Phần nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:Chương I: Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1945 1975 những vấn đề chungChương II: Thủ đô đô thị hai diễn ngôn độc lập, tương tranhChương III: Thủ đô và đô thị khi các diễn ngôn tìm được sự hòa giải.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại cả một dòng văn học nghệthuật về thành phố Bởi sự hiện diện của thành phố trong tác phẩm nghệ thuật khôngcòn đơn giản chỉ là phông nền, bối cảnh cho những câu chuyện, những tâm tình mà nóchính là “nhân vật chính” của những tác phẩm ấy Sự hiện diện của thành phố trongvăn chương nghệ thuật cũng không đơn thuần là sự chuyển hóa hình ảnh thành phố vậtchất vào tác phẩm mà quan trọng hơn, hình ảnh thành phố được thể hiện như thế nào,bản thân nó đã là một ý tưởng Trong những tác phẩm đầu tiên về thành phố ở phươngTây, thành phố đã hiện lên như một ý niệm tinh thần hơn là một thực thể vật chất.Người Germain đã xây dựng hình ảnh Riga như một ngụy tạo văn hóa phục vụ chomục đích mở rộng lãnh thổ của mình Trong sách Khải huyền của Thánh Augustine,thành phố hiện lên như là một đối cực của thành phố trên cao- thành phố của Chúa- trật
tự hoàn hảo, vì thế thành phố của con người là một biểu tượng tha hóa, cái bất toàn
Thànnh phố như là những huyễn tưởng được xây dựng trong Utopia của Thomas Moore hay Thành phố mặt trời của Thomas Campanella Paris thường xuyên hiện diện
với huyền thoại về kinh đô ánh sáng, Rome với huyền thoại về thành phố tình yêu…
Do những khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế xã hội nên những thành phố ở châu
Á xuất hiện muộn hơn và ít nhiều chịu ảnh hưởng từ phương Tây Tuy kém về bề dàylịch sử nhưng những thành phố châu Á vẫn tạo dựng một dòng mạch riêng Châu Á cónhững dòng văn học nghệ thuật về Bắc Kinh như là thành phố của giấc mơ Xã hội chủnghĩa, Hồng Kông như là một thành phố quốc tế… Hà Nội, với vị trí của một thủ đô
1000 năm tuổi, cũng có một dòng mạch riêng viết về nó, khởi đầu từ năm 1010, liêntục phát triển, tổng hợp, rẽ nhánh cho đến tận ngày hôm nay Khi lựa chọn đề tài này,chúng tôi muốn nghiên cứu các tác phẩm văn chương về Hà Nội như là một phần củadòng văn học thành phố
Khi tiếp cận dòng văn chương viết về Hà Nội, chúng tôi nhận thấy một hìnhảnh Hà Nội không cố định và không thuần nhất ngay tại một thời điểm Vì thế có
Trang 2thể thấy rằng hình ảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật không thể hiểu đơn giản là
sự phản ánh đời sống vào tác phẩm Các tác phẩm văn học nghệ thuật về Hà Nộicần được nhìn nhận ở bản chất diễn ngôn- tức là mỗi hình ảnh Hà Nội được kiến tạonên đều nhằm một mục đích nào đó, chịu sự chi phối của một tư tưởng hệ, một mĩcảm nào đó, thậm chí đi theo một số công thức biểu đạt nhất định… Hà Nội trongvăn học nghệ thuật là một kiến tạo ngôn ngữ với nhiều ảo tưởng, nhiều tham vọngchứ không phải là một thực thể trong suốt có thể quy chiếu về thành phố thực tạinhư ta vẫn tưởng
Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc.Bão táp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân, lịch sử củanhững gia đình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội Ba mươi năm khốcliệt ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phố với sự hiện diện củanhững lỗ châu mai, của những hầm trú ẩn, những mảng tường lở loét vì bom đạnchiến tranh, những tượng đài quyết tử… mà còn để lại dấu ấn trong văn học nghệthuật và vẫn còn hằn sâu trong kí ức của những người Hà Nội hôm qua và hôm nay.Thời đại này đã sản sinh ra những cảm thức hêt sức mới mẻ, trước đây chưa từng có
về chốn kinh kì văn hiến, nơi đô thị phồn hoa và tạo dựng cho thành phố này mộtdiện mạo tinh thần mới
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Hà Nội như một diễn ngôn trong văn học nghệ thuật
Hà Nội với bề dày lịch sử của mình đã trở thành đối tượng nghiên cứu củarất nhiều ngành như địa lí, lịch sử, khảo cổ, xã hội học, kiến trúc, khảo sát văn hóaphong tục… Người ta cũng đã nghiên cứu về Hà Nội, con người Hà Nội, bản sắcvăn hoá Hà Nội trong văn học nghệ thuật, tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếumang tính chất mô tả, quy chiếu về diện mạo của thành phố thực chứ không nhìn nónhư một thực thể tinh thần, không lí giải nguyên nhân hay cơ chế thẩm mĩ nào dẫnđến sự kiến tạo hình ảnh Hà Nội qua các thời kì như ta thấy Trong số các nghiêncứu về Hà Nội trong văn học nghệ thuật, đáng kể nhất là hội thảo Về bản sắc vănhóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỉ XX do trường Đại học Mỹ thuật ViệtNam tổ chức Tuy nhiên trong hội thảo này cũng chỉ có duy nhất bài tham luận
Trang 3“Nghệ thuật và thành phố- Chân dung Hà Nội trong mắt nghệ sĩ Việt Nam” của TSNatalia Kraevskaya và Lisa Drummond “xem xét những xu hướng trong việc diễngiải và khái niệm hóa Hà Nội như một chủ thể nghệ thuật” Các bài tham luận kháchầu hết có tính chất khái quát những đặc điểm của Hà Nội được thể hiện qua sáng tác,nghĩa là nhìn nhận nó như là một đối tượng phản ánh của nghệ thuật và quan tâm đếncách thức xử lí những hình ảnh đó bằng phương tiện của các loại hình nghệ thuật.
Trong khóa luận tốt nghiệp Viết lại Hà Nội: diễn ngôn về thành phố trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Bình Phương, chúng tôi cũng đã bước đầu
xác lập Hà Nội với tư cách một văn bản liên tục được viết lại theo thời gian Cácdiễn ngôn song song tồn tại với nhau, thay thế nhau, giao thoa nhau trong từng thời
kì tạo nên diện mạo Hà Nội trong văn học nghệ thuật Trong dòng mạch đó chúngtôi định vị và nhận diện diễn ngôn về Hà Nội trong sáng tác của hai nhà văn Tuynhiên đây chỉ là những bước đi ban đầu, chúng tôi cảm thấy cần phải có sự nghiêncứu sâu sắc hơn đối với diễn ngôn về Hà Nội trong từng giai đoạn, đặc biệt là mộtgiai đoạn có nhiều nhánh diễn ngôn đa dạng, phong phú như giai đoạn 1945- 1975
2.2.Lịch sử nghiên cứu diễn ngôn về Hà Nội trong văn học giai đoạn 1945- 1975
Giai đoạn 1945- 1975 là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình văn họcViệt Nam thế kỉ XX, vì thế nó nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứuvăn học, nghệ thuật Tuy nhiên, do những đặc trưng về hoàn cảnh lịch sử xã hội,chủ trương văn hóa văn nghệ đại chúng, thi pháp thời đại mà các nhà nghiên cứuchưa chú trọng đến nghiên cứu diễn ngôn về các vùng miền trong văn học, nhất làdiễn ngôn về thành phố
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các diễn ngôn về Hà Nội trong văn họcmiền Bắc Việt Nam 1945- 1975
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát các diễn ngôn về Hà Nội trong giaiđoạn từ 1945 đên 1975, tập trung khai thác những diễn ngôn văn chương tiêu biểu ởmiền Bắc (bao gồm các thể loại văn xuôi, thơ, kí)
Trang 45 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:
- Thứ nhất: nhận diện các diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc ViệtNam 1945- 1975 trong dòng mạch các diễn ngôn liên tục viết tiếp và viết lại về HàNội trong hơn 1000 năm qua
- Thứ hai: chỉ ra được những công thức diễn ngôn tiêu biểu, cơ chế kiến tạo
và giá trị của những công thức diễn ngôn này trong việc kiến tạo hình ảnh Hà Nộitrong văn học nghệ thuật cũng như trong tâm thức con người
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu sự kiến tạo hình ảnh HàNội giai đoạn 1945- 1975 trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, cácdiễn ngôn văn học, mỹ thuật, âm nhạc , điện ảnh, các nghiên cứu trên lĩnh vực kiếntrúc, quy hoạch đô thị
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản
7 Cấu trúc luận văn
Phần nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương I: Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1975- những vấn đề chung
1945-Chương II: Thủ đô/ đô thị- hai diễn ngôn độc lập, tương tranh
Chương III: Thủ đô và đô thị- khi các diễn ngôn tìm được sự hòa giải
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG I DIỄN NGÔN VỀ HÀ NỘI TRONG VĂN HỌC MIỀN BẮC
VIỆT NAM 1945- 1975- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.Thành phố- một thực thể diễn ngôn
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự ra đời của những thành phố đầu tiên từcách đây mấy nghìn năm Từ những thành bang như Aten của Hy Lạp cổ đại đếnnhững thành thị trung đại, từ những thành phố cảng, những công xưởng lớn của thời
kì Cách mạng công nghiệp cho đến những thành phố quốc tế ngày nay, thành phố
đã đi một hành trình dài từ lúc khai sinh, liên tục phát triển và trở nên định hìnhtrong dáng vẻ cũng như trong ý niệm của con người về nó Tất nhiên, sự định hình
mà chúng tôi nhắc đến ở đây chỉ mang tính chất tương đối, bởi sự phát triển năngđộng của đời sống khiến cho diện mạo của các thành phố không ngừng đổi thaytừng ngày và theo những quy luật nhận thức và tâm lý, cách mà chúng ta nghĩ vềthành phố hôm nay cũng chẳng bao giờ trọn vẹn là những ấn tượng, cảm nghĩ củangày hôm qua Tuy nhiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, quá trình phát triển dàilâu đã khiến cho sự phân định giữa thành phố với những miền không gian khác trởnên hết sức rõ ràng Không còn khó khăn hay tranh cãi khi chúng ta gọi một khônggian là thành phố hay xác định nó không phải thành phố bởi chúng ta đang cùngchia sẻ một ý niệm chung, cùng đồng thuận trong một cách hiểu nhất định về thànhphố “Thành phố là gì?” hiển nhiên là câu hỏi mà bất cứ ai cũng trả lời được, thậmchí có thể trả lời rất nhanh chóng và dễ dàng Nó đã quá đỗi quen thuộc trong sựquan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của chúng ta Xác lập lại định nghĩa về thành phốdường như đã trở thành một việc không cần thiết Tuy nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu từchính điểm dường như không cần thiết này để khám phá diện mạo và bản chất củathành phố cũng như sự xuất hiện của thành phố trong văn học với tư cách diễn ngônthay vì chỉ là bối cảnh, phông nền cho những truyện kể
Trang 61.1.1 Thế nào là một thành phố?
