1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới quá trình dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, về mặt quan điểm, định hướng là chuyển sang quan điểm dạy học tích cực (hay còn gọi tắt là dạy học lấy người học làm trung tâm) mà ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, tự chủ trong quá trình học tập. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII cũng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng” 4. Trong quá trình dạy học, người học vừa là đối tượng tác động của dạy học, vừa là chủ thể của quá trình đó. Tác động của người dạy chỉ có thể được phát huy khi thông qua hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Chính vì vậy, mục tiêu của quá trình dạy học cũng chính là mục tiêu của quá trình tự học. Ngoài ra, tự học ngày nay không chỉ là một kĩ năng học tập mà đã trở thành một phẩm chất nhân cách của con người hiện đại, là con đường tạo ra tri thức bền vững cho người học, là cách thử thách, rèn luyện, hình thành ý chí cao đẹp ở mỗi sinh viên trên con đường lập nghiệp. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các trường Đại học, Cao đẳng đang áp dụng dạy học theo học chế tín chỉ. Vì vậy, sinh viên phải chủ động trong quá trình học tập để thu nhận kiến thức, thời gian học trên lớp là không đủ, không đáp ứng và cung cấp các thông tin cần thiết của bài học tới sinh viên. Do đó vai trò tự học của sinh viên càng phải được quan tâm. Hoạt động tự học của sinh viên là hoạt động chủ động, sinh viên phải có ý thức nhận thức về nhiệm vụ tự học và tự nghiên cứu của mình. Để có kiến thức sau này ra trường có nghề nghiệp và chính nghề nghiệp đó nuôi sống bản thân mình thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sinh viên phải được trang bị những kiến thức cần thiết, ý thức được việc học tập của bản thân, với nhiều phương pháp tự học như lên thư viện học, học theo nhóm, học trên mạng internet. Và để quản lý được hoạt động tự học của sinh viên, người Hiệu trưởng phải biết cách quản lý việc tự học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên, thông qua các tổ, bộ môn, phối hợp với các khoa, đoàn thể bằng nhiều phương pháp và kinh nghiệm của người quản lý. Cũng như các trường Đại học, Cao đẳng khác, với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nguyện vọng của người học và nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời tăng cường hội nhập quốc tế từ năm học 2010 2011 Trường Cao đẳng cộng đồng Hà Nội bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Việc chuyển đổi hình thức từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ có giá trị như một cuộc cải cách về đào tạo trong Nhà trường, việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội cốt lõi là nâng cao chất lượng quá trình dạy học. Một trong các yếu tố quyết định chất lượng quá trình dạy học là chất lượng hoạt động tự học của sinh viên, hoạt động tự học là hoạt động tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính người học tiến hành trong quá trình học tập, tự học giúp người học nâng cao tri thức kỹ năng và biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Vì vậy, phẩm chất và năng lực của người cán bộ tương lai phụ thuộc rất nhiều vào việc tự học của họ trong nhà trường. Trong những năm qua Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố Hà Nội và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động tự học của sinh viên vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường. Sinh viên khi vào trường hầu hết chưa có thói quen chủ động và tích cực trong việc tự học, chưa có kỹ năng tự học, việc học tập chủ yếu trông chờ vào việc truyền thụ kiến thức của giảng viên. Hơn nữa sinh viên lại thờ ơ với việc tự học, lười học, lười đọc sách báo. Trong đó, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên như: định hướng của nhà trường, khoa, giảng viên trong quá trình đào tạo, về mặt trái của nền kinh tề thị trường làm cho việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên còn gặp khó khăn bất cập. Ngoài ra, theo lộ trình đổi mới, Giáo dục đại học Việt Nam từ năm 2010 các trường đại học, cao đẳng trong cả nước sẽ áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ thay hình thức đào tạo theo niên chế. Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, vai trò của người học được phát huy tích cực tối đa dựa trên sự giúp đỡ của giảng viên và công tác quản lý học tập của nhà trường. Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng tôi cần có sự xem xét, đánh giá tình hình thực trạng tự học của sinh viên hiện nay và những yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng tự học, từ đó xác định các biện pháp nâng cao kết quả của hoạt động tự học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Song, những yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội còn rất nhiều, trong đó có sự hạn chế của công tác quản lý hoạt động tự học. Vì vậy, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội”.
