Đến năm 2008, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg nhấn mạnh "Thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tran
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ MINH HẢI
CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI
CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ MINH HẢI
CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI
CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng
đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, trước hết tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy TS Nguyễn Trường Thọ, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trường Đại học Kinh tế Đại học
Quốc gia Hà Nội, các thầy cô thuộc các Trường Đại học và các chuyên gia tham gia
giảng dạy đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học vừa qua Vốn kiến
thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình
nghiên cứu Luận văn mà còn là hành trang quí báu trong công việc và cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Chi cục Quản lý thị trường
tỉnh Hải Dương, các Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ, Thanh tra - Pháp chế, Hành
chính - Kế toán, Tổ chức cán bộ, các Đội Quản lý thị trường thuộc Chi cục Quản lý
thị trường tỉnh Hải Dương; các đồng nghiệp, các chuyên gia của Cục Quản lý thị
trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ, Thanh tra Sở Khoa
học Công nghệ tỉnh Hải Dương, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Hải Dương…
đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình tra đổi, hướng dẫn và cung cấp thông tin trong
quá trình nghiên cứu và hoành thành Luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy, cô, các chuyên gia, các đồng nghiệp dồi dào
sức khỏe và thành công trong công việc
Trân trọng!
Học viên: Vũ Minh Hải
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 5
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về chống sản xuất, buôn bán hàng giả 7
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.2 Chống sản xuất, buôn bán hàng giả 17
1.3 Kinh nghiệm đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục Quản lý thị trường một số tỉnh, thành phố 25
1.3.1 Kinh nghiệm chống hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội 25
1.3.2 Kinh nghiệm chống hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh 26
CHƯƠNG 2: 28
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 28
2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 29
2.3 Phương pháp thống kê mô tả và so sánh 30
2.4 Phương pháp chuyên gia 32
2.5 Phương pháp nghiên cứu điển hình 32
2.6 Phương pháp tổng kết thực tiễn 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 35
Trang 6VÀ CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN
LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH HẢI DƯƠNG 35
3.1 Thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương và tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả 35
3.1.2 Nguồn gốc, phương thức, thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương 37
3.2 Thực trạng chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục Quản lý thị 40 3.2.1 Tổ chức lực lượng 40
3.2.2 Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm 47
3.2.3 Công tác đánh giá, dự báo tình hình 52
3.2.4 Công tác tham mưu và chỉ đạo, điều hành chống sản xuất, buôn bán hàng giả 53
3.2.5 Công tác tuyên truyền chống sản xuất, buôn bán hàng giả 54
3.2.6 Trang bị cơ sở vật chất, điều kiện làm việc 56
3.2.7 Công tác phối hợp chống sản xuất, buôn bán hàng giả 57
3.3 Đánh giá chung 59
3.3.1 Những thuận lợi và kết quả đã đạt được 59
3.3.2 Những khó khăn, bất cập và nguyên nhân 62
CHƯƠNG 4: 68
DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 68
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 68
4.1 Dự báo tình hình 68
Trang 74.1.1 Bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước, trong tỉnh sẽ làm gia tăng tình
trạng sản xuất, buôn bán hàng giả với phương thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp
hơn 68
4.1.2 Họat động sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương
trong thời gian tới diễn biến phức tạp với chiều hướng gia tăng 69
4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả chống sản xuất, buôn bán
hàng trên giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hải Dương trong thời gian
4.2.3 Cơ cấu lại các Đội Quản lý thị trường, bố trí lại nhân lực, nâng cao chất
lượng công chức được tuyển dụng đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức 73
4.2.4 Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đấu tranh
chống hàng giả 77
4.2.5 Tăng cường sự phối hợp với các cấp chính quyền, cơ quan chức năng,
Hiệp hội và doanh nghiệp trong phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả 79
4.2.6 Xây dựng cơ sở dữ liệu về hàng giả 81
4.2.7 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trinh sát, quản lý địa bàn; tổ
chức kiểm tra, xử lý vi phạm và hậu kiểm; đổi mới phương thức phân bổ chỉ
tiêu xử lý sản xuất, buôn bán hàng giả 82
4.2.8 Bổ sung, hoàn thiện cơ sở vật chất và thực hiện cải cách hành chính
công 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 BCĐ Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Hình vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức và mối quan hệ 41
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 So sánh số vụ xử lý hàng giả của Chi cục QLTT trên 22
Bảng 3.1 So sánh số vụ sản xuất hàng giả/tổng số vụ xử lý hàng giả 40
Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn nhân lực trực tiếp và gián tiếp 43
Bảng 3.3 Cơ cấu nguồn nhân lực theo loại hình tuyển dụng, trình độ đào tạo 44
Bảng 3.4 So sánh chỉ tiêu giao và kết quả kiểm tra xử lý giai đoạn 2010 - 2014 48
Bảng 3.5 Chỉ tiêu giao và kết quả thực hiện của các Đội QLTT 49
Bảng 3.6 So sánh kết quả kiểm tra, xử lý hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương với Chi cục QLTT một số tỉnh giai đoạn 2010 - 2014 50
Bảng 3.7 Cơ cấu hành vi vi phạm và kết quả xử lý 51
Bảng 3.8 So sánh số vụ phối hợp và tổng số vụ 59
Bảng 4.1: Phương pháp tính điểm thi đua 83
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg
về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả Đến năm 2008, Thủ tướng Chính
phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg nhấn mạnh "Thực hiện Chỉ thị số
31/1999/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu
tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, trong thời gian qua, các Bộ, ngành, địa
phương đã có nhiều cố gắng trong công tác này và đạt được những kết quả nhất
định, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút đầu tư, bảo vệ người tiêu dùng,
từng bước tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh", "Tuy nhiên, công tác chống
hàng giả vẫn còn nhiều bất cập, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Tình trạng
sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn ngày càng gia tăng và diễn
biến phức tạp cả về quy mô, lĩnh vực lẫn phương thức sản xuất, tổ chức tiêu thụ và
nhập khẩu từ bên ngoài", "Các loại hàng giả, hàng kém chất lượng nói trên đã và
đang gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực, sức
khỏe nhân dân và môi sinh, môi trường" (Chỉ thị 28/2008/CT-TTg, 2008, trang 1-2)
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do các Bộ, ngành, địa phương và
các lực lượng có chức năng chống hàng giả chưa thật sự nhận thức đầy đủ trách
nhiệm; tính chủ động, phối hợp trong nắm bắt thông tin, chỉ đạo điều hành, tổ chức
đấu tranh còn nhiều hạn chế; tổ chức lực lượng còn phân tán, chồng chéo giữa các
ngành, các cấp, làm nảy sinh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm Nhiều doanh nghiệp
chưa chủ động áp dụng các biện pháp chống hàng giả để tự bảo vệ sản phẩm của
mình, chưa thường xuyên hợp tác chặt chẽ với cơ quan nhà nước có chức năng để
chống hàng giả Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật hình sự và hành chính về xử lý
hàng giả cũng có nhiều nội dung chưa rõ ràng, đồng bộ; các chế tài xử lý hành
chính và xử lý hình sự chưa đủ răn đe, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm
Tỉnh Hải Dương thuộc vùng Đông Bắc Bộ nằm trong khu vực tam giác kinh
tế trọng điểm là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố:
Trang 12Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng Yên thuộc khu
vực phía Bắc nước ta với gần 1.400 km đường biên giới trên bộ giáp ranh với Trung
Quốc, quốc gia được đánh giá là "phân xưởng sản xuất hàng giả lớn nhất thế giới",
với nhiều cửa khẩu quốc tế quan trọng tại Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao
Bằng… Với quy mô dân số khá lớn, 1.763.214 người, mật độ dân số 1.065
người/km², thành phần dân số nông thôn 76,9%, thành thị 23,1%, Hải Dương là một
thị trường khá "màu mỡ" để tiêu thụ các loại hàng giả Trong đó chủ yếu là các loại
hàng giả được nhập khẩu, cả chính ngạch, tiểu ngạch và nhập lậu từ Trung Quốc
Công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục QLTT
tỉnh Hải Dương trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực, được
chính quyền, nhân dân trong và ngoài tỉnh ghi nhận, đánh giá cao thông qua triển
khai đồng bộ trên nhiều mặt hoạt động từ điều tra, trinh sát, nắm bắt địa bàn, thông
tin tuyên truyền, phối hợp đến kiểm tra, xử lý vi phạm trong sản xuất, kinh doanh
hàng giả Riêng giai đoạn năm 2010 đến hết năm 2014 đã tổ chức kiểm tra, xử lý
trên 400 vụ, xử phạt trên 1,5 tỷ đồng, tịch thu tiêu hủy hàng giả trị giá nhiều tỷ đồng
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan,
vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra,
đặc biệt khi nền kinh tế trong nước, trong tỉnh đang phát triển mạnh mẽ, có độ mở
ngày càng cao với kinh tế thế giới, khu vực Trong khi đó, tình trạng sản xuất, kinh
doanh hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp
cả về quy mô, lĩnh vực lẫn nguồn gốc, phương thức sản xuất, tổ chức tiêu thụ; hàng
giả đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề nhức nhối, được quan tâm của toàn xã hội
Công tác QLTT, chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong thời gian gần đây
có tính thời sự cao, việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn
bán hàng giả đối với các cơ quan thực thi QLTT nói chung, Chi cục QLTT tỉnh Hải
Dương nói riêng có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn đặt ra Do đó, việc
nghiên cứu, đánh giá công tác đấu tranh chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Hải
Dương để đưa ra các giải pháp đối mới, nâng cao hiệu quả thực sự là một vấn đề
Trang 13Mặc dù có bề dày 58 năm trưởng thành và phát triển, nhưng những công
trình nghiên cứu chuyên sâu, tài liệu khoa học về lực lượng QLTT nói chung, công
tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng còn hết sức hạn chế, thiếu tính cập
nhật các vấn đề mới phát sinh theo điều kiện thực tế hiện nay Đối với Chi cục
QLTT tỉnh Hải Dương, đây là một nội dung nghiên cứu hoàn toàn mới
Trên cơ sở đó, qua quá trình công tác tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương, tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài “Chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản
lý thị trường tỉnh Hải Dương” làm Luận văn Thạc sĩ
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống các giải pháp cơ bản nhằm làm tốt công tác đấu tranh
chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương trong thời
gian tới
- Bổ sung, phát triển lý luận chống sản xuất, buôn bán hàng giả của lực
lượng QLTT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sản xuất, buôn bán
hàng giả và chống sản xuất, buôn bán hàng giả
- Khảo sát, đánh giá thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh
Hải Dương và công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục
QLTT tỉnh Hải Dương
- Dự báo và đưa ra một số giải pháp làm tốt công tác đấu tranh chống sản
xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Sản xuất, buôn bán hàng giả là gì và lực lượng QLTT phải làm gì để chống
sản xuất, buôn bán hàng giả?
- Tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương thời
gian qua và Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương đã chống sản xuất, buôn bán hàng giả
như thế nào?
Trang 14- Tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương sẽ diễn
ra như thế nào và phải làm gì để làm tốt công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả
tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương trong thời gian tới?
4 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả của
Chi cục QLTT cấp tỉnh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn: Tỉnh Hải Dương
+ Thời gian: Giới hạn trong 5 năm từ tháng 01/2010 đến hết tháng 12/2014
+ Nội dung: Chống sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc phạm vi chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương
- Giới hạn nghiên cứu: Các loại hàng giả thuộc diện cấm lưu hành, lưu thông
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bước đầu làm rõ một số vấn đề lý luận về chống sản xuất, buôn bán hàng
giả của lực lượng QLTT
- Xây dựng một số giải pháp để làm tốt công tác đấu tranh chống sản xuất,
buôn bán hàng giả làm cơ sở để áp dụng tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương và Chi
cục QLTT một số tỉnh có đặc điểm, điều kiện tương tự có thể vận dụng, áp dụng
- Làm tài liệu tham khảo
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về
chống sản xuất buôn bán hàng giả
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả và chống sản xuất, buôn
bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hải Dương
Chương 4 Dự báo và giải pháp chống hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận một số tài liệu, đề tài khoa
học, báo cáo khoa học, bài viết… Mặc dù có nhiều nội dung rất có giá trị và đã
được tác giả kế thừa tổng hợp, phân tích và đánh giá làm tư liệu cho Luận văn, tuy
nhiên các đề tài đều có những điểm hạn chế nhất định về nội dung, phạm vi nghiên
cứu cũng như khả năng áp dụng trên thực tế, đặc biệt là trong chống sản xuất, buôn
bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương Có thể nêu ra một số tài liệu như sau:
- "Sổ tay chống hàng giả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam" của
Bộ Công Thương Sổ tay đã khái quát về hàng giả, tác hại của hàng giả; nêu các
biện pháp xử lý đối hàng giả bằng biện pháp dân sự, hành chính, hình sự; đưa ra
một số giải pháp nâng cao hiệu quả chống hàng giả đối với nhà nước, đối với doanh
nghiệp, đối với người tiêu dùng và đối với người bán lẻ; thông tin về các cơ quan
chức năng chống hàng giả gồm: Các cơ quan thực thi của Việt Nam, các Hiệp hội
và các Tổ chức, Hiệp hội quốc tế
Tài liệu có giá trị về mặt hệ thống thông tin chung nhưng thiếu các nghiên
cứu, đánh giá chuyên sâu về mặt lý luận cũng như gắn với thực tiễn trên địa bàn
tỉnh Hải Dương và công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi
cục QLTT tỉnh Hải Dương
- Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Văn Nghiên: "Hải quan Quảng Ninh đấu tranh
chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại qua biên giới" đăng trên Tạp chí
Cộng sản số Chuyên đề tháng 9/2014 Bài viết đã phân tích thực trạng, hoạt động
nhập khẩu hàng giả qua biên giới Quảng Ninh với hơn 120 km đường bộ giáp với
Trung Quốc; những thủ đoạn vi phạm, loại hàng giả phổ biến được nhập khẩu và
biện pháp đấu tranh chống hàng giả được nhập khẩu của Hải quan Quảng Ninh;
Trang 16cung cấp những thông tin chuyên sâu về hàng giả được nhập khẩu qua kênh chính
ngạch, tiểu ngạch và nhập lậu cũng như nêu ra một số bất cập trong cơ chế chính sách
Tuy nhiên, do gắn với hoạt động hải quan nên những thông tin có thể được
kế thừa không nhiều, chủ yếu là đánh giá xu hướng hàng giả được nhập khẩu về
Việt Nam trong thời gian tới và phương thức, thủ đoạn vận chuyển hàng giả từ biên
giới vào nội địa
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Luật Hình
sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu của địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)" của tác giả
Trương Văn Út, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Đấu tranh phòng chống tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả ở Việt