1.1.1.1 Thành phố- một thực thể vật chất
Sở dĩ chúng ta có thể dễ dàng đưa ra một định nghĩa về thành phố bởi nókhông phải là một ý niệm trừu tượng, một sản phẩm thuần túy của suy tưởng Thànhphố là một thực thể vật chất đang hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta, thậm chí nóchính là không gian bao bọc sự tồn tại của chúng ta, là cuộc sống thường ngày, gắn
bó trong những thói quen, trong từng bước đi, từng hơi thở Trong từng tháng ngàyđang sống, ta vừa cảm nhận về thành phố mơ hồ trong cảm giác vừa sống độngtrong sự tiếp xúc của tất cả các giác quan Thành phố không phải là những hìnhdung xa xôi hay là một miền tưởng tượng, thành phố ở rất gần và rất thực, là nhữnghình ảnh mắt ta trông thấy, những âm thanh tai ta nghe thấy, những cảm giác chậtchội, nóng bức hay rộng dài, thênh thang, bay bổng hàng ngày đọng lại thành những
ấn tượng, lưu lại trong trí nhớ Thành phố thực và gần gũi như khung cửa sổ, máihiên, hàng cây trước ngõ, những con đường, những nếp nhà những mái phố, nhữngngã ba… Nhưng cũng chính sự gắn bó giản dị và thân thuộc như hơi thở thậm chínhư máu thịt ấy đã khiến cho cách mà chúng ta nghĩ và định nghĩa về thành phố cóphần đơn giản
Trong cách hiểu phổ biến nhất, thành phố thường được định nghĩa là mộtkhu vực tập trung dân cư, được xác định bởi một diện tích giới hạn, quy mô dân sốnhất định, các hoạt động kinh tế, chính trị văn hóa xã hội đặc trưng và các côngtrình cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại… Các nhà xã hội học và kinh tếhọc từ lâu đã đưa ra một hệ thống các tiêu chí và các con số làm tiêu chuẩn đánh giácũng như phân cấp đô thị Các con số này không cố định mà liên tục biến đổi theothời gian, tương ứng với trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như tốc độ đô thịhóa Tuy nhiên chúng ta có thể thấy rằng về cơ bản những tiêu chí xác định mộtvùng không gian có phải là thành phố hay không dường như không có nhiều thayđổi Thành phố vẫn được nhận diện rõ nét nhất trong sự đối sánh với không gian tráingược là nông thôn Trong sự phân biệt muôn thuở này, thành thị và nông thôn luôn
là hai đối cực Nông thôn luôn được nhắc đến là miền không gian rộng lớn, dân cư
Trang 7thưa thớt, nhắc đến không gian nông thôn là nhắc đến sự thoáng đãng và khoángđạt Trong khi đó, dù diện tích thường được đo bằng những con số rất lớn nhưngkhông gian đô thị chưa bao giờ thôi đem đến cảm giác chật chội cho những cư dâncủa nó Cho dù diện tích có được mở rộng đến đâu thì hình như vẫn cứ là chưa đủ
so với quy mô dân số ngày càng phình to nơi đô thị Nông thôn là không gian liềnkhối Sự phân cắt không gian duy nhất hiện diện trong hình ảnh con đường làng.Đây là trục giao thông chính nối hai nửa đặc trưng của không gian nông thôn:không gian sản xuất (nông trại, cánh đồng) và không gian cư trú (xóm làng) Trongkhi đó, thành phố liên tục bị phân cắt thành các mảng không gian chức năng hết sức
đa dạng: không gian cư trú, không gian làm việc, không gian của các dịch vụ y tế,thể thao, mua sắm, giải trí…Xen giữa những mảnh vỡ không gian đó là hệ thốnggiao thông phức tạp Nếu như ở nông thôn chỉ có một con đường duy nhất, thằngtắp ít những ngã rẽ cắt ngang thì ở thành thị, đường phố tạo thành một mê cungchằng chịt những phố những đường, những ngõ nhỏ quanh co sâu hun hút và chúnglại có khả năng vô tận trong việc kết nối những con đường lại với nhau… Không ai
bị lạc trên những con đường nông thôn trong khi đó là cảm giác thường trực ở chốnthị thành, ta liên tục bị đẩy vào tình huống lựa chọn, chỉ cần một chút lơ đãng làngay lập tức con người bị rơi vào những miền không gian xa lạ, loay hoay xác địnhphương hướng để tìm về cảm giác quen Những ngôi nhà ở nông thôn thường nổibật ở sự mộc mạc và giản dị, các công trình kiến trúc thường không quá cao, về cơbản là phù hợp với công năng sử dụng cũng như hài hòa với không gian xungquanh Trong khi đó thị thành trưng ra một diện mạo lộng lẫy xa hoa với nhữngcông trình kiến trúc bề thế, kiểu cách và hết sức cầu kì Đó là những khối nhà caotầng với cửa kính, đèn gương sáng loáng, những tòa nhà chọc trời cao ngất, thậmchí vượt khỏi tầm mắt ngước lên Diện mạo thành phố chia thành những mảng đầymàu sắc và kiểu dáng: những mảng kiến trúc phương Đông xen giữa mảng kiến trúcphương Tây, những công trình hiện diện như biểu tượng của sự giao thoa văn hóabên cạnh những công trình mang dấu ấn truyền thống hay sừng sững những biểutượng của nền văn mình toàn cầu… Những mảng khối ấy đặt bên cạnh nhau, tương
Trang 8tác với nhau đem đến cho thành phố một chân dung liên tục biến ảo như nhìn quachiếc kính vạn hoa Và nếu như nông thôn đem đến cho người ta ấn tượng về màuxanh của bầu trời, vẻ tươi non của cây cối, sự trong trẻo trong màu vàng của nắngmai, sự mộc mạc trong màu nâu của đất…- những màu sắc giản dị và thuần phác thìthành phố lại để lại một ấn tượng khác hẳn Thành phố là một bảng màu mà chúng
ta sẽ thất bại nếu như cố gắng xác định số lượng màu sắc Nó là một hòa sắc, ở đócác màu sắc đan xen trộn lẫn vào nhau làm nên vẻ rực rỡ ban ngày và lại càng thêmlung linh diễm ảo khi phố sá lên đèn Đời sống yên bình ở làng quê ngàn đời gắnvới hoạt động sản xuất nông nghiệp còn thành phố đặc trưng ở các hoạt động sảnxuất công nghiệp và thương mại Những thành phố đầu tiên ra đời trên thế giới gắnvới sự phát triển của thương mại, buôn bán trao đổi hang hóa giữa các thành bang
cổ đại Những thành phố lớn nhất thời trung đại đều là những thành phố cảng nhưVenice (Italia), Macxay (Pháp)… nơi hoạt động trao đổi hàng hóa đã vượt ra ngoàilãnh thổ một quốc gia để kết nối nhiều quốc gia với nhau Từ những thành phố cảngnày, những con thuyền khám phá đã nhổ neo đưa người phương Tây đến nhữngmiền đất mới- nơi sẽ trở thành vùng nguyên liệu mới, thị trường mới và về sau còn
là nơi cư trú mới của họ Thế kỉ XVII, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện những đô thịlớn mà dấu ấn của nó còn để lại trong những câu ca dân gian như “Thứ nhất kinh kì,thứ nhì Phố Hiến” Kinh thành Thăng Long thế kỉ XVII là nơi có cảng đường sônglớn nhất ở miền Bắc, hoạt động buôn bán trên bến dưới thuyền vô cùng tấp nập,thậm chí ấn tượng về sự sầm uất ấy còn được ghi lại trong những trang bút kí củanhững nhà du hành châu Âu đến Bắc kì lúc bấy giờ Đương thời, ở miền Trung có
đô thị cổ Hội An là nơi thu hút rất nhiều thương gia Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ,Anh, Pháp, Hà Lan… Thời kì Cách mạng công nghiệp làm thay đổi toàn bộ diệnmạo nền sản xuất châu Âu nói riêng và thế giới nói chung, những thành phố lớn lànhững thành phố công nghiệp với hình ảnh đặc trưng là những nhà máy, nhữngcông xưởng lớn với hệ thống máy móc hiện đại… Cho đến nay bước chuyển quantrọng nhất trong quá trình đô thị hóa trên đất nước chúng ta vẫn là sự thay thế hoạtđộng sản xuất nông nghiệp bằng sản xuất công nghiệp, sự thay thế có thể nhận thấy
Trang 9rất dễ dàng trên diện mạo: những con đường đất được thay bằng đường nhựa,đường rộng thêm ra, tăng cường chiếu sáng…, trên mảnh đất từng là đồng ruộngmọc lên những dãy nhà, những cột ống khói, những biển hiệu của các khu côngnghiệp, khu chế xuất, những dãy cột điện và đèn cao áp thay thế ấn tượng về nhữnghàng cây xanh rì rào trong buổi chiều quê lộng gió… Thành phố hôm nay, thànhphố của thời kì toàn cầu hóa trưng ra lộng lẫy những trung tâm thương mại sầm uất,những tòa nhà chọc trời, đâu đâu người ta cũng bắt gặp hệ thống biển hiệu củanhững thương hiệu toàn cầu Thành phố của hôm nay không chỉ sống trong giấc mơnhỏ bé của mình mà ôm mộng trở thành những thành phố quốc tế, biểu tượng củatoàn thế giới…
Sự nhận diện một thành phố có thể dựa trên những tiêu chí tổng thể, vĩ mô,đôi khi có thể chỉ bắt đầu từ cảm nhận hết sức quen thuộc giữa đời thường Thànhphố- đó là nơi ta hàng ngày lội giữa biển người và mắc kẹt giữa dòng xe cộ vào giờcao điểm, nơi cảm giác ngột ngạt khó thở lơ lửng giữa khói bụi của phương tiện vàhơi nóng hầm hập tỏa ra từ mặt đường và những tòa nhà xây dựng bằng bê tông caongất… Thành phố- đó là nơi tầm mắt liên tục bị giới hạn bởi các công trình, đôi mắttrong veo tìm kiếm mãi mà vẫn không sao chạm được đến chân trời, nơi đôi tai luôn
bị đặt giữa một dòng âm thanh hỗn loạn của tiếng nhạc ầm ĩ vọng ra từ các cửahàng, tiếng còi xe nhốn nháo, tiếng người nói léo xéo, tiếng máy móc ầm ì…vàtuyệt vọng trong nỗ lực thanh lọc lấy những thanh âm trong trẻo và thuần khiết nhấtcủa đời sống như tiếng chim hót, tiếng gió vi vút, âm thanh rì rào của những hangcây… Đôi khi ánh mắt tìm thấy bầu trời cao rộng nhất là bầu trời in hình rõ rệt trênnhững mảng kính lớn của các tòa nhà chọc trời và đôi khi âm thanh trong trẻo nhấtlại là tiếng hót của một chú chim cảnh bị nhốt trong lồng trên ban công của mộtngôi nhà trong ngõ sâu hun hút- thứ âm thanh khắc khoải hướng về tự do…
Trang 10thực thể phức tạp hơn thế Nó đã bắt đầu lịch sử của mình từ cách đây hàng nghìnnăm, trải qua nhiều biến cố phức tạp, nhiều lần đổi thay diện mạo, bao phen bị hủyhoại sau đó lại hồi sinh Vì thế mà không thể chỉ định nghĩa thành phố trên phươngdiện vật chất, không thể chỉ đo đếm kích thước dài rộng của nó bằng hình ảnh ở thờihiện tại, càng không thể thăm dò đến đáy cùng chiều sâu của nó dựa vào trảinghiệm của một cuộc đời, ngay cả khi đó là trải nghiệm của nhiều cuộc đời hay trảinghiệm của một thế hệ thì vẫn là chưa đủ Câu hỏi “Thành phố là gì? Thế nào làmột thành phố?” chưa bao giờ khó trả lời kì thực lại không dễ để có được một câutrả lời thỏa đáng Diện mạo vật chất chỉ là lớp vỏ, chỉ là cái áo ẩn chứa tận sâu bêntrong, phía sau bao nhiêu ý niệm tinh thần Những ý niệm đó không chỉ là cái ẩnchứa, cái được cất giấu mà có khi còn tạo thành chính không quyển tinh thần baobọc thành phố, cũng như giới hạn suy nghĩ và cảm nhận của chúng ta.
Trong ý thức văn hóa của chúng ta, hai chữ “thành phố” chưa bao giờ đơngiản chỉ quy chiếu về một thực thể vật chất, một loại địa bàn cư trú, một kiểu tổchức đời sống xã hội Có rất nhiều những suy nghĩ, cảm giác theo cùng hai chữ
“thành phố” ấy- đó chính là cảm thức đô thị Và không phải chỉ có những ngườisinh ra, lớn lên, sống trọn vẹn cuộc đời ở thành phố hay những người từng có trảinghiệm với thành phố mới có cảm thức này Ngay cả đối với những người chưatừng biết thế nào là đô thị, chưa từng có bất kì trải nghiệm trực tiếp nào với khungcảnh hay cuộc sống nơi thị thành thì hai chữ “thành phố” vẫn gợi ra trong họ rấtnhiều suy nghĩ Những cảm thức ấy không phải đợi đến khi con người ta tiếp xúcvới đô thị mới hình thành mà nó đã có từ trước, trước những trải nghiệm của ta,trước cả sự ra đời của ta, của cha ông ta, nó nằm ở tầng sâu của vô thức xã hội.Những kinh nghiệm cá nhân của chúng ta với thị thành chỉ là sự nối dài, bồi đắpthêm, cũng có khi đối thoại và làm phong phú thêm cho ý niệm xã hội đó Chúng tôigọi nó là vô thức đô thị- ở đó thành thị và nông thôn, từ hai miền không gian cónhiều đặc điểm trái ngược đã nâng lên thành trung tâm của một hệ thống ý niệm và
cảm thức hoàn toàn đối lập nhau Trong tiểu luận nổi tiếng Nông thôn và thành thị (The country and the city), Raymond Williams ngay từ đầu đã khẳng định “Nông
Trang 11thôn và thành thị là những từ ngữ đầy quyền lực và không có gì đáng ngạc nhiên khichúng ta nhớ ra nó hàm chứa bên trong bao nhiêu kinh nghiệm của cộng đồng”.Ông khẳng định “Trên cơ sở sự định cư thực tế, cái mà lịch sử sẽ làm biến dạng đimột cách đáng ngạc nhiên, những cảm thức quyền lực tập hợp lại và trở nên phổbiến Trong từ nông thôn tập trung ý niệm về phương diện tự nhiên của đời sống: về
sự thanh bình, hồn nhiên, trong trẻo và thuần khiết Trong từ thành phố dồn nén ýtưởng về trung tâm của nhưng thành tựu: về học tập, giao tiếp và ánh sang Nhữngliên tưởng đối nghịch mang tính quyền lực cũng liên tục phát triển: thành phố đượcxem như là không gian của sự ồn ào náo nhiệt, và tham vọng trong khi nông thôn lànơi lạc hậu, không gian của sự giới hạn và là miền đất bị lãng quên.”