Trang 1;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;; BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-O0O -VŨ THỊ DIỄM LỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
THÔNG QUA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-o0o -VŨ THỊ DIỄM LỆ
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ NỘI
Chuyên ngành quản lý giáo dục
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Đào Thị Oanh
Hà Nội, 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-O0O -VŨ THỊ DIỄM LỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
THÔNG QUA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ NỘI
Chuyên ngành quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Đào Thị Oanh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới quá trình dạyhọc, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, về mặt quan điểm, định hướng là chuyểnsang quan điểm dạy học tích cực (hay còn gọi tắt là dạy học lấy người học làmtrung tâm) mà ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, tự chủ trong quátrình học tập Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Namkhóa VIII cũng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo,khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trìnhdạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất làsinh viên các trường Đại học, Cao đẳng” [4]
Trong quá trình dạy học, người học vừa là đối tượng tác động của dạy học,vừa là chủ thể của quá trình đó Tác động của người dạy chỉ có thể được phát huykhi thông qua hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Chính vì vậy,mục tiêu của quá trình dạy học cũng chính là mục tiêu của quá trình tự học Ngoài
ra, tự học ngày nay không chỉ là một kĩ năng học tập mà đã trở thành một phẩm chấtnhân cách của con người hiện đại, là con đường tạo ra tri thức bền vững cho ngườihọc, là cách thử thách, rèn luyện, hình thành ý chí cao đẹp ở mỗi sinh viên trên conđường lập nghiệp
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các trường Đại học, Cao đẳng đang ápdụng dạy học theo học chế tín chỉ Vì vậy, sinh viên phải chủ động trong quá trìnhhọc tập để thu nhận kiến thức, thời gian học trên lớp là không đủ, không đáp ứng vàcung cấp các thông tin cần thiết của bài học tới sinh viên Do đó vai trò tự học củasinh viên càng phải được quan tâm Hoạt động tự học của sinh viên là hoạt độngchủ động, sinh viên phải có ý thức nhận thức về nhiệm vụ tự học và tự nghiên cứucủa mình Để có kiến thức sau này ra trường có nghề nghiệp và chính nghề nghiệp
đó nuôi sống bản thân mình thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sinh viênphải được trang bị những kiến thức cần thiết, ý thức được việc học tập của bản thân,
Trang 4với nhiều phương pháp tự học như lên thư viện học, học theo nhóm, học trên mạnginternet
Và để quản lý được hoạt động tự học của sinh viên, người Hiệu trưởng phảibiết cách quản lý việc tự học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên, thông quacác tổ, bộ môn, phối hợp với các khoa, đoàn thể bằng nhiều phương pháp và kinhnghiệm của người quản lý
Cũng như các trường Đại học, Cao đẳng khác, với mục tiêu nâng cao chấtlượng đào tạo nhằm đáp ứng nguyện vọng của người học và nhu cầu của thị trườnglao động, đồng thời tăng cường hội nhập quốc tế từ năm học 2010 - 2011 TrườngCao đẳng cộng đồng Hà Nội bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ.Việc chuyển đổi hình thức từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ
có giá trị như một cuộc cải cách về đào tạo trong Nhà trường, việc nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội cốt lõi là nâng caochất lượng quá trình dạy học Một trong các yếu tố quyết định chất lượng quá trìnhdạy học là chất lượng hoạt động tự học của sinh viên, hoạt động tự học là hoạt động
tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính người học tiến hànhtrong quá trình học tập, tự học giúp người học nâng cao tri thức kỹ năng và biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Vì vậy, phẩm chất và năng lực của ngườicán bộ tương lai phụ thuộc rất nhiều vào việc tự học của họ trong nhà trường
Trong những năm qua Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội đã có nhiều cốgắng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố Hà Nội và các Tỉnh lâncận Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động tự học của sinh viên vẫn còn hạn chế, chưađáp ứng được yêu cầu của nhà trường Sinh viên khi vào trường hầu hết chưa cóthói quen chủ động và tích cực trong việc tự học, chưa có kỹ năng tự học, việc họctập chủ yếu trông chờ vào việc truyền thụ kiến thức của giảng viên Hơn nữa sinhviên lại thờ ơ với việc tự học, lười học, lười đọc sách báo Trong đó, có nhiềunguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên như: định hướng củanhà trường, khoa, giảng viên trong quá trình đào tạo, về mặt trái của nền kinh tề thịtrường làm cho việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên còn gặp khó khăn bấtcập Ngoài ra, theo lộ trình đổi mới, Giáo dục đại học Việt Nam từ năm 2010 các
Trang 5trường đại học, cao đẳng trong cả nước sẽ áp dụng hình thức đào tạo theo học chếtín chỉ thay hình thức đào tạo theo niên chế Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ,vai trò của người học được phát huy tích cực tối đa dựa trên sự giúp đỡ của giảngviên và công tác quản lý học tập của nhà trường
Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng tôi cần có sự xem xét, đánh giá tình hình thựctrạng tự học của sinh viên hiện nay và những yếu tố cản trở việc nâng cao chấtlượng tự học, từ đó xác định các biện pháp nâng cao kết quả của hoạt động tự học,đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Song, những yếu tốcản trở việc nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao đẳngCộng đồng Hà Nội còn rất nhiều, trong đó có sự hạn chế của công tác quản lý hoạtđộng tự học Vì vậy, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên
sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo của TrườngCao đẳng Cộng đồng Hà Nội
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế trên, chúng tôi chọn nghiên cứu
đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên ở
Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội”.
