưu trong tâm trí bạn đọc

+ Hiểu rất rõ bản chất muôn đời của văn chương là sáng tạo ''văn chương chỉ dung nạp những người

biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có",

việc viết dễ dãi cẩu thả là điều bất lương ''đê tiện'' không thể nào tha thứ được >< giờ đây Hộ phải

viết những cái vô vị nhạt nhẽo gợi tình cảm rất nhẹ rất nông, khoấy loãng trong thứ văn dễ d·i Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến cho văn chương" Người nghệ sĩ sáng tạo trước đây

trong Hộ đã chết

+ Có hoài bão, ước mơ sống có ích cho xã hội >< trở thành kẻ sống vô ích, đời thừa

+ Muốn nâng cao giá trị đời sống bằng những việc làm có ích và được cuộc đời công nhận >< cuối cùng phải bán rẻ nhân phẩm lương tâm trách nhiệm của người cầm bút

+ Từng ôm ấp hoài bão lớn, sẵn sàng vì nó mà hi sinh tất cả "Đói rét không hề có nghĩa lí gì đối

với một gã trẻ tuổi say mê lí tưởng…" >< giờ đây, Hộ thấy chỉ lo cơm áo đã đủ mệt

- Trước kia tin tưởng bao nhiêu thì nay đau đớn thất vọng bấy nhiêu! Hắn “rũ buồn”, lắc đầu tự

bảo: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!”; càng cố vùng vẫy thoát ra càng chìm ngập sâu hơn Hộ đau buồn vô hạn vì cảm thấy đời mình đã bỏ đi, không gì cứu vãn được

c/ Giải thoát: Nhưng mặc dù nỗi đau đớn vì "đời thừa" to lớn đến đâu, nỗi mong mỏi được giải thoát mãnh liệt đến đâu, Hộ vẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy Bởi vì,

thoát li vợ con để rảnh thân - dù là vì gì chăng nữa - vẫn cứ là tàn nhẫn, vứt bỏ lòng

thương "Hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người" Như vậy là, với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người; không có

tình thương, con người chỉ là "một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái" Khi cuộc đời

tàn nhẫn buộc anh phải lựa chọn một trong hai thứ: nghệ thuật và tình thương, anh đã hi

sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương, hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai, dù đây

là sự hi sinh quá lớn đối với anh Như vậy là, một lần nữa, người nghệ sĩ say mê lí tưởng

nghệ thuật, có thể hi sinh tất cả cho nghệ thuật ấy, đã hi sinh nghệ thuật cho tình thương, cái mà anh còn thấy cao hơn cả nghệ thuật Việc dứt khoát đặt tình thương, trách nhiệm đối với con người lên trên nghệ thuật như vậy, cũng như lời phát biểu của Hộ về thế nào là một tác phẩm văn chương "thật giá trị" cho thấy cái gốc nhân đạo sâu vững của nhà văn lớn

Nam Cao

- So sánh với Điền trong Trăng sáng:

+ Sự lựa chọn của Hộ ở đây khó khăn, phức tạp và cao hơn sự lựa chọn của Điền

trong Trăng sáng Ở Điền là sự lựa chọn giữa hai con đường nghệ thuật: lãng mạn thoát li

và hiện thực nhân đạo; lựa chọn giữa hai lối sống: hưởng lạc, phù phiếm, chạy theo sự

Trang 38

quyến rũ của những "người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích đu, nhún nhẩy", phản bội lại vợ con và tất cả những người nghèo khổ lam lũ lầm than, hay trở về chỗ đứng giữa họ, chung thuỷ với họ Từ bỏ nghệ thuật lãng mạn thoát li để đến với nghệ thuật hiện thực, với Điền, là cưỡng lại sự quyến rũ tội lỗi, là sự thức tỉnh của lương tâm, sự giác ngộ của tâm hồn Sự lựa chọn ấy đem đến cho Điền niềm yên tâm và sức mạnh mới

+ Ở Hộ có khác Anh từ bỏ nghệ thuật không phải như từ bỏ một đam mê tội lỗi, cũng không phải như từ bỏ một sở thích, sở nguyện Nghệ thuật với anh có ý nghĩa lớn lao, thiêng liêng hơn nhiều Đó là lẽ sống đời anh, là lí tưởng anh hằng theo đuổi, là cái chứng tỏ sự có mặt của anh trên cõi đời này Chính vì vậy mà Hộ không băn khoăn nhiều khi phải lựa chọn tình thương, trách nhiệm thay cho nghệ thuật, khi từ chối lời kêu g ọi thoát li vợ con để được "sống cho mạnh mẽ" và thực hiện "hoài bão lớn" của đời mình

d/ Vẫn không tránh khỏi bi kịch:

- Nhưng khát vọng không để cho anh yên Bởi anh vẫn phải kiếm tiền bằng ngòi bút, vẫn hàng ngày hàng giờ phải sống với nó Cho nên vẫn đau khổ dai dẳng, lúc ngấm ngầm âm ỉ,

lúc nhói lên dữ dội Và anh cứ bị giày vò bởi mặc cảm cay đắng là đang sống một cách vô

ích, vô nghĩa, là "một người thừa" Con người "khao khát bay lên cao" và không thiếu tài năng và ý chí để thực hiện khao khát của mình ấy làm sao không đau khổ u uất trong tình cảnh đó?