Nam hiện nay" của tác giả Đỗ Thị Lan; Luận văn tiến sĩ Luật học "Tội làm hàng
giả, tội buôn bán hàng giả - Thực trạng và biện pháp phòng, chống" của tác giả Trần
Ngọc Việt Đây là các đề tài nghiên cứu về tội danh làm hàng giả, buôn bán hàng
giả, khung nghiên cứu của các Đề tài này là hoạt động điều tra, hoạt động tố tụng,
hoạt động xét xử gắn với hoạt động tư pháp
Bên cạnh việc kế thừa nội dung nhất định về mặt lý luận cũng như định
hướng một số giải pháp chống sản xuất, buôn bán hàng giả Các đề tài nghiên cứu
nêu trên có những điểm không phù hợp do mục tiêu nghiên cứu chính của Luận văn
là hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên cơ sở quan hệ hành chính gắn
với hoạt động kiểm tra hành chính của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương; nội hàm của
tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả cũng hẹp hơn khá nhiều so với vi phạm hành
chính trong sản xuất, buôn bán hàng giả do gắn với yếu tố lỗi, quy mô, tính chất, trị
giá, loại hàng hóa bị làm giả…
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Đánh giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
của hàng giả trong hoạt động của QLTT" của tác giả Chu Thị Thu Hương Tác giả
hiện là Phó cục trưởng Cục QLTT - Bộ Công Thương, nội dung nghiên cứu tập
trung đánh giá yếu tố xâm phạm quyền trên quan điểm Luật Sở hữu trí tuệ - hàng
hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ Mặc dù đề tài có những nội dung liên quan đến công
Trang 17giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - thực chất là việc xem xét có hay không
vi phạm - là việc tiếp cận trên phương diện "kỹ thuật", các kỹ năng mang tính nghề
nghiệp, trình độ chuyên môn chuyên sâu, vận dụng các quy định của pháp luật… để
đưa ra kết luận Đây là một thao tác, một bước nằm trong quy trình kiểm tra, xử lý
vi phạm của QLTT và được nghiên cứu theo hướng học thuật nhiều hơn là tác
nghiệp thực tế Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu của Luận văn đối với lực lượng
QLTT toàn quốc, mang tính vĩ mô; bản thân tác giả công tác trong lực lượng nhưng
không tham gia hoạt động kiểm tra thực tế, Luận văn được thực hiện từ năm 2006
nên có rất nhiều điểm không phù hợp cả về khung pháp lý cũng như điều kiện thực tế
- Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế "Giải pháp đấu tranh phòng, chống sản
xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nguyễn
Thanh Hiền Tác giả hiện đang công tác tại Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên thực
hiện năm 2012 có khá nhiều điểm tương đồng với đề tài nghiên cứu Tuy nhiên,
Khung nghiên cứu của Đề tài bao gồm 2 hoạt động là "phòng" và "chống"; nội dung
nghiên cứu tiếp cận khái niệm hàng giả bao gồm cả khái niệm hàng hóa xâm phạm
quyền trong Luật sở hữu trí tuệ, đây là cách hiểu không phù hợp theo quan điểm
nghiên cứu cá nhân cũng như theo quy định pháp luật hiện hành Luận văn cũng
chưa làm rõ được nguồn gốc, bản chất của hàng giả theo lý luận kinh tế chính trị
Mác - Lê Nin làm cơ sở đánh giá tác hại của hàng giả, các yếu tố tác động từ đó đưa
ra các biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Phạm vi nghiên cứu gắn với hoạt động của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên có
nhiều điểm khác biệt đặc biệt là cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực
1.2 Cơ sở lý luận về chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hàng giả
Khái niệm hàng giả:
Quan niệm về hàng giả đã xuất hiện ở nước ta trong nhiều năm trở lại đây,
nhất là từ khi nước ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung bao
Trang 18cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều
quan niệm về hàng giả "Hàng giả" là sự kết hợp của 2 từ "hàng hóa" và "giả"
Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong
không gian và có thể trao đổi, mua bán được Trong kinh tế chính trị Mac-Lenin,
hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán
Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng
thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Đồ vật trở thành hàng
hóa phải có tính ích dụng đối với người dùng - giá trị sử dụng - nghĩa là được chi
phí bởi lao động và khi đưa ra thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng
hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả Theo Từ điển tiếng Việt thì "Hàng hoá là
sản phẩm dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu
dùng thông qua quan hệ trao đổi mua - bán" (2003, trang 421) Theo khoản 2 Điều 3
Luật Thương mại 2005: "Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản
hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai” (2005, trang 2)
Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được
Kinh tế học hiện đại quan niệm hàng hóa bao gồm cả dịch vụ được cung ứng cho
người tiêu dùng
Theo Từ điển tiếng Việt "Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm ra với
vẻ bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật" (2003, trang 421) Theo
từ điển Bách khoa toàn thư mở wikipedia thì hàng giả là hàng làm bắt chước theo
mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ
tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử
dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức,
các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi
Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem
nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua Cách hiểu này thực ra chỉ là giải thích về
mặt ngôn ngữ theo thực tế của hàng giả mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp
lý, thể hiện bản chất của hàng giả
Trang 19phẩm vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian, có thể trao đổi,
mua bán được Theo khoản 8 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11
năm 2013 quy định xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất,
buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì hàng giả gồm:
"a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công
dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị
sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc
đăng ký;
b) Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh
dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu
chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi
trên nhãn, bao bì hàng hóa;
c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có
dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất
đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ
70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công
bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi
trên nhãn, bao bì hàng hóa;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa
chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa;
giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương
nhân khác;
e) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về
nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
g) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005;
h) Tem, nhãn, bao bì giả
9 “Tem, nhãn, bao bì giả” gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các
Trang 20loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác
của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân
khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành,
mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác" (2013, trang 4)
Như vậy, tiếp cận trên cơ sở kinh tế chính trị Mác Lênin, hàng giả có thể
không phải là hàng hóa (có giá trị, kết tinh sức lao động để sản xuất ra sản phẩm,
nhưng không có giá trị sử dụng – tính ích dụng của hàng hóa ) hoặc là hàng hóa (có
có kết tinh hao phí lao động và có giá trị sử dụng nhất định) Tuy nhiên, hàng giả
không tuân theo quy luật giá trị, trong lưu thông nó không tuân theo nguyên tắc
ngang giá; trong giao dịch, một bên tham gia giao dịch không được tiếp cận đầy đủ
thông tin về hàng hóa - bị lừa dối Giá trị của hàng hóa không phản ánh hao phí lao
động xã hội cần thiết, giá cả hàng hóa luôn cao hơn rất nhiều hao phí lao động xã
hội thực tế/cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
Trên góc độ pháp lý, hàng giả là sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu, buôn