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng công tác quản
lý hoạt động tự học ở sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội, đề tài đề xuấtmột số biện pháp quản lý cho hiệu trưởng nhằm giúp nâng cao chất lượng tự học ởsinh viên qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nộiđối với hoạt động tự học của sinh viên
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi về nội dung:
Trang 6- Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động
tự học của sinh viên với tư cách là hoạt động tiếp nối của hoạt động học tập trên lớp(ngoài giờ học trên lớp)
- Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên mà đề tài đề xuất để hiệutrưởng sử dụng được hướng vào đội ngũ giảng viên đang trực tiếp giảng dạy sinhviên Đó là vì giảng viên là những người gần gũi sinh viên nhất, đồng thời cũng làngười có trách nhiệm phải giúp sinh viên tự học Công tác quản lí của hiệu trưởngđối với hoạt động tự học của sinh viên sẽ đạt hiệu quả mong muốn khi được tiếnhành thông qua đội ngũ giảng viên
4.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên sinh viên (200 sinh viên) và giảng viên(30 cán bộ quản lý) đang học tập và giảng dạy của hệ cao đẳng ở một số khoa thuộcTrường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014
5 Giả thuyết khoa học
Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Cộngđồng Hà Nội đã được triển khai song kết quả còn hạn chế Nếu vận dụng cơ sở lýluận về tự học, đồng thời căn cứ vào thực trạng công tác quản lý hoạt động tự họccủa sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội thì có thể đề xuất được một sốbiện pháp quản lý hoạt động tự học ở sinh viên cho hiệu trưởng có tính phù hợp vàkhả thi
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên 6.2 Khảo sát thực trạng quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tự học
của sinh viên ở Trường Cao đẳng cộng đồng Hà Nội
6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý cho hiệu trưởng thông qua đội ngũ
giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên ở trường Cao đẳng cộng đồng Hànội nhằm nâng cao kết quả tự học cho sinh viên của trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Trang 77.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu
7.3 Phương pháp quan sát
7.4 Phương pháp chuyên gia
7.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.6 Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, 3 chương và Kết luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao
đẳng Cộng đồng Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tự học ở
sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội thông qua đội ngũ giảng viên
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử phát triển giáo dục, ngay từ thời kỳ Cổ đại các nhà giáo dục lỗilạc và tiêu biểu của nhân loại đã nhận ra tầm quan trọng của tự học Điều đó thểhiện qua việc nghiên cứu vấn đề tự học của các nhà giáo dục
Khổng Tử quan tâm việc kích thích sự suy nghĩ, sáng tạo của người học Ôngnói: “Bất phẫn, bất phải, bất phi, bất phát Cứ bất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tácbất phục dã” (không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vìkhông rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, màkhông suy ra ba góc khác thì không dạy nữa) [35]
Mạnh Tử đòi hỏi người học phải tự suy nghĩ, không nên nhắm mắt theo sách
“Tận tín thư bất như vô thư” (Tin cả ở sách thì chi bằng không có sách) Người họcphải cố gắng tìm hiểu [21]
Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki người Slovaquya đưa ra những yêu cầucải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc Theo ông, dạy học là phải làm thế nào để người học thích thú học tập và cónhững cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng chohọc sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứngdụng tri thức vào thực tiễn” [8, tr.56]
Các Nhà giáo dục thế kỷ 18 và 19 như J.J Rousseau Pestalogie, DiStecvec,Usinxki khi xây dựng quan điểm dạy học đã cho rằng cần hướng cho người họcnắm lấy kiến thức bằng cách tự tìm hiểu, tự khám phá, tự tìm tòi và sáng tạo
Những tư tưởng tiến bộ về tự học của các Nhà giáo dục tiền bối cho đến nayvẫn còn giữ nguyên giá trị, chúng đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của nềngiáo dục hiện đại, soi đường chỉ lối cho thế hệ sau nghiên cứu về hoạt động tự họccủa người học
Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật T.Makiguchi, trong những năm 30 củathế kỷ 20 đã cho rằng: “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và
Trang 9đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh Giáo dục xét như là quá trìnhhướng dẫn học sinh tự học” [34].