Từ những đặc điểm mang tính vật chất, những ý niệm về nông thôn và thànhthị vẫn không ngừng sản sinh và từ bao giờ con người đã quen nhìn nhận chúng như
là những đặc tính tự nhiên Thành thị- nông thôn là sự đối lập ánh sáng và bóng tối.Không gian thị thành luôn tràn ngập ánh sáng, buổi tối nơi phố phường thậm chícòn lung linh hơn bởi những biển hiệu và hệ thống đèn chiếu sáng Trong khi đó, ởnông thôn, khi ánh hoàng hôn vừa tắt cũng là lúc những xóm làng lập tức chìm vàobóng tối sâu thẳm Thành phố là hiện thân của ánh sáng văn minh, của tri thức, củanhững thành tựu mới mẻ và hiện đại Ở thành phố, cuộc sống thay đổi từng ngày,thậm chí từng giờ, những thành tựu liên tục được cập nhật, tiện nghi liên tục đượcthay thế với những đặc điểm và tính năng vượt trội hơn Trong khi đó, nông thônmang một diện mạo cố định, gần như không đổi thay Những nếp nhà thấp, lũy trelàng, con đường làng, cánh đồng quê thẳng cánh cò bay… đem đến cảm giác quenthuộc, bình yên như cả nghìn năm rồi vẫn thế Những câu ca dao xưa vẫn còn đúngvới cảm nhận về làng quê bây giờ dù diện mạo làng quê, nếp sống nếp sinh hoạtcũng ít nhiều đổi khác Làng quê và thành phố tạo thành những cặp ý niệm cũ kĩ vàmới mẻ, truyền thống và hiện đại, lạc hậu và văn minh, bền vững và biến đổi, đơngiản và phức tạp… Nông thôn, với vẻ cũ kĩ của mình thường đem đến cho conngười cảm giác binh yên, thanh thản được trở về với những giá trị bền vững Nhân
vật Thanh trong truyện Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam từng cảm thấy hồn
Trang 12mình trong trẻo, bình yên vô cùng khi trở về chốn làng quê, dưới bóng cây xanh mát
và hương thơm dịu dàng của cây hoàng lan từ ngày thơ bé, cảm nhận tình yêuthương, sự chăm sóc dịu dàng của người bà như chưa từng trải qua những xa cáchtháng năm Trong văn chương, xuất hiện rất nhiều môtip chán chường, rời bỏ đô thị
để tìm về cuộc sống bình yên nơi làng quê, thôn dã Ngược lại, cuộc sống đô thị vớiđặc điểm nổi bật là liên tục biến đổi thậm chí đổi thay một cách chóng vánh lại đemđến cho người ta cảm giác bất an thường trực Thành phố tuy nhiều nguy cơ nhưnglại là nơi hấp dẫn và mới mẻ, là không gian rộng mở cho sự thể hiện, thử thách tàinăng cũng như những đam mê, ước vọng của con người Nông thôn tuy bình yênnhưng mặt khác lại gợi ra cảm giác về sự tù đọng, trì trệ, giam hãm, giới hạn nhữngkhát vọng của con người Bởi thế, trong đời sống cũng như trong văn chương hànhđộng rời nông thôn lên thành thị luôn là hành động rời bỏ ao tù để vươn ra biển lớn,vượt ra ngoài bóng tối để tìm kiếm ánh sáng, thoát ra khỏi sự giới hạn để tìm đến tự
do, theo đuổi khát vọng Thành phố luôn hiện ra như một chân trời mơ ước, mộtmiền đất hứa, đích đến mời gọi khát khao dấn thân đô thị Nhân vật Rastinhac trong
bộ tiểu thuyết Tấn trò đời đã rời bỏ quê hương đến Paris, đầu tiên ngưỡng vọng về
nó như một quầng sáng xa hoa sau đó từng bước từng bước tìm cách nhập vào trongquầng sáng đó, trở thành một phần trong giới thượng lưu ở thành phố này Đầu thế
kỉ XX, rất nhiều nhà thơ Mới đã rời làng quê lên đô thị, “Bỏ vườn cam, bỏ máigianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (thơ Nguyễn Bính) ôm giấc mơ xây đắp
“mộng huy hoàng” Rời nông thôn lên đô thị là phản ứng tâm lý tất yếu của conngười từ bóng tối hướng về ánh sáng, từ nơi lạc hậu hướng về chốn văn minh.Nhưng trong đó còn có cả một giấc mơ đô thị, giấc mơ đổi đời của những thôn dânthậm chí là cả một cơn cuồng say đô thị- ngưỡng vọng sự xa hoa và một thứ khaokhát đến vĩ cuồng được thuộc về nơi đó Với miền không gian có tính chất hai mặtnhư thế, tất yếu sẽ có những người đô thị tự hào một cách kín đáo, cũng có thể kiêuhãnh một cách phô phang về cái mác “thị dân” của mình, cũng có những người chánngán sự phức tạp, ngổn ngang, bất trắc, những giá trị nhân tạo và đời sống cuồngquay nơi thị thành Nếu như hành động rời nông thôn lên thành thị không đơn thuần
Trang 13là hành động dịch chuyển qua những miền không gian thì hành động rời thành thịtìm về nông thôn cũng chứa đựng trong nó nhiều ý niệm tinh thần Đó là nỗi chánchường đô thị, quan niệm thành phố là nơi ở tạm, là chốn vong thân, nông thôn mới
là nơi trở về Cảm giác bất an mà thành phố thời hiện đại mang lại còn gắn vớinhững bí mật, những âm mưu, thủ đoạn, những màn kịch che đậy những tham vọngtăm tối… Trong tâm thức xã hội nảy sinh thêm ý niệm về sự tha hóa đô thị và tấtnhiên cả ý niệm về nông thôn tha hóa, nhất là khi đối diện với sự xâm lăng của đôthị Như vậy, thành phố không chỉ là sự tập hợp, phân hóa cảnh quan không giangắn với chức năng của chúng trong đời sống của cư dân đô thị, thành phố còn là sựtập hợp những cảm giác của con người về không gian, những quan niệm và cảnhững mơ ước mà con người gán cho những không gian đó
Trong tiểu luận Những thành phố vô hình (The Invisible City) nhà văn Italo
Calvino đã đánh thức diện mạo thực sự của một thành phố bằng cách đặt nó trongnhững mối quan hệ giữa thành phố và kí ức, thành phố và những khát vọng, thànhphố và con mắt mà ta nhìn nhận nó… Thành phố là một hiện tượng mang tính lịch
sử Thành phố nào cũng có quá khứ của riêng nó và quá khứ ấy chưa bao giờ là cái
đã xảy ra, đã kết thúc trọn vẹn tại một thời điểm và vĩnh viễn không còn bất cứ mốiquan hệ nào với hiện tại Thành phố nào cũng mang trong hiện tại của mình nhữngdấu vết và âm vang của quá khứ Italo Calvino đã viết về nỗ lực miêu tả một thànhphố như sau: “Thật vô vọng, hỡi ngài Kublai đại lượng, làm sao tôi có thể cố gắngmiêu tả Zaira, thành phố của những thành lũy cao ngất Tôi có thể nói cho ngài biếtbao nhiêu bước để tạo nên những con phố như những bậc cầu thang và độ cong củanhững mái vòm hay loại kẽm nào được sử dụng để bao phủ các mái nhà, nhưng tôingay lập tức nhận ra điều đó đồng nghĩa với việc chẳng nói với ngài bất cứ điều gì
cả Thành phố không bao gồm những cái đó mà mang trong mình mối quan hệ giữanhững ước định không gian và những sự kiện xảy ra trong quá khứ… Khi làn sóng
kí ức tràn vào, thành phố ngâm mình trong đó và phình to ra như một miếng bọtbiển Bất kì sự miêu tả nào về Zaira như nó hiện hữu hôm nay đều bao gồm tất cảquá khứ của nó Thành phố không nói về quá khứ của nó mà mang quá khứ ấy trong
Trang 14mình như những đường chỉ tay trên một bàn tay, quá khứ được viết trên những gócphố, những chấn song cửa sổ, lan can của từng bậc cầu thang…” Thành phố hiệndiện trước mắt ta hôm nay cho dù không còn dấu tích những công trình của quá khứthì những gì đã diễn ra vẫn sống động trong dòng hồi tưởng, trong những câuchuyện kể về những gì đã qua Bản thân hành động ghi lại lịch sử một thành phốcũng là cất giữ một kỉ niệm, cố định một hình ảnh, thậm chí kiến tạo nên một cảhuyền thoại Phần lịch sử đó là kí ức chung của cả cộng đồng hay là phần kí ức táitạo được cả cộng đồng chấp nhận để rồi từ đó mỗi biến cố, mỗi dấu tích đều gợinhắc một hình dung, một cảm thức giống nhau Trong thành phố đang hiện hữu củahôm nay có bóng dáng của thành phố ngày hôm qua, thành phố từ hàng trăm thậmchí hàng nghìn năm trước và tiềm tàng cả những giấc mơ về thành phố của tương
lai Trong cuốn Hà Nội tiểu sử một đô thị, tác giả đã trích lại ý kiến của Alan Balfour trong cuốn Tính chính trị của trật tự (The politics of orders) bàn về sự phức
tạp của trong diện mạo cũng như trong ý niệm về thành phố: “Sự hiện diện của quákhứ đan xen bền chặt với niềm hứa hẹn của tương lai Không có giấc mơ trong sựbiệt lập, tất cả đều được phản ánh và tác động trong một vòng xoáy hỗn độn của sựtồn tại đã qua Sự tích tụ này, trên mảnh đất và trong tâm trí đã gây nên một sự lẫnlộn không thể nào hòa hợp được trong trật tự các sự vật” Sự tồn tại đồng thời trênnhiều khung tham chiếu không gian- thời gian khiến cho thành phố giống một bứctranh chồng hình, và bất kì hình ảnh nào của thành phố cũng chập chờn giữa baonhiêu phiên bản
Tuy nhiên thành phố không chỉ gắn với kinh nghiệm của cộng đồng mà còn
có mối quan hệ rất đặc biệt với những kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là trải nghiệmcủa cá nhân với đời sống đô thị Hơn bất kì miền không gian nào, thành thị là nơigiải phóng mạnh mẽ những khát vọng cá nhân của con người, nhịp sống đổi thaynhanh chóng càng khiến thành phố không bao giờ là một ý niệm thuần nhất, trùngkhít trong trải nghiệm của mỗi người Với mỗi người nó gắn bó một khác Luôn có
sự vênh lệch khi đặt thành phố trong kí ức cộng đồng bên cạnh thành phố trong hồitưởng của mỗi cá nhân và kí ức của mỗi cá nhân cũng lưu lại những ấn tượng rất
Trang 15khác biệt về cùng một thành phố Trên nền thành phố như chúng ta thấy, như chúng
ta biết có thành phố tuổi thơ của mỗi người, có thành phố trong dòng hồi tưởng đứtnối của một trí nhớ đã nhiều sai lệch, có thành phố ngập tràn tình yêu, có thành phốvụn vỡ những mất mát, có thành phố ta hằng sống và vẫn hằng mơ, có thành phố xaxôi nơi thiết tha một ngày được đặt chân đến, hay mong mỏi được thuộc về… Tất
cả những hình ảnh ấy phối trộn lẫn nhau trong một khả năng biến ảo vô tận để đôikhi thành phố của ước mơ, của khát khao chưa chạm tay đến được trong phút giây
đã hóa thành kỉ niệm Italo Calvino đã viết thành phố và khát vọng trong hình thứcmột câu chuyện đời người: “Anh ta nghĩ về tất cả những điều này khi khao khát mơtưởng về thành phố Insidora, vì thế, là thành phố trong giấc mơ của anh ta với mộtđiểm khác biệt Thành phố mơ về ấy bao gồm cả anh ta như một chàng trai trẻ, cònthực tế anh ta đến Insidora khi đã già Ở quảng trường có một bức tường nơi mộtngười đàn ông già ngồi nhìn những người trẻ đi qua, ông đã được xếp vào cùng mộthàng với họ Khát vọng ngay lập tức trở thành kỉ niệm”
1.1.1.3 Thành phố- một phức hợp vật chất và tinh thần
Câu trả lời thực sự cho câu hỏi “Thành phố là gì? Như thế nào là thành phố?”
sẽ phải làm nổi bật được diện mạo thành phố vừa là một thực thể vật chất vừa làmột ý niệm tinh thần, vừa là cái thực vừa là cái phi thực Viết về một thành phố phảilàm thế nào miêu tả một thành phố hữu hình đồng thời gọi dậy diện mạo của vô sốnhững “thành phố vô hình”? Làm sao để thấy nó như là một hình ảnh mang đậmdấu ấn thời gian hiện tại lại đồng thời là một hình ảnh, một ý niệm xuyên thời giannối dài từ quá khứ đến hiện tại và cả những ước vọng tương lai? Hơn thế, thành phốcòn là một ý niệm phi thời gian Paris- kinh đô ánh sáng là một ý niệm không tuổi.Hình ảnh Rome như là thành phố tình yêu cũng là một hình ảnh hoàn toàn không códấu ấn thời gian và đã trở thành một phản xạ tự nhiên trong ý thức mỗi khi ta nghĩ
về thành phố này Dù ở điểm thời gian nào thì ở Rome “nơi người ta yêu nhau trênnhững bậc thềm” (trích dẫn trong phim “To Rome with love”) cũng chỉ có một câuchuyện duy nhất- câu chuyện tình yêu Hà Nội ngày nay cho dù đã phôi pha, nhạtnhòa đi biết bao nhiêu nét văn minh, thanh lịch trên thực tế thì trong suy nghĩ của
Trang 16chúng ta nó vẫn hiện diện kiêu hãnh “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu khôngthanh lịch cũng người Tràng An” Một thành phố luôn luôn được tạo nên bởi phầndiện mạo vật chất và diện mạo tinh thần Tuy nhiên, phần diện mạo vật chất khôngđơn giản chỉ là phần nổi, là lớp vỏ bên ngoài ẩn chứa bên trong diện mạo tinh thần
và diện mạo tinh thần cũng không chỉ là phần chìm giấu mình ở bên trong Chúngkhông phải là hai phần tách rời, được đặt cạnh nhau, kết nối một cách lỏng lẻo Mốiquan hệ giữa hai phần trong diện mạo một thành phố là sự gắn bó chặt chẽ mangtính triết học Ở đó diện mạo vật chất không thuần túy là hình thức mà là hình thứcmang tính tinh thần và cái tinh thần cũng không thuần túy là phần linh hồn vô hình,trừu tượng, khó nắm bắt mà nó đã tìm được cách hiện diện trong không gian vậtchất cụ thể của thành phố Cái tinh thần còn bao trùm lên toàn bộ không gian, mộtcách vô thức chi phối đến sự cải tạo cảnh quan đô thị của chúng ta Không giansống của chúng ta chính là sự chuyển hóa, sự hữu hình hóa những ý niệm tinh thần
và bất cứ sự thay đổi nào trên diện mạo vật chất của thành phố cũng ngay lập tứcsản sinh ra những cảm thức mới mẻ Thành phố là một hiện tượng phức tạp tự thân,
vì thế sự xuất hiện của thành phố trong sang tác văn chương sẽ không đơn giản chỉ
là phản ánh một không gian thực trên trang sách
1.1.2 Diễn ngôn- những vấn đề chung
Thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến nhiều biến động trên hầu hết các lĩnh vực củađời sống xã hội và đặc biệt là văn hóa, tư tưởng Từ khoảng giữa những năm 1960đến nay, có một hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ý nhiều nhất của các học giả
và cũng có ảnh hưởng quan trọng, toàn diện đến nhiều ngành nghiên cứu khoa học
xã hội thậm chí dẫn đến sự phát triển của những nghiên cứu liên ngành như triết họckhoa học, triết học nghệ thuật, sự kết nối giữa nghệ thuật và khoa học, khoa học vàtôn giáo… Đó chính là hướng nghiên cứu diễn ngôn Trong bài viết mang tính chấttổng thuật về hướng nghiên cứu diễn ngôn “Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinhnghiệm phân loại”, tác giả O F Rusakova đã nhận xét: “Suốt cả thế kỉ XX, cáckhoa học nhân văn vị các hiện tượng ngôn ngữ hút hồn Nói theo Richard Rorty,
“ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thế giới đã
Trang 17được mã hóa trong ngôn ngữ Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khóa để nghiên cứu conngười và thế giới Định đề này được ghi nhớ như là cơ sở phương pháp luận của cáckhoa học xã hội khác nhau và được trao cho danh hiệu “bước mặt ngôn ngữ học”.
