Đã có nhiều công trình luận giải về vấn đề giải quyết việc làm, các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm, vai trò của công tác giải quyết việc làm đối với sự phát triển kinh tế xã hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
BÙI THỊ HẰNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - GS.TS Phan Huy Đường, Khoa Kinh tế - Chính trị, trường Đại học Kinh tế, Đại học
Quốc gia Hà Nội người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các phòng, ban, ngành, đoàn thể, huyện Nam Sách đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi tìm tài liệu tham khảo và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù, đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc có phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy (cô)
Tôi xin trân trọng cảm ơn ! Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên
Bùi Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện 11
1.2.1 Các khái niệm có liên quan 11
1.2.2 Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện 21
1.2.3 Nội dung giải quyết việc làm cho thanh niên 30
1.2.4 Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện 36
1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên ở một số địa phương hiện nay và bài học rút ra cho công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương 37
1.3.1 Kinh nghiệm huyện Cẩm Giàng 37
1.3.2 Kinh nghiệm ở thị xã Chí Linh 38
1.3.3 Kinh nghiệm ở tỉnh Nghệ An 38
1.3.4 Bài học rút ra cho giải quyết việc làm ở huyện Nam Sách 39
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Chọn điểm nghiên cứu 41
2.2 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 41
2.2.1 Phương pháp thống kê thu thập và xử lý thông tin 41
2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 42
2.2.3 Phương pháp so sánh 43
Trang 62.3 Thiết kế nghiên cứu 44Chương 3THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG 453.1 Khái quát về huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và tình hình lao động thanh niên trong huyện 453.1.1 Khái quát những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn 453.1.2 Tình hình lao động thanh niên trong huyện 463.2 Tình hình giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương 523.2.1 Việc xây dựng các chủ trương, chính sách có liên quan đến giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách 523.3 Đánh giá chung về công tác giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách 643.3.1 Thành tựu 643.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 67Chương 4MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 724.1 Quan điểm giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách trong giai đoạn tiếp theo 724.2 Giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2015 - 2020 73 4.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 73 4.2.2 Tăng cường công tác tư vấn, định hướng cho thanh niên nông thôn 75 4.2.3 Tăng cường hoạt động hỗ trợ người lao động 76
Trang 74.2.4 Đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 81
4.2.5 Giải pháp đối với lao động thanh niên đã qua đào tạo nghề, THCN, CĐ, ĐH, cần có các giải pháp thu hút tài năng cho địa phương 81
4.2.6 Giải pháp đối với lao động thanh niên chưa qua đào tạo 82
4.2.7 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH – HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
2 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
13 TC – CNKT Trung cấp – Công nhân kỹ thuật
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Số lƣợng dân số trong độ tuổi thanh niên (từ 16
-30 tuổi) của huyện Nam Sách các năm 2011 -2014 47
Nguyện vọng tham gia đào tạo, học nghề của
6 Bảng 3.6
Điều tra về sự phù hợp của công việc với trình độ
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiếp kịp khu vực và thế giới Nam Sách là một huyện nằm ở phía đông của tỉnh Hải Dương, diện tích tự nhiên 109km2, dân số tính đến tháng 12/2014 là 117.165 người, tốc
độ tăng dân số trung bình thời kỳ 2011 – 2014 là 1,03%/năm, TN từ 16 đến
30 tuổi chiếm 22,8% (26.713 TN) dân số và chiếm 45% lực lượng lao động của huyện Qua điều tra về việc làm – lao động của phòng Lao động và thương binh xã hội, có 2,7% TNNT có chuyên môn kỹ thuật bậc trung (787 người); nhân viên kỹ thuật làm văn phòng 1% (267 người); lao động giản đơn, phi nông nghiệp 35% (9.349 người), lao động nông nghiệp là 28% (7.479 người) Tỷ lệ TN thiếu việc làm từ độ tuổi 16-30 chiếm vẫn ở mức cao, giải quyết lao động dôi dư đã trở lên bức xúc Những năm qua, thực hiện chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, các phong trào: "Sáng tạo trẻ", phong trào " Thanh niên nông thôn thi đua thực hiện bốn nội dung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh” (Kỹ thuật mới, Ngành nghề mới, mô hình mới
và thị trường mới), Nghị quyết Trung ương Đoàn khoá IX, Nghị quyết 7 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá X về việc " Tăng cường sự lãnh đạo của của Đảng đối với TN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH", Đoàn TN
huyện, xã đã tín chấp cho đoàn viên TN vay vốn từ quỹ giải quyết việc làm quốc gia, vốn người nghèo, vốn học sinh, sinh viên nghèo, vốn xuất khẩu lao động, vốn nước sạch vệ sinh môi trường để phát triển sản xuất kinh doanh, học
Trang 11nghề , tạo việc làm tại chỗ cho thanh niên nông thôn Tổ chức các hoạt động việc làm cho thanh niên, như: tư vấn, định hướng, thành lập câu lạc bộ nghề nghiệp, câu lạc bộ thanh niên phát triển kinh tế, trang trại trẻ; phát triển đội ngũ trí thức trẻ tình nguyện; đảm nhận các chương trình, dự án phát triển kinh
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương” được chọn làm luận văn thạc sĩ
Câu hỏi đặt ra là: Huyện Nam Sách cần làm gì và làm thế nào để tạo
việc làm cho thanh niên ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tốt hơn?
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động thanh niên ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trong điều kiện cụ thể của địa phương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện trong điều kiện hiện nay
Trang 12- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách trong giai đoạn 2011-2014, chỉ ra những kết quả
đã đạt được, những điểm còn hạn chế hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương dưới góc độ quản lý nhà nước
Về thời gian: Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập giai đoạn 2010 – 2014 và số liệu thống kê về lực lượng lao động thanh niên tại các phòng, ban, các xã, thị trấn của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về về việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên
- Đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế còn
tồn tại
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công
tác giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chương
Trang 13Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Chương 4 Một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể nói, trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và hội nhập quốc
tế ngày nay, giải quyết việc làm là một nội dung hết sức quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế- xã hội ổn định và bền vững của một quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng Đã có nhiều công trình luận giải
về vấn đề giải quyết việc làm, các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm, vai trò của công tác giải quyết việc làm đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong nhiều năm vừa qua, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Liên quan ít nhiều đến công tác giải quyết việc làm có thể kể đến một số công trình đã được công bố như sau:
1.1.1 Các nghiên cứu về giải quyết việc làm đã được công bố
Công trình “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (đồng chủ biên), 1997, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia Hà Nội Trong cuốn sách này các tác giả đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm; phân tích vị trí, vai trò của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các khái niệm về lao động, thị trường lao động, việc làm và làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay Từ đó khuyến nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm, mô hình tổng quát về chương trình quốc gia xúc tiến việc làm trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặc dù, cuốn sách đã bao quát nhiều nội dung về chính
Trang 15sách việc làm nhưng chưa đề cập tới những nội dung của công tác giải quyết
việc làm cho thanh niên ở một địa phương cụ thể
Cũng giống với công trình trên, ở một bài viết có tựa đề “Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện” trên tạp chí kinh tế và
phát triển số 181, tháng Bảy năm 2012, trang 40-47 của tác giả Trần Việt Tiến Trong bài viết này tác giả đã phân tích thực trạng 6 chính sách về việc làm của nước ta trong thời gian qua, từ đó khẳng định ý nghĩa và vai trò của chính sách việc làm đồng thời thông qua các chính sách tạo thêm việc làm và đảm bảo việc làm cho người lao động Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua, khẳng định các chính sách
đó đã góp phần từng bước thực hiện được mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội, giảm dần sự tách biệt xã hội Tuy nhiên bài viết cũng đánh giá những chính sách đó vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục, từ đó tác giả đưa ra định hướng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020 Trong bài viết tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách việc làm ở nước ta nói chung, chứ không đề cập đến chính sách việc làm ở một địa
phương nói riêng
Ở một cách tiếp cận khác cuốn sách “Vấn đề phân bổ và sử dụng nguồn lao động theo vùng và hướng giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Quốc Tế, 2003, Nhà xuất bản Thống kê Tác giả đã hệ
thống hoá các lý luận cơ bản về lao động, việc làm- nguồn lực cơ bản cho sự phát triển xã hội, đồng thời phân tích thực trạng phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam Trên cơ sở hệ thống những lý luận cơ bản và đánh giá, phân tích thực trạng, tác giả đã đề ra một số biện pháp nhằm phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và giải quyết việc làm ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 Cuốn sách đã góp phần
Trang 16làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về lao động, việc làm từ đó đề ra
những biện pháp nhằm phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và giải quyết việc làm ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo, tuy nhiên cuốn sách cũng
chưa đề cập đến công tác giải quyết việc làm cho một địa phương
Đề cập đến việc làm và các chính sách tạo việc làm ở cấp tỉnh, luận văn
“Việc làm và chính sách tạo việc làm ở Hải Dương hiện nay” của tác giả Bùi
Thanh Thủy (2005) cũng chỉ đi sâu nghiên cứu và đưa ra một số vấn đề lý luận về việc làm và chính sách tạo việc làm nói chung, đồng thời tác giả phân tích một số khái niệm liên quan đến thất nghiệp, người có việc làm; đặc điểm, những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm tại tỉnh Hải Dương; đánh giá thực trạng về việc làm, thất nghiệp ở tỉnh Hải Dương từ năm 1996 đến 2005 trên phương diện cơ cấu ngành kinh tế; chỉ ra những nguyên nhân, tồn tại và đề ra một số giải pháp nhằm tạo việc làm ở Hải Dương trong những năm tiếp theo,
chưa đề cập đến công tác giải quyết việc làm cho thanh niên nói riêng
Khác với công trình trên đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung về việc làm, chính sách tạo việc làm cho lao động nói chung ở cấp tỉnh thì luận
văn:“Giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của lao động nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lương Mạnh Đông
(2008) lại đi vào đánh giá về nhu cầu việc làm của một bộ phận lao động ở nông thôn trên địa bàn cấp huyện, đó là huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây Tác giả đã phân tích những đặc điểm về điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội… trên cơ sở đó đánh giá những thuận lợi, khó khăn về công tác xóa đói, giảm nghèo; phân tích thực trạng về lao động nông thôn, về lao động, việc làm trong các hộ điều tra, việc sử dụng lao động, và chương trình giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của huyện Phú Lương; tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay Luận văn đã đề cập đến vấn đề giải quyết
Trang 17việc làm cho lao động nông thôn nói chung chứ không đề cập về vấn đề giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động là thanh niên
Có nội dung hẹp hơn, tập trung vào nội dung giải quyết việc làm, bài viết
“Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập” trên Tạp chí Cộng sản điện tử,
cập nhật ngày 13/12/2007 của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân đã chỉ ra rằng: giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới Khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và sự nỗ lực vươn lên của nhân dân, trong những năm qua, công tác giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động đã thu được nhiều kết quả khả quan: Hằng năm đã giải quyết việc làm cho từ 1,1 - 1,2 triệu lao động, tận dụng tối đa nguồn nhân lực cho phát triển đất nước; tạo và tự tạo việc làm cho từ 300 - 350 nghìn lao động/năm Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số hạn chế về lao động việc làm,
từ đó đề ra một số biện pháp cơ bản và cấp thiết để thực hiện thắng lợi mục tiêu giải quyết việc làm trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện và phát triển thị trường lao động; nâng cao chất lượng nguồn lao động
cả về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Đề cập về vấn đề tự tạo việc làm cho thanh niên, Luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” tác giả Ngô Quỳnh
An (2012), đã phân tích đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập quốc
tế, đưa ra kết luận là khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam còn chưa cao, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Mặc dù đã nói về vấn đề tạo việc làm
Trang 18cho thanh niên, nhưng tác giả phân tích, đánh giá về khả năng tạo việc làm cho thanh niên trong cả nước nói chung, chưa đi vào phân tích đặc điểm, thực trạng về khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên ở một vùng nói riêng
Với một cách tiếp cận khác, tập trung vào việc đưa ra những giải pháp
cho việc đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên Luận văn: “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại Thành phố Đà Nẵng”, Phan
Thúy Linh (2011) phân tích, tiếp cận những vấn đề mang tính lý luận như: khái niệm đào tạo nghề, việc làm, tạo việc làm, nêu lên các các đặc điểm đặc thù của thanh niên, các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề và tạo việc làm lao động thanh niên Phân tích thực trạng đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm qua Trên cơ sở
đó, đề xuất những giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố trong thời gian tới Như vậy có thể thấy, luận văn đề cập đến 2 nội dung công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên ở một thành phố có quy
mô lớn tương đương cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) nói chung
chứ không đi sâu nghiên cứu về công tác giải quyết việc làm cho thanh niên ở một địa phương có nét riêng ở vùng nông thôn như cấp huyện
1.1.2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những khoảng trống đặt ra cho đề tài luận văn
Hầu hết các công trình, luận án, luận văn, bài viết nêu trên đều đi sâu phân tích đầy đủ, toàn diện về các nội dung liên quan đến chính sách việc làm, vấn đề giải quyết việc làm nói chung và công tác giải quyết việc làm cho thanh niên nói riêng Các giải pháp, khuyến nghị khá đầy đủ có đề cập đến việc thực hiện tốt công tác đào tạo; bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn lao động; áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, vai trò của đoàn thanh niên …nhiều giải pháp khá thiết thực, có thể áp dụng vào công tác giải quyết việc làm trong việc hoạch định
Trang 19các chính sách về giải quyết việc làm nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế nước ta
Các công trình trên đã phần nào giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về việc làm, giải quyết việc làm, cung cấp một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm, thanh niên, thất nghiệp, thực trạng về việc làm; khả năng tạo việc làm; giải quyết việc làm cũng như tỷ lệ thất nghiệp, số lượng, chất lượng (trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa) ở một số địa phương Tuy nhiên, từ các nghiên cứu trên cho thấy:
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về chính sách việc làm hoặc vấn đề giải quyết việc làm trong cả nước nói chung, ít thấy công trình nào nghiên cứu về công tác giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện Do đó trong luận văn này, tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện và đề ra một số giải pháp về giải quyết việc làm cho thanh niên
Các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm việc làm, các chính sách về việc làm, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, tạo việc làm, thất nghiệp, người có việc làm và thường tập trung phân tích đánh giá về giải quyết việc làm của cả nước hoặc ở một địa phương cụ thể nhưng lại phân tích
về vấn đề giải quyết việc làm cho đối tượng lao động nông thôn nói chung, không đi sâu vào giải quyết việc làm cho đối tượng là lao động thanh niên ở một địa phương cấp huyện
Đến nay, ở tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Nam Sách nói riêng chưa
có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về công tác giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện Do vậy, luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu những vấn
đề lý luận cơ bản và có tính đặc thù về: “Giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương” trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết
Trang 201.2 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện
1.2.1 Các khái niệm có liên quan
1.2.1.1 Khái niệm việc làm
Ngày nay, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn
đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một đất nước Tăng việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp quan trọng để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững Đặc biệt đối với Việt Nam, tốc độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, tư liệu sản xuất còn thấp
Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt ra Tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn đề, đưa ra các khái niệm khác nhau về việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu; nó thuộc loại vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, khái niệm “việc làm” và
“thị trường lao động” không hiếm khi bị đồng nhất với nhau Hệ thống việc
làm được đưa thêm hàng loạt chức năng không đúng là tính chất của nó, còn thị trường lao động được tăng thêm tính chất tổng hợp Khái niệm việc làm và khái niệm lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau Việc làm không phải là hoạt động mà là những quan hệ xã hội giữa con người, mà trước hết là những quan hệ kinh tế và pháp lý về việc đưa người lao động vào hợp tác lao động cụ thể trong một chỗ làm việc xác định Hoạt động lao động, trước hết, đó là một quá trình, còn việc làm là tài sản của
Trang 21chủ thể mà bằng cách nào đấy được đưa vào (hay là loại trừ ra) từ quá trình
đó Về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và
tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất Việc làm gắn với quá trình tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ của người lao động, đồng thời không đi ngược lại với lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định Nói cách khác, việc làm là công việc, những hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện
để tăng thu nhập cho các thành viên trong gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Anh cho rằng “việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩ là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” (Phạm Đức Chính,
2005, trang 315) Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập
mà không cần phân biệt có được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi
là việc làm
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập
đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó "việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật)" (Phạm Đức Chính, 2005, trang 315)
Ở nước ta, khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quan điểm về việc làm được hiểu là hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn cấm tạo thu nhập hoặc tạo ra điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập Điều này cũng phù hợp với các nhìn nhận và phân tích của Nhà nước ta,
được quy định trong Điều 13, Chương II (Việc làm) của Bộ luật Lao động nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) quy định: “Mọi hoạt động
Trang 22lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động Việt Nam được cụ thể hoá, có thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó
Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai tiêu thức:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước Điều này khẳng định tính chấp pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại
Trang 23dâm thì không được thừa nhận là việc làm Mặt khác một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động lao
động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa nhận là việc làm ở nước khác
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã
hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công
Để hoàn thiện hơn các điều khoản trong Bộ luật lao động, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Bộ luật lao động mới năm 2013 Theo Điều 9, Chương II (Việc làm, Giải quyết việc làm) của Bộ luật lao động nước CHXHCNVN thì
Việc làm được định nghĩa như sau: "Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" (Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Khoa Kinh tế Lao động và Dân
số- Trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu “là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó”
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỉ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động với trình độ công nghệ sản xuất Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị
Trang 24chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất, vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỉ lệ thấp Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động
Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau Khi chuyển từ trạng thái phù hợp này sang trạng thái phù hợp khác, thông thường sẽ giảm bớt chi phí lao động, từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Như vậy có thể thấy sự phù hợp giữa sức lao động (SLĐ) và tư liệu sản xuất (TLSX) được thể hiện ở một số dạng như:
- Dạng tối ưu: Sử dụng triệt để tiềm năng về lao động (LĐ) và các điều
kiện vật chất Sự phù hợp này sẽ dẫn đến việc làm hợp lý, hiệu quả nhất Trong trường hợp này thể hiện sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và SLĐ (tức là C/V = 1), có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc và đều có việc làm
- Dạng chấp nhận được: Trong trường hợp này chủ yếu mới chỉ sử dụng
hết thời gian lao động mà chưa tính đến hiệu quả của việc làm Sự không phù hợp giữa hai yếu tố này (tức là C/V < 1) được biểu hiện dưới các dạng:
+ Một bộ phận người lao động bị tách khỏi quy trình sản xuất trở thành
người không có việc làm hoặc thất nghiệp hữu hình (là sự tồn tại một bộ phận lực lượng lao động (LLLĐ) có khả năng và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm)
+ Một bộ phận thời gian LĐ không được sử dụng hết và người lao động trở thành thiếu việc làm hoặc thất nghiệp trá hình
Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là những phạm trù gắn liền với nhau và gắn liền với người có khả năng lao động Những khái niệm này được hiểu như sau:
Trang 25Người có việc làm: Theo tài liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao
động – Thương binh – Xã hội (LĐ - TB & XH) hàng năm:
Người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân
số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ điều tra:
+ Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hay lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật
+ Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình mình
+ Đã có công việc trước đó, song trong tuần lễ điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc
Người có việc làm (VL) được chia làm hai loại: Người có VL đầy đủ và người thiếu VL
Người có việc làm đầy đủ: Gồm những người có số giờ làm việc trong
tuần lễ điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những người co
số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng số giờ qui định
Người thiếu việc làm: Theo hướng dẫn điều tra lao động và việc làm của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì: người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ qui định và có nhu cầu làm thêm giờ (trừ những người có
số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc mà không có việc làm)
Người thất nghiệp: Theo tài liệu hướng dẫn điều tra LĐ - VL của Bộ LĐ
– TB &XH hàng năm thì khái niệm người thất nghiệp được hiểu như sau: Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu được làm việc
Trang 26Trong luận văn này, từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với khái
niệm “Việc làm là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm”
1.2.1.2 Khái niệm thanh niên
Theo Giáo sư tiến sỹ Côn (người Nga) đã cho một định nghĩa về thanh
niên (TN) như sau : “Thanh niên là một tầng lớp nhân khẩu – xã hội được đặc trưng bởi một độ tuổi xác định, với những đặc tính tâm lý xã hội nhất định và những đặc điểm cụ thể của địa vị xã hội Đó là một giai đoạn nhất định trong chu kỳ sống và các đặc điểm nêu trên là có bản chất xã hội – lịch sử, tuỳ thuộc vào chế độ xã hội cụ thể, vào văn hoá, vào những quy luật xã hội hoá của xã hội đó”
Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15 – 34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ, còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi 15 - 24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc đào tạo nghề nghiệp ở bậc Đại học lúc 24 tuổi
Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê chủ biên (2008), Nhà xuất bản Đà Nẵng đưa ra khái niệm như sau: Thanh niên là
"người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành"
Theo điều 1, Chương I của Luật Thanh niên được Quốc hội nước ta
thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu đến ba mươi tuổi” (Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam, Luật Thanh niên, 2005)
Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn,
là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho
Trang 27công cuộc đổi mới đất nước Trong khuôn khổ luận văn tác giả đồng tình quan điểm về thanh niên theo Luật Thanh niên
* Đặc điểm của lao động thanh niên
Thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tiềm năng rất lớn Tiềm năng lao động thanh niên thể hiện ở thể chất, trí tuệ và tinh thần của từng cá nhân và cộng đồng, thanh niên đang độ sung sức và phát triển nhanh Tiềm năng đó phụ thuộc vào các nhân tố bên trong và bên ngoài rất đa dạng, tác động qua lại đan xen nhau Có thể thấy đặc điểm của lao động thanh niên qua những
điểm mạnh và hạn chế sau đây:
+ Những điểm mạnh của lao động thanh niên:
Có thể lực, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ khỏe, thậm chí trong các công việc dùng sức là chính
- Đối với lao động qua đào tạo: Trong thực tế tuyển dụng lao động của
các doanh nghiệp, nhu cầu lao động được chia thành các cấu phần khác nhau
Có những công việc đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm; có những công việc đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tố chất trẻ Người sử dụng lao động thường không đánh giá người lao động thanh niên và lao động lớn tuổi theo cùng một cách Đối với những công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm thường thì những người lao động đứng tuổi chiếm ưu thế Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, mà còn các tố chất thuộc về sức trẻ thì LĐ thanh niên tốt nghiệp Đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) và dạy nghề lại chiếm ưu thế
- Đối với lao động phổ thông: Trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các
doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫng cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, yêu cầu
có sức khỏe là chính Nhu cầu về lao động loại này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng lao động thanh niên có ưu thế hơn lao động trung niên và cao tuổi Khả
Trang 28năng cạnh tranh một vị trí làm việc của lao động thanh niên cao hơn so với các nhóm lao động khác
Rất nhiều phẩm chất người lao động thanh niên được doanh nghiệp đánh giá cao Đây là điểm mạnh để ổn định việc làm Trong số những phẩm chất này, đáng chú ý nhất là sức khỏe, quan hệ với đồng nghiệp tại nơi làm việc Nhờ những phẩm chất này mà việc hội nhập vào môi trường làm việc của doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn Lao động tốt nghiệp đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) và dạy nghề còn có những phẩm chất khác nữa như mong muốn thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng tiến bộ trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp và dễ hòa nhập vào môi trường làm việc
+ Những hạn chế của lao động thanh niên:
- Đối với lao động thanh niên tốt nghiệp phổ thông: hạn chế lớn nhất là
không qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trường lao động không dễ dàng
- Đối với lao động thanh niên qua đào tạo: hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao
động tốt nghiệp ĐH, CĐ và trường nghề mất cấn đối Cơ cấu cung lao động mất cân đối thể hiện trước hết ở quan hệ giữa lao động có trình độ đại học với lao động có trình độ cao đẳng và công nhân kỹ thuật Quan hệ này thường được
nhắc tới là “thừa thầy, thiếu thợ” Đối với lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại
học hay trường nghề hạn chế thứ hai là kiến thức, kỹ năng có được từ trường đào tạo còn có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi Chính vì vậy, sau khi tuyển dụng, nhiều doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo lại, hoặc gửi
đi đào tạo sau đó họ mới làm được Khoảng cách đối với yêu cầu của người sử dụng lao động có thể xem xét trên các mặt: kinh nghiệm, kiến thức cập nhật, kỹ năng thích nghi, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp, Những khía cạnh này ít được
đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong quá trình học tập
- Bên cạnh đó, lao động thanh niên còn có hạn chế nữa là tác phong lao
động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động còn yếu
Trang 29Lao động phổ thông phần lớn xuất thân từ nông thôn, nên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, bỡ ngỡ với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động những yếu tố này làm cho lao động phổ thông không dễ tìm việc Lối sống hợp tác trong công việc với đồng nghiệp, tuân thủ sự chỉ đạo của cán bộ quản lý còn yếu
Cũng giống như lao động phổ thông, lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn mang nặng tác phong của người lao động nông thôn, trong khu vực nông nghiệp Do nhiều nội dung, khía cạnh không được trang bị trong trường đào tạo nên họ ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động,
- Lao động thanh niên nói chung có các mối quan hệ xã hội, nhất là mạng lưới tuyển dụng rất hạn chế Đây là điểm yếu của họ khi tìm việc Nhiều nghiên cứu về thị trường lao động cho thấy việc tuyển dụng lao động hiện nay chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội - tồn tại một mạng lưới xã hội trong tuyển dụng lao động
- Tâm lý kén việc của người lao động thanh niên: Người lao động phổ thông là thanh niên, mặc dù không có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng về mặt tâm lý, hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn Thêm vào đó đa số hiện nay thanh niên muốn làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân
Với lao động qua đào tạo cũng có tâm lý kén việc Hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn Thêm vào
đó gần như đa số muốn làm việc ở khu vực nhà nước; ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân Trong khi khu vực kinh tế tư nhân là khu vực dẫn đầu về tạo
Trang 30việc làm thì những tâm lý như vậy sẽ là rào cản cho việc hội nhập vào thị trường lao động
- Riêng đối với lao động thanh niên thất nghiệp, chưa có việc làm, họ có những điểm mạnh và điểm yếu nói trên, song họ còn có một số hạn chế nữa là tính năng động trong tìm việc làm còn hạn chế, các kênh tuyển dụng trực tiếp còn chưa được lao động thanh niên sử dụng Việc quá lệ thuộc vào các trợ giúp bên ngoài có thể là một trong những hạn chế lớn nhất của lao động thất nghiệp, chưa có việc làm
Chính vì những đặc điểm nêu trên, việc làm có vai trò rất lớn đối với thanh niên Việc làm cho lao động xã hội nói chung, cho thanh niên nói riêng
là vấn đề mà ở bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm
1.2.2 Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết việc làm cho thanh niên
+ Khái niệm giải quyết việc làm
Việc làm là một trong những vấn đề được lãnh đạo của mọi quốc gia quan tâm Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn đặt vấn đề dân số và việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế - xã hội Vì việc làm có ý
nghĩa to lớn cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội
Giải quyết việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động Giải quyết việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau:
Giải quyết việc làm theo nghĩa rộng:
Giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động, đến vấn đề tự do lao động
và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 31Theo nghĩa này, vấn đề giải quyết việc làm gắn liền và được thực hiện thông qua các chính sách và các chương trình phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước Không những thế, nó còn gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hướng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Nội dung giải quyết việc làm theo nghĩa rộng mang ý nghĩa kinh tế là chủ yếu, cho nên công nghệ được lựa chọn ở đây là công nghệ mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kĩ thuật cao nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh
tế ở mức độ cao
Giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp:
Giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỉ lệ thất nghiệp Nghĩa là nội dung giải quyết việc làm chỉ hạn chế trong khuôn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hướng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nước, chống ỷ lại vào Nhà nước
Nội dung giải quyết việc làm như trên gắn với việc hình thành chương trình việc làm quốc gia, là một chương trình xã hội mang tính mục tiêu, giải quyết việc làm tách ra khỏi chương trình phát triển kinh tế Vì vậy, giải quyết việc làm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, giải quyết việc làm có mục tiêu hướng vào sử dụng lao động chống thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm, đảm bảo tăng thu nhập
Khái niệm giải quyết việc làm theo nghĩa rộng và giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp tuy có sự khác nhau, song chúng có mối quan hệ đan xen, bổ sung cho nhau và đều hướng đến mục tiêu sử dụng, phát huy tối đa tiềm năng lao động của xã hội
Trang 32Thị trường lao động việc làm chỉ có thể được hình thành khi người lao động có nhu cầu việc làm và người sử dụng lao động có nhu cầu sử dụng lao động Họ gặp gỡ, thỏa thuận với nhau nhưng mỗi người hoạt động là để đạt mục đích riêng của họ Do đó, khi xem xét cơ chế giải quyết việc làm cần chú ý đến
ba chủ thể chính là: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Về phía người lao động: khi tiến hành hoạt động lao động để duy trì,
đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình thì người lao động phải có sức khỏe, có trình độ Muốn vậy người lao động phải có sự đầu tư cho bản thân
về thời gian và tiềm lực để nâng cao sức khỏe, đầu tư cho giáo dục
Về phía người sử dụng lao động: bao gồm các doanh nghiệp, các cơ sở
sản xuất kinh doanh, xí nghiệp, công ty là những nơi tạo ra việc làm, duy trì
ổn định chỗ làm việc thông qua quá trình thu hút người lao động vào việc làm Muốn vậy, người sử dụng lao động phải có vốn, nắm được khoa học kỹ thuật, có kiến thức, kinh nghiệm và tổ chức quản lý, phải tìm được đầu vào cũng như đầu ra cho sản phẩm của mình
Về phía Nhà nước: Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra
môi trường thuận lợi để việc làm hình thành, ổn định và phát triển thông qua hàng loạt các chính sách, pháp luật như: Chính sách giải quyết việc làm, chính sách khuyến khích đầu tư, bảo hộ lao động, giáo dục đào tạo, y tế; chính sách phát triển kinh tế - xã hội
+ Đặc điểm giải quyết việc làm cho thanh niên
Để hiểu hơn về việc làm cho thanh niên trên địa bàn cấp huyện cần nghiên cứu những nét đặc trưng của giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện Xã hội càng phát triển thì cơ cấu việc làm cho thanh niên cũng có sự biến đổi, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của giải quyết việc làm cho thanh niên cấp huyện như sau:
- Xu hướng giảm việc làm của lao động có trình độ thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp và những ngành, nghề truyền thống đang mất dần do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
Trang 33- Xu hướng tăng việc làm cho các nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế động lực…
Đối với nước đang phát triển thì trên tổng thể là một thị trường dư thừa lao động, nhất là lao động phổ thông, tuy nhiên lại thiếu lao động trình độ cao Kết quả là tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp luôn tồn tại, trong đó thanh niên thất nghiệp thường chiếm tỷ lệ cao nhất Nguyên nhân thanh niên gặp khó khăn tìm việc làm trên thị trường lao động chủ yếu là do:
- Cung lao động rất lớn trong khi cầu lao động thanh niên lại rất chọn lọc
- Thiếu sự chuẩn bị đào tạo nghề nghiệp, tỷ lệ được đào tạo thường rất nhỏ, còn đa số thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn (TNNT) chưa có điều kiện tiếp cận các cơ hội đào tạo nghề nghiệp trước khi bước vào thị trường lao động
- Đối với những người được đào tạo, cũng gặp phải vấn đề chưa ăn khớp, hoặc bất cập của hệ thống đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động, nên khả năng hội nhập thị trường lao động của thanh niên cũng gặp khó khăn
- Thanh niên chưa đủ thời gian để tích luỹ kinh nghiệm, khi vào thị trường lao động họ phải cạnh tranh quyết liệt với lao động ở độ tuổi trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm hơn trong nghề nghiệp
Do áp lực của kinh tế thị trường, người sử dụng lao động yêu cầu lao động thanh niên phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, trong khi đáp ứng của lao động thanh niên đối với yêu cầu này còn hạn chế, mặt khác khi tuyển lao động thanh niên, người sử dụng lao động cũng phải cân nhắc tính hiệu quả, vì phải tăng chi phí đào tạo lại, đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho họ phù hợp với công nghệ đang áp dụng
1.2.2.2 Ý nghĩa giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển kinh tế
Trang 34xã hội Chính sách việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội cũng như giáo dục con người
Trước hết, giải quyết việc làm đảm bảo việc làm cho thanh niên tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình và phát triển kinh tế ở địa phương Tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho thanh niên dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn
Thứ hai, giải quyết việc làm cho thanh niên là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và hội nhập quốc tế
Thứ ba, thông qua giải quyết việc làm cho thanh niên, các doanh nghiệp, công ty, người sử dụng lao động được lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khối lượng và chất lượng đòi hỏi của doanh nghiệp Nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên cần thiết trong một khu vực, chính vì vậy nhờ công tác giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan hiếm lao động trẻ, cũng như việc thanh niên cần phải trang bị những kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm
Thứ tư, giải quyết việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch sẽ giúp cho cả cho người sử dụng lao động trẻ cũng như bản thân thanh niên có những kế hoạch hoạt động trong tương lai của họ Trong thực tế, những năm vừa qua đã cho chúng ta thấy rằng, lao động trẻ có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động, biết thích ứng nhanh với môi trường mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm Mặc khác, giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, thể hiện sự quan tâm nhất định về thoả mãn cần
Trang 35thiết và đảm bảo quan hệ qua lại trong tập thể lao động, cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ
Thứ năm, giải quyết việc làm cho thanh niên còn đảm bảo việc phân chia, sắp xếp lại lao động trẻ hoạt động kinh tế thường xuyên trong trường hợp cải cách, sắp xếp lại các doanh nghiệp Ở Việt Nam, vẫn đang trong quá trình cổ phẩn hoá, sắp xếp lại các doanh nghiệp đã làm cho lao động trẻ mất việc Nhưng bên cạnh đó, cũng cho phép thành lập nhiều doanh nghiệp mới đã giải quyết nhiều việc làm mới cho lao động trẻ Tỷ trọng lao động trẻ trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, các khu vực dần thay đổi theo hướng hợp lý, thích ứng và phù hợp
Có thể thấy, giải quyết việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch
hợp lý thì sẽ có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội nói chung và bản thân thanh niên nói riêng Nhưng, nếu không có sự sắp xếp, giải quyết hợp lý, thì giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ tạo cho bản thân thanh niên tính ỷ lại, trông chờ vào sự sắp xếp công việc của Nhà nước, là thói quen ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt Nam
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho thanh niên
trên địa bàn cấp huyện
Công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố khách quan
và chủ quan Có thể kể đến một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết việc làm, đó là:
Trang 36nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa Do vậy, vị trí địa lý là yếu tố quan trọng được xét đến khi ra các quyết định đầu tư của bất kỳ một doanh nghiệp nào Vị trí địa lý gắn với sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp phi nông nghiệp, do đó ảnh hưởng đến công ăn việc làm cho người lao động nói chung và lao động thanh niên nói riêng
+ Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số và tỷ lệ tăng dân số
Dân số đông và tăng nhanh tạo ra nguồn lao động lớn cho xã hội Mức sinh lớn, số người bước vào tuổi lao động lớn làm tăng sức ép giải quyết việc làm Nếu cung việc làm đáp ứng đủ cầu việc làm của lao động mới bước vào tuổi lao động thì sức ép được giải quyết thuận lợi, người lao động có công ăn việc làm tạo ra thu nhập làm cho xã hội ngày càng phát triển Nhưng sức ép này không được giải quyết sẽ tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Đặc biệt là nền kinh tế ở vùng nông thôn - khu vực có dân số trong độ tuổi lao động chiếm đa số và thị trường lao động lại kém phát triển Cũng chính sức ép này
đã tạo ra một dòng người di cư ra thành thị để tìm kiếm việc làm, trong đó
chủ yếu là lao động thanh niên
Mặt khác, khi dân số tăng nhanh dẫn đến hiện tượng đào tạo nguồn lao động một cách ồ ạt làm chất lượng nguồn lao động thấp Chất lượng nguồn lao động cao hay thấp ảnh hưởng đến năng suất lao động, khả năng tìm việc làm và thu nhập của người lao động Chính vì vậy, dân số và mức tăng dân số ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và lao động thanh niên nói riêng
- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cùng với đó
là sự phát triển của hê thống các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh
Trang 37doanh - là đối tượng tạo ra việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đến giải quyết việc làm và tìm việc làm của lao động thanh niên nông thôn Nếu thanh niên nông thôn sống trong khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao, cơ cấu ngành nghề
đa dạng và phát triển, phong tục tập quán tốt thì khả năng tìm được việc làm
và thích ứng tốt hơn Ngược lại, thanh niên sống trong khu vực có tốc độ phát triển kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế đơn điệu và không phát triển thì khả năng tìm được việc làm thấp
- Về giáo dục - đào tạo
Tiềm năng kinh tế của một đất nước hay một địa phương phụ thuộc vào trình độ khoa học - công nghệ của đất nước đó Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm vào định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
+ Nhóm nhân tố về chủ trương, chính sách của Nhà nước, địa phương
Cơ chế chính sách của chính phủ, chính quyền địa phương hay các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố tác động rất lớn đến vấn đề tạo việc làm cho người lao động Chính phủ đưa ra hành lang pháp quy, những quy định phù hợp với sự phát triển của mỗi giai đoạn nhằm tạo ra việc làm đồng thời bảo vệ lợi ích và quyền lợi của người sử dụng lao động cũng như người lao động Các chính sách đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế góp phần cơ cấu lại lao động, tạo mới và nâng cao chất lượng việc làm Các chính sách này thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhằm giải quyết và
Trang 38bảo đảm việc làm cũng như đời sống cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, nơi có lực lượng lao động chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động
cả nước Có thể phân loại các chính sách sau :
động xã hội Cụ thể là chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách thuế,
- Chính sách khuyến khích phát triển các lĩnh vực ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động như: chính sách phát triển doanh nghiệp, chính sách
di dân, chính sách phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, chính sách khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống
tượng xã hội, người nghèo
* Các nhân tố chủ quan
+ Trình độ chuyên môn, sức khỏe của thanh niên
- Trình độ chuyên môn và sức khỏe là hai yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến quá trình tìm việc làm của lực lượng lao động nói chung và lao động thanh niên nói riêng Bất kể công ty nào khi tuyển dụng lao động họ đều quan tâm đến trình độ và sức khỏe của người lao động Họ chỉ tuyển dụng những lao động nào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc mà họ đang làm và trên cơ sở phải có sức khỏe tốt đảm bảo được công việc mà công ty giao phó
- Hoàn cảnh xuất thân người lao động cũng là nhân tố ảnh hưởng quá trình tìm việc làm của lao động thanh niên nông thôn Thanh niên xuất thân trong gia đình khá giả sẽ có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn hơn, họ được gia đình trang bị đầy đủ mọi phương tiện làm việc như xe máy, máy tính hơn đối với thanh niên thuộc hộ nghèo Mặt khác, lao động thanh niên thuộc gia đình khả giả có khả năng tiếp cận thị trường lao động hơn đối với thanh niên nhà có hoàn cảnh khó khăn Chính những điều này càng làm cho lao động thanh niên nông thôn gặp khó khăn hơn trong quá trình tìm việc làm
Trang 39- Giới tính người lao động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tìm việc làm của lao động thanh niên nông thôn Do việc làm trong khu vực nông thôn đòi hỏi nhiều sức lao động chân tay nên cần sức khỏe tốt Do đó, thanh niên nam giới thường kiếm việc làm dễ hơn đối với lao động nữ giới
1.2.3 Nội dung giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm cho lao động thanh niên cấp huyện là vấn đề vừa có tính bức thiết trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Từ khái niệm giải quyết việc làm như đã nêu trên, có thể
thấy được nội dung cơ bản của giải quyết việc làm đó là:
1.2.3.1 Xây dựng các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chính sách giải quyết việc làm: là chính sách hướng tới việc khẳng định quyền có việc làm, quyền được làm ở những lĩnh vực khác nhau và khả năng của mỗi người được phát huy nhất Thực chất, chính sách giải quyết việc làm
là hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng để lực lượng lao động toàn xã hội tiếp cận được việc làm
Có thể hiểu chính sách giải quyết việc làm là chính sách xã hội, là sự cụ thể hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động - việc làm, là hệ thống các quan điểm, chủ trương phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần an toàn và phát triển xã hội
Chính sách giải quyết việc làm liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, là yếu tố đảm bảo để con người phát triển, phát huy được khả năng của mình Vì vậy, đây được coi là chính sách cơ bản của mọi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vai trò của chính sách giải quyết việc làm trong việc hoạch định, triển khai các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề việc làm đã được nâng lên tầm mới cả về phương diện lý luận và thực tiễn, đó là nội dung xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 40Việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Khi chính sách việc làm được ban hành phù hợp với điều kiện thực tế,
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giải quyết việc làm và ngược lại việc hoạch định và ban hành chính sách việc làm không phù hợp sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế, chính trị và xã hội Nhà nước ban hành pháp luật, chính sách tạo khung khổ pháp lý liên quan trực tiếp đến người sử dụng lao động và người lao động để quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động diễn ra một cách trôi chảy, hiệu quả Có thể thấy một
số chính sách về giải quyết việc làm như:
+ Chính sách hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động
Hướng nghiệp là giúp cho người học chọn lọc những ngành học, trình độ đào tạo phù hợp, chủ động, sáng tạo trong học tập, am hiểu về ngành, nghề đang học để phát huy được năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp
Giúp người học có thông tin về thị trường lao động và tìm được việc làm phù hợp Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng Lao động để đào tạo của nhà trường tiếp cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội Tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, giao lưu với đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức thực tế và các kỹ năng cần thiết để hòa nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp Đào tạo nghề là nhiệm
vụ quan trọng trong sự phát triển nguồn nhân lực, dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH)
Hoạt động giới thiệu việc làm: Thực hiện việc tư vấn cho người lao động
về chính sách lao động, cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động, làm cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động