Raja Roy Singh, Nhà giáo dục người Ấn Độ cho rằng: “Sự học tập do ngườihọc chủ đạo” [40, tr.110] Trong hệ thống dạy học, người học vừa là chủ thể vừa làmục đích của quá trình học tập “Vị trí của người học ở trung tâm hay ngoại biên lànét đặc trưng phân biệt hệ thống giáo dục này với giáo dục khác” [40, tr.111]
Trong dự thảo báo cáo về con người của thế kỷ 21, các Nhà giáo dục vànhân văn châu Âu, châu Mỹ và châu Á đều có quan điểm thống nhất: xem thái độhọc tập và kỹ năng ứng dụng của giới trẻ đang diễn biến ra sao Tuỳ theo đồ thị tăngtrưởng ấy như thế nào, sẽ biết được diện mạo của lớp trẻ trong tương lai và cảgương mặt của xã hội ngày mai Trong đó các tác giả đã đưa ra bốn thái độ học tập
và mười kỹ năng ứng dụng học vấn vào đời sống xã hội, một trong mười kỹ năng đólà: Kỹ năng tự học, tự nâng cao trình độ cá nhân trong mọi tình huống
Ở Việt Nam, trong công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước, đãđặt ra những yêu cầu mới cho Giáo dục, đòi hỏi phải đổi mới Giáo dục Một trongnhững phương hướng đổi mới đó là đổi mới phương pháp dạy học Trong nhữngnăm gần đây chúng ta nói nhiều đến phương pháp dạy học tích cực, lấy người họclàm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, độc lập, tự chủ, sángtạo trong quá trình học tập Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghịquyết TW2 (khóa 8) về Giáo dục : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục &Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nề nếp tư duy sáng tạocủa người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiệnđại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu chohọc sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạothường xuyên và rộng khắp trong toàn nhân dân, nhất là trong thanh niên” [6]
Tinh thần của Nghị quyết đã được cụ thể hoá trong Luật giáo dục, Mục 2,Điều 4 “Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục” đã nêu rõ: “Phương pháp giáodục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học,bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; Khoản b, Mục
1, Điều 36: “Yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục đại học và sau đại học”
Trang 10cũng nêu: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tựhọc, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện
kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng ” [7]
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”.Người khuyên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tựđộng học tập” [32,18]
Nguyên Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mười đã nhấnmạnh: “Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con ngườitrong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau; đó cũng là truyềnthống quý báu của người Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quảgiáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực tự học, sáng tạo của người học, khibiến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục” [30]
Công tác quản lý của Hiệu trưởng với hoạt động của sinh viên là một khíacạnh trong hoạt động giáo dục đào tạo Gần đây, một số luận văn thạc sĩ, luận ántiến sĩ đã đề cập đến vấn đề tự học ở những khía cạnh khác nhau, ví dụ, chỉ ranhững yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức tự học của sinh viên; chỉ ra những điểmyếu của sinh viên trong tổ chức tự học; đề xuất các biện pháp nâng cao kĩ năng tựhọc ở sinh viên; đề xuất các biện pháp quản lí của các tổ chức đoàn thể trong trườngcao đẳng nhằm giúp nâng cao khả năng tự học ở sinh viên Cụ thể một số luận vănnhư: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên Học viênQuân y” của tác giả Quản Thành Minh, “Biện pháp quản lý hoạt động tự học củasinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Yên Bái” của tác giả Nguyễn Thị An Những công trình nghiên cứu trực tiếp về cách quản lý hoạt động tự học ở sinh viêncủa Hiệu trưởng dường như còn rất ít Vấn đề này thường được đề cập đến như làmột nội dung nhỏ trong một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục học hay tâm líhọc Vì vậy, việc sưu tầm tài liệu để tham khảo về vấn đề quản lý của Hiệu trưởngđối với hoạt động tự học của sinh viên khá hạn chế
Các nghiên cứu đi trước cho thấy tự học ngày càng có vai trò quan trọng đốivới phát triển giáo dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nóiriêng Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt
Trang 11động tự học cho người học mang ý nghĩa thiết thực đối với lợi ích trước mắt và lâudài vì không chỉ giúp sinh viên rèn luyện, nâng cao tính độc lập, sáng tạo trong họctập, tự chủ trong cuộc sống, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền giáodục nước nhà, làm rút ngắn khoảng cách để vươn lên ngang tầm các quốc gia tiêntiến.
Trong trường Cao đẳng, hiệu trưởng là người giữ vai trò quan trọng, nắm giữmọi quyền hạn và ra các quyết định, chính sách liên quan đến toàn bộ hệ thống nhàtrường Hiệu trưởng là người trực tiếp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo hoạt động củacác phòng ban, khoa, tổ chuyên môn như một nội dung trọng yếu Với tư cách làngười đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hoạt động của một tổ chức giáo dục,người hiệu trưởng trường cao đẳng còn được trang bị cả những kiến thức tâm lý xãhội để có thể vận dụng vào quản lý hiệu quả các hoạt động của sinh viên đang theohọc tại trường, trong đó có hoạt động tự học
Ở góc độ quản lý hoạt động tự học của sinh viên đã được một số tác giả nghiêncứu, tuy nhiên quản lý hoạt động tự học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viêntại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội thì chưa được đề cập đến Chính vì vậy,
chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên của cho luận văn thạc sĩ là: “Quản lý hoạt động tự
học của sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Cộng đồng
Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
1.2 Trường Cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
1.2.1 Loại hình và mục tiêu đào tạo của trường Cao đẳng
Trường Cao đẳng là một đơn vị cơ sở của ngành Giáo dục và Đào tạo thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ Cao đẳng.Theo Luật Giáo dục (2005, sửa đổi bổ sung 2009): Đào tạo trình độ cao đẳng đượcthực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằngtốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đếnhai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành [17]
Các loại hình trường cao đẳng bao gồm: Trường cao đẳng công lập vàTrường cao đẳng tư thục trong đó Trường cao đẳng công lập do Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo quyết định thành lập Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh
Trang 12phí cho các hoạt động của trường, chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm CònTrường cao đẳng tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc cá nhân đầu tư và được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thànhlập Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, và kinh phí hoạt động của trường là nguồnvốn ngoài ngân sách nhà nước
Với các loại hình trường cao đẳng thì mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳngkhông khác biệt, được thể hiện cụ thể tại Điều lệ trường Cao đẳng như sau:
Nhà trường đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thứcphục vụ nhân dân; có khả năng tự học, kỹ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm; cósức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhà trường đào tạo ngườihọc có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng thực hành cơ bản, có thái độ vàđạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chú trọng rèn luyện kỹ năng và năng lực thực hiệncông tác chuyên môn, có khả năng tìm kiếm và tham gia sáng tạo việc làm
1.2.2 Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng
a, nhiệm vụ của trường Cao đẳng
Trường Cao đẳng là nơi cung cấp, đào tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cho
xã hội, chính vì vậy mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chính sách, quyđịnh đối với loại hình đào tạo này Loại hình trường Cao đẳng có rất nhiều nhiệm
vụ và chức năng nhưng nhiệm vụ và chức năng chính là đào tạo nhân lực trình độcao đẳng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệpphù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghềnghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội
Trường Cao đẳng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giao; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, triển khainghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao công nghệ, thực hiện các loại hìnhdịch vụ khoa học, công nghệ và sản xuất; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư pháttriển khoa học và công nghệ Trong nhà trường thực hiện dân chủ, bình đẳng, côngkhai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ vàhoạt động tài chính; quản lý giảng viên, cán bộ, công nhân viên; xây dựng đội ngũgiảng viên của trường đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ
Trang 13cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhàtrường là nơi đăng ký, tổ chức triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và chịu sựquản lý chất lượng của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục Loại hình đào tạotrường Cao đẳng tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấpvăn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.Nhà trường có trách nhiệm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học
và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường Nhà trường quản lý, sử dụng đất đai,
cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật và phối hợp vớicác tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt động giáo dục Nhà trường còn tổchức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hộiphù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng,hợp pháp của cán bộ, giảng viên nhà trường Bên cạnh đó, trường Cao đẳng cònphải giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá dân tộc Nhà trường có trách nhiệmthực hiện chế độ báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan quản lý các cấp về cáchoạt động của trường theo quy định hiện hành và công khai những cam kết củatrường về chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo thực tế của trường, các điều kiệnđảm bảo chất lượng và thu chi tài chính hàng năm của trường Nhà trường hoạtđộng và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
b Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng
Cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng bao gồm:
1 Hội đồng Trường hoặc Hội đồng Quản trị (đối với trường tư thục);
2 Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng;
3 Ban kiểm soát (đối với trường tư thục);
4 Hội đồng khoa học và đào tạo và các Hội đồng tư vấn khác;
5 Các phòng ban chức năng;
6 Các khoa và bộ môn trực thuộc;
7 Các bộ môn thuộc khoa;
8 Các tổ chức nghiên cứu và phát triển;
9 Các cơ sở phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học;
10 Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam;
Trang 1411 Các đoàn thể và tổ chức xã hội
1.2.3 Đặc điểm tâm lí – xã hội của sinh viên cao đẳng
Sinh viên là những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng - nơiđào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Thuật ngữ
“sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Student” - có nghĩa là người học tập,nghiên cứu, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Theo “Từ điển giáo dục học”:
“Sinh viên, người học của một cơ sở giáo dục Cao đẳng, Đại học Có thể phân loạisinh viên đại học theo những phạm trù khác nhau: Sinh viên tập trung, sinh viênchính quy, sinh viên không tập trung….” [34] Hiểu một cách chung nhất: Sinh viênViệt Nam là những người đang học tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoàinước, đang tích cực tích lũy tri thức, nghề để đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đặc điểm tâm lý – xã hội của sinh viên cao đẳng:
Sinh viên thuộc nhóm lứa tuổi từ 17 đến 23 tuổi Đây là giai đoạn cơ thểphát triển hoàn chỉnh, ổn định và là giai đoạn sung sức nhất của cuộc đời Hệ thầnkinh cấp cao đã hoàn thiện tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện các chức năng tâm
lí bậc cao Do đó khả năng hoạt động trí tuệ của sinh viên về cơ bản đã đạt đến trình
độ của người trưởng thành, thể hiện ở khả năng lập luận logic, khả năng phán đoán,tưởng tượng, các ý tưởng trừu tượng…
Về mặt tâm lý xã hội, một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này là sự pháttriển của tự ý thức, giúp sinh viên có thể tự điều chỉnh nhận thức và thái độ đối vớibản thân, giúp họ có thể đưa ra các quyết định đúng đắn, qua đó là điều kiện để pháttriển và hoàn thiện nhân cách
Giai đoạn này, sinh viên có nhu cầu mở rộng mối quan hệ xã hội Điều nàyđòi hỏi ở họ những cách ứng xử mới, chững chạc và đúng đắn, qua đó giúp họ thểhiện sự tự quyết nghề nghiệp rõ hơn, thúc đẩy quá trình học tập nghề nghiệp của họtheo hướng tích cực, hiệu quả hơn Đây là một trong những yếu tố quan trọng gópphần phát triển ý thức và khả năng tự học ở sinh viên cao đẳng
Ở lứa tuổi sinh viên, những chín muồi về thể lực đã bắt đầu được chuyểnsang sự trưởng thành về phương diện tâm lí và xã hội: Là giai đoạn ổn định về tính
Trang 15cách và có vai trò xã hội của một người lớn thực thụ Sinh viên thể hiện tính độclập, tự lập và tự quản cao trong hoạt động, nhất là hoạt động học tập Trong quátrình học tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên chủ động, tích cực và tựgiác học tập, tự nghiên cứu để lĩnh hội và làm chủ kiến thức Còn khi không cógiảng viên, họ hoàn toàn có đầy đủ những điều kiện bản thân để tổ chức việc tự học,bởi phần lớn trong số họ có động cơ học tập rõ ràng (là học nghề để kiếm sống vàphục vụ xã hội), đồng thời có khả năng thực hiện những hành động đòi hỏi sự quyếttâm, ý chí mạnh mẽ.