Từ cuối những năm 1960, trước tiên, nhờ hệ thống thuật ngữ và tư tưởng của chủnghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học được quảng bá rộng rãi trong giới học thuật,
“bước ngoặt ngôn ngữ” biến thành “bước ngoặt diễn ngôn”’ Diễn ngôn không phải
là một thuật ngữ hoàn toàn mới mẻ, nó đã tồn tại từ trước trong hệ từ vựng củanhiều ngôn ngữ Nó chính là từ “discourse” trong tiếng Anh và “discours” trongtiếng Pháp Cách hiểu phổ biến về ý nghĩa của từ này trong đời sống cũng khá đơngiản Đến khi được hiểu như một thuật ngữ trong nghiên cứu khoa học, nội hàm ýnghĩa của nó mới được mở rộng và trở nên phong phú hơn Bản thân thuật ngữ diễnngôn đến giờ vẫn chưa thực sự cố định và thống nhất về mặt ý nghĩa, mỗi nhànghiên cứu, mỗi hướng nghiên cứu lại chọn khai thác một phương diện của nó, Chođến nay, diễn ngôn vẫn được xem là thuật ngữ năng động và có tính gợi mở caonhất cho nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu diễnngôn tuy không hoàn toàn mới mẻ nhưng cũng chỉ mới đạt được những thành tựubước đầu Chỉ riêng sự đồng thuận trong cách dịch thuật ngữ và thống nhất tươngđối về cách hiểu và diễn giải thuật ngữ giữa các nhà nghiên cứu cũng phải trải quamột quãng thời gian khá dài mới có được Sau đó, quá trình vận dụng lí thuyết vàonghiên cứu diễn ngôn thơ ca, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn kí, diễn ngôn phêbình… cũng không phải là một khoảng thời gian ngắn Giờ đây “diễn ngôn” xuấthiện thường xuyên trên các bài báo, các công trình nghiên cứu như một thuật ngữthời thượng, hay đôi khi bị lạm dụng như một thứ trang sức làm nên vẻ hiện đại vàtân kì cho trang viết Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần phải thừa nhận rằng hướngnghiên cứu diễn ngôn đang mở ra rất nhiều hướng đi tiềm năng cho nghiên cứu vănhọc nói riêng và nghiên cứu văn hóa, xã hội ở Việt Nam nói chung
1.1.2.1 Bước ngoặt diễn ngôn.
Lí thuyết diễn ngôn thực sự đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng không chỉtrong lĩnh vực nghiên cứu mà còn làm thay đổi căn bản cái nhìn của chúng ta về thế
Trang 18giới xung quanh Nhiều nhà nghiên cứu còn đánh giá bước ngoặt diễn ngôn như một
sự thay đổi hệ hình tri thức và tư duy của con người Trước hết, việc thừa nhận thuậtngữ diễn ngôn đã thay đổi quan niệm của chúng ta về bản thể Sự thay đổi khôngchỉ diễn ra trong nhận thức của con người về bản thế thế giới mà còn diễn ra trongchính nhận thức của chúng ta về bản thân mình Quan niệm về nhận thức của chúng
ta từ trước đến nay thường gắn với lí thuyết phản ánh Theo đó, thế giới bên ngoàitồn tại khách quan, hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan củacon người, Tồn tại xã hội là cái có trước, ý thức ra đời sau, nhằm nhận thức nhữngyếu tố có trong thực tại Lí thuyết phản ánh nhìn nhận tồn tại xã hội và ý thức xã hộitrong mối quan hệ nhân quả: tồn tại xã hội là nguyên nhân, là nơi khởi sinh nhu cầunhận thức, là cơ sở cho quá trình nhận thức còn ý thức xã hội chính là kết quả củaquá trình nhận thức đó Trong mối quan hệ này, thực tế không chỉ có vai trò địnhhình nhận thức của chúng ta mà còn là nơi kiểm chứng tính đúng đắn của nhữngnhận thức đó Những tri thức được hình thành trong quá trình con người khám phá,tìm hiểu thế giới đều phải đảm bảo phản ánh đúng đắn chân thực những sự vật, hiệntượng đang diễn ra Những quy luật được đúc kết sẽ mãi mãi ở dạng giả thuyết màkhông được thừa nhận nếu như không chứng minh được sự phù hợp với các chutrình hoạt động của thế giới trong thực tế Chỉ khi ấy, những tri thức và quy luật mớiđược công nhận là chân lí Trong lí thuyết phản ánh, sự phù hợp, tương ứng giữa ýthức xã hội với cái có trước nó là tồn tại xã hội chính là tiêu chuẩn của chân lí Haiphạm trù triết học quan trọng nhất mà phản ánh luận đề cao, đó chính là thừa nhận
sự chân thực và đặt niềm tin tuyệt đối ở chân lí Chân lí là ý thức duy nhất phản ánhchân thực và đúng đắn bản chất của thế giới xung quanh Như vậy, tất cả các hìnhthái ý thức xã hội như khoa học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo… đều là sự phản ánhthực tại bằng phương tiện đặc trưng Từ thời cổ đại, trong cuốn Nghệ thuật thi ca,Aristotes đã xác định bản chất của văn chương nằm ở sự mô phỏng thực tại Trongnhững tiêu chí đưa ra để xác định đặc trưng của thể loại bi kịch, ông có nhấn mạnhtính chất mô phỏng, bắt chước hành động thực tế của con người, Phạm trù Mimesistrong văn học từ lâu đã bị hiểu một cách máy móc là sự bắt chước đến xác thực
Trang 19Phát hiện và đề cao thuật ngữ diễn ngôn, các nhà nghiên cứu không phủ nhậnthực tại khách quan Thế giới xung quanh chúng ta là tồn tại có thực và độc lập với
ý muốn chủ quan của con người, dù ta muốn hay không muốn thì thế giới bên ngoài
ta cũng đã sinh thành và vận hành như thế Tuy nhiên, ý thức của con người về thếgiới không bao giờ là trọn vẹn khách quan và chân thực tuyệt đối Nhận thức củachúng ta luôn gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ Chúng ta nhận thức bằng ngôn ngữ vàthông qua ngôn ngữ Tất cả những tri thức, quy luật mà con người đúc kết được vềthế giới từ trước đến nay đều cho ta thấy diện mạo đầy ảo tưởng về một thế giới như
nó vốn có Tất thảy chỉ là thế giới trong nỗ lực thể hiện bằng ngôn ngữ, thế giới như
ta nói về nó, như ta viết về nó Thế giới khách quan vẫn tồn tại bên ngoài con người,vẫn là đối tượng của nhận thức, tuy nhiên, nó chỉ được biết đến thông qua diễnngôn Và bởi ý thức của con người về thế giới không phải là bức ảnh chụp, nhậnthức của chúng ta chưa bao giờ là nhận thức theo lối gương soi, bản chất của quátrình nhận thức là sự tái tạo, phản ánh thông qua ngôn ngữ là thứ phản ánh nhiều sailệch nên những phạm trù mà chúng ta đặt vào đó nhiều niềm tin nhất ngay lập tức bịhoài nghi: hiện thực, lịch sử, chân lý Không có hiện thực tuyệt đối mà chỉ có hiệnthực của diễn ngôn Không có chân lý tuyệt đối, chân lý là những gì được xem làchân lý, dược tin là chân lý Và lịch sử không chỉnh xác là những gì đã xảy ra, nóchỉ là một trong vô số diễn ngôn về quá khứ, một khả năng được cộng đồng đặt vào
đó nhiều niềm tin nhất
Cũng giống như nhận thức về thế giới, nhận thức về bản thân của chúng takhông bao giờ nằm ngoài ngôn ngữ Các nhà triết học ngôn ngữ đã chỉ cho chúng tathấy rằng “ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại”, chúng ta gọi tên mình, định nghĩamình, tất cả đều bằng ngôn ngữ, chúng ta tồn tại trong một thế giới được tạo nên bởingôn ngữ Khi thừa nhận tính diễn ngôn, con người đồng thời nhận ra thế giới xungquanh bao bọc sự tồn tại của mình là không tuyệt đối và những ý niệm về bản thể,cái tôi cũng không tuyệt đối Bản thế cũng chỉ là một kiến tạo của ngôn ngữ màchúng ta tin rằng có và cái tôi cũng chỉ là diễn ngôn chứ không phải sự thật
Trang 20Hướng nghiên cứu diễn ngôn đồng thời tạo ra bước ngoặt quan trọng trongnhận thức của con người về ngôn ngữ Ngôn ngữ không còn đơn thuần được xem làphương tiện chuyên chở ý nghĩa, một công cụ biểu đạt thông tin một cách chínhxác, chân thực trong hoạt động giao tiếp Ngược lại, ngôn ngữ là một thứ “công cụ”đầy quyền năng, một thiết chế quyền lực có khả năng can thiệp rất sâu, chi phối,thậm chí giới hạn các hành vi biểu đạt của con người Từ khoảng giữa thế kỉ XIXtrở về trước, con người đặt niềm tin trọn vẹn ở ngôn ngữ như là phương tiện có khảnăng biểu đạt một cách chân thực và chính xác những suy nghĩ, tình cảm của conngười Không mảy may có bất kì sự nghi ngờ nào đối với sự trong suốt của ngônngữ Khi viết bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời với tham vọng miêu tả chính xác diệnmạo Paris với những cảnh đời nông thôn, những cảnh đời đô thị và khi đưa ra nhậnxét rằng tác phẩm này đã đem đến thông tin đầy đủ, chính xác và thậm chí phongphú hơn cả những tài liệu chính trị, kinh tế, xã hội học cộng lại, cả Balzac và Engelsđều tin vào sức mạnh truyền tải thông tin của ngôn ngữ Nhưng từ nửa cuối thế kỉXIX trở đi, con người bắt đầu hoài nghi và nhận ra tính chính xác và vẻ trong suốtcủa ngôn ngữ chỉ là một ảo tưởng Ngôn ngữ là một loại kí hiệu, nó gồm hai mặt:cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt là hình thức chữ viết cũng như lớp vỏngữ âm, còn cái được biểu đạt chính là ý nghĩa quy chiếu đến một sự vật, hiệntượng trong đời sống Khi khai thác mối quan hệ giữa chúng, các nhà nghiên cứu đãchỉ ra sự tương ứng giữa hình thức biểu đạt với nội dung được biểu đạt của kí hiệungôn ngữ không phải là tự nhiên và tất yếu Đó là mối quan hệ có tính chất võ đoán
và tính chất quy ước trong phạm vi một cộng đồng Hơn thế trong nội dung biểuđạt, một kí hiệu ngôn ngữ không đơn thuần chỉ mang thông tin biểu vật, quy chiếuđến những sự kiện tương ứng ngoài ngôn ngữ mà còn chứa đựng thông tin về tìnhcảm, thái độ của người nói, người viết Vì thế sẽ không thể có được sự trùng khít,
có nghĩa là không có sự chính xác tuyệt đối khi xuất phát từ ngôn ngữ mà quy chiếu
về thực tại Kể từ “bước ngoặt ngôn ngữ”, người ta đã “phân biệt nghiên cứu sựthực và nghiên cứu ngôn ngữ để biểu đạt chúng, từ nghiên cứu các sự thật chuyểnvào nghiên cứu cấu trúc, ý nghĩa của ngôn ngữ, qua đó tư duy lại về cách hiểu của
Trang 21con người với tư cách chủ thể và nhận thức lại cách thức nhận thức chân lí, khắcphục các ý thức siêu hình” Bước ngoặt ngôn ngữ nếu như mới chỉ nhấn mạnh vào
sự khác biệt và chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cấu trúc biểu đạt của ngôn ngữ thìbước ngoặt diễn ngôn nhấn mạnh đến tính chất kiến tạo sự thật của ngôn ngữ Nóicách khác, hướng nghiên cứu diễn ngôn không nhìn nhận ngôn ngữ như những cấutrúc nội tại nữa mà nhìn nhận nó như là một thiết chế quyền lực Ngôn ngữ là dạngthức tồn tại của quyền lực xã hội: tính chất phân hóa thứ bậc, hệ tư tưởng văn hóatrung tâm, thống trị trong đời sống, ảnh hưởng trực tiếp, chi phối, giới hạn hành vi
của con người trong cộng đồng Trong tiểu luận Độ không của lối viết, Roland
Barthes có viết: “Ta biết rằng ngôn ngữ là một tập hợp những chỉ định và những tậptục, chung cho tất cả các nhà văn trong một thời đại Ðiều đó có nghĩa là ngôn ngữgiống như một bản chất trôi tuột hết qua lời nói của nhà văn, mà không đem lại cholời nói ấy một hình thức nào hết, thậm chí cũng không nuôi dưỡng lời nói ấy: nónhư một địa hạt trừu tượng của các chân lý, mà chỉ bên ngoài đó mới bắt đầu lắnglại tỷ trọng của một lời nói đơn độc Nó bao bọc toàn bộ sự sáng tạo văn học gầnnhư kiểu bầu trời, mặt đất và sự nối kết giữa hai cái ấy phác ra cho con người mộtchốn cư trú thân thuộc Nó là một phạm vi hơn là một kho dự trữ chất liệu, tức vừa
là một giới hạn vừa là một nơi chốn, tóm lại một khoảng rộng yên ổn của một kếtcấu Ðúng ra nhà văn chẳng rút ra được gì từ đấy cả: đối với anh ta ngôn ngữ giốngnhư một đường kẻ ngăn mà vi phạm vào đó có thể làm bật ra một siêu tính chất củahành ngôn: nó là sân bãi của một hành động, là xác định và chờ đợi một khả năng
Nó không là nơi diễn ra sự dấn thân xã nội, mà chỉ là một phản xạ không lựa chọn,
là tài sản chung của mọi người chứ không phải của các nhà văn, nó nằm ngoài nghithức của văn chương, nó là một sự vật có tính chất xã hội do định nghĩa chứ khôngphải do lựa chọn; không có gia công trước, không ai có thể lồng sự tự do của nhàvăn của mình vào trong khoảng mờ đục của ngôn ngữ, bởi vì toàn bộ Lịch sử đãchiếm hết cái khoảng đó, trọn vẹn và trơn phẳng, theo kiểu một Bản chất.”
Sự thay đổi trong quan niệm về nhận thức và ngôn ngữ tất yếu dẫn đến sựthay đổi trong quan niệm của con người về văn chương Ảnh hưởng từ lí thuyết
Trang 22phản ánh, suốt một thời gian dài văn chương được quan niệm như là một hình thái ýthức xã hội Mặc dù được nhìn nhận như một dạng thức phản ánh với nhiều nét đặcthù của tư duy nghệ thuật cũng như những đặc điểm về chất liệu, khác với chính trị,tôn giáo, khoa học… nhưng về cơ bản, chúng ta vẫn hay quy chiếu văn chương vềthực tại, vẫn lấy khả năng khám phá, phản ánh hiện thực ra làm một trong nhữngtiêu chí quan trọng đánh giá tác phẩm văn chương Bước ngoặt diễn ngôn khiếnchúng ta phải từ bỏ thói quen đánh giá văn chương từ góc độ phản ánh và xác địnhlại bản chất của nó Diễn ngôn ngay lập tức làm lung lay những định nghĩa củachúng ta về văn học, làm xô lệch những tiêu chí phân biệt giữa văn học và cái phivăn học, khiến cho sự phân định cũng không còn xác tín một cách tuyệt đối Diễnngôn khiến cho ranh giới giữa văn học và phi văn học trở thành ranh giới mềm vàkhông cố định Đó là thứ ranh giới dễ bị vi phạm, thậm chí các nhà văn còn cố ýthách thức nó để tạo ra những đột phá về giá trị Văn học xét cho cùng là tập hợpnhững gì chúng ta coi là văn học Văn học là một trong rất nhiều cách mà con ngườinhận thức về đời sống nhưng nhận thức đó không đơn thuần chỉ là phản ánh Bản
chất của văn học là diễn ngôn về đời sống Trong bài viết Bước ngoặt diễn ngôn và
sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã khẳng
định: “Là một diễn ngôn, văn học mang tính chất chung của diễn ngôn nói chungnhưng có nét đặc thù Cái chung đó là diễn ngôn văn học mang tính ý thức hệ, làphương thức tồn tại của con người, kiến tạo nên bản thân hiện thực, có quy tắc, cơchế và chức năng riêng, nghiên cứu diễn ngôn văn học là nghiên cứu con người, xãhội, văn hóa […] Tính đặc thù của diễn ngôn văn học là một vấn đề phức tạp Đã cónhiều công trình lí luận văn học khẳng định đặc trưng của diễn ngôn văn học như
“tính văn học”, “tính hư cấu”, “các biện pháp tu từ”, “hình tượng” nhưng theo cácông J Culler, Tz Todorov, T Eagleton, A Campagnon thì đặc trưng ấy rất mongmanh” Như vậy quan niệm về văn học cũng như bản chất của văn học đã thay đổi,trở nên cởi mở và linh hoạt hơn
1.1.2.2 Khái niệm diễn ngôn
Trang 23Diễn ngôn là một thuật ngữ với nội hàm phức tạp, ngoại diên trải ra trên mộtphạm vi cực kì rộng lớn và quá trình vận động ý nghĩa vẫn chưa dừng lại Vì thếtrong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi không thể bao quát toàn bộ cácphương diện của thuật ngữ cũng như khả năng ứng dụng phong phú của nó trongnghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Chúng tôi sẽ lược thuật lại các hướng tiếpcận thuật ngữ diễn ngôn và đi sâu vào những phương diện có liên quan trực tiếp đếnquá trình tạo lập và diễn giải, sự khởi sinh và được chấp nhận của diễn ngôn vềthành phố trong văn học nói chung và diễn ngôn về thành phố Hà Nội trong văn họcmiền Bắc Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến 1975.
Trước hết, trong các từ điển ngôn ngữ phổ thông, diễn ngôn thường đượchiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, diễn ngôn là sự giao tiếp bằng tiếng nói (cuộc tròchuyện, lời nói, bài phát biểu…) Thứ hai, diễn ngôn là sự nghiên cứu tường minh,
có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, luận văn, các sản phẩm của suy luận…)
Cả hai định nghĩa thông dụng này đều xem diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp ngônngữ Trong hai trường hợp này diễn ngôn là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ, được đồng nhất với văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết).Cũng chính từ cách hiểu phổ biến này mà hướng phân tích diễn ngôn thường bịnhầm lẫn về mặt bản chất với phân tích văn bản Văn bản là khái niệm được khaithác sâu sắc bởi hướng tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc, trong tương quan phân biệtvới tác phẩm Văn bản là hình thức tồn tại của tác phẩm, nhấn mạnh khái niệm vănbản là nhấn mạnh đến cấu trúc nội tại của tác phẩm, hệ thống tổ chức ngôn ngữ, tổchức hình tượng nhằm chuyển tải được ý nghĩa Văn bản chỉ là dạng thức tồn tại cụthể của diễn ngôn mà thôi Và một diễn ngôn không chỉ tồn tại trên một văn bản,diễn ngôn là hiện tượng xuyên văn bản, liên văn bản, thậm chí siêu văn bản Đểnhận diện một diễn ngôn, cần có cái nhìn xuyên qua, kết nối các văn bản có cùngmột nội dung biểu đạt, cùng hướng tiếp cận đối tượng, sử dụng cùng một hệ biểutượng… Sự kết nối này cũng không phải là một phép cộng giản đơn cho ra kết quả
là diễn ngôn bằng các văn bản cộng lại Đó phải là sự nhìn nhận văn bản trong tínhliên kết và liên tục tương tác với nhau và tương tác với các yếu tố ngoài văn bản có
Trang 24liên quan đến quá trình tạo lập văn bản Trong bài biết Quan niệm diễn ngôn như là yếu tố siêu ngôn ngữ của nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Juri Rudnev đã trích
lại ý được diễn giải trong từ điển của Arutiunova: “diễn ngôn là văn bản có tính liênkết trong tổng hòa với các nhân tố ngoài ngôn ngữ, xã hội học, tâm lí học… và cácnhân tố khác, còn văn bản được xem xét về phương diện sự kiện.” Diễn ngôn không
là một kiểu cấu trúc văn bản, một công thức biểu đạt cụ thể mà là một cơ chế vănhóa tinh thần trừu tượng thống nhất các văn bản và chi phối đến quá trình tạo lập và
sự tồn tại của văn bản Diễn ngôn là sự tổng hòa các mối quan hệ của bối cảnh lịch
sử, môi trường xã hội, tâm lí chủ thể, những giới hạn ngôn ngữ, định kiến văn hóa,
… đến văn bản và quan hệ giữa các văn bản trong sự tương tác, ảnh hưởng, chiphối, giới hạn lẫn nhau Như vậy diễn ngôn không phải là văn bản nhưng luôn luôn
có mặt trong văn bản, nó là một siêu văn bàn
Và nếu như trước đây chúng ta nhìn nhận diễn ngôn trong mối quan hệ trựctiếp với ngôn ngữ, xem nó là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữthì giờ đây, khái niệm diễn ngôn đã được mở rộng tối đa Không chỉ có những sảnphẩm kiến tạo ngôn ngữ mới là diễn ngôn mà tất cả đều là diễn ngôn Hội họa cũng
là diễn ngôn, điện ảnh cũng là diễn ngôn, các công trình kiến trúc cũng cũng là diễnngôn Mọi hoạt động mang bản chất kiến tạo dù ở trên chất liệu gì cũng sẽ cho sảnphẩm là diễn ngôn Cho dù chất liệu là những con chữ, âm thanh, giai điệu, màusắc, đường nét hay mảng khối… thì không khi nào là một sang tạo không lựa chọn,một sự sắp đặt ngẫu nhiên hay là một kết hợp vô nghĩa Bao giờ nó cũng thể hiệnmột ý tưởng nào đó, nếu không phải là đem đến một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ thìcũng là trao cho những chất liệu quen thuộc những khả năng biểu đạt mới như lờicủa một nhà văn: “Trên đời này không có cái gì sinh ra là tự nó và cho nó mà baogiờ cũng là vì một cái gì khác và cho một cái gì khác” Sự kiến tạo chính là đặcđiểm quan trọng nhất làm nên tính diễn ngôn Nó đối lập mạnh mẽ với tính tự nhiên
mà tâm lí nhận thức của chúng ta thường có xu hướng gán cho mọi vật dưới tên gọibản chất, bản sắc… Trong mọi phương diện của đời sống con người, bất cứ sảnphẩm nào chúng ta tạo ra cũng là một kiến tạo Từ thuở bình minh của lịch sử chúng
Trang 25ta đã liên tục tạo nên những diễn ngôn về mình và về thế giới xung quanh Ngay cảgiới tự nhiên là thứ vốn ra đời trước, tồn tại trước cả sự xuất hiện của loài người, cáithuộc về sự bí ẩn diệu kì của vũ trụ thì cũng là diễn ngôn Con người không tạo ra
tự nhiên nhưng tự nhiên là kết quả của sự diễn giải Tạo hóa sinh ra thế giới này đầutiên và con người lại khai sinh ra nó thêm một, thậm chí là thêm nhiều lần nữa bằngnhững hành động cải tạo và diễn giải của mình Louise J Phillips và Marianna VJorgensen định nghĩa “Diễn ngôn lả hành vi xã hội phục vụ cho việc biểu trưng thếgiới xã hội (bao gồm tri thức, con người và các mối quan hệ xã hội)” Mở rộng rangoài giới hạn của ngôn ngữ, nhìn nhận diễn ngôn như một phạm trù xã hội phổquát, đồng nhất nó với thực tiễn kiến tạo xã hội thì xung quanh ta mọi thứ đều là
diễn ngôn, hành động nào cũng mang tính diễn ngôn Trong bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng đã
điểm qua hai khái niệm diễn ngôn thường gặp và thấy được phần khuyết thiếu trongnhững định nghĩa quen thuộc này: “Cả hai nghĩa đó đều để chỉ thực tiễn giao tiếpbằng ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến cái nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ vàquyền lực, cũng chưa đề cập đến giao tiếp phi ngôn từ như cử chỉ thân thể, sự môphỏng động tác, sự thay đổi tư thế của thân thể, trang phục, nghi thức… Đồng thời
cả một lĩnh vực rộng lớn là nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc,thi ca đều nằm ngoài định nghĩa đó” Như vậy từ định nghĩa ban đầu còn đơn giản
và bị giới hạn trong hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ, giờ đây “Tất cả đều là diễnngôn’ (Jacques Derrida)
1.1.2.3 Đặc điểm, tính chất của diễn ngôn
Từ cách hiểu rất rộng về khái niệm diễn ngôn như thế, việc mô tả đặc điểmcủa diễn ngôn hay làm rõ tính diễn ngôn cũng rất khó có thể toàn diện và trọn vẹnđược Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin đưa ra những điểm cơ bản làm
rõ đặc điểm, tính chất của diễn ngôn
Trước hết, như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, diễn ngôn mang bản chất kiến tạo
Nó chống lại ảo tưởng về tính tự nhiên mà con người thường gán cho những sự vậtxung quanh và cho cả chính bản thân mình Khi định danh bản chất của một sự vật,
Trang 26một sự việc và cố định nó bằng một vài từ ngữ ta đã đồng thời quy giản sự vật, hiệntượng vào một vài đặc điểm, tính chất và giới hạn nhận thức của mình trong niềmtin giản đơn đó Ảo tưởng về tính tự nhiên, về những đặc tính vốn có là một trong
số những thành trì nhận thức kiên cố nhất, khó phá dỡ và thay đổi nhất bất kể đặcđiểm ấy được gán cho sự vật hay cho con người Ở con người, chúng ta duy trì mộtniềm tin xã hội về “giang sơn dễ dổi bản tính khó dời” còn ở sự vật, chúng ta phóngđại và xác tín vào những thuộc tính trở thành bản chất bất biến và phổ quát Hệ quảtất yếu là những đánh giá của con người rất khó chệch ra khỏi định kiến về bản chất.Chỉ khi nào có đủ sự tỉnh táo để nhìn nhận vấn đề trong tính khả biến và chỉ khi có
đủ sự cởi mở để chấp nhận những đổi thay khiến cho sự vật, hiện tượng khác đihoặc trái ngược lại hoàn toàn với niềm tin vào bản chất, người ta mới nhận thấy rõ
sự vênh lệch phơi bày rõ tính chất diễn ngôn
Thứ hai, diễn ngôn là một kiến tạo mang dấu ấn ý thức hệ Như chúng tôi đãnhắc tới trong cách phần trên, sự thật, chân lí, tính khách quan đều chỉ là một ảotưởng Trên thực tế, mọi sự phản ánh, diễn giải đều chỉ nỗ lực để tiệm cận đến cáikhách quan chứ không khi nào có được cái khách quan thuần túy Trong cuốn Từxác định đến bất định- Những câu chuyện về khoa học và tư tưởng của thế kỉ XX,theo chứng minh của các nhà khoa học, tác giả đã chỉ ra ngày cả hành động nhìn vàhành động nghe cũng là những hành động đầy chủ ý Những hình ảnh, âm thanh vàđọng lại thành ấn tượng được quyết định rất nhiều bởi chủ thể và chủ ý Tại saogiữa một dòng âm thanh hỗn độn, chúng ta lại có thể tách ra được một vài giọngnói? Tại sao giữa một chuỗi hình ảnh bày ra trước mắt, mắt ta lại lưu lại ấn tượng vềhình ảnh này mà không phải là hình ảnh khác? Nghe và nhìn tưởng như thuần túybản năng và đầy tính chất ngẫu nhiên mà không phải vậy Cái nhìn thấy, âm thanhnghe thấy đều phải được nhấn mạnh ở chỗ ai nhìn thấy, nghe thấy và họ diễn giảinhững điểu nhìn thấy và nghe thấy như thế nào.Từ đó, ta có thể khẳng định rằngdiễn ngôn cũng được quyết định rất nhiều bởi chủ thể, phản ánh ý thức hệ của chủthể Một người sáng tác có thể lựa chọn nhiều tư cách chủ thể, mỗi tư cách lại có thểgắn với một ý thức hệ khác nhau nhưng nhất định không bao giờ tồn tại chủ thể
Trang 27không liên quan, chịu sự chi phối của một tư tưởng nào đó và tất yếu không có diễnngôn phi ý thức hệ Bởi diễn ngôn là một hiện tượng siêu văn bản cho nên ý thức hệ
ở đây cũng không phải là ý thức hệ của một chủ thể duy nhất mà là ý thức hệ xã hộithuộc về toàn thể xã hội hay một nhóm xã hội quyền lực nào đó
Thứ ba, diễn ngôn có tính quyền lực Triết gia người Pháp Michel Foucault
là người đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất quyền lực của diễn ngôn và có nhiềuđóng góp cho hướng nghiên cứu này Trong bài viết tổng thuật lại các hướng tiếpcận khái niệm diễn ngôn, tác giả Trần Đình Sử đã chỉ ra những luận điểm cơ bản
của Michel Focault trong cuốn Khảo cổ học tri thức Thứ nhất, diễn ngôn biểu hiện
ra bề ngoài thành hình thức ngôn ngữ, nhưng nó không phải là ngôn ngữ thuần túy
mà là một phương thức biểu đạt của tư tưởng và lịch sử Diễn ngôn thuộc về lịch sử.Thứ hai, nó có tính chất chỉnh thể Diễn ngôn không phải là sự phơi bày của mộtchủ thể tư duy, nhận thức và sử dụng diễn ngôn để trình bày một cách trang nghiêm,
mà là một tổng thể được xác định do sự khuếch tán của chủ thể và tính không liêntục của chúng Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự khuếch tán của chủ thể và tínhkhông liên tục này, chính chúng sẽ giải thích cho cơ chế biến chính diễn ngôn- mộtsản phẩm của ý thức hệ trở thành một ý thức hệ quyền lực Phạm vi khuếch tán càngrộng, ảnh hưởng càng sâu đến tâm thức văn hóa của xã hội thì quyền lực của diễnngôn càng lớn Foucault đã chỉ ra những tư tưởng văn hóa xã hội, những hệ hình trithức đã giới hạn suy nghĩ và hành động của chúng ta, những thứ ta vẫn quen thừanhận là hiển nhiên cũng chính là một diễn ngôn quyền lực- thứ quyền lực đã thốngtrị trên một phạm vi rất rộng và trong một thời gian quá lâu dài Louis Maren định
nghĩa: “Diễn ngôn là hình thức tồn tại của một cái tưởng tượng, gắn liền với sức
mạnh của cái tưởng tượng, mà tên của nó là quyền lực.”Foucault nói về diễn ngônnhư sau: “Diễn ngôn là một cuộc sống, nó có thời gian khác so với thời gian của ta,trong đó người ta không chấp nhận cái chết Có thể là các người sẽ chôn vùi Chúadưới sức nặng của những gì mà các người nói, nhưng chớ nghĩ rằng, bằng những gìngười nói, con người có thể tạo nên được một con người có thể sống lâu hơn Chúa.”
“Diễn ngôn, nói toẹt ra, cần phải hiểu như một sự cưỡng bức mà chúng ta thực hiện
Trang 28đối với sự vật, trong mọi trường hợp, nó là một thực tiễn mà chúng ta ép buộc chochúng.”
Cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý đến bản chất đối thoại của diễn ngôn Nhànghiên cứu Julia Kristeva từng nói về diễn ngôn: “Nguyên tắc đối thoại bao giờcũng đi đôi với các cấu trúc chiều sâu của diễn ngôn… Nguyên tắc đối thoại lànguyên tắc của mọi phát ngôn” Ngay từ khi tiềm tàng trong ý thức, chưa thành hìnhthành khối, chưa trú ngụ trong một dạng thức vật chất cụ thể, diễn ngôn tự nó đã làmột ý thức đối thoại với thế giới xung quanh- cái thế giới xung quanh là tập hợp củanhững sự vật hiện hữu và cả những ý niệm, niềm tin của con người về thế giới đó.Tính chất đối thoại thể hiện trên mọi phương diện của diễn ngôn Một diễn ngônkhông chỉ là một đối thoại ý thức hệ giữa niềm tin của cộng đồng với niềm tin của
cá nhân, những tư tưởng, quan niệm của cộng đồng đối với quan niệm của cácnhóm xã hội quyền lực khác nhau… Nó cũng không chỉ là đối kinh nghiệm cá nhânvới kinh nghiệm cộng đồng, đối thoại với các diễn ngôn đã có, các diễn ngôn có thể
có, các diễn ngôn quá khứ, các diễn ngôn hiện tại và cả những khả năng trong tươnglai Diễn ngôn còn là cuộc đối thoại trên chất liệu nữa Tính đối thoại là một đặcđiểm thuộc về bản chất của diễn ngôn
1.1.2.4 Những yếu tố tác động đến quá trình tạo lập và duy trì một diễn ngôn
Trong các phương diện liên quan đến sự hình thành, tạo lập các diễn ngôn,chúng tôi xin được nhấn mạnh hai phương diện quan trọng: thứ nhất là môi trường-ngữ cảnh của diễn ngôn và thứ hai là chủ thể tạo lập diễn ngôn Môi trường- ngữcảnh của diễn ngôn chính là toàn bộ hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cùng đặcđiểm về tâm lý của xã hội Ngữ cảnh văn hóa này chính là xuất phát điểm của quátrình tạo lập diễn ngôn, là môi trường bao bọc, chi phối đến quá trình tạo lập diễnngôn, nơi mà trên đó, diễn ngôn được diễn giải và chấp nhận, đồng thời là kháchthể- đối tượng của diễn ngôn Chủ thể tạo lập diễn ngôn- người trực tiếp sáng tạo ratác phẩm cùng tất cả những đặc điểm về ý thức hệ, những quan niệm riêng về conngười và thế giới, cách lựa chọn ứng xử với ngôn ngữ và với những diễn ngôn trước
Trang 29đó, những trải nghiệm cá nhân và lựa chọn ứng xử với kí ức… tất cả đều có tácđộng trực tiếp đến quá trình hình thành diễn ngôn và để lại dấu ấn của mình trongcác diễn ngôn đó Mối quan hệ giữa môi trường- chủ thể- diễn ngôn là một mốiquan hệ hết sức phức tạp Nó không chỉ đơn giản và một chiều là ngữ cảnh tác độngđến diễn ngôn và chủ thể tác động đến diễn ngôn mà môi trường cũng có những ảnhhưởng mạnh mẽ đến chủ thể tạo lập diễn ngôn Như vậy môi trường có thể tác độngtrực tiếp đến diễn ngôn cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp thông qua chủ thể Bảnthân diễn ngôn cũng không đơn giản là sản phẩm của môi trường và chủ thể, nó tácđộng ngược lại đối với chủ thể và cả ngữ cảnh Trong quá trình tác động ngược lại
đó, diễn ngôn lại có thể làm sản sinh những cơ chế văn hóa mới quyết định sự hìnhthành một kiểu diễn ngôn mới với một kiểu chủ thể và ngữ cảnh mới gắn liền vớinó
Mối liên hệ trực tiếp giữa ngữ cảnh và diễn ngôn có thể diễn giải cụ thể nhưsau:
Trước hết, môi trường với những đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa xãhội chính là nơi phát sinh nhu cầu tạo lập diễn ngôn Những đổi thay trong hoàncảnh xã hội tất yếu dẫn đến nhu cầu hình thành một kiểu diễn ngôn mới Trong vănhọc Việt Nam sẽ không bao giờ có sự xuất hiện của diễn ngôn đô thị nếu như bốicảnh lịch sử xã hội không chút đổi thay so với những thế kỉ 15- 16 Diễn ngôn vềmột đô thị văn minh rởm, bức tranh thu nhỏ của một xã hội “khốn nạn và chó đểu”của Vũ Trọng Phụng sẽ không thể tạo sinh trong một một hoàn cảnh xã hội khác.Thậm chí nếu cùng thời điểm mà ta dịch chuyển sang một không gian đô thị kháckhông phải là phố phường Hà Nội hỗn độn, tạp nham “Tây tàu nhố nhăng” “ối a baphèng” thì diễn ngôn được khai sinh sẽ chỉ là diễn ngôn về không gian nửa làng nửaphố, nửa quê nửa tỉnh Diễn ngôn về người lính, một diễn ngôn quan trọng trongvăn học cũng như đời sống văn hóa của dân tộc sẽ không bao giờ xuất hiện nếu nhưđất nước ta không phải đối mặt với hai cuộc chiến khốc liệt kéo dài trong suốt bamươi năm của thế kỉ XX Và nếu như ba mươi năm kháng chiến ấy không nhiềumất mát đau thương, không hào hùng đến thế và nếu như tuổi trẻ những năm tháng
Trang 30ấy không phải dấn thân, hi sinh nhiều đến thế trong chiến tranh thì cũng không baogiờ có cả một dòng mạch diễn ngôn về người lính kéo dài suốt từ những năm 1945đến 1975 và vẫn còn tiếp tục được nối dài them những cảm thức mới ngay cả khichiến tranh đã kết thúc, nước nhà độc lập, non song thống nhất Từ diễn ngôn vềngười lính nông dân những năm chống Pháp đến diễn ngôn về thế hệ trẻ những nămđánh Mĩ với hình ảnh quen thuộc của những cô thanh niên xung phong, nhữngchàng trai vừa rời ghế nhà trường ngay lập tức khoác ba lô ra chiến trường cho đếndiễn ngôn về người lính ngày trở về học cách thích nghi, hòa nhập với đời thường…diễn ngôn nào cũng mang đậm dấu ấn của bối cảnh lịch sử xã hội sản sinh ra nó.Những biến cố lịch sử lớn lao cũng là điểm khởi sinh ra những diễn ngôn quantrọng không chỉ của thời đại mà còn có ý nghĩa như một huyền thoại hay một ámảnh trong nền văn hóa của một dân tộc và cũng có khi là đối với cả nhân loại Thảmhọa Phát-xít và những vụ thảm sát như Hollocaust là một chấn động như vậy NhậtBản tháng 8 năm 1945 với sự kiện Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phốHiroshima và Nagashaki hay Hà Nội đêm Noel năm 1972 đều là những kí ức vôcùng ám ảnh…
Sau đó, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận thấy môi trường văn hóa, xã hội,hoàn cảnh lịch sử không chỉ là đường viền bối cánh mà trở thành khách thể đượckhám phá và thể hiện trong diễn ngôn Điều này có thể nhận thấy rất rõ trong trườnghợp diễn ngôn về thành phố mà chúng tôi lựa chọn để tiếp cận các sáng tác vănchương về Hà Nội trong luận văn này Môi trường văn hóa xã hội từ trước đến naythường được nhìn nhận như là bối cảnh, làm nền cho câu chuyện chứ không phải là
“nhân vật chính” của tác phẩm Ngay cả trong ý thức của người sáng tác nhiều khikhông gian, thời gian, dấu ấn văn hóa cũng chỉ là yếu tố phụ trợ để làm nổi bật vẻđẹp của nhân vật hay tạo không khí cho diễn biến câu chuyện Tuy vậy trong rấtnhiều tác phẩm, sự thể hiện các yếu tố thuộc về không gian và bối cảnh lại đặc biệtđược chú trọng và có được vị trí ngang hàng với cốt truyện tạo nên một tự sự kép-
tự sự của con người và tự sự không gian Những tác phẩm của thế kỉ XIX , với mộtniềm xác tín vào sự trong suốt của ngôn ngữ và khát vọng phản ánh chân thực diện
Trang 31mạo đời sống đã đem đến cho văn học những tự sự không gian dù nhà văn có thểkhông ý thức về điều ấy Đó là những tác phẩm như Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà,Những người khốn khổ của Victor Hugo, những tiểu thuyết của Balzac Các nhàvăn dành rất nhiều trang viết để miêu tả diện mạo Paris và các công trình kiến trúc,đường phố, thậm chí có những công trình còn được miêu tả tỉ mỉ đến từng chi tiếtnhư hệ thống cống ngầm trong Những người khốn khổ hay nhà thờ Đức Bà trongtiểu thuyết Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà Trong tác phẩm của mình, Hugo không chỉmiêu tả nhà thờ như một không gian gắn với cuộc sống và công việc hàng ngày củaQuasimondo và đức cha Phrolo mà còn tái hiện một cách cụ thể những đặc điểmkiến trúc của công trình nổi tiếng đã trỏ thành biểu tượng của Paris này Nhữngtrường đoạn miêu tả tỉ mỉ đến từng mái vòm, gác chuông và cả các chi tiết trên cửachính, cửa sổ… thực sự là một tự sự không gian- đặc trưng cho phong cách kiếntrúc gothic Nhà thờ Đức Bà còn là tự sự của không gian nghi lễ văn hóa và khônggian thân phận Balzac, với tham vọng đem toàn bộ Paris và hơi thở của đời sốngđương thời vào trong tác phẩm, cũng đã kì công khắc họa diện mạo không giannhững ngôi nhà, những con phố, ngõ ngách của Paris Những vùng không gian vànhững cảnh đời Paris được tái hiện trong tiểu thuyết của ông còn chân thực đến mức