- Hộ đã cố hi vọng sau vài năm bỏ phí để kiếm tiền, cho người vợ có được cái vốn con để làm ăn, anh lại có thể trở lại với con đường sự nghiệp của mình Nhưng cuộc sống cơm á o ngày càng chẳng dễ dàng khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền và tình cảnh của

Hộ trở nên hoàn toàn bế tắc Gánh nặng cơm áo chẳng hề nhẹ đi mà cứ ngày càng nặng thêm mãi: "Đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc ( ) Hộ điên người lên vì phải xoay tiền"

- Những "bận rôn tẹp nhẹp vô nghĩa lí" đó chẳng những làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của Hộ mà còn thường xuyên phá hoại sự yên tĩnh, thư thái của tâm hồn là điều rất quan trọng đối với người trí thức sáng tạo: "Hắn còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá Hắn trở nên cau có và gắt gỏng Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn" Đi ra phố để thoát khỏi "không khí bực tức ở trong nhà" hay tìm người bạn nào để nói chuyện văn chương cho vơi nỗi lòng, nhưng chẳng đi đâu trốn được bản thân mình, Hộ chỉ càng nung nấu thêm tâm sự u sầu: "Hắn lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương ( ) Lòng hắn rũ buồn"

- Như một thông lệ, người nghệ sĩ bất đắc chí ấy tìm đến sự giải sầu giải uất trong men

rượu Nhưng cả rượu cũng chẳng làm vơi đi mà chỉ như càng làm cho anh thấm thía thêm nỗi khổ sở đắng cay của mình Thành ra muốn "nâng cao giá trị sự sống" bằng cao vọng về

sự nghiệp thì cứ phải sống như một kẻ "vô ích", một "người thừa"; chỉ còn cò thể cố giữ lấy tình thương như là lẽ sống cuối cùng thì lại cứ tàn nhẫn, luôn gây khổ cho những người cần được yêu thương, đáng được yêu thương Bi kịch văn chương luôn gắn với bi kịch đời thường của Hộ

e/ Ý nghĩa:

Trang 39

cá nhân được phát triển bằng sự nghiệp tinh thần có ích cho xã hội, nhưng đã bị nhấn chìm

trong lối sống mà anh ta rất khinh ghét vì không xứng đáng với con người Trong Sống

mòn, tiếng kêu đó lại cất lên một cách thống thiết: "Đau đớn thay những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất!" Cũng như nhà văn Hộ, anh giáo Thứ

đau đớn vì cuộc đời khốn nạn cứ bắt anh phải sống "cái lối sống quá ư loài vật, chẳng biết một việc gì ngoài cái việc đổ thức ăn vào dạ dày"! Đó là nỗi đau tinh thần to lớn, không nguôi và không gì có thể xoa dịu được đối với người trí thức khát khao sáng tạo, khát khao

khẳng định trước cuộc đời "khao khát muốn lên cao"

+ Xoáy sâu vào bi kịch tinh thần này, Nam Cao đã lên án sâu sắc cái hiện thực tàn nhẫn đã vùi dập

mọi ước mơ, hoài bão của con người, tước đi ý nghĩa sự sống chân chính thật sự xứng đáng với con người

+ Đồng thời, trong khi dựng lại chân thật tình cảnh nhếch nhác của người trí thức nghèo,

ngòi bút Nam Cao còn đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu

sắc Với Đời thừa (sau đó là Sống mòn), Nam Cao đã đề cập gần như trực diện tới vấn đề cá

nhân, nói lên yêu cầu được khẳng định và phát triển của cá nhân - vấn đề mà lâu nay, người

ta tưởng đâu chỉ đặt ra trong văn học lãng mạn đương thời

(Bình luận mở rộng:

Chủ đề cá nhân không có trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng lại là chủ đề tâm huyết của các văn học lãng mạn Có điều là, nếu như phần nhiều cái "tôi" trong văn học lãng mạn thể hiện qua cái tôi giãy giụa "nổi loạn" "chống lại xã hội thù địch với nó, nó càng ngày càng khép kín “mất bề rộng ta đi tìm bề sâu”, tự thực hiện và tự "phát triển" trong sự đối lập với xã hội; thì ở Nam Cao, yêu cầu khẳng định và phát triển cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội, hướng theo lí tưởng nhân tạo tiến bộ Hoài bão cá nhân mà Hộ say mê đạt tới để tự khẳng định trước cuộc đời là một sự nghiệp văn chương, nhưng là thứ văn chương chân chính, mang tinh thần nhân đạo cao đẹp, " nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình" Có lẽ trong văn học đương thời, không ai ngoài Nam Cao đã đặt ra vấn đề cá nhân một cách đúng đắn và tiến bộ như vậy Qua đó, người ta phải nghĩ đến việc thay đổi làm sao để xã hội ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời, đã đẩy cá nhân vào tình trạng bị đè bẹp Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó)

g/ Nghệ thuật

Xây dựng nhân vật Hộ, Nam Cao không quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách bằng những nét cá

tính độc đáo gây ấn tượng đậm - khác với đám nhân vật trong Giông tố, Số đỏ, Tắt đèn và cả Chí

Phèo Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm nổi bật bi kịch tinh thần của người

trí thức đó Và ở đây, nổi bật sở trường miêu tả, phân tích tâm lí con người của nhà văn, nhất là khi miêu tả sự diễn biến tâm lí và cho thấy quy luật tâm lí con người Có thể nói, trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều tài năng đương thời, chưa có ai có được ngòi bút tinh tế, sâu sắc trong việc

khám phá, thể hiện tâm lí như Nam Cao Sức hấp dẫn nghệ thuật của Đời thừa - và của mảng sáng

tác về người tiểu tư sản của Nam Cao - một phần quan trọng cũng là ở đó

Đó là sự xấu hổ của một chút lương tri ít nhiều chưa vỡ nát trong Hộ Hộ đau đớn, tủi cực không phải vì không được viết, mà là anh đã tự giẫm lên những nguyên tắc do mình đặt ra, còn gì đau đớn hơn khi mình lại phản bội chính mình Nam Cao tỏ ra rất tinh tế và cảm thông trước tâm trạng của

Ngày đăng: 07/03/2016, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm