1. Lí do chọn đề tài 1.1. Văn học và ngôn ngữ là hai phạm trù có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, văn học là nơi ngôn ngữ được bộc lộ và tỏa sáng còn ngôn ngữ là phương tiện để các tác phẩm văn chương thai nghén và hình thành. Vì thế việc dựa vào các lý thuyết ngôn ngữ để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu văn học là một phương hướng hết sức đúng đắn và khoa học. 1.2. Là một trong hai thành phần nghĩa quan trọng của câu, nghĩa tình thái luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm tìm hiểu chuyên sâu của giới nghiên cứu ngôn ngữ. Đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ về nghĩa tình thái được công bố, đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc, đa chiều hơn về loại ý nghĩa này. Trong hệ thống từ loại tiếng Việt có một nhóm từ có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện nghĩa tình thái, đặc biệt là những nội dung nhưthái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối với vấn đề được nói tới hoặc đối với người đối thoại, đó là các tình thái từ. Như vậy, nghiên cứu về tình thái từ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của lớp từ này trong việc tạo lập câu, phát ngôn, góp phần tham gia giải mã những ý tình của người nói.Ngoài ra nó còn hết sức hữu ích đối với quá trình giảng dạy về một số tiểu loại của tình thái từ (thán từ, tiểu từ tình thái, trợ từ) ở bậc phổ thông. 1.3. Nguyễn Huy Thiệp là một “hiện tượng” văn học mới lạ trong làng văn Việt Nam sau 1975. Sáng tác của ông thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả và làm tốn kém không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Không trau chuốt, bóng bảy; không triết lý, bàn luận, bức tranh đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hiện lên một cách hỗn độn, trần trụi qua lớp ngôn từ thô sơ, thông tục. Nhưng ẩn sau đó là những suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc đời, con người. Trong hệ thống ngôn từ được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng có sự góp mặt không nhỏ của các tình thái từ và bản thân chúng đem lại những hiệu quả nghệ thuật rất lớn cho các truyện ngắn của ông. Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp để làm rõ những đặc điểm của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như những giá trị mà tình thái từ mang lại cho truyện ngắn của ông.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học và ngôn ngữ là hai phạm trù có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, văn học là nơi ngôn ngữ được bộc lộ và tỏa sáng còn ngôn ngữ là phương tiện để các tác phẩm văn chương thai nghén và hình thành Vì thế việc dựa vào các lý thuyết ngôn ngữ để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu văn học là một phương hướng hết sức đúng đắn và khoa học
1.2 Là một trong hai thành phần nghĩa quan trọng của câu, nghĩa tình thái luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm tìm hiểu chuyên sâu của giới nghiên cứu ngôn ngữ Đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ
về nghĩa tình thái được công bố, đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc,
đa chiều hơn về loại ý nghĩa này Trong hệ thống từ loại tiếng Việt có một nhóm từ có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện nghĩa tình thái, đặc biệt là những nội dung như thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối với vấn đề được nói tới hoặc đối với người đối thoại, đó là các tình thái từ
Như vậy, nghiên cứu về tình thái từ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của lớp từ này trong việc tạo lập câu, phát ngôn, góp phần tham gia giải mã những ý tình của người nói Ngoài ra nó còn hết sức hữu ích đối với quá trình giảng dạy về một số tiểu loại của tình thái từ (thán từ, tiểu từ tình thái, trợ từ)
ở bậc phổ thông
1.3 Nguyễn Huy Thiệp là một “hiện tượng” văn học mới lạ trong làng
văn Việt Nam sau 1975 Sáng tác của ông thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả và làm tốn kém không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Không trau chuốt, bóng bảy; không triết lý, bàn luận, bức tranh đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hiện lên một cách hỗn độn, trần trụi qua lớp ngôn từ thô sơ, thông tục Nhưng ẩn sau đó là những suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc đời, con người Trong hệ thống
Trang 3ngôn từ được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng có sự góp mặt không nhỏ của các tình thái từ và bản thân chúng đem lại những hiệu quả nghệ thuật rất lớn cho các truyện ngắn của ông.
Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp để làm rõ những đặc điểm của tình thái từ trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như những giá trị mà tình thái từ mang lại cho truyện ngắn của ông
2 Lịch sử vấn đề
Trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ tập trung vào điểm lại tình hình nghiên cứu về nghĩa tình thái, về tình thái từ và về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Tình thái luôn là một chủ đề vừa hấp dẫn, vừa phức tạp, dù ở bất cứ ngôn ngữ nào Nó đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới cũng như các nhà Việt ngữ
- Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:
Có thể kể đến các tác giả: B Gak, C Bally, V Vinogradov, O.B Xirotinina, N Chomsky, J Lyons, F Palmer,…
Theo quan điểm của B Gak, “tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói” [Dẫn theo 13, 84].
Theo cách định nghĩa của O B Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị
tính của câu Đối với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau gọi nên cái gọi là vị tính
mà thiếu nó thì không thể có thông báo” [Dẫn theo 13, 84].
Trang 4Ch Bally lại chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn
hai thành phần cơ bản tương ứng là modus (tình thái) và dictum (ngôn liệu) Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm năng, nó gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của ngôn ngữ Còn modus
thì gắn với bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói với điều được nói ra, xét trong các chiều kích quan hệ với thực tế, quan hệ với người đối thoại và quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp [Dẫn theo 13, 86]
- Những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam:
Ở Việt Nam vấn đề tình thái cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất sớm Có thể kể đến các công trình của Hoàng Tuệ (1984, 1988), Hoàng Phê (1984, 1989), Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Quang (1999), Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2003), Nguyễn Thị Thìn (2003), Bùi Trọng Ngoãn (2004), Võ Đại Quang (2007), Nguyễn Văn Hiệp (2008), Trần Kim Phượng (2008), Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương (2008), Bùi Minh Toán (2012)…
Cao Xuân Hạo trong [12] đã thể hiện vô cùng rõ nét và sinh động
những vấn đề về tình thái Ông chủ trương phân biệt tình thái trong logic học
và tình thái trong ngôn ngữ học Theo ông, logic học vốn chỉ quan tâm nhiều đến giá trị chân ngụy của mệnh đề cho nên cái âm giai tình thái của nó giới hạn trong tính hiện thực (xác thực), tính tất yếu và tính khả năng với những mức độ khác nhau của tính chất ấy và sự phối hợp giữa các tính chất ấy; trong khi tình thái trong ngôn ngữ thì lại khác Các tình thái của phát ngôn làm thành một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau
(tr97) Ông cũng phân biệt hai thứ tình thái khác nhau về bình diện: tình thái
Trang 5của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Ông cũng có những miêu tả chi tiết về một số vị từ tình thái tiếng Việt và quan tâm đến tầm tác dụng của các yếu tố tình thái
Theo Diệp Quang Ban, trong câu tách ra hai thành tố nghĩa cơ bản là nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Nghĩa tình thái hay còn gọi là nghĩa liên
nhân là kiểu nghĩa “phản ánh thái độ của người nói đối với người nghe hoặc đối với sự việc được phản ánh trong câu” [3, 24] Tác giả cũng phân nghĩa
tình thái trong câu thành hai kiểu:
- Tình thái của hành động nói (trong quan hệ với người nghe)
- Tình thái đối với sự việc được phản ánh trong câu (cách đánh giá của người nói)
Trong [21], Nguyễn Thị Lương khẳng định: “Nghĩa tình thái là một phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan.”(tr178) Tiếp đó tác giả đã giới thiệu các loại tình thái
thường gặp và dễ nhận biết:
- Tình thái của hành động nói (hành động ngôn ngữ);
- Tình thái liên cá nhân;
- Tình thái chủ quan;
- Tình thái khách quan
Một số luận án, luận văn cũng đã khai thác vấn đề tình thái trên một số phương diện:
- Nguyễn Khắc Chí, Một số biểu thức tình thái trong câu tiếng Việt,
Tiểu luận khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994
Trang 6- Phan Thị Kế, Các kiểu nghĩa trong câu: Nghĩa biểu hiện – nghĩa
tình thái trên tài liệu một số bài văn xuôi Việt Nam (trong sách Ngữ Văn
6), Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.
- Bùi Trọng Ngoãn, Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt,
Luận án tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004
- Nguyễn Thị Việt, Nghĩa tình thái (nhận thức) của quán ngữ tiếng
Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005.
- Dương Thị Thúy Vinh, Các phương tiện từ ngữ biểu hiện tình thái
chủ quan trong tác phẩm của Nam Cao, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ
Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006
- Lưu Văn Hưng, Tình thái nhận thức trong truyện ngăn Nguyễn
Minh Châu, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2009
- Bùi Thị Thùy Linh, Biểu thức tình thái trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2011
Trong các giáo trình viết về Ngữ pháp tiếng Việt, ở phần từ loại, các tác giả đều có đề cập đến tình thái từ
- Nguyễn Kim Thản trong [33] đã đề cập đến với tên gọi Ngữ thái từ
(gồm Ngữ khí từ và thán từ)
- Từ đệm và từ cảm là cách gọi của Hữu Quỳnh [30]
- Diệp Quang Ban phân loại “Lớp lớn thực từ gồm có danh từ, số từ, động từ, tính từ; lớp hư từ gồm có các lớp con phụ từ (phó từ và định từ), quan hệ từ, tình thái từ và thán từ Lớp trung gian có đại từ nhân xưng, đại từ nghi vấn, đại từ chỉ định” [3, 313]
Trang 7Như vậy, đối tượng mà luận văn tập trung tìm hiểu được tác giả gọi là tình thái từ (gồm trợ từ và tiểu từ tình thái) và thán từ; và tác giả xếp chúng thuộc hư từ.
- Cùng quan điểm với Diệp Quan Ban có Lê Biên trong [4]
- Nguyễn Anh Quế [29]: hư từ phụ trợ (gồm trợ từ và ngữ khí từ) và
và khả năng kết hợp), mô tả ý nghĩa khái quát của các tiểu từ… [15]
Nguyễn Thị Lương đã vận dụng lí thuyết hành động ngôn ngữ vào việc tìm hiểu 10 tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi nhằm tìm ra các hành động ngôn ngữ mà chúng có khả năng biểu thị trong những ngữ cảnh mà chúng xuất hiện, miêu tả đánh giá hiệu lực của những hành động đó [20]
Phạm Hùng Việt đã đi vào nghiên cứu chuyên sâu những đơn vị mà ông gọi là trợ từ trong tiếng Việt hiện đại Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa
ra cơ sở nhận diện và phân loại trợ từ, một số chức năng của trợ từ, cách sử dụng một số trợ từ, một cách định nghĩa giải thích trợ từ tiếng Việt [40]
Nguyễn Văn Hiệp trong [13] đã tập hợp lại nhiều vấn đề về tình thái và tiểu từ tình thái Riêng về tiểu từ tình thái tác giả đã đề cập đến các nội dung:
- Xác lập một cách miêu tả tình thái cuối câu tiếng Việt;
Trang 8- Các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt trong vai trò đánh dấu mục đích phát ngôn và đánh dấu kiểu câu;
- Tầm tác động giữa các quán ngữ tình thái với các tình thái từ cuối câu hoặc tổ hợp từ tương đương;
- Tầm tác động và tương tác giữa các tiểu từ tình thái với động từ ngôn hành;
- Khả năng kết hợp giữa tiểu từ tình thái với các vị từ tình thái tính có ý nghĩa cầu khiến, khuyên bảo;
- Sự kết hợp giữa các tiểu từ tình thái.
Lê Thị Hồng Vân đã vận dụng lí thuyết tình thái vào việc nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh theo hướng ngữ dụng học để tìm ra những nguồn gốc, đặc điểm chức năng có tính chất khái quát của nhóm trợ từ này [39]
Vũ Thị Dụ trên cơ sở lí thuyết của ngữ pháp chức năng và lí thuyết về ngôn ngữ trong dụng học đã thừa nhận vai trò quan trọng của tiểu từ tình thái
và tiến hành khảo sát, so sánh, đối chiếu, phân loại tiểu từ tình thái trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Từ đó chỉ ra sự hoạt động, vai trò của lớp
từ này trong việc góp phần biểu đạt giá trị tác phẩm [9]
Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp nói chung và truyện ngắn của ông nói
riêng, ngay từ buổi đầu xuất hiện đã luôn “nằm trong dòng xoáy của dư luận”
(Nguyễn Thái Hòa) Xung quanh hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp
có rất nhiều ý kiến phê bình, nhận định khen hoặc chê, khẳng định hay phủ nhận, đối lập nhau gay gắt, quyết liệt Dù các ý kiến trái chiều nhau nhưng nhìn chung tất cả đều gặp nhau ở điểm đánh giá cao thành công của truyện cũng như tài năng Nguyễn Huy Thiệp
Nhà thơ Diệp Minh Tuyền đặc biệt chú ý đến ngôn ngữ nghệ thuật
Nguyễn Huy Thiệp: “… thứ ngôn ngữ Việt Nam chính xác, trong sáng, tinh
Trang 9tế, giàu hình tượng, đầy cá tính Nó có nhiều lớp từ khác nhau: một lớp từ dân dã, đồng quê mà không quê mùa; một lớp từ đầy tính thị dân của người
Hà Nội đương đại, một lớp từ nữa lại phảng phất không khí cổ xưa Ở Nguyễn Huy Thiệp, tính cách nào thì ngôn ngữ ấy” [38] Đó là những nhận
xét xác đáng về ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Thành Nam trong [23] đã tập trung tìm hiểu các nguyên tắc tổ chức ngôn từ trong 42 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, lấy đó làm cơ sở định hướng, khảo sát và tìm hiểu các dạng thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật (lời trần thuật của người kể chuyện, lời đối thoại, độc thoại của các nhân vật) cùng với đặc trưng của các yếu tố ngôn từ có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện
rõ tư tưởng và phong cách văn chương Nguyễn Huy Thiệp
Trên cơ sở thành tựu của những nghiên cứu đi trước, Nguyễn Văn Đông đã tập trung nghiên cứu lời văn nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp một cách toàn diện, hệ thống Tác giả đã đi từ quan điểm nghệ thuật rút ra các nguyên tắc tổ chức lời văn nghệ thuật, trên cơ sở đó tập trung đi sâu tìm hiểu lời văn nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp (lời trần thuật trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp, lời nhân vật trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp) [10]
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nghĩa tình thái và tình
thái từ nhưng tính đến thời điểm hiện tại Tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ
Nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
không chỉ giúp củng cố lí thuyết về nghĩa tình thái, về tình thái từ mà chúng
tôi còn mong muốn góp thêm một tiếng nói trên hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”.
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm ra và phân tích đặc điểm của các tình thái
từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và chỉ ra vai trò của chúng đối với việc biểu đạt nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn của ông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các tình thái từ theo ba tiêu chí: cấu tạo, vị trí và tần số sử dụng
- Miêu tả các trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ trên phương diện nghĩa
- Làm rõ dấu hiệu nhận diện các tình thái từ đối với những trường hợp
đa từ loại (12 từ tiêu biểu: có, đã, đấy, đến, độc, mới, những, nào, này, thế, thôi, trời).
- Phân tích, miêu tả tình thái từ trong việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ: biểu hiện, điều khiển, bộc lộ, kết ước theo quan điểm của Searle
- Phân tích giá trị của tình thái từ trong mối quan hệ với đối tượng tham gia giao tiếp
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình thái từ trong 46 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại để thu thập và xử lý ngữ liệu về trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ
- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ để trình bày quá trình khảo sát, miêu tả đối tượng
- Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để tiến hành những nghiên cứu về vai trò của tình thái từ trên bình diện ngữ dụng
6 Đóng góp của luận văn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết (gồm 22 trang)
- Chương 2: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa (gồm 52 trang)
- Chương 3: Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ bình diện ngữ dụng (gồm 36 trang)
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Vị trí của tình thái từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
1.1.1 Hệ thống từ loại tiếng Việt
Hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ hết sức phong phú, đa dạng, do đó tất yếu cần có sự phân định thành những những loại, những lớp dựa vào các đặc trưng ngữ pháp
Các nhà nghiên cứu thường dựa vào hai tiêu chí sau để tiến hành phân chia từ loại :
- Ý nghĩa ngữ pháp khái quát
Như vậy, thực từ là những từ có “nghĩa thực”, dùng để gọi tên các sự vật, hoạt động, đặc điểm, tính chất…, thực từ thường gắn với chức năng tri nhận và định danh các đối tượng của hiện thực
* Đặc điểm của thực từ:
- Về mặt ý nghĩa: thực từ có ý nghĩa từ vựng, giúp liên hệ giữa từ với
sự vật, hiện tượng nhất định VD: bàn, nhà, sách, chạy, bơi, đỏ, vàng, xanh lam…
Trang 13- Về khả năng kết hợp: thực từ có thể làm thành tố chính trong một kết hợp từ với các từ làm thành tố phụ đứng chung quanh.
- Phân loại:
Hệ thống thực từ tiếng Việt gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
1.1.1.2 Hư từ
* Khái niệm:
Diệp Quang Ban tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu và đưa ra cách
hiểu về hư từ như sau: “Lớp từ có số lượng ít hơn so với thực từ, có ý nghĩa phạm trù chung mờ nhạt, chuyên dùng biểu thị các quan hệ, tức là những mối liên hệ giữa các đối tượng phản ánh và dùng biểu thị cách thức phản ánh các đối tượng đó” [1, 176].
Như vậy, hư từ là những từ không mang ý nghĩa thực mà có ý nghĩa ngữ pháp, chúng không có chức năng định danh Chúng biểu thị cách thức phản ánh các đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng hoặc quan hệ giữa chủ thể với đối tượng phản ánh
* Đặc điểm:
- Về ý nghĩa khái quát: hư từ bổ sung một ý nghĩa ngữ pháp nào đó cho
Trang 14Từ lại bổ sung ý nghĩa tái diễn tương tự của hành động đi chơi
- Về khả năng kết hợp, hư từ có thể:
(1) Dùng kèm với thực từ với tư cách là công cụ dạng thức hóa các ý nghĩa ngữ pháp liên quan tới thực từ
VD: Nó đang học bài.
Từ đang biểu thị ý nghĩa thời gian cho hành động học
(2) Dùng kết nối các thực từ biểu thị các kiểu quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp giữa các thực từ, làm công cụ tổ chức về mặt cú pháp
VD: Tiền của tớ đấy!
Từ của biểu thị quan hệ sở hữu giữa hai đối tượng tớ và tiền.
(3) Tham gia vào các kiểu kiến trúc cú pháp, làm công cụ diễn đạt mục
đích phát ngôn VD: Vì lười học nên nó bị điểm kém.
Cặp vì - nên nối kết hai vế câu, tạo thành kết cấu nguyên nhân - kết quả
- Về chức năng:
(1) Làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ
VD: mọi gia đình, hãy làm, đừng đi, rất giỏi, đẹp lắm…
(2) Biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu
VD: Bố mẹ và các em sẽ đến dự lễ tốt nghiệp của con.
(3) Dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái
VD: Ôi! Bộ quần áo đẹp thế!
Trang 15Theo Nguyễn Hữu Quỳnh, hư từ gồm có: phó từ, quan hệ từ [30, 143]Bùi Minh Toán chia hư từ ra thành: phụ từ (phó từ), quan hệ từ, tình thái từ (trợ từ, thán từ) [36, 27].
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất hư từ gồm có: phụ từ (phó từ), quan hệ từ, tình thái từ (trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ)
1.1.2 Tình thái từ tiếng Việt
Bảng 1.1 Quan điểm của các nhà nghiên cứu về tình thái từ
1 Diệp Quang Ban [1, 170] - Tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý
nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh; hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn
- Tình thái từ góp phần thể hiện mục đích phát ngôn:
+ Tình thái từ để hỏi: à, ư, hứ,
chăng…
+ Tình thái từ mệnh lệnh hoặc cầu
khiến: đi, với, nhé, mà…
- Tình thái từ biểu thị cảm xúc chủ quan hoặc khách quan:
+ à, á, vậy, kia, mà, cơ, cơ mà…
+ ôi, ối, ái, ồ, ái chà, ôi dào, ôi chao…
- Tình thái từ dùng để gọi đáp: ơi, hỡi,
Trang 163 Bùi Minh Toán [36, 49 - 50] - Tình thái từ là những từ biểu lộ thái độ, tình
cảm của người nói (người viết) đối với nội dung của câu hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động giao tiếp (người nghe, người đọc)
- Phân loại: tình thái từ gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ
Chúng tôi dựa vào quan niệm này của tác giả Bùi Minh Toán để đi sâu tìm hiểu về trợ từ
* Phân loại
- Dựa vào chức năng ngữ nghĩa, trợ từ được chia thành các nhóm sau:+ Nhóm 1: Những trợ từ có chức năng thể hiện sự đánh giá của người nói về mặt số lượng (ít - nhiều), mức độ (xa - gần, cao - thấp…) đối với một
Trang 17phần của nội dung được nêu trong phát ngôn: đến, tới, ngay, những, mãi, tận,
có, độc, rõ, chỉ, mỗi…
+ Nhóm 2: Những trợ từ có chức năng thể hiện sự nhấn mạnh đặc biệt của người nói vào ý khẳng định đối với một phần nội dung được nêu trong
phát ngôn: chính, đích, cả, quyết, tịnh, quả, đích thị, đó, quả thực…
+ Nhóm 3: Những trợ từ có chức năng thể hiện sự nhấn mạnh đặc biệt của người nói vào ý phủ định đối với một phần nội dung được nêu trong phát
ngôn: cóc, cóc khô, chẳng, đếch, qua…
+ Nhóm 4: Những trợ từ có chức năng bộc lộ sắc thái biểu cảm: cứ, lấy,
rõ, mới…
- Dựa vào vị trí, trợ từ được chia thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Những trợ từ đi trước thành phần cần nhấn mạnh (chiếm số
lượng lớn): ngay, cả, chính, đến, những, tận, cứ…
+ Nhóm 2: Những trợ từ đi sau thành phần cần nhấn mạnh (chiếm số
lượng nhỏ): đó, đâu, đây, đấy, ngay, qua
* Đặc điểm:
- Vị trí: trợ từ thường đứng trước thành phần cần nhấn mạnh, một số ít trường hợp đứng sau thành phần cần nhấn mạnh VD:
(1) Ông biết đấy chính là điều ông vẫn hằng khao khát mong tìm (Đất
quên, 213)
Trợ từ chính đứng trước thành phần cần nhấn mạnh điều ông vẫn hằng khao khát mong tìm, khẳng định dứt khoát đây là điều ông khao khát mong
tìm chứ không phải điều khác
(2) Cơ ngơi của anh ác thật (Tướng về hưu, 25)
Trợ từ thật đứng sau thành phần được nhấn mạnh cơ ngơi của anh, thể
hiện sự đánh giá ở mức độ cao người nói (ông Chưởng) với cơ ngơi của gia
Trang 18- Đặc điểm cú pháp:
+ Không sử dụng độc lập để cấu tạo phát ngôn và trả lời cho câu hỏi+ Không đóng vai trò làm thành phần câu, có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến cấu trúc câu VD:
(3) Thuyền lão bỏ cách thuyền khác đến nửa cây số (Chảy đi sông ơi, 8) Trợ từ đến đánh giá mức độ cao về lượng, có thể lược bỏ mà câu vẫn giữ nguyên nghĩa: Thuyền lão bỏ cách thuyền khác nửa cây số.
- Đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng:
+ Tập trung sự chú ý, quan tâm của người nghe, người đọc
+ Thể hiện sự đánh giá của người nói đối với nội dung của phát ngôn (đánh giá về lượng, về độ) và đối với người đối thoại (đánh giá về vị thế xã hội, về tuổi tác, về độ thân tình…) VD:
(4) Những hơn nghìn ngày lội bùn và vác đất nên chân tôi chắc lắm,
cắm xuống như cọc (Con gái thủy thần, 73)
Trợ từ những đánh giá lượng hơn nghìn ngày là nhiều.
(5) Từ nhà tôi ra nghĩa địa đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường
chính qua cổng làng phải hai cây số (Tướng về hưu, 24, Nguyễn Huy Thiệp)
Trợ từ chỉ đánh giá lượng năm trăm mét là ít.
Đánh giá của trợ từ là kiểu đánh giá ngầm ẩn, không hiển ngôn, tùy từng văn cảnh cụ thể mà có thể dẫn tới các hiệu lực ở lời khác nhau VD:
(6) Tớ còn mỗi một trăm nghìn.
Trợ từ mỗi đánh giá về lượng là thấp, do đó có thể dẫn tới các hiệu lực
ở lời sau: từ chối (= Tớ không có tiền cho cậu vay đâu), than phiền (= lúc nào
tớ cũng thiếu tiền, buồn quá), lo lắng (= Từ giờ đến cuối tháng tớ lại phải ăn
mì tôm rồi)…
+ Trợ từ tham gia biểu thị thái độ của người nói đối với một thực tế được nêu trong phát ngôn VD:
Trang 19(7) Rõ chuyện đàn bà (Giọt máu, 263)
Trợ từ rõ nhấn mạnh chuyện đàn bà tức những chuyện vớ vẩn, không
đâu vào đâu kèm theo thái độ không đồng tình của Phong
+ Trợ từ có chức năng đánh dấu hay định vị thành phần được nhấn mạnh (nghĩa là chỉ ra cho người nghe biết thành phần nào, bộ phận nào được người nói chủ tâm nhấn mạnh) Qua đó, người nói biểu thị sự đánh giá về tầm quan trọng của thông tin đó VD:
(8) Với riêng tôi, nhân cách của người phụ nữ trước hết là sự phụ thuộc
của nàng đối với chính tôi (Những người thợ xẻ, 113)
Trợ từ chính khẳng định một cách chắc chắn nhân cách của phụ nữ trước hết là sự phụ thuộc của nàng với tôi chứ không phải với ai khác
Qua đây có thể thấy trợ từ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc biểu thị ý nghĩa tình thái cũng như ý nghĩa hàm ẩn của phát ngôn Với việc sử dụng trợ từ một cách hợp lý, người nói có khả năng biểu hiện nhiều hơn những gì muốn nói, nói một cách dễ dàng hơn những điều khó nói từ đó góp phần nâng cao hiệu quả và mục đích giao tiếp
Những cách định nghĩa trên đây cho thấy quan niệm của các nhà
Trang 20luận văn này, chúng tôi dựa vào quan niệm của nhà nghiên cứu Bùi Minh Toán để tìm hiểu lớp từ này.
* Phân loại tiểu từ tình thái:
Đinh Văn Đức (2010) trong Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt
dựa vào vị trí của các tiểu từ tình thái để chia ra làm ba loại:
- Những tiểu từ thường đứng đầu phát ngôn: à, ấy thế, thế mà, ấy, kia, đấy…
- Những tiểu từ đứng cuối phát ngôn: ư, nhỉ, nhé, thôi, vậy, mà, hử, hả, thật…
- Những tiểu từ vừa có khả năng đứng đầu vừa có khả năng đứng cuối:
ấy, đấy, thôi, kia, à…[11, 246]
Vũ Thị Dụ đã tổng hợp lại kết quả của các nhà nghiên cứu và tiến hành phân chia tiểu từ tình thái như sau:
- Theo chức năng sử dụng:
+ Tiểu từ tình thái chuyên dụng: à, ư, nhỉ, nhé, đâu, đấy…
+ Tiểu từ tình thái lâm thời: với, đã, cho, xem
- Theo cấu tạo hình thức:
+ Tiểu từ tình thái là một từ đơn: ấy, thôi, nhỉ, nhé…
+ Tiểu từ tình thái là từ ghép: cơ chứ, cơ mà, ấy thế…
- Theo vị trí trong câu:
+ Tiểu từ tình thái đứng ở đầu câu: đấy, này, ấy, thế…
+ Tiểu từ tình thái ở cuối câu: à, ư, nhỉ, nhé…
+ Tiểu từ tình thái đứng đầu hoặc cuối câu: ấy, đấy, thế, thôi…
- Theo mục đích nói:
+ Tiểu từ tình thái cầu khiến: thôi, nhé, với, đi…
+ Tiểu từ tình thái cảm thán: thay, thế, nhỉ…
+ Tiểu từ tình thái nghi vấn: hả, hử, sao…
Trang 21+ Tiểu từ tình thái tường thuật: đâu, ấy, đấy…
- Theo ngữ nghĩa:
+ Tiểu từ tình thái hiện thực: đi, cả, này, đâu…
+ Tiểu từ tình thái quan hệ: nhỉ, nào, chứ… [9, 28 – 29]
Chúng tôi dựa vào cách phân chia này của Vũ Thị Dụ để tiến hành nghiên cứu về các tiểu từ tình thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
* Đặc điểm của tiểu từ tình thái
- Cấu tạo:
+ Các tiểu từ tình thái có cấu tạo là một âm tiết: à, ấy, chứ, chắc, hả,
hử, hở, nhỉ, nhé, rồi, thôi, thay, thế… VD:
(9) Sáng mai tôi cho xe vào chuyển gỗ ra đấy (Những người thợ xẻ, 112) (10) Những người gần ta không phải kẻ tầm thường đâu (Kiếm sắc, 142) + Các tiểu từ tình thái có cấu tạo từ hai âm tiết trở lên: ấy chứ, chứ lị,
cơ đấy, chứ sao, đấy ạ, chứ gì, kia ạ, kia mà, thế này… VD:
(11) Sao em Minh con máu me đầy người thế này? (Thương nhớ đồng
(13) Kìa, cẩn thận con dao (Không có vua, 43)
(14) Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à? (Tướng về
hưu, 26)
+ Các tiểu từ tình thái thường đứng cuối phát ngôn: ạ, à, đấy chứ, chứ
gì, chăng, đâu…VD:
(15) Không ngốc đâu (Chăn trâu cắt cỏ, 364)
(16) Người già ai chết cũng khổ như thế này à? (Tướng về hưu, 22)
Trang 22+ Chức năng tạo kiểu câu:
Có thể thêm tiểu từ tình thái thích hợp vào cuối câu trần thuật để tạo
câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán VD:
Khi thêm các tiểu từ tình thái vào sau một thực từ hay một cụm từ thì
chúng có tác dụng tình thái hóa cho từ hay cụm từ đó, các từ hay cụm từ đó trở thành câu (phát ngôn) VD:
Xem phim Xem phim đi!
Học Học nhé!
+ Chức năng biểu thị thái độ đánh giá của người nói:
Thái độ đánh giá của người nói với hiện thực được nói tới VD:
Trời mưa kìa!
Tiểu từ tình thái kìa thể hiện sự vui mừng của người nói với hiện thực trời mưa
Thái độ của người nói với người nghe VD:
(18) Cút đi Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền (Không có vua, 51) Tiểu từ tình thái đi cho thấy sự giận dữ, bực tức của người nói.
+ Chức năng biểu thị hành động nói VD:
(19) Ông chán cái mặt ông à? (Giọt máu, 264)
(20) Họ trốn chứ? (Mưa, 295)
Tiểu từ tình thái à, chứ đánh dấu hành động hỏi
VD:
(21) Ăn đi! (Đời thế mà vui, 322)
Tiểu từ đi đánh dấu hành động cầu khiến.
Trang 23+ Chức năng định hướng lập luận VD:
(22) Bộ mỹ phẩm này tám triệu đấy.
(23) Bộ mỹ phẩm này tám triệu thôi.
Cả hai phát ngôn đều đánh giá về lượng: phát ngôn (22), người nói đánh
giá về lượng cao (thể hiện qua từ đấy) tức giá đó là đắt; phát ngôn (23) đánh giá về lượng là thấp (thể hiện qua từ thôi) tức giá đó rẻ
Nếu coi đây là hai luận cứ và có hai kết luận là: nên mua và không nên mua thì phát ngôn (22) sẽ dẫn đến kết luận không nên mua, phát ngôn (23) dẫn đến kết luận nên mua.
Trang 241.1.2.3 Thán từ
* Khái niệm
Theo Bùi Minh Toán, thán từ “là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp xúc cảm của người nói Chúng không thể dùng làm tên gọi cho xúc cảm được mà chỉ làm dấu hiệu cho những xúc cảm mà thôi Chúng không thể làm thành phần cho cụm từ hay câu nhưng lại có thể tách riêng khỏi câu để làm thành một câu riêng biệt” [36, 50].
Lê Biên quan niệm thán từ là những từ, tổ hợp từ như: ái, ối, ôi, ồ, chà, vâng, dạ, than ôi… [4, 173].
* Phân loại
- Các thán từ dùng để gọi đáp:
+ Thán từ thường dùng để gọi: ơi, hỡi, ới, bớ, ê…
+ Thán từ thường dùng để đáp: vâng, dạ, ừ, ơi…
- Các thán từ dùng để bộc lộ cảm xúc:
+ Vui mừng: ôi, a, trời ơi…
+ Ngạc nhiên: ô, ơ, ủa, ơ kìa…
+ Đau đớn: ái, ối, hỡi ôi, than ôi…
+ Sợ hãi: eo ôi, ối giời ơi…
+ Thán từ có thể tách riêng để tạo câu VD:
(24) Gớm! Thì bác cứ vào đây cái đã nào! (Thương cả cho đời bạc, 355)
Trang 25(25) Sư Tịnh bảo:
- Ừ (Chăn trâu cắt cỏ, 363)
- Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng:
Thán từ có chức năng dẫn xuất biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái
độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn VD:
(26) Eo ơi! Ghê quá!
Thán từ eo ơi biểu hiện trạng thái cảm xúc sợ hãi của người nói
(27) Ồ, hóa ra mọi chuyện là vậy
Thán từ ồ biểu thị thái độ ngạc nhiên của người nói trước sự việc mọi chuyện là vậy.
1.2 Nghĩa tình thái của câu
1.2.1 Khái niệm nghĩa tình thái
Chúng tôi xin điểm lại một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước về khái niệm nghĩa tình thái
1.2.1.1 Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Bally là người có công lớn trong việc phân biệt ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus) Theo ông, ngôn liệu là thành phần thể hiện cốt lõi của nội dung sự tình, có chức năng thông tin mệnh đề còn tình thái là thành phần thể hiện thái độ nhận xét của người nói, gắn với phương diện tâm lý Hai phương diện này gắn bó mật thiết với nhau Từ sự phân biệt dictum và modus, Bally
định nghĩa về tình thái như sau: “Tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu” [Dẫn theo 20, 10].