có thể xác thực Những nhà nghiên cứu Balzac thậm chí đã lập một cuốn niêm giámchính xác dịa chỉ, tên tuổi, nghề nghiệp của những nhân vật từng xuất hiện trongtiểu thuyết của ông Thế kỉ XX, một nhà văn Pháp khác là Patrick Modiano cũngtạo nên trong tác phẩm của mình một tự sự không gian như vậy Tuy văn phong củaModiano nổi bật ở sự mơ hồ, mong manh, chập chờn của kí ức nhưng ấn tượng vềkhông gian thường hết sức đậm nét, nhiều khi những hành động và lời nói của nhânvật đều bị trôi tuột đi, trượt xuống “thăm thẳm lãng quên” chỉ còn lại Paris vớinhững “quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối”, “phố những cửa hiệu u tối”, những khônggian giáp ranh, những vùng trung tính, nơi vô tình gặp gỡ của những tuổi trẻ dạttrôi Như vậy, môi trường, ngữ cảnh hoàn toàn có thể trở thành một diễn ngôn độclập, có giá trị tự thân trong khi vẫn đan xen, cộng hưởng để làm nên không khí chocâu chuyện
Trang 32Một ảnh hưởng quan trọng khác của môi trường đối với diễn ngôn, đó là nókhông chỉ là nơi làm nảy sinh nhu cầu tạo lập diễn ngôn mà trên nền bối cảnh đó,diễn ngôn được diễn giải và được chấp nhận Mọi diễn ngôn đều có thể ra đờinhưng nó chỉ có thể tồn tại được khi nó có được sự chấp nhận của một cộng đồngdiễn giải Cộng đồng diễn giải này phải có quy mô đủ lớn và tiếng nói quyền lực đủ
để đảm bảo cho diễn ngôn tồn tại Quy mô đủ lớn ở đây không có nghĩa là đòi hỏirộng rãi trên phạm vi toàn xã hội mà chỉ cần là một nhóm xã hội Ở đó các thànhviên cùng chia sẻ một ý thức hệ, thống nhất hoặc có điểm gần gũi trong quan điểmtạo lập diễn ngôn, trong cảm thức về đối tượng… Nhóm xã hội này có thể là mộtnhóm lớn tập hợp nhiều thành viên, phạm vi ảnh hưởng xã hội tương đối rộng, cóthể tập hợp không nhiều thành viên và chỉ là thiểu số so với các nhóm khác, điềuquan trọng là có thể duy trì được sức sống bền bỉ cho các diễn ngôn đó Tiếng nói
đủ lớn mà chúng tôi nhắc đến như một điều kiện cần để đảm bảo cho sự tồn tại củadiễn ngôn ở đây cũng không đòi hỏi cộng đồng diễn giải phải có quyền lực đến mứcchi phối toàn bộ ý thức xã hội, áp chế những tư tưởng, tiếng nói khác Nó không cầnphải là tiếng nói to, tiếng nói độc tôn, mang tính chất đại diện, nó có thể chỉ là tiếngnói nhỏ, tiếng thầm thì nhưng có giá trị riêng và vẫn có khả năng tồn tại bên cạnhtiếng nói to mà không bị lấn át Quyền lực của cộng đồng diễn giải không phải lúcnào cũng gắn với vị trí trung tâm và tiếng nói của đa số Thiểu số và vị trí ngoại vi,bên lề chừng nào duy trì được sự tồn tại bên cạnh trung tâm và không bị đa số ápchế thì chừng đó vẫn tồn tại thứ quyền lực riêng của nó- quyền lực của sự khác biệt.Chính thứ quyền lực của sự khác biệt này sẽ chống lại sự diễn giải thế giới một cáchthống nhất và giản đơn, chống lại tham vọng bá quyền văn hóa và nô dịch tri thứccủa cái trung tâm và đa số Chúng ta có lịch sử văn hóa nước Mĩ như là diễn ngôncủa người da trắng nhưng song song tồn tại với nó là mạch diễn ngôn của người dađen với văn chương của người da đen, âm nhạc của người da đen (nhạc jazz) , nghệthuật đường phố của người da đen (nhạc rap, graffiti…) Paris thế kỉ XIX có diễnngôn về sự xa hoa, lộng lẫy của “kinh đô ánh sang” và có diễn ngôn về sự trụy lạctrong sang tác của Baudelaire Paris của thế kỉ XXI vẫn kiêu hãnh trong diễn ngôn
Trang 33huyền thoại về vẻ lộng lẫy Tây phương lại có thêm diễn ngôn về những Chinatowncùng cuộc sống của những người châu Á nhập cư với vô số cảm thức khác nhau…Như vậy chỉ cần được chấp nhận và duy trì bởi một cộng đồng diễn giải có đủquyền lực, cho dù đó là quyền lực của thiểu số, của cái ngoại vi thì diễn ngôn vẫn
có thể tồn tại Nó có quyền tồn tại độc lập và bình đẳng bên cạnh những diễn ngônphổ biến
Tuy nhiên cũng chính ngữ cảnh- nơi mở ra những khả năng tạo sinh phongphú cho diễn ngôn lại đồng thời là nơi giới hạn những khả năng đó Giới hạn màngữ cảnh tạo ra cho diễn ngôn chủ yếu nằm ở yếu tố văn hóa tinh thần
Không chỉ tác động trực tiếp đến quá trình tạo lập diễn ngôn, ngữ cảnh cònthể hiện ảnh hường đến diễn ngôn thông qua chủ thể Đời sống văn hóa xã hội baogiờ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chủ thể Nhà văn nào cũng là đứa con của thờiđại mình Họ không thể tách rời khỏi không gian, thời gian của những ngày đangsống nơi họ đang từng ngày quan sát, trải nghiệm và suy ngẫm để một lúc nào đó,toàn bộ những ấn tượng, những suy tưởng ấy sẽ chuyển hóa vào trong tác phẩm.Mặc dù năng lực tâm lí có thể khiến con người vượt qua giới hạn của không gian vàthời gian thực để chìm đắm trong hoài niệm về một không gian cũ ở một điểm thờigian khác trong quá khứ hay sống ở thời tương lai trong không gian của những giấc
mơ, của miền viễn tưởng thì đó cũng là dấu ấn mà thời đại để lại trong tâm trí củanhà văn Bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp, những biến cố củathời đại sẽ vẫn dội vào tâm trí của nhà văn và để lại những ấn tượng thậm chí lànhững ám ảnh Có những biến cố lịch sử trực tiếp gây nên vết thương trên thể xác
và cả trong tâm hồn nhà văn, cũng có những sự kiện đọng lại gián tiếp thông qua sựtrải nghiệm cảm giác bất lực trước nỗi đau của những người xung quanh Diễn ngôn
về chiến tranh trong sang tác của Bảo Ninh mang dấu ấn những trải nghiệm xươngmáu của chính tuổi trẻ ông trong chiến tranh Diễn ngôn về người Do Thái trongthảm họa Phát xít đôi khi được viết bởi những chủ thể là người sống sót sau nhữngcuộc thảm sát, những người phải chịu đựng những tổn thương tinh thần ghê gớm từ
sự mất mát người thân hay chứng kiến nỗi đớn đau của đồng loại Đôi khi diễn ngôn
Trang 34ấy lại được viết bởi những người thuộc thế hệ sau, tuy không trực tiếp trải quanhững năm tháng kinh hoàng đó nhưng vẫn mang trong tâm thức chấn thương củadân tộc như một thứ vô thức tập thể Diễn ngôn của những nhà văn là thế hệ thứ haihay thứ ba sau những cuộc di tản vẫn khắc khoải nỗi niềm của những “người khôngquê hương” (Tên một tác phẩm của Kurt Vonegurt), những kẻ vong bản, có thể liêntiếp trượt từ miền không gian này qua miền không gian khác nhưng lại không thực
sự cảm thấy thuộc về một nơi chốn nào Cuộc đời mỗi một con người là một mảnhghép làm nên lịch sử và trái lại lịch sử còn ý nghĩa gì nếu không soi mình trong thânphận của mỗi con người Heinrich Boll, trong tiểu luận Những vấn đề với tình anhem- Tiểu luận chính trị, đã viết về chỗ đứng của nhà văn giữa con người và cuộcđời, khẳng định sự không thể tách rời của chủ thế này với ngữ cảnh văn hóa củathời đại anh ta: “Tác giả tôi không sống trên ngọn hải đăng tỏa ánh trong sạch, pháthiện ra cái dơ bẩn ở quanh mình, để rồi khi sang ngời lên vì trong sạch, anh ta lêntiếng chửi mắng cái dơ bẩn ấy Tác giả tôi sống trên mặt đất đã làm nên anh ta, đaunỗi đau của đất đã làm nên anh ta”
Ý thức của chủ thể không chỉ là trung gian trong mối quan hệ ngữ cảnh tácđộng đến diễn ngôn Bản thân chủ thể cùng tất cả những gì thuộc về nó đều có ảnhhưởng trực tiếp và rất quan trọng đối với việc tạo lập một diễn ngôn Môi trường xétcho cùng chỉ có vai trò thúc đẩy sự ra đời của diễn ngôn còn việc nó có được khaisinh hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể- người sẽ biến ý tưởng thành tồntại, người sẽ lựa chọn cho nó dạng tồn tại này mà không phải là dạng tồn tại khác…
Đôi khi người ta nói về hành động sang tác như một sự thôi thúc từ trong thếgiới tình cảm, ấn tượng của con người chứ không phài là một lựa chọn của ý thứcsắp đặt, thậm chí có những trào lưu nghệ thuật đề cao đến mức độc tôn sang tạo của
vô thức như trường phái Siêu thực với tuyên ngôn về thuyết tự động tâm linh củaAndre Breton Những sang tạo từ giấc mơ, sang tạo từ chập chờn hư- thực, từnhững ám ánh, ẩn ức ấu thơ hay những ấn tượng “vụt hiện”… đều được xem nhưtiếng nói bí ấn của vô thức, ý thức không thể chạm đến và không thể can dự Tuy
Trang 35nhiên, từ trong bản chất, tạo lập diễn ngôn là một lựa chọn cho dù chủ thể có ý thứcsâu sắc về nó hay không.
