1. Lí do chọn đề tài 1.1. Mặc dù được xem là một trường phái khá non trẻ và vẫn còn có những quan niệm, hướng tiếp cận nghiên cứu chưa thống nhất, nhưng hiện nay, Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) là một trong những khuynh hướng thu hút được sự quan tâm nhất của giới ngôn ngữ học. Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ với tư cách là một trong những ứng dụng tri nhận của con người. Ngôn ngữ học tri nhận, một mặt xem xét lại những vấn đề ngôn ngữ của Ngôn ngữ học truyền thống (chẳng hạn như: phạm trù, ý niệm, ẩn dụ, hoán dụ,…); mặt khác, đặt ra những vấn đề mới chưa từng được nói đến trong ngôn ngữ học truyền thống (ví dụ như: khung tri nhận, hình – nền, ẩn dụ ý niệm – tri nhận,…). Nghiên cứu lí thuyết, lí luận của Ngôn ngữ học tri nhận sẽ giúp ta có nhiều khám phá mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ của loài ngườinói chung và ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng. Vì vậy, nghiên cứu Ngôn ngữ học tri nhận giúp chúng ta nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới của con người phản chiếu qua ngôn ngữ; và ngược lại, sự tri nhận cũng sẽ là cơ sở giúp giải mã các tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ. 1.2. Có thể nói, nếu ngôn ngữ là cửa sổ mở ra các vùng tri nhận khác nhau với cấu trúc tri nhận và quy luật tri nhận trong thế giới tinh thần của con người thì tín hiệu thẩm mỹ chính là phương tiện thể hiện bằng ngôn ngữ các ý niệm và phạm trù tri nhận của con người. Do vậy, bên cạnh việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu là tín hiệu thẩm mỹ theo phương pháp luận của ngữ pháp chức năng, chúng tôi bắt đầu ứng dụng phương pháp luận của Ngôn ngữ học tri nhận bằng việc tìm hiểu quá trình tri nhận và quá trình mã hóa các ý niệm bằng ngôn ngữ mà kết quả đâu tiên, cụ thể của quá trình này chính là các tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn chương. Đến lượt mình, các phương tiện, biểu thức ngôn ngữ này lại trở thành điểm khởi đầu cho một quá trình tri nhận tiếp theo nảy sinh do sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm. Qua đó, cùng với thế giới tinh thần của tác giả, người đọc hình thành nên những ý niệm và những phạm trù tri nhận về chính những ý niệm đã được mã hóa trong tác phẩm. 1.3. Trong văn học Việt Nam, “mưa” được xem như là một biểu tượng, một tín hiệu thẩm mỹ hay một ẩn dụ cho một ý niệm nào đó. Với Hoàng Cầm, “mưa” trở thành nỗi ám ảnh. “Mưa” chuyên chở trong đó những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn thơ đa tình. Có thể nói, Hoàng Cầm là “người góp tiếng nói nhiệm màu cho những cơn mưa” 35. Dựa vào hệ thống tín hiệu thẩm mỹ “mưa” và việc vận dụng lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi đi tìm hiểu tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm trong sự tương quan với các ý niệm khác để từ đó cung cấp thêm một cái nhìn về thơ ông trên các phương diện: năng lực tư duy, sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là dấu ấn tư duy – văn hóa dân tộc phản chiếu trong thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả. Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào thực sự lấytín hiệu“mưa” trong thơ Hoàng Cầm làm đối tượng nghiên cứu từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”làm đề tài cho khóa luận của mình.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất đếnThS Đặng Thị Thu Hiền, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp
đỡ em suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn Lýluận ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.Xin gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn độngviên, khích lệ, giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Trịnh Thị Huế
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa khóa luận 15
7 Cấu trúc khóa luận 16
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 17
1.1 Lí thuyết về tín hiệu thẩm mỹ 17
1.1.1 Tín hiệu 17
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 18
1.1.3 Tín hiệu thẩm mỹ 20
1.1.4 Mưa – từ tín hiệu đến tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm 22
1.2 Lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận 24
1.2.1.Ý niệm 24
1.2.2 Ý niệm hóa 28
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: Ý NIỆM “MƯA” VÀ SỰ THỂ HIỆN Ý NIỆM “MƯA” TRONG THƠ HOÀNG CẦM 31
2.1 Kết quả khảo sát ý niệm “mưa” và sự thể hiện ý niệm “mưa” trong thơ Hoàng Cầm 31
2.2 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “người phụ nữ” 35
2.3 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “thời gian” 49
Trang 32.4 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “sự chia lìa, tan vỡ” 63
2.5 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “cuộc đời” 68
2.6 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “sự sống” 73
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3: VAI TRÒ CỦA Ý NIỆM “MƯA” TRONG VIỆC XÂY DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG CẦM 78
3.1 Ý niệm “mưa” trong việc thể hiện quan niệm thẩm mỹ thơ Hoàng Cầm 78
3.2 Ý niệm “mưa” trong việc thể hiện quan niệm về con người trong trong thơ Hoàng Cầm 85
3.3 Ý niệm “mưa” trong việc xây dựng thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm 91
Tiểu kết chương 3 95
PHẦN KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mặc dù được xem là một trường phái khá non trẻ và vẫn còn cónhững quan niệm, hướng tiếp cận nghiên cứu chưa thống nhất, nhưng hiện nay,Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) là một trong những khuynh hướngthu hút được sự quan tâm nhất của giới ngôn ngữ học Đối tượng cụ thể củangôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ với tư cách là một trong những ứng dụng trinhận của con người Ngôn ngữ học tri nhận, một mặt xem xét lại những vấn đềngôn ngữ của Ngôn ngữ học truyền thống (chẳng hạn như: phạm trù, ý niệm, ẩn
dụ, hoán dụ,…); mặt khác, đặt ra những vấn đề mới chưa từng được nói đếntrong ngôn ngữ học truyền thống (ví dụ như: khung tri nhận, hình – nền, ẩn dụ ýniệm – tri nhận,…) Nghiên cứu lí thuyết, lí luận của Ngôn ngữ học tri nhận sẽgiúp ta có nhiều khám phá mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ của loài ngườinóichung và ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng Vì vậy, nghiên cứu Ngôn ngữ học trinhận giúp chúng ta nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới củacon người phản chiếu qua ngôn ngữ; và ngược lại, sự tri nhận cũng sẽ là cơ sởgiúp giải mã các tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ
1.2 Có thể nói, nếu ngôn ngữ là cửa sổ mở ra các vùng tri nhận khácnhau với cấu trúc tri nhận và quy luật tri nhận trong thế giới tinh thần của conngười thì tín hiệu thẩm mỹ chính là phương tiện thể hiện bằng ngôn ngữ các ýniệm và phạm trù tri nhận của con người Do vậy, bên cạnh việc tiếp cận đốitượng nghiên cứu là tín hiệu thẩm mỹ theo phương pháp luận của ngữ pháp chứcnăng, chúng tôi bắt đầu ứng dụng phương pháp luận của Ngôn ngữ học tri nhậnbằng việc tìm hiểu quá trình tri nhận và quá trình mã hóa các ý niệm bằng ngônngữ mà kết quả đâu tiên, cụ thể của quá trình này chính là các tín hiệu thẩm mỹtrong tác phẩm văn chương Đến lượt mình, các phương tiện, biểu thức ngônngữ này lại trở thành điểm khởi đầu cho một quá trình tri nhận tiếp theo nảy sinh
Trang 5do sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm Qua đó, cùng với thế giới tinh thầncủa tác giả, người đọc hình thành nên những ý niệm và những phạm trù tri nhận
về chính những ý niệm đã được mã hóa trong tác phẩm
1.3 Trong văn học Việt Nam, “mưa” được xem như là một biểu tượng,một tín hiệu thẩm mỹ hay một ẩn dụ cho một ý niệm nào đó Với Hoàng Cầm,
“mưa” trở thành nỗi ám ảnh “Mưa” chuyên chở trong đó những cảm xúc tinh
tế của một tâm hồn thơ đa tình Có thể nói, Hoàng Cầm là “người góp tiếng nói nhiệm màu cho những cơn mưa” [35].
Dựa vào hệ thống tín hiệu thẩm mỹ “mưa” và việc vận dụng lí thuyếtcủa ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi đi tìm hiểu tín hiệu thẩm mỹ “mưa”trong thơ Hoàng Cầm trong sự tương quan với các ý niệm khác để từ đó cungcấp thêm một cái nhìn về thơ ông trên các phương diện: năng lực tư duy, sángtạo ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là dấu ấn tư duy – văn hóa dân tộc phảnchiếu trong thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả
Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có mộtcông trình nào thực sự lấy tín hiệu“mưa” trong thơ Hoàng Cầm làm đối tượngnghiên cứu từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Xuất phát từ những lí do trên,
chúng tôi lựa chọn “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận” làm đề tài cho khóa luận của mình.