Khác với học sinh phổ thông, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, lĩnh hộitri thức của thầy, người sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên
cơ sở tư duy độc lập Về bản chất, quá trình học tập của sinh viên ở bậc đại học làquá trình nhận thức có tính nghiên cứu Bản chất tâm lí của tự học là sự huy độngđồng thời các chức năng tâm, sinh lí, xã hội của một người vào quá trình học tập màkhông có sự giám sát của người khác: Sinh viên phải tập trung chú ý cao độ; phải sửdụng trí nhớ dài hạn để huy động các kiến thức, kinh nghiệm đã có; phải tưởngtượng để hình dung ra kết quả cuối cùng của nhiệm vụ cần giải quyết; phải tự thúcđẩy mình kể cả khi gặp những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; phải biết thông qua cácmối quan hệ với bạn bè, thầy cô giáo để bổ sung những thiếu hụt của bản thân vềkiến thức, kĩ năng…nhằm giải quyết hiệu quả nhiệm vụ được giao…Tất cả nhữngyêu cầu trên đây, về mặt lí thuyết, sinh viên cao đẳng đều đã có và đó là những tiền
đề tốt giúp họ có thể làm tốt việc tự học Trong những năm gần đây, thực hiện chủtrương đổi mới giáo dục đại học, nhiều trường cao đẳng đã và đang triển khaiphương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Phương thức đào tạo này coi trọng vai tròtrung tâm của sinh viên, tạo cho sinh viên năng lực chủ động, sáng tạo trongphương pháp học của mình do đó sẽ giúp thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động tự học ởsinh viên cao đẳng
1.3 Hoạt động tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về
tự học
Trang 16N.A Rubakin nói: "Tự đi tìm lấy kiến thức - có nghĩa ta tự học" ; Tự học (Self
- learning) là quá trình người học nỗ lực chiếm lĩnh tri thức bằng hành động củachính mình, hướng tới mục đích nhất định
Trong cuốn "Học tập hợp lí" R.Retxke chủ biên, coi "Tự học là việc hoànthành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy" [32, Tr 97].Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Tiến sĩ Hà Thị Đức trong cuốn "Lý luận dạyhọc đại học" thì "Tự học” là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó làmột hình thức họat động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức
và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặckhông theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định (14,Tr.142 )
Theo Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học là tự mình động não, suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và cókhi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiếnthủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi
đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [38, Tr 59,60]
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức khôngtrực tiếp có thầy giáo, đó là một quá trình “lao động khoa học” vất vả hơn nhiều sovới có thầy giáo hướng dẫn Có thể nói quá trình tự học của người học là một quátrình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạt được mục tiêu học tập Nếu thiếu sự nỗlực thì người học không thể đạt kết quả tốt, đây cũng chính là điều kiện để ngườihọc nâng cao chất lượng học tập của bản thân và các nhà trường nâng cao chấtlượng giáo dục
Đối với sinh viên, hoạt động tự học có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi Cứ khinào sinh viên huy động mọi khả năng nhận thức hiện có của mình, tiến hành cáchoạt động tìm tòi, khám phá tự giác, đứng trước mọi hiện tượng của thế giới kháchquan là khi đó họ đang tiến hành tự học
Tự học ở trình độ Đại học, Cao đẳng là một trong những hình thức tổ chứcdạy học cơ bản có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan
Trang 17hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Nội dung của tự học rất phong phú, bao gồm toàn
bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi do tập thể sinh viên tiến hànhngoài giờ học chính khoá hoặc do bản thân sinh viên độc lập tiến hành ngay tronggiờ chính khoá như: Đọc sách ghi chép theo cách riêng, làm bài tập, tham gia cáchoạt động thực tế…
Tự học còn là hình thức học tập có tính chất cá nhân, do bản thân học sinh nỗlực học tập ở trên lớp hay ngoài lớp học và diễn ra khi học sinh còn ngồi trên ghếnhà trường hoặc trong suốt cả cuộc đời Cho nên: Tự học đó là việc học tập độc lậpcủa học sinh - sinh viên diễn ra song song với quá trình dạy học, có liên quan mậtthiết với quá trình này Có lúc dựa vào chương trình sách giáo khoa đã được ấnđịnh, có lúc không bám sát chương trình, vào sách, tự đề thêm nhiệm vụ, sử dụngthêm tài liệu lý luận và thực tiễn tuỳ theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tuỳtheo khuynh hướng và khả năng, tuỳ theo trình độ nhận thức của bản thân về nhiệm
vụ và trách nhiệm, cuối cùng tuỳ theo thói quen làm việc độc lập của mỗi cá nhân
Như vậy cốt lõi của học tự học và khi xem xét đến mối quan hệ giữa dạy vàhọc thì dạy chỉ là ngoại lực, còn tự học là nhân tố quyết định đến bản thân ngườihọc – nội lực Nhưng quá trình dạy cũng có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình học Do vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức,chân lý bằng hành động của mình, tự phát triển bên trong Thầy là tác nhân, hướngdẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Người thầy giỏi là người dạy cho trò biết tựhọc Người trò giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời
Năng lực tự học là nội lực phát triển bản thân người học Thầy dạy, cốt lõi làdạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của thầy là ngoại lực đối với sự phát triểncủa người học Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù là quan trọng đếnđâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố giúp đỡ, thúc đẩy, tạo điều kiện; nội lựcmới là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân sự vật Tác động dậy của thầy dù làquan trọng đến mức “không thầy đố mày làm nên” vẫn là ngoại lực hướng dẫn, trợgiúp, tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành trò là chủ thể, tựmình xử lý thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình bằng cách
Trang 18học, cách tư duy của chính mình Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn chotrò biết cách tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người
Nhìn chung, các quan niệm đều cho rằng: Tự học là quá trình học với sự tíchcực, chủ động, độc lập cao của người học, thông qua các thao tác trí tuệ, chân tay,bằng cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của mỗi cá nhân để chiếm lĩnh tri thức,kinh nghiệm của nhân loại biến thành tri thức, vốn sống, kinh nghiệm của bản thân
- Theo nghĩa hẹp, tự học là quá trình người học giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên ở ngoài giờ học trên lớp, hay, là quá trình người học
tự giác, độc lập giải quyết một cách hiệu quả những nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho Theo cách hiểu này thì tự học được xem như một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập.