bán trái pháp luật; pháp luật cấm các hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng
trữ… hàng giả; các hành vi vi phạm về hàng giả tùy theo tính chất, mức độ vi phạm
sẽ bị xử lý theo các quy định pháp luật có liên quan về hành chính hoặc hình sự
Đặc điểm của hàng giả:
Thứ nhất, hàng giả là những vật phẩm, hàng hoá được sản xuất, nhập khẩu,
buôn bán trái pháp luật
Thứ hai, hàng giả dựa trên các hàng hoá đã có trên thị trường, có những đặc
điểm, tính chất, kiểu dáng, nhãn hàng hóa hoặc các thông tin dấu hiệu của hàng thật,
gây nhầm lẫn với hàng thật, hàng đang được bảo hộ Hàng giả thường có đặc điểm,
tính chất, kiểu dáng của hàng thật, mô phỏng, sao chép các đặc điểm của hàng thật
sao cho giống hàng thật để người tiêu dùng khó nhận biết, phân biệt Hầu hết hàng
giả được sản xuất với mẫu mã, bao bì, kiểu dáng giống như hàng thật
Thứ ba, về chất lượng: Đối với nhóm hàng giả chất lượng thì hàng giả đều là
hàng hóa kém chất lượng, không có giá trị sử dụng, có rất ít giá trị sử dụng hoặc giá
Trang 21bố, tiêu chuẩn áp dụng
Đối với nhóm hàng giả hình thức chất lượng thường không bằng hàng thật
Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp hàng giả chất lượng tương đương so với
hàng thật, việc làm giả về mẫu mã, bao bì nhằm giảm chi phí đầu tư, rút ngắn quá
trình xâm nhập thị trường
Thứ tư, hàng giả được tạo ra nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng, xâm
hại quyền lợi của đơn vị sản xuất hàng thật Hàng giả không đáp ứng đúng nhu cầu
của người tiêu dùng do giá trị sử dụng của loại hàng này ít hơn, thậm chí gây nguy
hại, không có giá trị sử dụng so với hàng thật gây tác hại trong khi người tiêu dùng
phải chi phí một khoản tiền lớn hơn so với giá trị thực của hàng hóa Mục đích của
việc làm hàng giả là làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với hàng thật để tiêu thụ
hàng giả Mục đích này đạt được từ sự cố gắng mô phỏng những đặc điểm, tính chất
của hàng thật, thể hiện qua những dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn
Chính vì có các dấu hiệu, yếu tố gây nhầm lẫn với hàng thật mà hàng giả nhìn giống
như hàng thật và người tiêu dùng mua nhầm hàng giả Hàng giả gây mất uy tín cho
doanh nghiệp sản xuất ra hàng thật về chất lượng hàng hóa, gây thiệt hại về kinh tế
Trên thực tế, có một số ít trường hợp người tiêu dùng có chủ ý khi mua hàng
giả, biết là hàng giả nhưng vẫn mua vì ham giá rẻ, chạy theo thương hiệu, mốt…
Trong trường hợp này mặc dù không bị lừa dối khi tham gia giao dịch nhưng quyền
lợi của doanh nghiệp sản xuất ra hàng thật vẫn bị xâm hại, ảnh hưởng đến trật tự xã
hội, công bằng xã hội và thiết chế xã hội chủ nghĩa
1.2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của sản xuất, buôn bán hàng giả; nguyên nhân
và tác hại của sản xuất, buôn bán hàng giả
Khái niệm sản xuất, buôn bán hàng giả:
Sản xuất hàng giả: Kinh tế chính trị Mac - Lenin xác định 3 yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
Trong đó, con người (sức lao động) tác động lên đối tượng lao động thông qua tư
liệu lao động, biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con
người - sản phẩm, hàng hóa Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài
Trang 22khoản quốc gia đã định nghĩa sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc
thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành
sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản
xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp
cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền
Từ đó có thể hiểu, sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để
trao đổi, sản xuất hàng giả là quá trình làm ra sản phẩm giả, hàng giả Quá trình sản
xuất hàng giả bắt đầu từ động cơ, mục đích là tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi
phí; phương thức thực hiện bất chấp các quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức,
chuẩn mực của xã hội; sản phẩm đầu ra của sản xuất là các loại hàng giả
Buôn bán hàng giả: Theo khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005 “Mua bán
hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”
(2005, trang 2) Trong đó, "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh
lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (2005, trang 2) Luật Doanh nghiệp
năm 2014 quy định "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (2014, trang 2)
Trong thực tế cuộc sống và các quy định hiện hành, các thuật ngữ "kinh
doanh", "mua bán" và "buôn bán" thường được hiểu theo cùng một nghĩa Các hoạt
động như "sản xuất", "đầu tư" thường được tách riêng để nhấn mạnh đặc thù của
từng hoạt động Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm
"buôn bán" là hoạt động mua, bán nói chung gắn với các hoạt động mua vào, bán ra
hàng hóa nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể
Theo đó, buôn bán hàng giả là hoạt động mua và, bán ra hàng giả nhằm mục
đích sinh lời của các chủ thể Buôn bán hàng giả có liên hệ mật thiết với sản xuất
Trang 23nếu không có kênh phân phối này thì hàng giả được sản xuất ra sẽ không đến tay
người tiêu dùng Nói buôn bán hàng giả là thuần tuý nhìn từ góc độ thị trường
Nhưng sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả là hai khâu thường gắn liền với
nhau, có cùng bản chất Theo Luật Hình sự Việt Nam thì hành vi này bị xét xử
theo một tội danh chung là “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả”
Đặc điểm của sản xuất, buôn bán hàng giả:
Bản chất của sản xuất, buôn bán hàng giả là việc chiếm đoạt giá trị vật chất
và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính Hàng giả
chủ yếu được sản xuất với chất lượng kém, giá thành thấp nhưng mang vỏ bọc của
những nhà sản xuất nổi tiếng, sản phẩm nổi tiếng được ưa chuộng nên được tiêu thụ
nhanh, với số lượng lớn, mang lại siêu lợi nhuận Dù có sự khác biệt về loại hàng
hóa, giá trị, kênh phân phối, yêu cầu công nghệ để sản xuất… Tựu chung, hoạt động
sản xuất, buôn bán hàng giả đều có chung một số đặc điểm cơ bản:
- Trái với các quy định của pháp luật, xâm hại quyền lợi người tiêu dùng,
nhà sản xuất, kinh doanh chân chính và trật tự xã hội, pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Hàng giả chủ yếu được sản xuất, buôn bán lén lút, không công khai, ngoại
trừ một số trường hợp đặc biệt các loại hàng giả được sản xuất dưới hình thức công
khai bởi các đơn vị được được thành lập có thủ tục pháp lý, thường tập trung chủ
yếu vào nhóm các loại hàng giả về chất lượng, các loại hàng hóa giả mạo SHTT có
nhãn hiệu tương tự đến mức khó phân biệt, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ
- Không được đầu tư về công nghệ, địa điểm, cơ sở vật chất, con người… nên
sản phẩm kém chất lượng, không đảm bảo vệ sinh, môi trường, yêu cầu kỹ thuật…
- Hàng giả thường "núp dưới bóng" các sản phẩm nổi tiếng được ưa chuộng
hoặc các mặt hàng có nhu đang cầu cao trên thị trường
- Tập trung nhiều ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, dân trí và thu
nhập thấp; hoạt động kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng không thường
xuyên hoặc kém hiệu quả
Nguyên nhân của tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả:
Nguyên nhân khách quan:
Trang 24- Hàng giả là một sản phẩm tiêu cực của cạnh tranh, của kinh tế hàng hóa,
kinh tế thị trường
- Sản xuất, buôn bán hàng hàng giả luôn mang lại siêu lợi nhuận, luôn là một
"hấp lực khó cưỡng" đối với các đối tượng làm ăn phi pháp
- Nước ta có đường biên giới khá dài với Trung Quốc, một trung tâm, "phân
xưởng" làm hàng giả của thế giới, nên việc ngăn chặn hàng giả thẩm lậu vào nội địa
là vấn đề hết sức phức tạp
- Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, mạng internet, việc "học
hỏi" để làm hàng giả, công nghệ làm giả trở nên khá đơn giản và khá dễ dàng để
thực hiện
- Do thói quen, tâm lý tiêu dùng sính hàng ngoại, sính hàng hiệu nên Việt
Nam là một thị trường béo bở đối với hàng giả Bên cạnh đó, tâm lý người Việt
cũng không muốn kiện cáo, ra tòa nên nhiều khi mua phải hàng giả vẫn "ngậm bồ
hòn làm ngọt", không khởi kiện, tố cáo
- Do giá đầu vào thấp nên hàng giả luôn có giá cả hết sức cạnh tranh so với