Trang 6dựa trên kinh nghiệm của chúng ta về thế giới và cách thức chúng ta tri giác
và ý niệm hóa thế giới Bản thân hoạt động tri nhận khó có thể quan sát đượccho nên ngôn ngữ trở thành cửa sổ quan sát và nghiên cứu tri nhận
Những vấn đề của ngôn ngữ học tri nhận đã được nghiên cứu từ nhữngnăm 50 của thế kỉ trước, nhưng các thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận(cognitive linguistics), ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics), và ngữpháp tri nhận (cognitive grammar) thì mới xuất hiện lần đầu trong tác phẩm
Cơ sở của ngữ pháp tri nhận của R.W.Langacker Có thể nói những tác phẩm sau đây đã đặt nền tảng vững chắc cho ngôn ngữ học tri nhận: Metaphors we live by của G Lakoff và M Johnson, Chicago – London, University of Chicago Press, 1980; The Body in the Mind: The bodily of Meaning, Imagination and Reason của M Johnson, 1987, Chicago, University of Chicago Press, 1987; Women, fire, and dangerous things của G.Lakoff, Chicago - London, University of Chicago Press, 1987; Foundation of Cognitive Grammar của R.W, Langacker, Stanford University Chicago Press,
1987,… [41; 208]
Hai hướng nghiên cứu chính của ngôn ngữ học tri nhận là ngữ nghĩahọc tri nhận (cognitive semantics) với các tên tuổi lớn như Lakoff, Johnson,Rosch, Fillmore, Tunner,… và ngữ pháp học tri nhận (cognitive grammar) vớicác học giả tiêu biểu như Talmy, Langacker, Goldberg,…
Phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận ngày càng được mởrộng, từ đối tượng ban đầu là tiếng Anh, các nhà ngôn ngữ học đã áp dụng líthuyết, quan điểm tri nhận vào nghiên cứu nhiều ngôn ngữ khác trên thế giớinhư tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung,… đặt chúngtrong mối tương quan so sánh, đối chiếu với nhau và đã đạt được nhiều thànhtựu đáng ghi nhận
2.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những vấn đề liên quan đến tri nhận đã được đề cập tới
trong Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng việt hiện đại của Nguyễn Lai
Trang 7(NXB Khoa học Xã hội, HN, 2001) [50]; Tìm hiều đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)
của Nguyễn Đức Tồn (NXB ĐHQG HN, 2002) [36]; nhưng một cách chínhdanh, ngôn ngữ học tri nhận mới được đề cập tới trong công trình của Lý
Toàn Thắng: Ngôn ngữ học tri nhận – từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt(NXB KHXH, HN, 2005) [30] Đây có thể coi là công trình tiên
phong về lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở nước ta Ngay chương đầu cuốnsách, tác giả giới thiệu về sự ra đời và phát triển, những vấn đề cơ bản nhấtcủa ngôn ngữ học tri nhận: các nguyên lí cơ bản, sự ý niệm hóa và các quátrình ý niệm, điển dạng và các phạm trù tri nhận,… Các chương tiếp theotrình bày các đặc điểm tri nhận không gian của người Việt – kết quả ứng dụng
lí thuyết tri nhận vào nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt của tác giả
Nối tiếp thành tựu nghiên cứu của Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ cho
xuất bản cuốn Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) (NXB KHXH,
2007) [64] trình bày kĩ lưỡng về các khái niệm, thuật ngữ của ngôn ngữ họctri nhận cùng những cảm nhận, suy ngẫm của mình cũng như định hướng, gợi
mở các vấn đề nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận
Năm 2008, ông xuất bản cuốn Khảo luận ẩn dụ tri nhận [68], trong đó trọng tâm là vấn đề ẩn dụ ý niệm, có trích dịch, giới thiệu công trình Metaphor we live by [15] của G Lakoff và M Johnson Mới đây, trong bài viết Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướng nghiên cứu tiếng Việt) đăng tải trên tạp
chí Ngôn ngữ, số 11/2010, Trần Văn Cơ cũng đã khái quát quá trình phát triểncủa ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam và đề xuất thành lập bộ môn Việt ngữhọc tri nhận như một sự ghi nhận đóng góp của ngôn ngữ học tri nhận vớiviệc nghiên cứu tiếng Việt cũng như các định cụ thể hơn đối tượng và phạm
vi nghiên cứu, hướng phát triển của bộ môn này
Trang 8Nguyễn Văn Hiệp với bản dịch: Nhập môn ngôn ngữ học (Sematics –
An introduction) [22] của John Lyons cũng có đề cập đến một số vấn đề của tri nhận luận Ở một công trình khác, Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
(2008) [53], Nguyễn Văn Hiệp dành chương đầu tiên để trình bày “nhữngquan điểm về vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu tả cú pháp” – trong đó
có “cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận” và nhấn mạnh: “theo ngôn ngữ học tri nhận, các dạng thức ngôn ngữ (các biểu thức, các kết cấu) thì mang tính biểu trưng hay tính có lí do ở mức độ cao hơn rất nhiều so với quan niệm truyền thống Ngoài ý nghĩa của các từ tham gia vào cấu trúc thì bản thân cấu trúc cũng đã có nghĩa Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa ngôn ngữ học tri nhận và ngữ pháp tạo sinh” [53; 29].
Với những công trình khoa học trên, nhiều trường đại học đã đưa ngônngữ học tri nhận vào giảng dạy và nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinhviên đã, đang say mê nghiên cứu theo ứng dụng lí thuyết của ngôn ngữ học tri
nhận vào thực tiễn tiếng Việt Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu: Ẩn dụ
từ góc nhìn tri nhận trên ngữ liệu phạm trù chỉ thực vật trong tiếng Việt (2008) [61] của Trần Thị Phương Lý, Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng chỉ chim chóc (2009) [26]của Lê Thị Thanh Huyền, Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việtvà tiếng Anh)(2009) [57] của Phan Thế Hưng và gần đây nhất Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn (2014)
[42] của Nguyễn Thị Bích Hạnh,… cùng rất nhiều bài báo, tạp chí Các côngtrình này tập trung chủ yếu vào một số ẩn dụ ý niệm gắn với các phạm trù cơbản: phạm trù tình cảm, không gian, thực vật, bộ phận cơ thể người,…
Nhìn chung, hiện nay tiếp cận các vấn đề ngôn ngữ dưới ánh sáng củangôn ngữ học tri nhận đang được hưởng ứng và đã đạt được những thành tựuban đầu ấn tượng và hứa hẹn mở ra nhiều hướng đi mới trong tương lai
Trang 92.2 Lịch sử nghiên cứu thơ Hoàng Cầm
Chính thức bước vào làng Văn từ năm 1939, có thể nói thơ là lĩnh vựcHoàng Cầm thử bút sớm nhất Cậu bé ấy năm lên tám tuổi đã thổi hồn mình vàotrang thư tình trên nền thơ lục bát trao cho người Chị yêu dấu của mình Tuy
vậy, sự nghiệp thơ Hoàng Cầm chỉ thực sự được khẳng định khi Bên kia sông Đuống ra đời Bài thơ đã nâng tên tuổi Hoàng Cầm lên trên đài thơ, đứng cạnh các bậc liền anh như Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu,… và cùng với Lá diêu bông, Quả vườn ổi, thơ Hoàng Cầm làm say lòng độc giả bằng cách riêng của
nó, thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học
Khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ Hoàng Cầm, chúng tôi nhận thấyrất khá nhiều công trình nghiên cứu thơ Hoàng Cầm Dưới hình thức luận ántiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tiểu luận, những bài viết ngắn,… giới nghiên cứu, phêbình, người giảng dạy và độc giả yêu mến thơ Hoàng Cầm đã xuất phát từnhiều góc độ khác nhau khám phá ra được những giá trị nhất định của thế giớithơ ông, khẳng định sự cống hiến to lớn của thi nhân trong nền văn học hiệnđại Tuy nhiên, nghiên cứu thơ Hoàng Cầm dưới ánh sáng của ngôn ngữ họctri nhận thì rất ít và hầu như chưa có
Nghiên cứu thơ Hoàng Cầm, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có một
số khuynh hướng chính như sau:
2.2.1 Hướng nghiên cứu từ góc độ thi pháp học
Dưới góc nhìn thi pháp học, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Thơ mới – cuộc nổi loạn của ngôn từ thơ[9] đã nhận thấy Hoàng Cầm là người kế tục (xa, rất xa) thơ Mới, thế giới thơ Hoàng Cầm là một “thế giới ảo” tràn ngập những hình
ảnh siêu thực Ở một phương diện cụ thể, từ việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật
Mưa Thuận Thành, tác giả khẳng định: “Mưa Thuận Thành” là một thế giới siêu Thuận Thành, siêu Kinh Bắc, siêu mưa” [9; 30] và rút ra nhiều nhận xét độc đáo về thi pháp thơ Hoàng Cầm Đó là một loại hình thơ có nhiều “cái lặng”,
Trang 10“nhiều xót xa, nhiều bi kịch, không nói”, nó “âm u, lóe sáng, rồi mịt mù, xa tắp, như những huyền thoại thuở hoang sơ” [9; 116].
Đọc thơ Hoàng Cầm, nhà nghiên cứu Thụy Khê có một số cảm nhậnriêng trên phương diện thi pháp học lịch sử Chị gọi thế giới thơ Hoàng Cầmbằng một cách gọi tên ước lệ, đó là “sa mạc Hoàng Cầm”, “sa mạc trần gian”
Độc đáo hơn, trong khi tiếp cận tập thơ Về Kinh Bắc và tập kịch thơ Kiều Loan,
Thụy Khê đã lí giải thế giới thơ Hoàng Cầm mang nhiều dấu ấn của thi pháp
huyền thoại Đó là một cõi “lung linh giữa mơ và thực, là cõi lên đồng âm thanh, là phường bát âm chữ nghĩa, là cơn cuồng phong lịch sử loạn mầu trong
từ trường đồng thiếp, những dân ca, phong tục, truyền thuyết,… Hiện tại nhập hồn quá khứ gọi nhau trong những vũ điệu bất thường hoang dại[23; 365].