Fillmore cũng đồng quan điểm với Bally khi thừa nhận nội dung của câu cũng gồm hai thành phần là mệnh đề và tình thái Theo ông, mệnh đề là tập hợp những mối liên hệ có tính phi thời giữa động từ và các danh từ còn
tình thái là một loại ý nghĩa liên quan đến toàn bộ của câu như là: thì, thể,
Trang 26Levinson cho rằng tình thái thể hiện thái độ của người nói với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị, hay cái tình trạng, trạng thái mà mệnh đề đó miêu
tả Famer quan niệm tình thái là thứ thông tin nghĩa của câu để thể hiện thái
độ hay ý kiến của người nói khi nói ra [Dẫn theo 11, 234]
M.V Liapon định nghĩa: “tính tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo”
[Dẫn theo 40, 31]
A.M Peskovskij cho rằng phạm trù tính tình thái thể hiện mối quan hệ giữa người nói với mối liên hệ do nó lập nên giữa nội dung của một phát ngôn
cụ thể và thực tế, tức là mối quan hệ với mối quan hệ [Dẫn theo 40, 38]
V.N Bondrenko cũng đưa ra định nghĩa về tình thái: “Tính tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức
độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)” [Dẫn theo 40, 31]
1.2.1.2 Quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam
Vấn đề nghĩa tình thái cũng được đông đảo các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị và tầm ảnh hưởng sâu rộng
Nguyễn Đức Dân cho rằng : tình thái là một vấn đề rất rộng và còn rất mông lung mà các nhà logic học, ký hiệu học và ngôn ngữ học đều quan tâm… Nếu như các nhà logic học quan tâm xây dựng các khái niệm tình thái như là cái tất yếu và cái có thể, cái tiếp liên… để cố gắng thoát khỏi các thuật ngữ ngôn ngữ học thì trái lại, các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận các tình thái là những ký hiệu được sử dụng và nhà ngôn ngữ học phải phân tích các ký hiệu tình thái đã được từ vựng hóa trong các ngôn ngữ tự nhiên cụ thể Với
Trang 27tiếng Việt, đó là các từ cần, phải, nên, có thể, muốn, biết, tin, định, chực…
Tác giả cũng phân tích tính đa nghĩa và tính mơ hồ của lớp từ này [8, 94]
Trong Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Bùi Minh Toán đã
miêu tả khá rõ các nhiệm vụ của tình thái, đó là:
- Tình thái cho biết sự tình được đề cập đến trong phát ngôn chỉ là khả năng, là giả thiết hay đã là hiện thực, là được khẳng định hay phủ định
- Tình thái cho biết mục đích giao tiếp và hành động ngôn ngữ mà người nói hướng tới khi đề cập đến sự tình: trình bày về sự tình hay là đặt ra điều nghi vấn, nêu yêu cầu hay cam kết hoặc tuyên bố gì đó về sự tình
- Tình thái còn cho biết quan điểm, lập trường, sự đánh giá của người nói đối với sự tình được đề cập tới về các phương diện độ xác thực, độ tin cậy, tính tích cực hay tiêu cực đối với những người tham gia hoạt động giao tiếp,
- Tình thái cho biết thái độ, quan hệ, tình cảm của những người tham gia giao tiếp đối với nhau khi đề cập đến sự tình [37, 65]
Nguyễn Thị Thìn chủ trương nghiên cứu câu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học và cũng rất quan tâm tới vấn đề tình thái Theo tác giả:
“Đây là thành phần nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa người nói với điều được nói tới trong câu, giữa người nói với người nghe Vì vậy nó mang đậm sắc thái chủ quan, đối lập với thông tin trí tuệ- thông tin phản ánh hiện thực khách quan” [34, 29]
Nguyễn Văn Hiệp sau khi trình bày quan điểm về tình thái của các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng như trong nước đã đưa ra cách hiểu về tình thái theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng như sau:
- Hiểu theo nghĩa hẹp, tình thái chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực, trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong lôgic) hay chủ quan
Trang 28- Hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu ý nghĩa rất khác nhau Có thể kể tới các ý nghĩa cơ bản nhất như sau:
+ Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo
+ Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình
+ Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung ngữ nghĩa - ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ
+ Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan niệm, đánh giá của người nói
+ Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói (xác nhận, bác bỏ, thề, hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên, mời…) xét ở bình diện liên nhân,
thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người đối thoại [13, 91 - 92]
Mặc dù còn nhiều điểm khác biệt trong cách hiểu, cách nhìn nhận về vấn đề tình thái của các nhà nghiên cứu song tựu chung lại có thể đưa ra một nhận định khái quát nhất về phạm trù này như sau : tình thái là thái độ đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn, đối với hoàn cảnh phát ngôn, đối với hiện thực và đối với người nghe
1.2.2 Các loại ý nghĩa tình thái
V.N Bondarenko khẳng định chỉ có hai nhóm ý nghĩa dưới đây mới đúng là ý nghĩa tình thái và được phần lớn các nhà nghiên cứu công nhận:
- Tình thái khách quan được logic học đặc biệt chú ý ở các phương diện: tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực của nội dung mệnh đề, hoàn toàn loại trừ vai trò của người nói
Trang 29- Tình thái chủ quan được ngôn ngữ học quan tâm và khẳng định nó thuộc nội dung ngữ nghĩa của câu [Dẫn theo 40, 33].
E.M Volf đưa ra một danh sách các ý nghĩa tình thái như: tình thái đánh giá, tình thái cần yếu, tình thái mong muốn, tình thái yêu cầu, tình thái khuyên nhủ, tình thái ngăn cấm và cảnh cáo trước, tình thái răn đe [Dẫn theo
40, 33]
J Lyons chia ra ba loại tình thái:
- Tình thái tất yếu và khả năng
- Tình thái nhận thức, liên quan đến tính thực tế, tính hiện thực
- Tình thái nghĩa vụ gắn với một lĩnh vực của logic tình thái, đó là logic
về nghĩa vụ và cho phép [Dẫn theo 40, 34]
Von Wright phân tình thái thành bốn tiểu loại:
- Tình thái chân ngụy hay chân thực
- Tình thái nhận thức
- Tình thái đạo nghĩa hay nghĩa vụ
- Tình thái tồn tại [Dẫn theo 22, 14]
Cao Xuân Hạo chủ trương phân biệt hai loại tình thái:
- Tình thái của hành động phát ngôn: thuộc bình diện dụng pháp, bao gồm sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, hỏi, cầu khiến; những câu có giá trị ngôn trung (hay tại lời) được đánh dấu: câu xác nhận, câu phản bác, câu ngôn hành
- Tình thái của lời phát ngôn: thuộc bình diện nghĩa học, gắn với nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt Nó có liên quan đến thái
độ của người nói đối với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Tình thái của lời phát ngôn (trong câu trần thuật) tiếp tục được phân ra làm hai loại: tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ
Trang 30+ Tình thái của câu phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực, mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu (khách quan hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc của điều được thông báo.
+ Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết biểu thị (kéo dài/ không kéo dài, bắt đầu/ kết thúc ) thường được gọi là những đặc trưng về thể [12, 50 – 51]
1.2.3 Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái
1.2.3.1 Phương tiện ngữ âm
Ngữ điệu là một trong những phương tiện thể hiện ý nghĩa tình thái trong phát ngôn Cách phát ngôn khác nhau sẽ cho ta những kiểu câu khác nhau với ý nghĩa tình thái khác nhau
VD: Con được 4 điểm thôi
Phát ngôn hạ giọng ở âm tiết cuối sẽ cho ta một phát ngôn có đích là hành động thông báo kèm theo thái độ lo lắng của người con
Phát ngôn nhấn mạnh và kéo dài hơi ở những âm tiết 4 điểm thôi cho ta
một phát ngôn có đích là hành động hỏi kèm thái độ không vừa lòng của bố mẹ: “Con được 4 điểm thôi?”