hàng thật, đặc biệt ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, người dân vừa có thu nhập
thấp, vừa thiếu thông tin
- Với chính sách mở cửa về kinh tế ở nước ta hiện nay, người làm hàng giả,
buôn bán hàng giả lợi dụng liên kết với các công ty nước ngoài hoặc bằng con
đường nhập lậu tạo ra đường dây sản xuất, buôn bán hàng giả
Nguyên nhân chủ quan:
- Cơ chế chính sách, đặc biệt là các quy định của pháp luật về chống sản
xuất, buôn bán hàng giả còn nhiều bất cập Trong quá trình xây dựng luật, Nghị
định vẫn còn tình trạng khoanh vùng, giữ sân theo từng Bộ, ngành, lĩnh vực dẫn đến
tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo hoặc phân khúc Ví dụ: Mặc dù QLTT là lực
lượng chủ công trong đấu tranh chống hàng giả như theo quy định tại Nghị định số
99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp đối với hành vi vi phạm liên quan đến hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (hàng
Trang 25thẩm quyền xử lý ở khâu sản xuất; khi phát hiện vi phạm chỉ có thẩm quyền xử lý
phần ngọn mà không xử lý được phần gốc Ở khâu sản xuất chỉ có Thanh tra Khoa
học - Công nghệ có thẩm quyền trong khi thống kê cho thấy tại tỉnh Hải Dương,
trong 4 năm 2010 - 2014, Thanh tra Khoa học - Công nghệ không có vụ việc xử lý
về hành vi giả mạo nhãn hiệu nói chung, trong sản xuất nói riêng
- Nhiều quy định mang tính định khung, khái niệm về hàng giả chưa rõ ràng
nên việc áp dụng của cơ quan thực thi gặp khó khăn Chính sách hải quan thông
thoáng (thông quan theo phân luồng, theo khai báo không kiểm tra hàng hóa) bị
doanh nghiệp lợi dụng nhập khẩu hàng giả
- Nhận thức của doanh nghiệp về đấu tranh chống hàng giả còn hạn chế,
nhiều doanh nghiệp không phối hợp với cơ quan chức năng khi được yêu cầu mặc
dù sản phẩm của mình bị làm giả Nhận thức về vấn đề bản quyền, bảo hộ chưa
được quan tâm đúng mức dẫn đến thiếu căn cứ để khởi kiện, đề nghị xử lý khi bị
xâm hại hoặc vô tình xâm hại vào bản quyền, quyền bảo hộ của doanh nghiệp khác
Không có các biện pháp kỹ thuật để tự bảo vệ, chống bị làm giả
- Trong công tác chống hàng giả, các lực lượng chức năng gặp nhiều khó
khăn, trở ngại trong việc giám định, thẩm định hàng giả do thiếu về cơ chế kinh phí
và yếu về hệ thống labour thí nghiệm, giám định
- Công tác vận động tuyên truyền để người dân tham gia vào công tác đấu
tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả chưa được quan tâm đúng mức, mang tính
hình thức chưa phát huy hiệu quả
- Công tác quản lý kinh tế, quản lý sản xuất, kinh doanh còn thiếu sót, sơ hở,
lỏng lẻo và yếu kém Trong môi trường hoạt động rộng, các ngành sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ là vô cùng phong phú, nhiều thành phần kinh tế, nhiều đơn vị cùng
tham gia sản xuất và kinh doanh một mặt hàng làm cho công tác quản lý phức tạp,
khó khăn trong khi hiệu quả hoạt động thực thi nói chung, chống hàng giả nói riêng
còn nhiều hạn chế
- Hiệu lực, hiệu quả công tác phối hợp đấu tranh chống hàng giả giữa các lực
lượng chức năng; giữa lực lượng chức năng với các doanh nghiệp, hiệp hội và mối
Trang 26liên hệ giữa lực lượng chức năng với người tiêu dùng còn hạn chế Sự chỉ đạo điều
hành thống nhất từ trung ương đến địa phương hoặc giữa các ngành, các lực lượng
chức năng chống hàng giả chưa đầy đủ, thường xuyên và chặt chẽ nên vẫn xảy ra
tình trạng cùng một vụ việc hàng giả nhưng có nơi xử lý, nơi thì không, chỉ xử lý
hành vi ở khâu lưu thông mà không xử lý người sản xuất, dẫn đến tình trạng xử lý
không nghiêm, không triệt để, tận gốc
Tác hại của sản xuất, buôn bán hàng giả:
Sản xuất, buôn bán hàng giả là hiện tượng tiêu cực gây nguy hiểm lớn cho xã
hội, gây thiệt hại (trực tiếp hoặc gián tiếp) cho người tiêu dùng, cho các doanh
nghiệp có hàng hóa bị làm giả và làm ảnh hưởng đến thiết chế xã hội chủ nghĩa,
tính nghiêm minh của pháp luật, môi trường kinh doanh bình đẳng và môi trường
thu hút đầu tư
Đối với người tiêu dùng hàng giả làm thiệt hại đến quyền lợi của họ do phải
trả nhiều tiền để mua phải sản phẩm giả với chức năng sử dụng kém và chất lượng
thấp, nhiều lúc hoàn toàn không có khả năng sử dụng, làm tổn hại đến sức khoẻ của
chính người tiêu dùng và cộng đồng, gây ra thiệt hại kinh tế khi sử dụng…
Đối với doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả bị thiệt hại về doanh thu, lợi
nhuận, mất chi phí đã bỏ ra để nghiên cứu và phát triển sản phẩm…; làm ảnh hưởng
đến uy tín của doanh nghiệp và tạo môi trường kinh doanh bất bình đẳng
Đối với nhà nước, hàng giả là một thách thức đối với hiệu lực pháp luật và
năng lực quản lý, thực thi của bộ máy nhà nước nói chung, cơ quan thực thi chống
hàng giả nói riêng Nhà nước thất thu về thuế trong khi phải trả các khoản chi phí
cho sự tồn tại và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đấu tranh phòng
chống hàng giả và chi phí cho việc khắc phục những hậu quả do hàng giả gây ra
Đối với quan hệ kinh tế quốc tế hàng giả làm giảm sự hấp dẫn trong thu hút
đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng rất quan ngại khi đầu tư
vào một đất nước có chế độ bảo hộ sở hữu trí tuệ kém hiệu quả và nhiều nguy cơ
hàng hoá bị làm giả, bị bắt chước, sao chép Một điều quan trọng hàng đầu nữa là
Trang 27đất nước ta đang trong quá trình hội nhập sâu nhưng lại có nhiều hàng giả thì điều
đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thực hiện các định chế kinh tế quốc tế mà điển hình nhất là các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Tác hại nghiêm trọng và tiêu cực của hàng giả đến sự phát triển ổn định của
kinh tế, công bằng trong kinh doanh, trật tự xã hội, quyền lợi của người tiêu dùng
và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nên chống sản xuất, buôn bán hàng giả đã,
đang và sẽ là nhiệm vụ chung, được quan tâm hàng đầu của toàn xã hội
1.2.2 Chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.2.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và nhà nước về chống sản xuất, buôn
bán hàng giả
Nhận thức rõ những tác hại của hàng giả cũng như tình trạng báo động của
nạn hàng giả đối với kinh tế xã hội và cộng đồng, Đảng và nhà nước ta coi việc đấu
tranh chống hàng giả là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài và chủ trương đấu tranh
rất kiên quyết, xử lý nghiêm các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích của người tiêu dùng cũng như lợi
ích của các nhà doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật
Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, TW Đảng đã nhận xét, đánh giá
và chỉ rõ các hiện tượng tiêu cực này Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương khoá VI trước Đại hội đại biểu lần thứ VII (tháng 6/1991) đã chỉ ra
công tác QLTT có nhiều sơ hở, nạn buôn lậu, làm hàng giả trầm trọng và kéo dài;
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực đã xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu
cực mới mà chúng ta chưa lường hết, chậm phát hiện và chưa xử lý tốt Đó là lối
làm ăn chạy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn đến vi phạm luật, lừa đảo, hối lộ,
làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế Những quan điểm, đường lối, chủ trương của
Đảng như nêu trên được khẳng định lại trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành
TW Đảng khoá VII tại đại hội lần thứ VIII phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi
với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường và tăng
cường QLTT, hướng dẫn các thành phần kinh tế trong thương nghiệp phát triển
Trang 28đúng hướng, đúng chính sách, pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, chống trốn, lậu
thuế, lưu thông hàng giả
Từ những quan điểm nhận định nêu trên, Đảng ta đã có chủ chương kiên
quyết chống buôn lậu và các hiện tượng tiêu cực khác trong lưu thông Các quan
điểm, chủ trương của Đảng về sản xuất và buôn bán hàng giả trong cơ chế kinh tế
thị trường đã được nhà nước ta từng bước thể chế hoá thành các văn bản pháp luật
và tổ chức các lực lượng triển khai thực hiện trong những năm qua Ngày
27/10/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg về đấu
tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, nội dung của Chỉ thị nêu rõ "các Bộ
trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch
UBND các tỉnh, thành… phải coi việc chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm
vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài Phải có biện pháp đồng bộ, kiên quyết để
đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả
Mọi hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ hàng giả được phát hiện đều
phải xử lý nghiêm theo pháp luật…" (1999, trang 1)
Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến chống sản xuất,
buôn bán hàng giả:
- Bộ luật Dân sự năm 2005: Từ Điều 736 đến Điều 749 quy định về quyền
tác giả và quyền có liên quan sở hữu công nghiệp; từ Điều 750 đến Điều 756 quy
định về quyền sử hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
- Bộ Luật Hình Sự số 15/1999/QH10 được sửa đổi bổ sung tại Luật số
37/2009/QH12 ngày 19/6/2009: Điều 170a Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên
quan; Điều 156 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi phân bón, thuốc thú y,
thuốc bảo vệ thực vật, giống cây chồng, vật nuôi; Điều 164 Tội làm tem giả, vé giả;
tội buôn bán tem giả, vé giả;…
Trang 29- Luật thương mại năm 2005: Điều 14 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng
của người tiêu dùng; Điều 108 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng
cáo thương mại
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005: Quy định về quyền tác giả, quyền liên quan
đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc
bảo hộ các quyền đó Theo đó, việc xử lý các hành vi xâm phẩm quyền sở hữu trí
tuệ (bao gồm cả giả mạo nhãn hàng hóa) được thực hiện bởi các cơ quan Toà án,
Thanh tra, QLTT, Hải quan, Công an, UBND các cấp
- Luật cạnh tranh năm 2004: Điều 40 Chỉ dẫn gây nhầm lẫm; Điều 41 Xâm
phạm bí mật kinh doanh
- Luật bảo vệ người tiêu dùng 2011
- Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
- Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng
giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Hệ thống các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành và các văn
bản pháp quy khác cụ thể hoá và hướng dẫn chi tiết cách áp dụng, hướng dẫn thi
hành đối với từng điều khoản, quy định liên quan Đây thực sự là những văn bản
quy phạm pháp luật quan trọng trong việc tạo dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho
công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, đồng thời, thể hiện rõ quan
điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh chống hàng giả
1.2.2.2 Nội dung chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Quản lý thị trường
Chống sản xuất, buôn bán hàng là một hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế -
hoạt động quản lý sản xuất, buôn bán hàng hóa trên thị trường
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện: Lực lượng Quản lý thị trường, công chức
Quản lý thị trường
Thứ hai, về đối tượng: Là hàng giả và các hoạt động sản xuất, buôn bán
hàng giả, các tổ chức cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 30Thứ ba, về mục tiêu: Kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới triệt tiêu hàng
giả, sản xuất, buôn bán hàng giả
Thứ tư, về nội dung: Đối với Chi cục QLTT cấp tỉnh, trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài, chống sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm:
- Nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình thị trường liên quan đến hoạt động sản
xuất, buôn bán hàng giả và tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn
- Tham mưu, kiến nghị, đề xuất với các cấp, các cơ quan có liên quan ban
hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản, chính sách, chương trình, kế hoạch có liên quan
đến hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng giả và hoạt động của lực lượng QLTT Chỉ
đạo định hướng hoặc chỉ đạo cụ thể, phối hợp, hướng dẫn để các Đội QLTT triển
khai hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả
- Tổ chức lực lượng, bố trí nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, trang bị
kiến thức cho cán bộ công chức trong đơn vị
- Tổ chức tuyên truyền chống sản xuất, buôn bán hàng giả
- Bố trí, trang cấp, trang bị cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho các Phòng,
Đội QLTT và cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
- Tổ chức phối hợp chống sản xuất, buôn bán hàng giả: Phối hợp với các
doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả; phối hợp với người các Hiệp hội nghề, tổ
chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và người tiêu dùng; phối hợp với các cơ quan
chức năng có liên quan
- Tổ chức công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong sản xuất, buôn bán hàng
giả: Trinh sát, điều tra cơ bản và nắm địa bàn; phân bổ chỉ tiêu kiểm tra, xử lý vi
phạm trong sản xuất, buôn bán hàng giả; tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm; hậu kiểm
Thứ năm, về biện pháp thực hiện: Thông qua các biện pháp hành chính, kinh
tế và tuyên truyền, giáo dục Tùy theo đặc thù, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ
quan, đơn vị và cấp hành chính mà có thể thực hiện một hoặc kết hợp nhiều biện
pháp để đạt được mục tiêu đã đề ra
Chống sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện bằng quyền lực nhà nước,
Trang 31ích của nhà nước "Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng
dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng
ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan" "Quản lý nhà nước là
một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối v.v… để
đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định" (Phan Huy
Đường, 2012, trang 27) Trong đó, "Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ
chức, có mục đích của nhà nước lên các hoạt động kinh tế để sử dụng có hiệu quả
tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài
của nền kinh tế - xã hội" (Phan Huy Đường, 2012, trang 63)
1.2.2.3 Vai trò của lực lượng Quản lý thị trường trong chống sản xuất, buôn
bán hàng giả
Theo quy định hiện hành của pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trực tiếp chống sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm: Lực lượng Cảnh sát kinh tế
(ngành Công an); lực lượng Hải quan (ngành Tài chính); Thanh tra chuyên ngành
Công Thương, Khoa học - Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Y tế; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển cũng có chức năng,
thẩm quyền chống hàng giả
Các lực lượng có thể chủ động tổ chức công tác đấu tranh chống hàng giả
hoặc phối hợp liên ngành tổ chức thực hiện tùy theo tính chất, đặc thù vụ việc Công
tác phối hợp được thực hiện theo Kế hoạch, chương trình (thông qua các đợt cao
điểm đấu tranh chống hàng giả hoặc tổ chức kiểm tra chống hàng giả theo chuyên
đề, chủ điểm…) hoặc mang tính đột xuất, theo yêu cầu thực tế phát sinh của vụ
việc
Lực lượng QLTT (ngành Công Thương) là lực lượng chính, chủ công trong
chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên thị trường nội địa; được tổ chức chuyên
nghiệp, bám sát thị trường, tổ chức kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm
trong sản xuất, buôn bán hàng giả và các hành vi vi phạm trong nhiều lĩnh vực khác
nhau theo chức năng nhiệm vụ được giao
Trang 32Bảng 1.1 So sánh số vụ xử lý hàng giả của Chi cục QLTT trên
tổng số vụ xử lý hàng giả của các cơ quan chức năng trên toàn tỉnh
Nội dung Tổng số vụ kiểm tra, xử lý của Chi
cục QLTT tỉnh Hải Dương
Tổng số vụ kiểm tra, xử lý của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
(Nguồn: Thường trực Ban Chỉ đạo 389 tỉnh)
Tại cấp tỉnh, theo quy định tại Nghị định 10/CP ngày 23/01/1995 về tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn của QLTT và Nghị định 27/2008/NĐ-CP ngày 13/3/2008 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 10/CP thì Chi cục QLTT là cơ quan trực
thuộc Sở Công Thương giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước và
kiểm tra việc tuân theo pháp luật các hoạt động thương mại, công nghiệp của tổ
chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thương
mại; đề xuất với Sở Công Thương và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
kế hoạch, biện pháp về tổ chức thị trường, bảo đảm lưu thông hàng hoá theo pháp
luật, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các vi phạm trong hoạt động thương mại, công
nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thương mại
cho các tổ chức và cá nhân hoạt động liên quan đến thương mại trên địa bàn tỉnh
Chống sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong số rất nhiều nhiệm vụ khác của Chi
cục như chống hàng cấm, hàng kém chất lượng, hàng hóa nhập lậu, vi phạm đăng
ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh… và các hành vi gian lận thương mại khác
1.2.2.4 Các nhân tố ảnh hướng đến công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác
chống sản xuất, buôn bán hàng giả Tuy nhiên, tựu chung lại có 4 nhân tố quan
Trang 33trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng
giả, bao gồm:
Thể chế chính sách:
Đây là yếu tố quyết định, ảnh hưởng mang tính bao trùm tới mọi hoạt động
đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến
sản xuất, buôn bán hàng giả và đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Thể chế chính sách bao gồm cả các quy định của pháp luật quy định nội hàm
của khái niệm hàng giả; tổ chức bộ máy các cơ quan có chức năng đấu tranh chống
hàng giả và phạm vi chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này; các biện pháp và chế
tài xử lý… Thể chế chính sách còn bao gồm các quy định có ý nghĩa quan trọng
liên quan đến chế độ chi trả các khoản chi phí, trang cấp trang thiết bị cơ sở vật chất
phục vụ đấu tranh chống hàng giả; các nội dung liên quan đến quản lý hoạt động
sản xuất, kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu; chính sách biên mậu, quản lý chất
lượng hàng hóa…
Tùy theo tính phù hợp, kịp thời và nội dung mà thể chế chính sách có thể có
tác động tích cực hay tiêu cực đến kết quả chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý, đấu tranh chống
sản xuất, buôn bán hàng giả:
Cơ chế chính sách, văn bản pháp luật, đường lối chủ chương hay chương
trình kế hoạch, đề án sẽ chỉ đơn thuần là những văn bản giấy tờ, khẩu hiệu nếu
không được thực hiện nghiêm minh, phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế Hoạt
động của các cơ quan quản lý, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả là bước
hiện thực hóa và tác động trực tiếp vào hàng giả và sản xuất, buôn bán hàng giả
Mặc dù cả về lý luận và thực tiễn gần như không thể lượng hóa bằng hệ
thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác đấu tranh chống hàng giả tuy nhiên,
tùy theo chức năng, nhiệm vụ hoặc từng phần việc, từng công việc mang tính tác
nghiệp cụ thể nếu được thực hiện đúng, đủ, kịp thời, nghiêm minh và công bằng thì
hiệu lực hiệu quả chắc chắn cao hơn Nếu các cơ quan quản lý, đấu tranh chống
Trang 34hàng giả lơ là, chủ quan, không quan tâm, coi trọng thì hàng giả chắc chắn sẽ có
"đất" phát triển
Hoạt động của các cơ quan quản lý, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng
giả tùy theo chức năng nhiệm vụ sẽ có những khác biệt trong triển khai thực tế
nhưng tựu chung đều liên quan đến yếu tố con người, từ công tác chỉ đạo điều hành,
tổ chức lực lượng, tham mưu giúp việc đến tổ chức thực hiện và đặc biệt là ý thức
của mỗi cán bộ, công chức thực thi
Công tác phối hợp:
Trong đấu tranh chống hàng giả, công tác phối hợp quan trọng nhất là phối
hợp với các doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả, bị xâm phạm Hơn ai hết, doanh
nghiệp có hàng hóa vi phạm có đầy đủ các thông tin, tiêu chí mang tính kỹ thuật để
xác định hàng giả cũng như cung cấp thông tin, các dấu hiệu vi phạm để trinh sát,
điều tra, xác định dấu hiệu vi phạm làm căn cứ xử lý
Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan, các
cấp chính quyền cũng cần được coi trọng và phát huy hiệu quả Làm tốt công tác
phối hợp sẽ tạo ra được sức mạnh tập thể, thế trận hiệp đồng đẩy lùi hàng giả
Công tác thông tin, tuyên truyền:
Thông tin tuyên truyền là hoạt động mang tính xuyên suốt tác động đến kết
quả công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả Thông qua thông tin
tuyên truyền người tiêu dùng sẽ có thêm thông tin để phân biệt hàng thật, hàng giả,
nhận thức được mức độ nguy hại của hàng giả qua đó chủ động tố giác với cơ quan
chức năng các vụ việc vi phạm Nhận thức đúng đắn về hàng giả về hàng giả của
người tiêu dùng sẽ khiến cho hàng giả không còn "đất sống" trên thị trường
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng giả, qua thông tin tuyên
truyền sẽ giúp nhận thức được những tác động tiêu cực của hàng giả đến hiệu quả
kinh doanh, môi trường kinh doanh; nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp
trong chống hàng giả; trang bị kiến thức để doanh nghiệp có các biện pháp phòng,
chống hàng giả hiệu quả và phù hợp
Trang 35Đối với các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền, tin tuyên truyền sẽ giúp
nhận thức đúng, đủ vị trí, vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi tổ chức cũng
như mỗi cán bộ công chức trong tổ chức đó trong cuộc chiến chống hàng giả
Thông tin tuyên truyền là biện pháp tác động tới ý thức, tới nhận thức của
con người, đòi hỏi một quá trình lâu dài, thường xuyên, liên tục với nội dung, hình
thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, với từng giai đoạn Một khi nhận thức đã
đúng, đã đủ thì tác động sẽ sâu, rộng và có sức lan tỏa lơn, hiệu quả sẽ cao
1.3 Kinh nghiệm đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục
Quản lý thị trường một số tỉnh, thành phố
1.3.1 Kinh nghiệm chống hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường thành phố
Hà Nội
Chi cục QLTT thành phố Hà Nội là Chi cục QLTT có kết quả kiểm tra xử lý
hàng giả cao nhất trên toàn quốc xét cả trên số vụ kiểm tra, xử lý, trị giá hàng giả bị
tịch thu, tiêu hủy và vụ việc mang tính điển hình toàn quốc Năm 2013, Chi cục
QLTT thành phố Hà Nội kiểm tra, xử lý 3.300 vụ việc (lực lượng QLTT toàn quốc
13.101 vụ); thu phạt VPHC 10.951.961.000 đồng (lực lượng QLTT toàn quốc
53.833.971.000 đồng); trị giá hàng hóa vi phạm bị tịch thu 8.172.031.000 đồng (lực
lượng QLTT toàn quốc 27.429.949.000 đồng) Đội QLTT cơ động chống hàng giả
(Đội QLTT số 14) được thành lập từ năm 2004, là Đội QLTT chuyên trách chống
hàng giả được thành lập sớm nhất lực lượng QLTT toàn quốc
Trong chống sản xuất, buôn bán hàng giả, Chi cục QLTT có mối quan hệ
phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp và đại diện chủ thể quyền, đây là kênh
thông tin quan trọng phát hiện hàng giả trên thị trường cũng như giúp quá trình xác
minh hàng giả, phục vụ quá trình kiểm tra, xử lý được thực hiện nhanh, chính xác
Công tác chống hàng giả được triển khai theo chuyên đề, chủ điểm kết hợp với công
tác tuyên truyền, ký cam kết đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh chống hàng
giả Công tác xã hội hóa đấu tranh chống hàng giả cũng được vận dụng linh hoạt
thông qua sự tham gia của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, khu
dân cư Một trong những bài học điển hình của Chi cục QLTT TP Hà Nội là các
Trang 36chuyên đề về "Tuyến phố kinh doanh không có hàng giả" thông qua tuyên truyền,
vận động ký cam kết không sản xuất, kinh doanh hàng giả kết hợp với hậu kiểm
Bên cạnh đó, thông qua xã hội hóa và phối hợp tốt với các doanh nghiệp, nhiều
doanh nghiệp đã hỗ trợ, trích thưởng kinh phí cho hoạt động chống hàng giả của
Chi cục, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống hàng giả
Bài học kinh nghiệm cho Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hải Dương:
- Xây dựng các chuyên đề theo mô hình "Tuyến phố kinh doanh không có
hàng giả"
- Tăng cường công tác phối hợp với doanh nghiệp
- Tổ chức chống hàng giả theo chuyên đề, chủ điểm như: Về nhóm mặt hàng,
ngành hàng; về địa bàn; về thời gian (ví dụ: Dịp đầu năm học mới chống hàng giả
với các mặt hàng đồ dùng phục vụ học sinh, máy tính cầm tay… )…
- Tăng cường công tác phối kết hợp với các cấp chính quyền cơ sở, khu dân