Đỗ Lai Thúy trong bài Hoàng Cầm, Nguyễn Bính và…[12] có nhận xét:
“Thơ Hoàng Cầm là thơ ẩn dụ Hệ thống ẩn dụ của ông, một phần lấy nguyên từ cái “kho trời chung” của văn hóa dân gian, phần khác lấy có cải biến, còn lại là
cá nhân ông sáng tạo Thơ Hoàng Cầm tràn ngập ẩn dụ đêm, mưa, trăng, gió…” [12] và so sánh giữa hai phong cách thơ Nguyễn Bính và Hoàng Cầm: “Thơ Nguyễn Bính dân dã và chân quê hơn Còn thơ Hoàng Cầm hiện đại và bác học hơn: cùng viết về nông thôn nhưng thơ Nguyễn Bính là sự thương nhớ lo âu, khắc khoải về sự phôi pha của quê hương, còn Hoàng Cầm không tả thực một vùng quê KinhBắc trong thực tế mà còn thể hiện một Kinh Bắc bất tử trong thơ ông”[12].
Nhận xét về ngôn ngữ trong thơ Hoàng Cầm, Đỗ Lai Thúy cho rằng:
“Không ai bắt nhà thơ phải có tuyên ngôn, phải viết những bài lí luận, nhưng nhà thơ cần phải tự giác được thế mạnh sáng tạo của mình, để đẩy tác phẩm vượt qua giới hạn mà thiên nhiên trong con người mình quy định Sự dừng chân ở bước chót này khiến thơ Hoàng Cầm chưa có sự đổi mới về ngôn ngữ, chưa có một ngôn ngữ thơ hiện đại như trường phái siêu thực… Hồn thơ
Trang 11Hoàng Cầm đã khác xa với hồn thơ Mới nhưng ngôn ngữ thơ ông vẫn chưa hẳn đã thoát xác thơ Mới” [12; 59] Mặc dù vậy, ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm vẫn có cái lạ riêng như là một trong những dấu hiệu đổi mới văn học: “Tôi không khẳng định ngay ở đây rằng thơ Hoàng Cầm là hay, là tuyệt tác, hình thức thơ Hoàng Cầm ở đây là tân kì, sáng tạo, song tôi biết rằng dù thích hay không nhiều người vẫn thấy thơ Hoàng Cầm là lạ, là một cái gì khang khác trong giọng điệu trong hình thức” [12; 60].
Hoài Việt trong bài viết Đến với Hoàng Cầm [18] có đưa ra một so sánh rất hay: “Con chữ trong tay anh như âm binh trong tay phù thủy” và có những nhận xét khá tinh về sự sáng tạo ngôn ngữ trong thơ Hoàng Cầm: “… cũng là ở con người mái tóc bụi tro này là việc mày mò tìm ra cái lần đằng sau chữ, tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau tạo nên bề dày chữ nghĩa không chỉ nổi mà chìm do
đó sẽ dễ gây những cách hiểu khác nhau trong vùng mờ Chữ nghĩa anh dắt díu nhau vào cuộc đời không là trò rồng rắn mà cứ quay vòng xoắn xuýt lấy nhau
để rồi bật lên sức gợi cảm lay động cả tâm thức người đọc” [18; 38].
Một số bài viết có đề cập đến thi pháp thơ Hoàng Cầm và đều thống
nhất một nhận xét về thơ ông là lối thơ siêu thực, phạm trù siêu thực: “Tính hiện đại ở thơ Hoàng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương, mà là một vùng cây cỏ, sông hồ nhẹ bay của thôn quê Kinh Bắc, được siêu thực hóa thành Cỏ Bồng Thi, cầu Bà Sấm, bến Cô Mưa và Lá diêu bông, hay những người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ Kinh Bắc, xóa nhòa trong mưa bụi bay” [23; 30].
Tiếp tục ý kiến bàn về chất siêu thực trong thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng
Điệp trong bài Hoàng Cầm – người dệt từ những giấc mơ [35] có viết: “chính hồn vía Kinh Bắc, chính niềm khát khao cháy bỏng về một tình yêu lớn dành cho quê hương, cho cái đẹp một khi sâu sắc đến tràn bờ liền cất cành thành thơ Đó
là tiếng vọng của cõi mơ, là sự siêu thăng của vô thức”[35; 52] Đúng vậy, hiện
Trang 12thực trong thơ Hoàng Cầm không phải là hiện thực thông thường mà là hiệnthực vô thức, hiện thực tâm linh Như thế, đi theo con đường của thơ siêu thực,Hoàng Cầm đã tạo được chỗ đứng bên cạnh các tên tuổi như Lê Đạt, DươngTường,…
Xoay quanh ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm, các nhà nghiên cứu, phê bình cónhững lời khen chê khác nhau Ở các bài nghiên cứu về một số bài thơ cụ thể,
các tác giả Chu Văn Sơn, Đặng Tiến cũng có những phân tích về Cây tam cúc
của Hoàng Cầm và chỉ ra được giá trị nghệ thuật của bài thơ, đặc biệt là thànhtựu về phương diện ngôn ngữ, đó là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa tính truyềnthống và hiện đại, giữa đặc trưng trữ tĩnh và phẩm chất bác học trong ngôn ngữ
thơ: “Thơ Hoàng Cầm giàu âm điệu… Có những câu thơ dìu dặt, luyến láy do sắp xếp; nhưng giọng điệu bài thơ có thể xuất thần, vượt khỏi sự dụng công”.
Các cây bút đó đã khẳng định Hoàng Cầm đó là một thứ ngôn ngữ của thơ mới,trẻ trung và có sức hấp dẫn lạ kì…
Năm 2001, Trần Thị Huyền Phương trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn
có tên Sự kết hợp giữa yếu tố thực và hư trong thơ Hoàng Cầm [62] đã lí giải
hai phạm trù đối lập “thực” – “hư” và xem đó là bản chất của cấu trúc hìnhtượng và tư duy nghệ thuật Tác giả xem sự kết hợp giữa yếu tố thực và hư lànét đặc sắc trong việc xây dựng hình tượng và thể hiện được một số nét tiêubiểu của phong cách nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
Có thể thấy rằng, các bài viết, bài nghiên cứu, các ý kiến trên đây đềuthống nhất chỉ ra: Trong thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm có một thế giới ảo,
có những hình tượng thơ siêu thực, có những yếu tố tiềm thức, vô thức, tâm linh,
… Đồng thời, khẳng định những nét độc đáo của thế giới nghệ thuật thơ HoàngCầm
2.2.2 Hướng nghiên cứu thơ Hoàng Cầm từ góc độ văn hóa học
Trang 13Khi phát hiện ra văn hóa Kinh Bắc chính là những ảnh hưởng quantrọng làm nên cội nguồn thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng:
“Hình như có một không gian Kinh Bắc, một thời gian Kinh Bắc rất đỗi cổ kính trong thơ anh Và trên cái nền thời gian, không gian ấy, cứ thấp thoáng một cô gái quê Kinh Bắc của một thuở nào, có vẻ duyên dáng, tình tứ…”
Nguyễn Xuân Lạc khi nói về cảm hứng thơ Hoàng Cầm có viết: “Người thơ mang tên vị thuốc đắng ấy lại sinh ra và lớn lên trong một vùng đất thơ ngọt ngào Đó là xứ Kinh Bắc – một trong ba cái nôi lớn của dân tộc Việt Nam… Xứ Kinh Bắc thơ mộng hữu tình… Vùng đất thơ ấy bồi đắp cho Hoàng Cầm, từ nhiều phía, nhiều nguồn”,ra đi kháng chiến, Hoàng Cầm “đem theo cả một hành trang Kinh Bắc trong hồn thơ Thanh niên của mình” [55; 14-15].
Năm 2007, cuốn sách Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc của
Nguyễn Thị Minh Bắc có đề cập đến góc độ văn hóa, nhưng chưa thực sự chỉ
ra được những biểu tượng văn hóa trong thơ ông – điều cốt lõi làm nên nhữngthành công về bản sắc, phong cách nghệ thuật và tài năng thơ Hoàng Cầm
Năm 2012, Luận án Tiến sĩ của Lương Minh Chung với đề tài Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa [27] đã xác định điểm nhìn văn hóa trong
việc nghiên cứu thơ Hoàng Cầm Tác giả đã đi sâu vào các vấn đề lý thuyết, líluận chung về mối quan hệ giữa môi trường văn hóa và con người, dưới gócnhìn văn học như một công cụ để khai thác
Tiếp cận và phát triển hướng nghiên cứu trên, Trần Đức Hoàn trong
Luận án Tiến sĩ với đề tài Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm [60] đã giải mã một cách khoa học, tương đối thấu đáo về thơ Hoàng Cầm
từ góc độ văn hóa học trong mối liên hệ với vùng thẩm mỹ Kinh Bắc dưới góc
độ biểu tượng văn hóa và hệ thống ngôn ngữ Từ đó khẳng định: “Văn hóa Kinh Bắc”chính là“vùng thẩm mỹ độc đáo trong thơ Hoàng Cầm”.
2.2.3 Hướng nghiên cứu thơ Hoàng Cầm từ góc độ phân tâm học
Trang 14Năm 2003, PGS.TS Đỗ Lai Thúy biên soạn, giới thiệu cuốn sách Phân tâm học và tình yêu Ông đã lấy bài viết Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm
để thay lời đề bạt cho cuốn sách này Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Về Kinh Bắc là một giấc mơ”và là“một galerie những bức ảnh ấu thời, ảnh hội hè đình đám
xứ Bắc, ảnh con người của đời thường và của huyền thoại, ảnh động vật, cậy cối,…”.Chúng đứng ngẫu nhiên bên cạnh nhau, vừa chồng chất vừa rời rạc Trong giấc mơ, bao giờ cũng“ẩn chứa những ham muốn vô thức”, những“khát khao bản năng”của tuổi ấu thơ bị đẩy vào tiềm thức và bị nhốt vào quên lãng Những dồn nén đó chờ những lúc “có vấn đề”, sự kiểm soát bị lơi lỏng sẽ “bung ra” thăng hoa thành những giấc mơ, thành sáng tạo nghệ thuật Nói cách khác đây là “một tình yêu kiểu Oediep”và“Hoàng Cầm đã sáng tác để giải tỏa mặc cảm Oediep”.
Có thể nói, những nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy đêm lại rất nhiều gợi ýcho người viết trong ý tưởng và cả cách thức tiếp cận thơ Hoàng Cầm theohướng phân tâm học Mà yếu tố vô thức là đối tượng chính yếu của người viếttheo hướng nghiên cứu này
Những công trình, bài nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lạc, Hoàng Việt,Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Lai Thúy,… cùng những luận án, luậnvăn, khóa luận, báo cáo ở trên cho thấy thơ Hoàng Cầm là một đối tượngnghiên cứu đầy say mê và hứng thú ở nhiều góc độ khác nhau Ở mỗi bìnhdiện, người viết lại khơi sâu và khám phá để làm dày hơn hiểu biết về thế giớithơ ca Hoàng Cầm Điều khiến chúng tôi quan tâm và thực sự thu hút ở thơHoàng Cầm có lẽ là sự độc đáo của thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, đặc
biệt là ngôn ngữ thơ.Trong công trình nghiên cứu Hệ thống biểu tượng trong thơ Hoàng Cầm [32], tác giả Mai Thị Nhiên có thống kê và phân loại hệ
thống các biểu tượng trong thơ Hoàng Cầm như: mưa, gió, mây, đêm,…; tiếpcận thơ ông từ góc độ biểu tượng, giải mã nhưng biểu tượng, qua đó cho thấy
tư duy thơ độc đáo của thi sĩ, đồng thời khám phá nét đẹp mang bản sắc văn
Trang 15hóa truyền thống của quê hương Kinh Bắc Trong đó, tác giả có thống kê vàphân loại “mưa”, ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng “mưa”.
Chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận thơ HoàngCầm từ góc độthi pháp học, nghiên cứu thơ Hoàng Cầm từ góc độ văn hóa,một số khác theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, chưa có một côngtrình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể “mưa” trong thơ Hoàng Cầm; ngay cả
Hệ thống biểu tượng trong thơ Hoàng Cầm (2009) [32] của Mai Thị Nhiên có
nghiên cứu đến “mưa” nhưng dưới lí thuyết biểu tượng và cũng chưa có công
trình nghiên cứu nào về “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầmnhìn
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận” Thêm nữa, kể từ khi công trình kinh điển Metaphors We Live by (Ẩn dụ chúng ta đang sống) [15] của G Lakoff và
Johnson (1980s) ra đời đến nay, lí thuyết về Ngôn ngữ học tri nhận trongkhoảng thời gian mấy mười năm qua đã không ngừng được phát triển trênnhiều phương diện từ mở rộng phạm vi ngữ liệu khảo sát đến việc bổ sungthêm những luận điểm học thuật mới Tiếp thu hệ lí thuyết này, khi tìm hiểu
các sáng tác thơ Hoàng Cầm, chúng tôi lựa chọn đề tài Tín hiệu thẩm mỹ
“mưa” trong thơ Hoàng Cầmnhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhậnvới
mong muốn góp phần vào việc giới thiệu lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận ởViệt Nam (đang là một vấn đề mới mẻ, thu hút nhiều sự chú ý), đồng thời ứngdụng vào nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt tìm ra những chứng cứ củng cố choquan điểm tri nhận, ý niệm và ý niệm hóa của Ngôn ngữ học tri nhận hiệnnay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi đặt mục tiêu áp dụng lí thuyết của ngôn
ngữ học tri nhận vào thực tiễn ngôn ngữ tiếng Việt, cụ thể là“Tín hiệu thẩm
mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”,
nhằm chỉ ra sự tương quan giữa ý niệm “mưa” với các ý niệm khác; từ đó có
Trang 16cái nhìn rộng mở hơn về thế giới tư duy – nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, gópphần nhận diện về phong cách và cá tính sáng tạo của nhà thơ.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải thực hiện những nhiệm vụ sau:(i) Tìm hiểu một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến đối tượng nghiêncứu của đề tài: tín hiệu thẩm mỹ, ý niệm, ý niệm hóa, cấu trúc ý niệm, miềnđích, miền nguồn,…
(ii) Khảo sát sự xuất hiện của tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ HoàngCầm Sau đó, thống kê, phân loại và miêu tả sự tương đồng trong quan hệgiữa ý niệm “mưa” và các ý niệm khác; từ đó là cơ sở giải mã dấu ấn tư duy –văn hóa trong thơ Hoàng Cầm
(iii) Đưa ra nhận định khoa học về vai trò của ý niệm “mưa” trong việcxây dựng thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trongcác biểu thức ngôn ngữ có từ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm trên một sốphương diện: sự thể hiện ý niệm “mưa” trong mối tương quan giữa ý niệm
“mưa” với các ý niệm khác và vai trò của ý niệm “mưa” trong việc xây dựngthế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
Đối tượng khảo sát là tất cả các biểu thức ngôn ngữ có sự xuất hiện củatín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm
Trang 17ngôn ngữ có từ “mưa” nhưng không thể hiện ý niệm không thuộc phạm vinghiên cứu của khóa luận.
Phạm vi tư liệu khảo sát: Để nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi tiến
hành khảo sát tư liệu Hoàng Cầm thơ, NXB Hội Nhà văn – Trung tâm Văn
hóa Đông Tây, 2003 của Lại Nguyên Ân (sưu tầm và biên soạn) gồm 267 bàithơ [1] Đây có thể coi là công trình tập hợp một cách hệ thống và đầy đủ nhấtnhững sáng tác thơ của Hoàng Cầm Chọn cách sắp xếp theo trật tự thời gian
sáng tác, tác giả giữ nguyên những tập hợp hoàn toàn độc lập (Tiếng hát quan
họ, Về Kinh Bắc, Lá diêu bông,…), đồng thời tập hợp những sáng tác khác
thành những cụm nhất định, hoặc gần nhau về thời gian sáng tác hoặc trongcùng một ấn phẩm; bao gồm:
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu khác nhau:
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Chúng tôi tiến hành khảo sát sự xuất hiện của tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trongthơ Hoàng Cầm Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” cho thấy trong mô hình tri nhận củaHoàng Cầm, ý niệm về “mưa” gắn liền với các ý niệm “người phụ nữ”, “thời gian”,
Trang 18“cuộc đời”, “sự chìa lìa, tan vỡ”,… Từ khảo sát và phân loại trên, chúng tôi thống
kê được quan hệ giữa ý niệm “mưa” và các ý niệm khác trong thơ Hoàng Cầm
5.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Chúng tôi tiến hành phân tích nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ có từ
“mưa” nhằm chỉ ra những nét nghĩa khu biệt của ý niệm “mưa” Từ đó, tìmhiểu cấu trúc ý niệm thể hiện qua cácbiểu thức có từ“mưa” trong thơ HoàngCầm Phương pháp này giúp tìm ra điểm chung của các đơn vị được nghiêncứu trong việc thể hiện đặc trưng tri nhận của tác giả
5.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Chúng tôi kết hợp tri thức ngôn ngữ học với các tri thức các ngànhkhoa học khác như văn hóa học, xã hội học, tâm lí học,… để tìm hiểu thấuđáo về năng lực tư duy, sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là dấu ấn tưduy – văn hóa dân tộc và lí tưởng của con người thời đại phản chiếu trong thếgiới quan, nhân sinh quan của tác giả
6 Ý nghĩa khóa luận
các kết quả thu được khi tìm hiểu“Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, chúng tôi thấy được ý niệm
chính là cơ sở cho việc lựa chọn, xây dựng tín hiệu thẩm mỹ “mưa”, thể hiệnchủ yếu qua sự kết hợp từ ngữ “mưa + từ ngữ khác” Từ đó, cho thấy những
Trang 19mối liên tưởng mà tác giả Hoàng Cầm đã thể hiện khi tri nhận “mưa” và ýniệm hóa chúng thành ý niệm “mưa” trong thơ Như vậy, khóa luận có ýnghĩa thực tiễn đó là thông qua việc cung cấp một hệ thống ngữ liệu và nhữngphân tích, luận giải liên quan đến sự tri nhận và ý niệm hóa trên cơ sở đi sâuvào lựa chọn ngữ liệu cụ thể - sáng tác thơ Hoàng Cầm, khóa luận có thể cónhững đóng góp tích cực cho việc phát triển nghiên cứu và ứng dụng theođường hướng ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở choviệc đưa vào ứng dụng những kết quả nghiên cứu được vào chương trình đàotạo hoặc được sử dụng như tài liệu tham khảo cho ngành Ngữ văn và cácngành liên quan như Văn hóa học, Tâm lí học,…
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luậntriển khai thành 3 chương:
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2 Ý NIỆM “MƯA” VÀ SỰ THỂ HIỆN Ý NIỆM “MƯA” TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Chương 3 VAI TRÒ CỦA Ý NIỆM “MƯA” TRONG VIỆC XÂY DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG CẦM
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong chương này chúng tôi trình bày khái quát những cơ sở ngôn ngữlàm nền tảng cho việc ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào giải quyết
vấn đề được đặt ra:Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc
độ ngôn ngữ học tri nhận Với định hướng triển khai đề tài trên, chúng tôi lựa
chọn hai lí thuyết cơ bản và là công cụ quan trọng nhất để trình bày ở chươngnày, đó là: Lí thuyết về tín hiệu thẩm mỹ và Lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận
1.1 Lí thuyết về tín hiệu thẩm mỹ
Tín hiệu thẩm mỹ trước hết về mặt bản chất là một loại tín hiệu, bởivậy để nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ phải xem xét nó trong phạm trù chung –tức phạm trù tín hiệu Đồng thời, các tín hiệu thẩm mỹ còn phải được xem xéttrong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống tín hiệu ngôn ngữ được sử dụng làmphương tiện trong tác phẩm văn học
về một cơn mưa trong nhận thức của con người Các nhà nghiên cứu về líthuyết thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin (thông tin), còn các nhànghiên cứu nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa
Trang 21Kế thừa thành quả của những người đi trước, Đỗ Hữu Châu đã chỉ ranhững đặc tính cơ bản là dấu hiệu nhận biết một tín hiệu, gồm các nhân tố sau:
- Nó phải có một hình thức cảm tính: cảm nhận được bằng giác quan
- Nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải
mang một nội dung ý nghĩa), “một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (ý nghĩa)”.
- Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó
- Phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định
Các nhà nghiên cứu Tín hiệu học đã phân các tín hiệu thành nhữngphạm trù khác nhau Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra bảng phân loại tín hiệu theoquan điểm riêng của mình Theo ông, tín hiệu là một thực thể đa diện cho nêncăn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loạikhác nhau Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phânloại.Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là:
1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện
2/ Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu
3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện
4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu
Dựa vào mặt thể chất của tín hiệu có thể phân chia ra được các loại tínhiệu như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh,… trong đó tín hiệu ngôn ngữđược coi là một loại tín hiệu đặc biệt
Trang 22Theo Ch.W Morris, tất cả các tín hiệu đều nằm trong quan hệ với cáctín hiệu khác và quy định lẫn nhau Do đó, các tín hiệu luôn nằm trong một hệthống nhất định Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt nên nó cũng lập thànhmột hệ thống Chính F de Saussure cũng đã khẳng định điều này và cho rằnggiá trị của mỗi yếu tố là do các yếu tố khác trong hệ thống quy định Tuynhiên, Đỗ Hữu Châu đã chỉ rõ: mặc dù F de Saussure có khẳng định vai tròcủa hệ thống đối với tín hiệu ngôn ngữ nhưng do xác định một cách riêng rẽtừng tín hiệu một nên ông chỉ thấy hai mặt (cái biểu đạt, cái được biểu đạt)quy định lẫn nhau [10; 695].
Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng [11], ông
coi hệ thống ngôn ngữ với những thể chất tinh thần và vật chất, đó là những
âm thanh do bộ máy cấu âm của con người làm ra Tác giả đặc biệt lưu ý vấn
đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ so với các
hệ thống tín hiệu nói chung và tín hiệu mang chức năng giao tiếp nói riêng:ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn làcông cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống của con người,…
Từ các phương diện chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định
ý nghĩa tín hiệu của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa (tức các đơn
vị có hai mặt): từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản Do đó, mối quan hệ giữahai mặt của tín hiệu ngôn ngữ đặt trong chức năng xã hội của ngôn ngữ Sựhiện thực hóa chức năng xã hội của ngôn ngữ được biểu hiện trong hoạt độngcủa toàn bộ hệ thống; qua những mối quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn, cúđoạn: khả năng kết hợp các yếu tố ngôn ngữ với nhau để tạo thành một đơn vịcao hơn) và mối quan hệ dọc giữa các cấp độ của hệ thống ngôn ngôn ngữ.Trong các trường hợp cụ thể, mối quan hệ giữa hình thức ngôn ngữ (cái biểuđạt) và nội dung (cái được biểu đạt) rất khác nhau Chẳng hạn, tín hiệu
“thuyền” trong hai trường hợp sau:
Trang 23(1) Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
(2) Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Tràng giang – Huy Cận)
"Thuyền" chỉ người con trai khi đặt trong ngữ cảnh của câu ca dao với
các từ ngữ chỉ dẫn xung quanh: bến,về, nhớ, một dạ, khăng khăng, đợi chỉ
hoạt động, trạng thái tình cảm của con người
"Thuyền" trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận lại được hiểu theomột nghĩa khác “Thuyền” ẩn dụ cho kiếp người nhỏ bé lênh đênh giữa dòngđời phiêu bạt
Như vậy, ý nghĩa của tín hiệu thẩm mỹ chỉ có được khi đặt chúng trongngữ cảnh cụ thể, khi tách ra khỏi ngữ cảnh hoặc đặt trong một ngữ cảnh khác thì ýnghĩa của tín hiệu thẩm mỹ cũng thay đổi
1.1.3 Tín hiệu thẩm mỹ
Khái niệm tín hiêu thẩm mỹ (hay kí hiệu thẩm mỹ) ra đời gắn vớikhuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật từ những nămgiữa thế kỉ XX với các công trình của Iu.Philipiep, M.B.Khrapchenco Sau
đó, những công trình này được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70qua bản dịch, cùng với đó là các công trình, bài viết của Hoàng Trinh, TrầnĐình Sử, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai,… mở đầu cho lĩnh vực nghiên cứu tínhiệu thẩm mỹ trong nền ngôn ngữ ở Việt Nam
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu tuy chưađưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về tín hiệu thẩm mỹ, song họ đềuthừa nhận tín hiệu thẩm mỹ là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện củanghệ thuật Đó là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ
Trang 24thống tác động thẩm mỹ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt,
có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta [72; 17]
Ở Việt Nam, người đặt cơ sở nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ là Đỗ Hữu
Châu Tác giả cho rằng: “Tín hiệu thẩm mỹ là phương tiện sơ cấp của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mỹ, cú pháp - tín hiệu thầm mỹ Rồi các tín hiệu thẩm mỹ đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường và cú pháp thông thường”[10; 576] Để trả lời
cho câu hỏi: thế nào là tín hiệu thẩm mỹ, tác giả chủ trương căn cứ vào sựtương ứng của tín hiệu thẩm mỹ với các vật quy chiếu thuộc thế giới hiệnthực Từ đó, tín hiệu thẩm mỹ có thể hiểu chính là toàn bộ những yếu tố hiệnthực, những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tácphẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa thẩm mỹ nhất định
Khi đi vào thế giới nghệ thuật, các tín hiệu thông thường sẽ chuyển hóathành tín hiệu thẩm mỹ, mang những nét đặc thù của nghệ thuật Có thể hiểu
một cách chung nhất, tín hiệu thẩm mỹ là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Nói đến phương tiện nghệ thuật là nói đến hai
Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mỹ
Sơ đồ trên cho thấy cái biểu đạt và cái được biểu đạt tạo thành tín hiệungôn ngữ đã trở thành cái biểu đạt cho một cái được biểu đạt mới là ý nghĩathẩm mỹ của tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học Tín hiệu ngôn ngữ tự
Trang 25nhiên muốn trở thành tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm nghệ thuật thì phải trảiqua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng để đạt đến ýnghĩa thẩm mỹ nhất định.
Trong các tác phẩm nghệ thuật, tín hiệu thẩm mỹ được biểu hiện rất đadạng đối với từng ngành nghệ thuật, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mangnhững đặc trưng cụ thể của tín hiệu thẩm mỹ
1.1.4 Mưa – từ tín hiệu đến tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm
Trong tư duy, nhận thức của chúng ta, mưa là một hiện tượng tự nhiên, làmột dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, hơi nước bay lên caogặp lạnh ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển Khicác đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại trái đất, tạo thành mưa
Mưa đi vào ca dao Việt Nam: Con cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt
ai đưa cò về Khi chỉ nỗi đau đớn chia lìa tan vỡ: Trời mưa bóng bóng bập
bùng/ Mẹ đi lấy chồng con ở với ai Khi mưa được dùng với nét nghĩa vật
chất: Ơn trời mưa nắng phải thì, Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống…
Trong tư duy văn hóa người Việt, mưa là một hiện tượng thời tiết quan trọng
Vì văn hóa người Việt là văn hóa nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào thời tiết.Thiếu mưa gây hạn hán, mưa xuống làm cho mùa màng bội thu, nhưng mưanhiều thì lũ lụt, mất mùa Vì thế, ca dao cũng có câu nói về sự phụ thuộc củatrồng trọt, sản xuất vào thời tiết:
(3)
Trông trời, trông nắng, trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên bể lặng ta mới yên tấm lòng
(Ca dao)
Trang 26Các nhà thơ Mới (1932-1945) như Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc
Tử, Huy Cận… đều xây dựng hình ảnh “mưa” như những tín hiệu thẩm mĩchuyên chở cảm xúc của tác giả đạt hiệu quả nghệ thuật cao:
(4)
Lòng anh là một cơn mưa lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai
(Xuân Diệu)(5)
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
(Nguyễn Bính)Với Hoàng Cầm, mưa trở thành nỗi ám ảnh, thành “siêu mưa” Mưachuyên chở những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn thơ đa tình đa tài Có thể
nói, Hoàng Cầm là “người góp tiếng nói nhiệm màu cho những cơn mưa”.
Mưa là một một tín hiệuđược hình thành trong tư duy (ý niệm) “mưa” Ýniệm “mưa” này lại được thể hiện bằng tín hiệu ngôn ngữ “mưa” Những tínhiệu ngôn ngữ này mang những đặc biệt, độc đáo trong tư duy nghệ thuật củaHoàng Cầm nên khi đi vào thơ, “mưa”trở thành một tín hiệu thẩm mỹ Vì thế,
“mưa” xuất hiện với tần số tương đối dày đặc, trở đi trở lại trong từng tập thơ,từng bài thơ, từng khổ thơ
Bản thân nguồn gốc, ý nghĩa của tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệuthẩm mỹ “mưa” chính là ý niệm “mưa” trong nhận thức, tri nhận của HoàngCầm Vì thế, chúng tôi nghiên cứu “mưa” dưới góc độ ý niệm (Ngôn ngữ học trinhận) mà không phải là nghĩa của từ (tín hiệu thẩm mỹ) bởi vì ý niệm là cơ sở,xuất phát điểm để sử dụng từ ngữ và sử dụng “mưa” như một tín hiệu nghệ thuậttrong tác phẩm Tức tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm chỉ là đốitượng, là phương tiện để soi rọi ánh sáng của lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận của
vấn đề“Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn
Trang 27ngữ học tri nhận” mà chúng tôi nghiên cứu Làm rõ định hướng: tín hiệu thẩm
mỹ dưới ánh sáng của Ngôn ngữ học tri nhận, trong phần 1.2 chúng tôi trình bàynhững khái niệm hữu quan trong Ngôn ngữ học tri nhận khi nghiên cứu đốitượng là tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm
1.2 Lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận
mang tính nghiệm thân Cụ thể hơn: “ý niệm về những sự vật cụ thể bắt nguồn từ những trải nghiệm của các giác quan, còn có ý niệm về các sự vật trừu tượng là kết quả của việc điều chỉnh, tổng hợp, xử lí thông tin trên cơ sở các ý niệm về sự vật cụ thể” [41; 221].
1.2.1.2 Ý niệm (concept) và khái niệm (notion)
Ý niệm (concept) khác với khái niệm (notion):
Về mặt nguồn gốc của thuật ngữ, “khái niệm” và “ý niệm” đều xuấtphát từ một từ tiếng Anh: “concept” Trong quá trình phát triển của khoa họctri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, nội hàm của từ “concept”được tách làm đôi: một phần được hiểu là “khái niệm”, một phần được hiểu là
“ý niệm” [69]
Trang 28Khái niệm (notion) là một hình thức của tư duy (thinking) phản ánh ởdạng khái quát nhất những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ và quan hệ giữacác sự vật và hiện tượng của thực tế khách quan Khái niệm không chỉ trừu suấtcái chung mà còn phân suất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm
cơ sở cho việc phân loại phù hợp những nét khu biệt của chúng Tư duy khác với
ý thức ở chỗ, tư duy là sự phản ánh có tính chất logic – khách quan của các sựvật, hiện tượng hay quan hệ trong nhận thức Còn ý thức thì không những khôngphản ánh những thuộc tính logic – khách quan của sự vật, hiện tượng hay quan
hệ mà còn bao gồm cả những yếu tố chủ quan của con người khi nhận thức các
sự vật, hiện tượng hay quan hệ đó Ý thức bao gồm cả ba thành tố: trí tuệ, cảmxúc và ý chí Trên cơ sở đó, chúng ta nhận thấy ý niệm là những biểu tượng tinhthần phản ánh cách thức chúng ta tri giác thế giới xung quanh và tương tác với
nó Ý niệm bao gồm cả những sự liên tưởng và những ấn tượng là một trongnhững kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ
Tóm lại, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tốcảm xúc – hình tượng và thành tố văn hóa Hai thành tố sau mang tính dân tộcsâu sắc [69; 2]
1.2.1.3 Cấu trúc ý niệm (structure of concept)
Ý niệm được hình thành trong ý thức của con người Cấu trúc nội tạicủa nó bao gồm: một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thếgiới tưởng tượng, mang những nét phổ quát; mặt khác, bao gồm tất cả những
gì làm cho nó trở thành sự kiện của văn hóa, nghĩa là nó chứa đựng những nétđặc trưng văn hóa – dân tộc Cơ sở của ý niệm là những kinh nghiệm cảm tínhtrực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giớibằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giaotiếp dưới hình thức ngôn ngữ
Ý niệm là một hình ảnh, nó có thể chuyển động từ một hình ảnh cảmtính sang một hình ảnh tư duy Chẳng hạn, “lạnh” là một hình ảnh cảm tính,
Trang 29bởi đó là kết quả của một loại tri giác nhiệt độ (so sánh: lạnh, nóng, ấm, mát,
…) Khi là lạnh thì người ta run, hình ảnh cảm tính này chuyển sang hình ảnh
tư duy trong ý niệm “sợ”: lạnh run người – sợ run người, lạnh run cầm cập –
sợ run cầm cập, lạnh quíu cả lưỡi – sợ quíu cả lưỡi,… “Lửa” là một hiệntượng thiên nhiên cũng như hiện tượng thiên nhiên khác như: “nước”, “sấm”,
“chớp”, “mưa”, “gió”, “bão”,… Song “lửa” phát ra hơi nóng (nhiệt độ) có thểlàm cháy những vật xung quanh Lửa có thể phát ra ánh sáng Hình ảnh cảmtính đó của “lửa” có thể chuyển thành hình ảnh tư duy trong ý niệm “nhiệttình”: “ngọn lửa nhiệt tình”, “ngọn lửa tình yêu”, “ngọn lửa cách mạng”, “ta
đi theo ánh lửa từ trái tim mình”,…
Ý niệm có cấu trúc trường – chức năng được tổ chức theo mô hìnhtrung tâm (hạt nhân) và ngoại vi Có thể hình dung trường – chức năng của ýniệm như một vòng tròn to có chứa những vòng tròn nhỏ tại tâm và nhữngvòng tròn nhỏ khác giao nhau
Có thể biểu diễn cấu trúc của ý niệm bằng sơ đồ sau đây:
Hình 1: Sơ đồ cấu trúc ý niệm
Trang 30Chú thích sơ đồ:
Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường – chức năng (vòng
tròn nhỏ tô đậm tại tâm) Nó mang tính chất phổ quát, toàn nhân loại Nằm ở
ngoại vi (trong những vòng tròn nhỏ giao nhau) là những nét đặc thù văn hóa
– dân tộc, trong đó yếu tố hàng đầu là giá trị, bởi lẽ nói đến văn hóa là nói
đến những giá trị văn hóa (tinh thần và vật chất) Nét đặc thù văn hóa baogồm: a) văn hóa dân tộc, b) văn hóa các tộc người, c) văn hóa vùng, miền, địaphương, d) văn hóa riêng các nhóm xã hội mà con người tham gia và chịu tácđộng về nhiều mặt và cuối cùng đ) văn hóa cá thể với những đặc điểm tạothành nhân cách cá nhân như tình cảm, đạo đức, học vấn, kinh nghiệm sống
và những đặc điểm tâm – sinh lí cá nhân,…
Vậy ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giớiđược hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngônngữ Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa đượcthể hiện dưới nhiều dạng khác nhau) [69; 2]
Khi bàn về những nguyên lí chủ đạo của ngữ nghĩa học tri nhận, Evan
và Green đã đưa ra những nguyên lí có liên quan đến cấu trúc ý niệm:
(i) Cấu trúc ý niệm mang tính nghiệm thân
(ii) Cấu trúc ngữ nghĩa là cấu trúc ý niệm
(iii) Việc mô tả ý niệm mang tính bách khoa/ phi ngữ văn
(iv) Sự kiến tạo nghĩa là quá trình ý niệm hóa
Khoa học tri nhận cho rằng các ý niệm không chỉ là sự phản ánh củathực tại bên ngoài, mà cơ bản hình thành từ thân thể và bộ não của chúng ta,nhất là hệ thống cảm giác, tri giác Dựa trên sự trải nghiệm từ cơ thể ngườivới thế giới xung quanh, các ý nghĩa được tạo nên và quyết định phương thứccon người hiểu biết thế giới, như vậy cơ sở tri nhận của con người phải đượchiểu qua tính nghiệm thân
Trang 31Nghiên cứu cách thức ngôn ngữ mã hóa và thể hiện ra ngoài cấu trúc ýniệm, Talmy nhận định rằng cái cách ngôn ngữ truyền tải các thực thể hay cáckịch cảnh đó là bằng cách phản ánh hoặc mã hóa các biểu tượng tri nhận hoặcbằng hệ thống ý niệm của người sử dụng ngôn ngữ đó Theo ông, biểu tượng trinhận hình thành từ hai hệ thống đem lại cho kịch cảnh mà chúng ta tạo ra nhữngchiều kích có tầm quan trọng ngang nhau những rất khác nhau, đó là hệ thốngcấu trúc ý niệm và nội dung ý niệm Khi hệ thống cấu trúc ý niệm giúp chúng ta
có kết cấu hay cái khung của một kịch cảnh nào đó thì hệ thống nội dung ý niệmlại cung cấp phần lớn các chi tiết đa dạng tồn tại một cách riêng biệt Ngữ nghĩaliên quan đến hệ thống cấu trúc ý niệm về bản chất mang tính lược đồ rất cao,trong khi đó ngữ nghĩa liên quan đến hệ thống nội dung ý niệm lại đa dạng vàmang tính chi tiết cao Nói cách khác, cấu trúc ngữ nghĩa là phương tiện quy ước
để mã hóa cấu trúc ý niệm thành biểu thức ngôn ngữ
1.2.2 Ý niệm hóa
Ý niệm hóa (conceptualization) là một trong những quá trình quantrọng nhất của hoạt động tri nhận của con người, có thể được hiểu là quá trìnhhình thành ý niệm Quá trình hình thành ý niệm là quá trình phát triển củanhận thức từ cảm tính sang lí tính, tức là từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng Quá trình phạm trù hóa và ý niệm hóa liên quan chặt chẽ với nhaucùng là hoạt động phân loại nhưng không đồng nhất về kết quả cuối cùng vàmục đích hoạt động Phạm trù hóa thì tập hợp các đơn vị giống hoặc tương tựnhau về mặt nào đó để hình thành các phạm trù tri nhận, còn ý niệm hóa thìtrừu suất những đơn vị tối giản trong kinh nghiệm của con người thành nộidung của các đơn vị ngôn ngữ
Sự hình thành của các ý niệm cần có một nền tảng, một bộ phận nổi bậtnào đó của nền trở thành tiêu điểm chú ý, trên cơ sở đó ý niệm được tách biệt
ra Langacker gọi đó là vùng tri nhận (domain) [41; 227]
Trang 32Liên quan đến vấn đề ý niệm, các nhà khoa học khẳng định rằng ý niệm
là một mảng của thế giới do con người cắt ra bằng “lưỡi dao ngôn ngữ” để
nhận thức Việc cắt thế giới ra thành từng mảng được gọi là ý niệm hóa thế giới Điều cần nói ở đây là cái thế giới mà trong đó con người đang sống và
đang nhận thức là tồn tại khách quan và thống nhất cho tất cả mọi người, cònviệc cắt nó như thế nào thì lại không thống nhất bởi cái “lưỡi dao ngôn ngữ”dùng để cắt không giống nhau ở các tộc người, các cộng đồng mang nhữngnền văn hóa khác nhau Việc “ý niệm hóa” thế giới cho chúng ta những “bứctranh thế giới”
Trang 33Tiểu kết chương 1
Ở chương 1 này, chúng tôi đã tổng thuật một số vấn đề cơ bản về líthuyết Tín hiệu thẩm mỹ và lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận, coi đó như nềntảng lí luận soi sáng các tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận Theo đó, chúng tôi nghiên cứu “mưa” ở gócđộc ý niệm (tư duy) chứ không phải ở góc độ ngữ nghĩa của từ Tín hiệu thẩm
mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận sẽgiúp ta hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới củanhà thơ phản chiếu qua ngôn ngữ, và ngược lại, sự tri nhận cũng sẽ là cơ sởgiúp giải mã các tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ thơ ông
Trang 34Chương 2
Ý NIỆM “MƯA” VÀ SỰ THỂ HIỆN Ý NIỆM “MƯA”
TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát sự xuất hiệncủa các tín hiệu thẩm mỹ “mưa” Từ những kết quả và số liệu thống kê thuđược, chúng tôi nhận thấy ý niệm “mưa” luôn đặt trong mối quan hệ với các ýniệm khác trong thơ Hoàng Cầm, thể hiện chủ yếu thông qua sự kết hợp từngữ: “mưa + từ ngữ khác” Vì thế, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh ý niệm
“mưa” và sự thể hiện ý niệm “mưa” trong thơ Hoàng Cầm Từ đó, cho thấyđời sống tinh thần phong phú và tư duy nghệ thuật thơ giàu sức tưởng tượng
và trí tuệ của nhà thơ
2.1 Kết quả khảo sát ý niệm “mưa” và sự thể hiện ý niệm “mưa” trong thơ Hoàng Cầm
Từ những số liệu khảo sát và phân loại, chúng tôi đã thống kê được sựxuất hiện của các tín hiệu “mưa” trong thơ Hoàng Cầm như sau:
Bảng 2.1 Sự xuất hiện tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm STT Biểu thức ngôn ngữ
từ ngữ khác “mưa + từ ngữ khác” chiếm 90/91 biểu thức ngôn ngữ và xuất hiệnvới tần số 124 lượt chiếm 82,1% Kết quả này cho thấy tín hiệu “mưa” chỉ xuất
Trang 35hiện với số lượng ít, không đáng kể trong khi số lượng “mưa + từ ngữ khác”chiếm số lượng lớn trong tổng số biểu thức ngôn ngữ và số lượt.
Khảo sát sự xuất hiện của các tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ HoàngCầm chúng tôi nhận thấy: trong thơ Hoàng Cầm,các tín hiệu thẩm mỹ “mưa”thể hiện ý niệm của nhà thơ về hiện thực khách quan, về con người, cuộcđời… Trong mô hình tri nhận của Hoàng Cầm, ý niệm “mưa” luôn được đặttrong mối quan hệ liên tưởng với các ý niệm khác (cuộc đời, sự sống, thờigian, người phụ nữ,…) mà chủ yếu do các kết hợp từ ngữ giữa “mưa + từ ngữkhác” đem lại Vì vậy, khi viết về “mưa”, bao giờ Hoàng Cầm cũng sử dụng
những kết hợp từ ngữ đặc biệt như: “mưa hoa nhài”, “mưa ái phi”, “mưa lơi”,… (dùng thuộc tính của con người, cụ thể hơn là người phụ nữ) khi tri
nhận “mưa” và ý niệm hóa chúng thành ý niệm “mưa” trong thơ Về mặt từloại, hầu hết các tín hiệu thẩm mỹ “mưa” có đặc điểm chung về mặt từ loại làdanh từ Khi tín hiệu thẩm mỹ “mưa” là một từ - hằng thể thì nó là danh từ,khi tín hiệu thẩm mỹ “mưa” là các biến thể kết hợp thì phần trung tâm củabiến thể kết hợp của nó cũng là danh từ Chẳng hạn, với các biến thể kết hợp
như: mưa Thuận Thành, mưa ái phi, mưa chèo bẻo, mưa hoa nhài, mưa xuân, mưa đêm,… thì Thuận Thành, ái phi, chèo bẻo, hoa nhài, xuân, đêm,… đều là
danh từ Về cấu tạo của các tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm,hầu hết các tín hiệu thẩm mỹ - biến thể kết hợp “mưa” đều được cấu tạo làcụm danh từ Trong cấu tạo của cụm danh từ thì thành tố phụ sau cũng là
danh từ, một số khác là động từ (rơi, chưa đậu,…) hoặc tính từ (lơi, lạnh,…) hoặc cụm chủ vị (mưa gái thương chồng, mưa chuông chùa lặn, mưa ngồi cổng vắng,…).
Chúng tôi thống kê được sự thể hiện ý niệm “mưa” trong thơ HoàngCầm trong sự liên tưởng, tương quan với các ý niệm khác như sau:
Bảng 2.2 Quan hệ giữa ý niệm “mưa”
Trang 36và các ý niệm khác trong thơ Hoàng Cầm STT Quan hệ giữa các ý niệm
Số lượng BTNN Số lượt xuất hiện
Số lượng Tỉ lệ % Số lượt Tỉ lệ %
3 “Mưa” và “sự chia lìa, tan
Bảng số liệu thống kê trên cho thấy: sự tương quan giữa ý niệm “mưa”
và ý niệm “người phụ nữ” chiếm nhiều nhất 32/ 71 biểu thức ngôn ngữ, chiếm45,1% về số lượng và 33,7% về số lượt Tiếp đó là sự tương quan giữa hai ýniệm “mưa” và “thời gian”: 14 biểu thức ngôn ngữ chiếm 19,7% về số lượng
và 28,8% số lượt Điều này có thể dễ dàng lí giải bởi xuyên suốt các sáng tácthơ Hoàng Cầm đó là một hồn quê Kinh Bắc rung lên qua những sợi dây thầnkinh thơ ca nhạy cảm được ươm ủ từ thuở ấu thơ và khát vọng tình yêu đôilứa như một chất men say thấm đẫm trong cảm thức thơ Đó là một hồn thơluôn sống trong những cảm thức hoài niệm về quá khứ, kí ức, kỉ niệm, nhữnghuyền thoại về văn hóa và lịch sử dân tộc Hoàng Cầm cũng là một thi sĩ đatình Suốt đời nhà thơ đi tìm kiếm tình yêu, kiếm tìm hình tượng người phụ
nữ trong cả ý thức về hoài niệm và thực tại cho hành trình khắc khoải khátyêu, thèm yêu Do đó, cảm thức hoài niệm và hình ảnh người phụ nữ luônnhư mạch ngầm tư duy chảy trong tâm hồn nhà thơ Có lẽ vì thế mà những tínhiệu thẩm mỹ trong sáng tạo thơ ca của ông thường được soi chiếu bởi ý niệm
về thời gian và người phụ nữ Lấy “mưa” là nguồn quy chiếu, nhà thơ sángtạo nên những hình ảnh hết sức mới mẻ và giàu ý nghĩa
Trang 37Khác với Xuân Diệu “một hồn thơ tha thiết, rạo rực, boăn khoăn”, thơHoàng Cầm cũng khát sống, thèm yêu nhưng ít thấy những chiêm nghiệm củanhà thơ về cuộc đời, sự sống Có lẽ bởi thế, sự tri nhận về cuộc đời, sự sống
“mưa” ít được nhà thơ ý niệm hóa thành ý niệm “mưa” Vì thế, qua khảo sátquan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “cuộc đời”, “sự sống” trong thơ HoàngCầm, chúng tôi nhận thấy số lượng các tín hiệu thẩm mỹ thể hiện rất ít Cụ thể,