Trang 31+ Thành ngữ: xấu như ma, mẹ tròn con vuông…
+ Quán ngữ: có người cho rằng, nói tóm lại, tựu chung là, trước hết, rốt cuộc là…
+ Các phụ từ tình thái: đã, đang, vẫn, không, chưa, chẳng…
+ Các thán từ: trời ơi, chao ôi, ái, ôi, ối, ồ…
+ Các tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé…
+ Các trợ từ: đến, ngay, chính, cả, những, chỉ, mỗi…
+ Một số tổ hợp từ được chuyên dùng với ý nghĩa tình thái xuất hiện ở
bậc câu: có thể, hình như, chắc chắn, có lẽ, không biết, chẳng lẽ…
1.2.3.3 Phương tiện ngữ pháp
Có thể kể đến phương thức đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu, hoặc một số kiểu câu như:
- Biểu thị hành động cảm thán:
+ X ơi là X: trời ơi là trời, tiền ơi là tiền…
+ Động từ + cả + danh từ: điên cả người, bực cả mình…
+ Danh từ + với/ chả + danh từ: chồng với chả con, cơm với chả nước…
- Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu… thì, giá… thì… VD:
(28) Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ! (Nam Cao)
(29) Nếu tôi nói thì chắc người ta cũng bằng lòng (Vũ Trọng Phụng)
Như vậy, có thể nhận thấy tình thái từ (trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ)
là một trong những phương tiện tham gia tích cực, đắc lực vào việc biểu thị các ý nghĩa tình thái khác nhau trong phát ngôn Đây cũng chính là đối tượng
mà chúng tôi hướng đến trong luận văn này
1.3 Vài nét về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có thể nhận thấy một số
Trang 32- Nguyễn Huy Thiệp hướng tới một mô hình văn học bình dân, thông tục với nội dung triết lí về con người và lịch sử, ai cũng đọc được và cảm thấy
nhẹ nhàng, thú vị Tuy nhiên, theo Trần Đình Sử thì “tác giả cũng có triết lí nhân sinh để thoả mãn những ai ưa thích trầm tư về những khía cạnh sâu xa
của kiếp người”.[32]
- Truyện của Nguyễn Huy Thiệp là tiếng nói thực của cuộc sống Cuộc đời qua bàn tay Nguyễn Huy Thiệp cất lên tiếng nói của chính mình với đầy
đủ những hạng người, những cách sống, cách nghĩ, nhân hậu có, trữ tình có, huyễn hoặc có và ghê rợn, xấu xa cũng có
- Chủ thể kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường là người “đứng ngoài” nhưng đóng vai trò như một “người biết hết”, dẫn dắt bạn đọc vào thế giới nhân vật, sự kiện
- Về phương diện ngôn từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy một số đặc điểm sau:
+ Lời văn của Nguyễn Huy Thiệp thường hết sức ngắn gọn, cô đúc, trần trụi giống như là liệt kê, chỉ mang tính chất thông báo sự việc còn những yếu tố tình thái, những yếu tố có chức năng đánh giá, bàn luận gần như bị lược bỏ hết VD:
(30) Tôi làm công chức ở Sở, lấy vợ, đẻ một đàn con đông đúc (Chảy
đi sông ơi, 12)
Những sự kiện quan trọng trong cuộc đời một con người được kể ngắn gọn trong một câu với 14 chữ
Tương ứng theo đó, lời thoại nhân vật cũng hết sức ngắn (chủ yếu sử dụng những câu đơn), thường là nói thẳng, nói thật, không rào đón, ngụy tạo; lời dẫn thoại cũng không thể ngắn hơn theo cấu trúc: chủ ngữ + động từ nói năng, trực tiếp chỉ hành vi nói năng VD:
Trang 33(31) Ông bảo: “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi” Tôi bảo: “Vâng”.(Tướng về hưu, 15)
+ Phát ngôn của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường
chứa nhiều câu nói, câu hát dân gian Như khi lão Kiền chửi con, lão dùng lời
ăn tiếng nói hằng ngày và cách ví von của người xưa: “Mày ấy à? Công chức
gì mà cái mặt mày? Lười như hủi, chữ tác đánh chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét…”, “Học với chả hành Người ta dạy mày cũng phí cơm toi”…
+ Ngôn ngữ mang tinh thần “giải thiêng”, “gây hấn” với cách sử dụng
ngôn từ khá “tục” Lời nói thô tục phát ra không chỉ ở người bình dân mà
ngay cả quan chức cũng sử dụng như thường Các truyện ngắn Bài học nông thôn, Trương Chi, Con gái thủy thần… có sử dụng nhiều yếu tố “tục” như vậy Trần Đình Sử nhận xét: “Hình như dưới ngòi bút của anh không có vùng cấm nào cả, không có sự vật nào mà anh không gọi bằng tên của nó, từ những ý nghĩ, hành động đen tối, vô đạo nhất của nhân vật cho đến những xung động khao khát tình dục thầm kín nhất” [32]
` + Ngôn ngữ giản lược tối đa Câu văn của Nguyễn Huy Thiệp giản lược đến mức tối đa mà lại đa nghĩa VD:
(32) Hôm nay cắt được mấy chục cái đầu thì hay (Không có vua, 45)Nếu không biết Cấn làm nghề cắt tóc thì hẳn người đọc sẽ dễ dàng hình dung đây là lời của một tên đao phủ, một kẻ khát máu, hình dung ra những cảnh tượng gớm ghê, dã man…
Như vậy có thể thấy ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không kiểu cách, trau chuốt mà góc cạnh, không óng ả, êm mượt mà thô ráp, như đời sống thực Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra một ma trận ngôn từ với những sự kiện bề nổi và ẩn đi ở chiều sâu những suy tư, chiêm nghiệm qua những tình huống thật mà như đùa, phi lý nhưng lại rất hữu lý
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số cơ sở lí luận của đề tài:
* Tình thái từ thuộc lớp hư từ, có vai trò to lớn trong việc thể hiện thái
độ của người nói đối với hiện thực được nói tới và đối với người nghe Tình thái từ bao gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ
+ Phân loại: theo chức năng có 4 nhóm: trợ từ đánh giá về lượng, nhấn mạnh ý khẳng định, nhấn mạnh ý phủ định, bộc lộ sắc thái biểu cảm; theo vị trí có 2 nhóm: trợ từ đứng trước thành phần cần nhấn mạnh và trợ từ đứng sau thành phần cần nhấn mạnh
- nghi vấn - tường thuật), theo nghĩa (tiểu từ tình thái hiện thực - quan hệ)
- Thán từ:
+ Khái niệm: thán từ là những từ dùng để bộc lộ cảm xúc trực tiếp của người nói
Trang 35+ Đặc điểm: không làm thành phần câu, có thể độc lập tạo phát ngôn; dẫn xuất trực tiếp thái độ, cảm xúc của người nói.