cư
1.3.2 Kinh nghiệm chống hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng
Ninh
Với đặc thù là tỉnh có trên 120 km đường biên giới trên bộ với Trung Quốc -
"phân xưởng sản xuất hàng giả" của thế giới, trong đấu trang chống hàng giả, Chi
cục QLTT tỉnh Quảng Ninh xác định công tác đấu tranh chống hàng giả của Chi cục
được gắn liền với công tác chống vận chuyển, buôn bán hàng hóa nhập lậu trên
khâu lưu thông trong đó trọng tâm là hàng hóa được vận chuyển từ biên giới vào
nội địa trên dọc tuyến quốc lộ 18 Hàng giả được vận chuyển, buôn bán trên địa bàn
tỉnh tập trung chủ yếu vào nhóm hàng giả nhập lậu, hàng giả nhập khẩu chính ngạch
(thông qua khai báo hải quan gian lận, gian lận thương mại) và "hàng giả nhập khẩu
giả hàng nội", công tác dự báo tình hình, tập huấn hướng dẫn phân biệt hàng thật -
hàng giả được Chi cục QLTT tỉnh Quảng Ninh quan tâm triển khai tốt để các Đội
QLTT và mỗi công chức QLTT kịp thời cập nhật được thông tin xác định hàng giả,
phát hiện và xử lý vi phạm
Trang 37Do tuyến quốc lộ 18 gần như là con đường độc đạo từ biên giới vào nội địa
nên Chi cục xác định kiểm tra chống hàng giả trên khâu lưu thông có nguồn gốc từ
Trung Quốc là khâu trọng yếu, quan trọng nhất trong triển khai chống sản xuất,
buôn bán hàng giả tại Chi cục, đồng thời góp phần quan trọng ngăn chặn hàng giả
thẩm lậu vào thị trường nội địa Do đó, Chi cục đã tổ chức việc triển khai đồng bộ
và quyết liệt tới các Đội QLTT trên toàn tuyến, tạo thành thế trận "thiên la địa
võng" ngăn chặn hàng giả thẩm lậu vào địa bàn trên khâu lưu thông
Bài học kinh nghiệm cho Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hải Dương:
- Xác định trọng tâm chống hàng giả đối với hàng hóa vận chuyển trên khâu
lưu thông của Chi cục QLTT tỉnh Quảng Ninh phù hợp với điều kiện thực tế của
Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương do Hải Dương là tỉnh giáp Quảng Ninh, Hải Phòng
và Hà Nội có các tuyến giao thông trọng điểm lưu chuyển hàng hóa đến các tỉnh và
hàng giả chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc
- Tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn phân biệt hàng thật - hàng giả
cho công chức QLTT
- Có biện pháp chống hàng giả đối với "hàng giả nhập khẩu giả hàng nội"
- Tổ chức chống hàng giả thông suốt theo cung tuyến vận chuyển (trên tuyến
Quốc lộ 5, Quốc lộ 18….)
Trang 38CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phép biện chứng duy vật thông qua các nguyên lý, được cụ thể hóa bằng các
cặp phạm trù và quy luật cơ bản, thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
giúp con người đề ra những nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lý luận và
thực tiễn của mình
Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được vận
dụng xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận; đánh
giá những nguyên nhân của tình trạng sản xuất và buôn bán hàng giả; phân tích thực
trạng công tác đấu tranh chống hàng giả; xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công
tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả; dự báo diễn biến tình hình sản
xuất, buôn bán hàng giả và phân tích, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh chống hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
Thông qua phương pháp duy vật biện chứng, hàng giả và sản xuất, buôn bán
hàng giả, các biện pháp đấu tranh chống hàng giả được nhìn nhận như là một sự vật,
hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các
sự vật và hiện tượng khác giúp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn; hàng giả
là một hiện hiện tượng có tính lịch sử, gắn liền với kinh tế hàng hóa, kinh tế thị
trường và cạnh tranh không lành mạnh
Tuy nhiên, phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử khi xem xét vấn đề chống sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ phát huy hiệu quả khi
được sử dụng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích tổng
hợp, thống kê mô tả và so sánh… mới có đầy đủ các thông tin, dữ liệu cần thiết để
đánh giá, xem xét một cách đầy đủ và toàn diện
Trang 392.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Được thực hiện trên cơ sở tổng hợp tài liệu và phân tích tài liệu Là một
phương pháp được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu trên cơ sở các tài liệu,
lý luận, thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau sau đó tiến hành phân
loại, phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Sau đó,
liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý
thuyết, quan điểm, luận điểm mới, đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu để tạo
ra một chỉnh thể theo các nội dung cần nghiên cứu Cụ thể:
- Tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên
cứu từ các nguồn như sách, đề tài khoa học, luận án, luận văn, báo cáo khoa học,
các bài viết, giáo trình và tài liệu khác
- Phân tích tư liệu: Tài liệu sau khi tổng hợp được nghiên cứu về nội dung có
phù hợp, phục vụ đề tài nghiên cứu hay không; những nội dung nào của tài liệu có
thể được kế thừa; nội dung nào cần được phân tích làm rõ thêm; nội dung nào chưa
phù hợp; nguồn của tài liệu có đủ tin cậy hay không…
Các tài liệu sau khi được phân tích sẽ được hệ thống và phân chia theo các
nội dung nghiên cứu Các tài liệu được tập trung nghiên cứu sâu trong đề tài bao
gồm:
+ Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hàng giả, xử lý hàng giả
+ Các Đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án liên quan đến hàng giả và đấu
tranh chống hàng giả
+ Các báo cáo tổng hợp của Cục QLTT và Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương;
các Báo cáo tổng hợp của Ban chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng
giả tỉnh Hải Dương
+ Các bài viết, bài tham luận tại các cuộc Hội nghị, Hội thảo có liên quan
đến hàng giả và đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
+ Từ các văn bản quy phạm pháp luật, Từ điển, tài liệu tham khảo tổng hợp,
các báo cáo tổng hợp, các thông tin, quan điểm đánh giá… đưa ra được các nhận
thức cơ bản về hàng hóa; hàng giả; sản xuất; buôn bán; sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 40và bản chất và đặc điểm của sản xuất, buôn bán hàng giả; các phương thức, thủ
đoạn thực hiện; các nguyên nhân dẫn tới tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả và
các tác hại…
+ Từ các số liệu thu thập xây dựng các bảng số liệu tổng hợp để đánh giá
tổng quát theo các tiêu chí khác nhau phục vụ mục tiêu nghiên cứu
+ Từ cách thực phân bổ chỉ tiêu kiểm tra, xử lý hàng giả và cách tính điểm
thi đua theo vụ việc, theo vụ việc điển hình để phân tích, đánh giá tìm ra những
nhược điểm qua đó đề xuất phương án phân bổ chỉ tiêu, tính điểm thi đua mới phù
hợp hơn
+ Từ các quan điểm, dự báo, đánh giá tổng hợp, phân tích để đưa ra dự báo
về tình hình sản xuất, hàng giả trong thời gian tới
+ Từ các thông tin, đánh giá về thực trạng công tác đấu tranh chống sản xuất,
buôn bán hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dương phân tích, tổng hợp để đưa ra
các giải pháp
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép tiếp cận một khối lượng lớn thông
tin phục vụ các nội dung nghiên cứu mang tính lý luận, đánh giá thực trạng cũng
như đề xuất giải pháp Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp là các thông tin được
tổng hợp đều là các nội dung đã được nghiên cứu trước, đề cập từ trước Do đó, trên
cơ sở thông tin đã tổng hợp cần có sự đánh giá, liên hệ, phân tích… để đưa ra các
quan điểm, nội dung phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của Luận văn tránh đi vào lối
mòn của các nghiên cứu trước đó Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt quá
trình nghiên cứu Luận văn có kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác để làm
rõ các nội dung, vấn đề được phân tích, tổng hợp
2.3 Phương pháp thống kê mô tả và so sánh
- Thống kê số vụ việc xử lý sản xuất, buôn bán hàng giả của của Chi cục
QLTT tỉnh Hải Dương và số vụ việc do các cơ quan khác có chức năng trên địa bàn
tỉnh Hải Dương xử lý để đánh giá vị trí, vai trò của QLTT trong đấu tranh chống
hàng giả