sự liên tưởng giữa ý niệm “mưa” với ý niệm “cuộc đời” có 9 biểu thức ngônngữ, chiếm 12,7%; quan hệ giữa hai ý niệm “mưa” và “sự sống” chỉ chiếm 4trong tổng số 71 biểu thức ngôn ngữ, chiếm 5,6% về số lượng và 4,8% số lượt
Ý niệm (concept)“là những biểu tương tinh thần phản ánh cách thức chúng ta tri giác thế giới xung quanh và tương tác với nó Ý niệm bao gồm cả những sự liên tưởng và những ấn tượng là một trong những kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ” [41; 210] Như vậy, ý niệm vừa mang tính khách
quan vì nó thể hiện sự phản ánh thế giới vào não bộ của con người, vừa mangtính chủ quan vì nó mang cả dấu ấn và năng lực cá nhân trong việc tri giác,nhận thức về thế giới Một ý niệm có thể là những ấn tượng và liên tưởng vềmột cá thể, một lớp thực thể cụ thể hoặc trừu tượng trong hiện thực kháchquan kèm theo cả những thuộc tính bản thể vốn có của thực thể đó do nhữngtrải nghiệm chân thực của cá nhân – chủ thể nhận thức – đem lại Thế giới tồn
tại trong nhận thức của mỗi người có thể được coi như một thế giới ý niệm (conceptual world) về cái thế giới thực nơi con người đang tồn tại Do
vậy, thế giới ý niệm dường như là kết quả đầu tiên của quá trình tri nhận vềhiện thực khách quan của con người và là thế giới đã được “cấu trúc lại”,được tái tạo và “tạo ra hoàn cảnh cho cấu trúc ngữ nghĩa” [41; 211] của ngônngữ Thơ Hoàng Cầm cho thấy nhà thơ đã tri giác, nhận thức (tư duy) thế giới
bằng môi trường văn hóa, văn hóa cộng đồng để hình thành một thế giới ý niệm “mưa” theo cách riêng của mình Môi trường văn hóa ấy là những hiểu
Trang 38biết về mưa từ một hiện tượng tự nhiên đến việc ý niệm hóa trong tư duy vănhóa của nhân loại và đi vào cả những trang thơ, là nền tảng nuôi dưỡng tư duy
và tư duy là cơ sở hình thành lên các ý niệm “mưa”trong thơ Hoàng Cầm
Bên cạnh những nhận thức cùng cảm nghiệm về tư duy văn hóa cộngđồng, Hoàng Cầm còn bổ sung, nâng tầm tri thức văn hóa nhân loại thànhnhững tri thức mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả Những số liệu và kếtquả khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy trong mô hình tri nhận của mình, các ýniệm “mưa” được thể hiện đặc biệt do có sự liên tưởng giữa “mưa” với các ýniệm cuộc đời, thời gian, người phụ nữ,… trong phần lớn sự xuất hiện các tínhiệu thẩm mỹ “mưa” trong kết hợp “mưa + từ ngữ khác” Và “mưa” trong thơHoàng Cầm cũng chưa phải là ẩn dụ ý niệm nhưng nếu tách riêng ý niệm
“mưa” và các ý niệm khác thì không tạo nên nét riêng, nét độc đáo trong thơHoàng Cầm mà chỉ là ý niệm “mưa” thông thường như các tác giả khác
Từ những nhận xét, chúng tôi tiến hành miêu tả những mối liên tưởng
mà Hoàng Cầm đã thể hiện khi tri nhận “mưa” và ý niệm hóa chúng thành ýniệm “mưa” trong thơ mình như sau:
2.2 Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “người phụ nữ”
Trong quá trình khảo cứu tư liệu chúng tôi nhận thấy thế giới tự nhiênđược Hoàng Cầm đưa vào trong thơ khá phong phú và đa dạng Đó là: “gió”xuất hiện 123 lần trong 78/267 bài thơ, “mây” xuất hiện 66 lần trong 61/267bài thơ, “đêm” với tần số 216 lần xuất hiện trog 147/ 267 bài thơ [32; 41]; lànhững hiện tượng trong thế giới tự nhiên hết sức phổ biến và gần gũi với đờisống thường ngày của con người
Qua khảo sát 267 bài thơ trong Hoàng Cầm – thơ chúng tôi nhận thấy
có 98 bài có hình ảnh “mưa” “Mưa” xuất hiện trong cả 7 tập thơ với một mật
độ tương đối nhiều: nhiều nhất là tập Mưa Thuận Thành, số bài xuất hiện hình
ảnh “mưa” chiếm hơn 2/3 số bài của tập Điều này lí giải tại sao Hoàng Cầm
lại đặt tên tập thơ là Mưa Thuận Thành với việc xây dựng ý niệm “mưa”.
Trang 39Ngoài ra, các tập: Đến từ hư không số bài xuất hiện hình ảnh “mưa” chiếm 1/4 số bài của tập; Lá diêu bông và Tình khúc số bài có hình ảnh “mưa” xuất hiện là 1/3 trong tổng số bài của tập; Những bài thơ lẻ và Tiếng hát quan họ,
hình ảnh “mưa” chiếm 1/2 số bài
Về tần số xuất hiện, “mưa” xuất hiện 151 lần trong tổng số 267 bài thơ
và có ở tất cả các tập thơ Tuy nhiên, mỗi tập thơ ra đời ở những giai đoạnsáng tác khác nhau với nội dung, cảm hứng khác nhau cho nên ta thấy “mưa”
tập trung nhiều nhất và đậm nhất ở hai tập Về Kinh Bắc và Mưa Thuận Thành; Đến từ hư không có tần số xuất hiện hình ảnh “mưa” ít nhất.
“Mưa” vốn chỉ là một hiện tượng tự nhiên nhưng khi đi vào thơ HoàngCầm, “mưa” xuất hiện với tần số dày đặc, trở đi trở lại trong từng tập thơ, bàithơ Kết quả thống kê ở Bảng 2(Phụ lục) cho thấy các biểu thức ngôn ngữ thểhiện quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “người phụ nữ” chiếm số lượng lớnnhất Trong số 71biểu thức ngôn ngữ, chúng tôi tìm thấy 32 biểu thức ngôn ngữ
“mưa” thể hiện ý niệm người phụ nữ chiếm 45,1% trong tổng số và33,7% sốlượt xuất hiện “Mưa” là một hiện tượng tự nhiên đi vào trong thơ ca nói chung
và thơ Hoàng Cầm nói riêng trở thành một biểu tượng, một tín hiệu thẩm mỹ
Trong thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm ta thấy có sự xuất hiện củahình tượng người phụ nữ, người con gái Kinh Bắc và “người tình” của thi
nhân Hoàng Cầm đã từng thú nhận: “nguồn cảm hứng trong sáng tác của tôi đều bắt nguồn từ người phụ nữ, từ tình yêu nam nữ”[54; 48] Vì thế, thơ
Hoàng Cầm xuất hiện nhiều bóng hình người phụ nữ đẹp, một vẻ đẹp vừatruyền thống vừa hiện đại, vừa cụ thể vừa siêu hình, vừa thanh thoát vừa trầntục Ở những người phụ nữ ấy luôn toát ra ánh sáng của cõi tâm linh mà
chúng ta không thể cảm nhận, nhìn thấy bằng mắt thường: “Họ đa tình, diễm
ảo như đám mây trắng mỏng cứ vần vụ như chạy, như bay, lại như đậu tà tà trên lá cỏ, trên cành hoa, lúc thì cao vút không ai níu được vạt áo, lúc thấp
Trang 40lại rành rành trước mặt như một cành cây, một chiếc lá bình thường” [59; 79] Đó còn là những cô gái “răng đen rưng rức” với nụ cười như “mùa thu tỏa nắng”, là cô gái giặt lụa “vỗ vào lưng đêm giăng”, là người Chị mà em
mải miết đi tìm lá diêu bông,… Hầu hết những bài thơ của Hoàng Cầm đều rađời trong một hoàn cảnh đặc biệt Ông nói rằng có một giọng đọc nữ đã đọccho ông chép những vần thơ trong những đêm nhà thơ không ngủ được Vìthế, với thi nhân, người phụ nữ vừa là nguồn cảm hứng sáng tác vừa là mộtchủ thể trong tâm thức và trong cả sáng tác thơ trong sự tri nhận về “mưa” nóiriêng và những tín hiệu thẩm mỹ khác nói chung Miêu tả những mối liêntưởng mà Hoàng Cầm đã thể hiện khi tri nhận “mưa” và ý niệm hóa chúngthành ý niệm “mưa” trong thơ là một điều không khó để lí giải bởi dấu ấn tưduy và những cảm nghiệm cá nhân đã giúp nhà thơ sáng tạo nên những sángtạo ngôn ngữ nghệ thuật
Trong thơ Hoàng Cầm, mưa mang nhiều sắc thái, dáng vẻ, hình thể
khác nhau Ý niệm “mưa” với các biến thể và kết hợp từ: “mưa Thuận Thành”, “mưa ái phi”, “mưa chơi”, “mưa lơi”, “tóc mưa”, “mưa gái thương chồng”, “mưa chuông chùa lặn”, “mưa lùa”, “mưa nhung”, “mưa em”,… (Bảng 2 – Phụ lục) là các biểu thức ngôn ngữ được Hoàng Cầm dùng
để thể hiện ý niệm “mưa” trong mối liên hệ với ý niệm về “người phụ nữ” Từnhững biểu thức ngôn ngữ này, chúng tôi nhận thấy có các phương diện liêntưởng khác nhau trong tương quan hai ý niệm “mưa” và “người phụ nữ” trongthơ Hoàng Cầm:
Bảng 2.2.2 Tô đậm các kết hợp từ ngữ có “mưa” trong quan hệ giữa ý
niệm “mưa” và ý niệm “người phụ nữ”
Quan hệ giữa ý niệm “mưa” và ý niệm “người phụ nữ”
BTNN “mưa” Sự tương quan “mưa” – “người
phụ nữ”
Mưa Thuận Thành, mưa ái phi, mưa