+ Phân loại: bao gồm thán từ gọi đáp và thán từ bộc lộ cảm xúc
* Nghĩa tình thái là một phạm trù hết sức đa dạng, phức tạp, khó có thể
có được sự đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu
- Khái niệm: tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn, đối với hoàn cảnh phát ngôn, đối với hiện thực và đối với người nghe
- Tùy theo quan niệm của từng tác giả mà cách phân chia các loại ý nghĩa tình thái là rất khác nhau
- Các phương tiện biểu đạt ý nghĩa tình thái: phương tiện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
* Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn cá tính, có sức sáng tạo dồi dào Truyện ngắn của ông đem đến cho độc giả những trải nghiệm thú vị trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
Những cơ sở lí luận này được chúng tôi vận dụng để tiếp tục tìm hiểu chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2 TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA 2.1 Trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.1.1 Miêu tả trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo cấu tạo
Khi xem xét cấu tạo của các trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi sẽ phân chia thành hai nhóm:
- Trợ từ có cấu tạo là một âm tiết (tương đương một từ đơn)
- Trợ từ có cấu tạo từ hai âm tiết trở lên (tương đương một tổ hợp trợ từ)
Qua quá trình khảo sát trong 46 truyện ngắn trong Nguyễn Huy Thiệp
truyện ngắn, chúng tôi đưa ra bảng tổng hợp sau về cấu tạo của trợ từ.
Bảng 2.1 Phân loại trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo cấu tạo
Trợ từ Số lượng Tỉ lệ % (theo số lượng) Tần số sử dụng Tỉ lệ % (theo tần số) Trợ từ có cấu tạo là từ đơn 36 49,31 1438 91,59
Trợ từ có cấu tạo là một tổ hợp trợ từ 37 50,69 132 8,41
Nhìn vào bảng 2.1 có thể thấy số lượng các trợ từ có cấu tạo là từ đơn
và trợ từ có cấu tạo là từ phức tương đương nhau nhưng tần số sử dụng thì lại
có sự chênh lệch rất lớn Các trợ từ có cấu tạo là từ đơn có tần số xuất hiện cao hơn rất nhiều (gấp hơn 10 lần) so với các trợ từ có cấu tạo là từ phức
2.1.1.1 Trợ từ có cấu tạo là từ đơn
Theo kết quả khảo sát thu được ở bảng 2.1 thì trong tổng số 73 trợ từ được sử dụng trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, trợ từ có cấu tạo
là từ đơn gồm 36 trợ từ với tần số xuất hiện rất cao 1438 lượt, chiếm tới
91,59% Đó là các trợ từ: mãi, cả, ngay, chỉ, đến, thật, chính, tận, cái, độc,
đã, mỗi, kể, thì… VD:
Trang 37(33) Chiếu hoa trải cả trên hè, trên sân mà vẫn không đủ chỗ ngồi
(Chút thoáng Xuân Hương, 277)
(34) Khi hắn đi lại, cái chân thọt trông thật tội nghiệp (Thổ cẩm, 454) (35) Mẹ tôi lẫn lộn, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ (Tướng về hưu, 16) (36) Bến đò ở ngay gốc gạo đơn độc đầu xóm (Chảy đi sông ơi, 5)
Bảng 2.2 Trợ từ có cấu tạo là từ đơn trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp (sắp xếp theo tần số)
Trang 39Nhận xét:
* Nhìn vào bảng 2.2 có thể thấy trong nhóm các trợ từ có cấu tạo là từ
đơn, chỉ là trợ từ có tần số xuất hiện cao nhất với 454 lượt sử dụng, chiếm 31,57% Chỉ có thể sử dụng để biểu thị phạm vi được hạn định duy nhất VD:
(37) Tôi chỉ sợ nó làm lỡ việc của anh (Những người thợ xẻ, 98)
(38) Cô chú không cần tiền, chỉ cần tình cảm (Thương nhớ đồng quê, 172) (39) Chỉ có tình yêu mới lượn vòng tinh tế như thế (Con thú lớn nhất, 201) Chỉ cũng có thể được sử dụng để đánh giá về lượng là ít so với mức
thông thường VD:
(40) Nhìn ra chỉ có bốn người nhà tôi giữa đồng (Thương nhớ đồng
quê, 168)
(41) Ở Hà Nội, em chỉ ăn ba bát (Những bài học nông thôn, 121)
* Có tần số sử dụng cao thứ hai là trợ từ cả với 222 lượt, chiếm
15,44% VD:
(42) Cả cô gái tôi từng yêu cũng thế (Những người thợ xẻ, 113)
(43) Tin đồn bay xuống cả vùng đồng bằng người Kinh, bay lên cả
đỉnh núi cao của người Mông (Trái tim hổ, 198)
(44) Hạnh khẽ run lên, y toát cả mồ hôi trán (Huyền thoại phố phường, 237) (45) Ông run bắn cả người (Sói trả thù, 211)
Trợ từ cả biểu thị ý nhấn mạnh mức độ cao của sự việc toát mồ hôi trán, run bắn người; biểu thị phạm vi không hạn chế của sự việc: cô gái tôi từng yêu cũng thế, tin đồn bay đi khắp mọi nơi.
* Trợ từ có tần số xuất hiện cao thứ ba trong nhóm trợ từ có cấu tạo là từ
đơn là thật với 130 lượt xuất hiện, chiếm 9,04% VD:
(46) Thật chua xót ngu ngốc (Thiên văn, 331)
(47) Lòng nghi ngờ con người ở họ thật đáng sợ (Tội ác và trừng phạt, 337)
Trang 40(49) Thưa ông, nghề của ông thật nguy hiểm (Hạc vừa bay vừa kêu
thảng thốt, 375)
Trợ từ thật khẳng định mức độ cao của tính chất hoặc trạng thái mà người nói nhận thấy hết sức rõ ràng: chua xót ngu ngốc, đáng sợ, xấu hổ, ê chề, nguy hiểm
Ngoài ra còn có các trợ từ: đến 73 lượt, ngay 65 lượt, cái 59 lượt…
* Trong nhóm các trợ từ có cấu tạo là từ đơn, một số trợ từ có tần số xuất
hiện rất thấp: cóc, được chỉ có 1 lượt; mà, nữa 3 lượt…
(50) Bạc Kỳ Sinh quyết định vượt qua núi đá tai mèo để về thung lũng:
đường ngắn hơn, chỉ có hơn hai cây số nhưng làm như thế nghĩa là “leo núi”
chứ không phải “đua ngựa” nữa (Truyện tình kể trong đêm mưa, 406)
(51) Ông thấy trong đời toàn những thằng ác, thằng hèn nhưng lại ranh
khôn hơn cáo (Chút thoáng Xuân Hương, 274)
(52) Đúng là số kiếp đã chẳng ra gì thì ở chỗ nào cũng chẳng ra gì
(Thổ cẩm, 452)
* Trong số các tổ hợp trợ từ, có một số tổ hợp được tạo ra bằng cách kết hợp hai trợ từ đơn lại với nhau VD:
(53) Đề Thám vừa nói với bà Ba Cẩn vừa đội lên đầu chiếc khăn xếp
trứ danh thửa mãi tận phố Hàng Lọng, Hà Nội (Mưa Nhã Nam, 186)
Tổ hợp mãi tận là sự kết hợp của hai trợ từ đơn mãi và tận Hai trợ từ
này đều được dùng để thể hiện sự đánh giá của người nói về mức độ kéo dài của thời gian hoặc mức độ cao, xa của không gian Khi kết hợp chúng lại với