Chủ thể không bao giờ chỉ tồn tại trong một tư cách duy nhất là người sangtạo và trong vai trò là một mắt xích trong quan hệ môi trường, ngữ cảnh văn hóa-chủ thể- diễn ngôn Chủ thể tạo lập diễn ngôn là một con người đứng giữa môitrường văn hóa xã hội, một lịch sử cá nhân đồng thời là mảnh ghép nên lịch sử xãhội, một cá nhân giữa cộng đồng, một ý thức vừa độc lập vừa liên quan đến muônvàn ý thức khác Đó là con người như bao người nhưng cũng là một bản thể riêngbiệt, một bản thể có kí ức, có trải nghiệm không trộn lẫn với bất kì ai, có nhữngnăng lực đặc biệt mà những chủ thể khác không thể có được… Kí ức, trải nghiệmriêng của chủ thể mà chúng tôi nhắc đến cũng không chỉ là kí ức lịch sử, trảinghiệm với những đổi thay trong đời sống xã hội mà còn là kí ức, trải nghiệm vănhóa và ngôn ngữ Hành động tạo lập diễn ngôn luôn luôn buộc chủ thể phải đối diệnvới thế giới bên ngoài mình bao gồm đời sống văn hóa xã hội đương thời, ý thức,quan niệm chung của cộng đồng, cả những định kiến có khi rõ rang có khi tồn tại lơlửng trong đời sống tinh thần của xã hội, lịch sử, vô thức tập thể… Nó đồng thờibuộc chủ thể phải đối diện với thế giới bên trong mình bao gồm ý thức, quan niệmcủa cá nhân, kỉ niệm, những chấn thương tâm lí, những bước ngoặt trong nhận thức
và tình cảm… Tạo lập diễn ngôn, chủ thể còn phải đối diện với tâm thức sáng tạocủa chình mình: ứng xử với chất liệu, ứng xử với những văn bản đã có, với truyềnthống biểu đạt… Như vậy, ngay cả khi chủ thể để mặc mình trôi theo bản năng sangtạo thì tạo lập diễn ngôn vẫn là một sự lựa chọn- lựa chọn từ trong vô thức Đó là sựlựa chọn một ý thức hệ bao trùm, một vị trí, một điểm nhìn và cả khoảng cách đểquan sát và thể hiện đối tượng Chủ thể tạo lập diễn ngôn phải lựa chọn giữa ý thức
hệ phổ biến và ý thức hệ thiểu số hoặc cá nhân, giữa những quan niệm được chínhthống hóa và những quan niệm bên lề, giữa sự diễn giải thực tại từ lịch sử cá nhân
và lịch sử được thừa nhận bởi cộng đồng… Tất nhiên, trong ý thức của chủ thể sángtạo, không phải lúc nào ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng cũng đối lập nhau hay
có sự khác biệt Khi ý thức của chủ thể đồng hướng với ý thức cộng đồng thì chủ
Trang 36thể không phải đối diện với tình thế lựa chọn, diễn ngôn được tạo lập hiển nhiên sẽ
có được sự chấp nhận rộng rãi và trở thành diễn ngôn chính thống Còn nếu như ýthức của chủ thể có sự xung đột hay vênh lệch với ý thức của cộng đồng thì anh tabuộc phải chọn một trong hai: hoặc chấp nhận hi sinh phần ý thức cá nhân để đổilấy một đảm bảo an toàn cho diễn ngôn của mình hoặc lựa chọn ý thức cá nhân,chấp nhận sự đơn độc và thách thức đến từ phía cộng đồng Lựa chọn ý thức của đa
số đảm bảo cho diễn ngôn ngay lập tức được chấp nhận và được công nhận còn lựachọn cá nhân là lựa chọn dấn thân, chấp nhận khả năng diễn ngôn có thể bị diễn giảisai, bị lên án, có thể không được chấp nhận, không được công nhận Cũng có khichủ thể tìm được vị trí dung hòa hai đối cực đó, cũng có khi đi chênh vênh trênđường biên của những ý thức này Đối diện với lịch sử, chủ thể cũng bị đặt vào mộttình thế lựa chọn hết sức khó khăn Giữa những gì thực sự đã diễn ra với những gìđược ghi chép lại và được công nhận là lịch sử vốn đã có một khoảng cách Đó làkhoảng cách giữa sự thật và một khả năng đươc ghi chép lại, được chính thống hóa
và trở thành một niềm tin phổ biến Sự gián cách mang bản chất diễn ngôn ấy còndày thêm bởi lịch sử nhìn từ bên ngoài, từ góc nhìn vĩ mô bao giờ cũng rất khác sovới lịch sử nhìn từ bên trong, từ những cuộc đời Và lịch sử của những cuộc đời ấycũng không bao giờ trùng khít với nhau Do đó tạo lập diễn ngôn là một ứng xử rấtkhó có được sự trọn vẹn được với lịch sử- lịch sử như là cái đã diễn ra, lịch sử như
là niềm tin của xã hội, lịch sử xét cho cùng là một thiết chế quyền lực nhưng lịch sửcũng không phải là cái nằm bên ngoài mình mà còn là…
Diễn ngôn ra đời là thành quả của một ứng xử với kí ức, với quá khứ, vớinhững xúc cảm, ấn tượng còn đọng lại trong tâm trí Viết về cái đã qua, chủ thểbuộc phải nhìn sâu vào kí ức của mình Kí ức là nơi những biến cố lịch sử, những
sự kiện bên ngoài chuyển hóa vào bên trong, trở thành một phần của thế giới tinhthần Kí ức là một hiện tượng tâm lí đặc biệt, nó là sự bất tử hóa một khoảnh khắc,
cố định một hình ảnh và định hình một ấn tượng, một trạng thái xúc cảm Kể từ giâyphút chuyển hóa đó, nó trở thành một hiện tượng tâm lý hoàn toàn độc lập với sựkiện khởi đầu, có đời sống riêng và không còn bất cứ liên hệ nào với sự kiện ấy nữa
Trang 37Kí ức trở thành một ý thức tự trị Và đồng thời kí ức cũng đầy sai lệch so với thực tếbởi bản thân nó chỉ là một cách cắt nghĩa sự việc, hiện tượng từ điểm nhìn, tâm thếcủa một cá nhân Hơn thế, sự ghi nhớ và lưu lại ấn tượng của con người đôi khi làhành động đầy chủ ý đôi khi lại hết sức ngẫu nhiên Kí ức nhiều khi là những cảmxúc đột khởi, những mảnh vỡ rời rạc trong khi quá trình nhớ lại lúc nào cũng muốnxác lập một dòng hồi tưởng liền mạch và sang rõ Tự sự kí ức ấy tất yếu sẽ có nhiềuchi tiết thêm vào để kết nối những mảnh vỡ và lấp đầy khoảng trống giữa các sựkiện không liên tục Những chi tiết ấy có thể vay mượn từ quá khứ nhưng cũng cókhi chỉ thuần túy hư cấu Vì thế, kí ức không thể là hình dung về cái đã qua mộtcách trọn vẹn, đầy đủ và chính xác được Theo thời gian, khi liên hệ giữa bối cảnhvăn hóa xã hội và những ấn tượng ấy bị mờ nhòa đi, thậm chí bị xóa bỏ, nó sẽ đượcđồng nhất với sự thật và ở lại trong niềm tin của con người Bởi lẽ đó, khi viết vềParis và tuổi trẻ của mình, Patrick Modiano- người được trao giải Nobel cho “nghệthuật của kí ức” luôn chập chờn giữa dòng nhớ nhung miên man, mơ hồ, khó xácđịnh của mình và những hoài nghi liệu có phải mọi thứ đã thực sự diễn ra theo cách
đó, liệu đó có phải là sự thật hay chỉ là ta tưởng thế và ta vẫn tin thế mà thôi Khi đãtrở thành một ý thức tự trị, chính kí ức lại có được uy quyền thống trị đối với tâmthức con người, những gì ta nghĩ, hình dung, ta nói hay viết đều bị chi phối bởi kí
ức đó, rất khó làm lung lay được niềm tin vào kí ức hay thay thế nó bằng một ấntượng khác Đứng trước hành động tạo lập một diễn ngôn, nhìn sâu vào thế giới nộitâm của mình, lắng nghe tiếng thì thầm từ sâu thẳm hồi ức, chủ thể cũng phải lựachọn một cách ứng xử với nó Đặt niềm tin và tái tạo y nguyên kí ức trong diễnngôn của mình hay hoài nghi nó, tái tạo kí ức theo hướng làm cho nó biến dạng mộtcách đầy chủ ý, hay kiến tạo lại hoàn toàn kí ức trong diễn ngôn của mình… tất cảđều là sự lựa chọn làm nên bản chất kiến tạo của diễn ngôn
Mối quan hệ giữa chủ thể và chất liệu cũng là một yếu tố quan trọng có ảnhhưởng đến quá trình tạo lập diễn ngôn Xây dựng diễn ngôn từ bất cứ chất liệu nàocho dù là các giai điệu, nhịp điệu của âm nhạc, đường nét, màu sắc… của hội họahay hình khối của điêu khắc, các mảng không gian của kiến trúc…, chủ thể đều phải
Trang 38đối diện với cả một lịch sử ứng xử với chất liệu- truyền thống và hiện đại, cũ vàmới, thói quen và đột phá… Ở đây chúng tôi chỉ xin nói diễn ngôn ở phạm vi hẹp
và những động thái ứng xử với ngôn ngữ của người viết
Trong số các loại chất liệu, ngôn ngữ là chất liệu phức tạp nhất bởi nó khôngđơn thuần là chất liệu giống như màu sắc hay các thang âm, nốt nhạc trong âmnhạc Nó không có tính tự trị cao như các loại chất liệu khác mà lại có mối liên hệcực kì chặt chẽ với ý thức và văn hóa Khi tạo nên một diễn ngôn hội họa, chủ thểphải đứng trước một lịch sử dụng màu sắc để biểu hiện những xúc cảm, những ấntượng Tuy nhiên việc dùng màu như thế nào không quá phụ thuộc vào truyền thốngbiểu hiện mà chủ yếu do cảm quan màu sắc của chủ thể quyết định Màu sắc, âmthanh, các vật liệu kiến trúc như đá, gỗ… đều thuần túy tác động vào cảm nhận giácquan của con người trước tiên trong khi mỗi chữ, thậm chí mỗi âm trong ngôn ngữ
đã mang trong mình những ý niệm văn hóa, những ràng buộc đạo đức, tư tưởng.Ngôn ngữ mang dấu ấn vùng miền, dân tộc tính hết sức rõ nét vì thế lựa chọn ngônngữ nào để tạo lập diễn ngôn cũng đã phản ánh tâm thể của chủ thể sáng tạo Trênthế giới hiện tượng nhà văn lưu vong và sự lựa chọn viết bằng ngôn ngữ khác chính
là mình chứng điển hình cho sự xác lập vị trí của chủ thể với đối tượng và thực tạidiễn ngôn thông qua ứng xử với ngôn ngữ Những nhà văn như James Joyce, V.Nabokov,… đều lựa chọn viết bằng ngôn ngữ khác mà không phải bằng tiếng mẹ đẻnhư một sự khước từ ràng buộc với gốc gác, để nhìn nền văn hóa của mình bằngcon mắt của kẻ khác Lựa chọn này đôi khi phản ánh bi kịch vong thân, vong bảncủa người viết ngay từ trong ngôn ngữ Tuy nhiên, ở thời hiện đại, lựa chọn sangbằng tiếng Anh hay tiếng Pháp- những ngôn ngữ chung, phổ biến trên thế giới đôikhi còn phản ánh nỗ lực của nhà văn hướng đến một thứ văn chương không biêngiới, hướng tới một tâm thế toàn cầu cùng những giá trị nhân loại Trái lại, lựa chọnsáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng tiếng mẹ đẻ là chọn cho mình điểm nhìn từbên trong để quan sát, đánh giá, lí giải nền văn hóa của mình Dấu ấn văn hóa dântộc để lại ngay trên hệ thống từ ngữ, quy tắc ngữ pháp Không chỉ là sản phẩm củamột quá trình dài sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc một cách hiệu
Trang 39quả, những từ ngữ mà chúng ta sử dụng trong đời sống hang ngày đều mang dấu ấn
tư tưởng, ý thức hệ rõ nét và không phải đợi đến khi được định dạng thành một vănbản mà mỗi từ ngữ đều thể hiện tính chất quyền lực của ngôn ngữ Dùng ngôn ngữ
để tạo lập diễn ngôn là cùng một lúc tìm cách ứng xử với ngữ âm, ngữ nghĩa, truyềnthống văn hóa, ý thức hệ quyền lực, với quán tính trong việc sử dụng ngôn ngữ củacộng đồng và sự nhạy cảm ngôn ngữ cùng thói quen của cá nhân… Chủ thể cònphải lựa chọn đi theo một mô thức diễn đạt sẵn có, một thể loại đã định hình cùngnhững quy phạm thể loại của nó hay sáng tạo bằng cách tạo ra một mô thức mớihoặc làm mới các thể loại cũ, phá vỡ tính quy phạm chặt chẽ hoặc tìm đến sự giaothoa thể loại… Cũng như kí ức từ một sản phẩm của một quá trình chuyển hóa củatâm lí- tinh thần sau đó lại trở thành một ý thức quyền uy đối với chính chủ thể nắmgiữ kí ức, lịch sử sử dụng ngôn ngữ do kinh nghiệm giao tiếp của con người lạichính là cái khung giới hạn chủ thể, thậm chí chính những kinh nghiệm ngôn ngữcủa cá nhân chủ thể cũng cản trở anh ta tạo ra được một diễn ngôn đột phá
Cuộc sống tuy phong phú, đa dạng nhưng vẫn có thể quy giản lại thànhnhững lĩnh vực, những mảng đời sống… Tất nhiên sự phân chia này không thể làtuyệt đối nhưng có thể giúp con người dễ định hình hơn về đời sống phức tạp, liêntục biến thiên xung quanh mình Và như thế, diện mạo đầy màu sắc của cuộc sốngtrong văn chương cũng có thể tạm hình dung với những đề tài, hình tượng, cách thểhiện quen thuộc Rất hiếm có trường hợp diễn ngôn văn chương xuất hiện mà lại là
sự đột phá về mọi phương diện Bao giờ nó cũng chia sẻ một số phương diện vớinhững diễn ngôn trước đó- có thể là những diễn ngôn trong quá khứ, có thể lànhững diễn ngôn cùng thời Từ trong ý thức sáng tạo, chủ thể tạo lập diễn ngôncũng đã phải có một cuộc đối thoại và lựa chọn ứng xử với những diễn ngôn ấy.Tiếp nối dòng mạch diễn ngôn đã có hay là viết lại trên tinh thần đối thoại hay khởiđầu cho một dòng, một nhánh rẽ mới, đó cũng là sự lựa chọn của chủ thể trong ứng
xử với quan hệ liên văn bản
Qua những phân tích trên, chúng tôi nhân thấy, không khi nào một diễn ngôn
ra đời lại hoàn toàn độc lập với ngữ cảnh và chủ thể tạo lập diễn ngôn Hơn thế mối
Trang 40quan hệ ảnh hưởng này không hề đơn giản Đặc biệt với chủ thể, anh ta không chỉ làngười quyết định viết hay không viết, diễn ngôn có được tạo lập hay không mà quantrọng hơn với sự lựa chọn của mình, anh ta sẽ tạo hình cho diễn ngôn ấy, cho nómột tồn tại thực sự Ý thức của chủ thể sẽ là nơi diễn ra xung đột giữa những yếu tốđến từ môi trường bên ngoài và những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của anh
ta Đó cũng là nơi anh ta sẽ lựa chọn tạo lập diễn ngôn như một hành vi ứng xử đốivới văn hóa xã hội, ứng xử với ngôn ngữ, văn chương và ứng xử với chính bản thânmình
Mối quan hệ giữa ngữ cảnh, chủ thể và diễn ngôn là mối quan hệ hai chiều.Không chỉ có ngữ cảnh và chủ thể quyết định đến sự hình thành và tồn tại của mộtdiễn ngôn mà chính diễn ngôn cũng có tác động ngược trở lại đối với ngữ cảnh vàchủ thể Chính những diễn ngôn sẽ định hình lại đặc điểm của ngữ cảnh văn hóa,giới hạn ý thức của chủ thể, buộc họ trước hành động tạo lập diễn ngôn mới lại phảiđối diện với nó trong tình thế lựa chọn Diễn ngôn chừng nào được chấp nhận và trởnên phổ biến sẽ làm định hình những công thức diễn đạt, hình thành quán tính ngônngữ, tạo ra một không quyển tinh thần mới cùng với những niềm tin khác Diễnngôn một khi đã được khai sinh và được cộng đồng diễn giải thì không còn phụthuộc vào ngữ cảnh sinh ra nó và chủ thể tạo ra nó nữa Nó trở thành một cơ chếvăn hóa tinh thần độc lập, một thiết chế quyền lực mà cả môi trường lẫn chủ thể tạolập diễn ngôn không thể có bất kì can thiệp nào để thay đổi nó, trái lại còn có thể trởnên lệ thuộc vào nó Diễn ngôn về phương Đông huyền bí kể từ khi ra đời đã chiphối cái nhìn của người phương Tây về các vùng đất phương Đông Đối với họ,hành trình về phương Đông bao giờ cũng có dáng dấp của một cuộc thám hiểu Nóđược xem như hành động dấn thân với tâm thế lãng mạn, đắm say hương xa xứ lạ(exotique) Cũng từ đó trong ý thức phương Tây, vẻ đẹp phương Đông không chỉhấp dẫn, mời gọi bởi nó đẹp một cách xa xôi, ngỡ ngàng mà bao giờ cũng toát lên
vẻ quyến rũ huyền hoặc Còn triết học, tư tưởng, họ gọi là sự minh triết phươngĐông Cho đến bây giờ đối với phương Tây, tư duy phương Đông cổ đại hết sức sơ