Trong đề tài này, khái niệm tự học theo nghĩa hẹp được quan tâm vận dụngvào nghiên cứu
1.3.2 Khái niệm hoạt động tự học
Về bản chất, hoạt động tự học là quá trình nhận thức mang tính cá nhân,không có người hướng dẫn, giám sát, người học hoàn toàn tự giác, độc lập, tự điềukhiển việc thực hiện các nhiệm vụ học tập do mình đề ra, nhằm đáp ứng nhu cầuhiểu biết của bản thân Có thể đưa ra một số nét đặc trưng của hoạt động tự học nhưsau:
- Thể hiện vai trò hoàn toàn chủ động, tự giác của người học
- Là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch rõ ràng
Trang 19- Có nội dung đa dạng
- Diễn ra trong môi trường khác nhau, bối cảnh phong phú
- Sử dụng các phương pháp, phương tiện đa dạng
- Kết quả hoạt động tự học được đánh giá thông qua kết quả thực hiện cácnhiệm vụ học tập cụ thể…
Trong trường cao đẳng, hoạt động tự học là một bộ phận của quá trình sưphạm tổng thể, đồng thời là quá trình động, chịu sự tác động của các yếu tố bênngoài và bên trong, cần có sự kết hợp giữa điều khiển của giáo viên với tự điềukhiển của sinh viên Do vậy, hoạt động tự học đòi hỏi phải được quản lý từ phíagiảng viên, bên cạnh sự tự quản lý của sinh viên nhằm tạo nên sự phối hợp nhịpnhàng làm cho hoạt động dạy và học trở thành một chu trình kín
Nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạyhọc ở đại học, theo Phạm Viết Vượng thì “Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớpbằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp củagiảng viên Tự học thường được tiến hành tại gia đình hay thư viện, cách học làhoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội dung công việc tự học làbài học cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập vận dụng kiến thức, làm các bài tậpsáng tạo khác” [50];[33]
Nhìn chung, các tác giả quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và tíchcực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình trong đó, chủ thể là người học tự biếnđổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân taynhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân nhằm tích lũy kiến thức chobản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm nàythành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học
Có thể khẳng định rằng, hoạt động tự học của sinh viên là một hoạt độngkhông thể thiếu và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ởbậc Cao đẳng Hoạt động tự học là hoạt động bắt buộc đối với sinh viên Sinh viênmuốn có thông tin, muốn hiểu rõ một vấn đề nghiên cứu thì học trên lớp là chưa đủ
Vì vậy, tự học là quá trình sinh viên tìm tòi những kiến thức, kỹ năng, thông qua kế
Trang 20hoạch tự học, nội dung tự học, phương pháp tự học để đạt được kết quả tốt trongviệc học tập.
Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, kế hoạch học tập
cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học Sinh viên có nhiệm vụ và quyềnđược lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp vớiđiều kiện của mình Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trongviệc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp đểthực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó Khi đó người sinh viên phải
ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình học tập hiệu quảnhất Hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ qui định hoạt động tựhọc của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nộidung quan trọng của đánh giá kết quả học tập
Từ đó, đề tài đưa ra cách hiểu về “Hoạt động tự học” là quá trình cá nhân
tự giác, độc lập tổ chức thực hiện một chuỗi các hành động liên tiếp nhau, bắt đầu
từ xác định mục đích tự học cho đến tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học để rút kinh nghiệm, điều chỉnh việc tự học nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập của bản thân.
Còn “Hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng” là quá trình mỗi sinh viên
cao đẳng tự giác, độc lập tổ chức thực hiện một chuỗi các hành động, từ xác định mục đích tự học cho đến kiểm tra đánh giá kết quả tự học nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập nghề nghiệp của bản thân.
1.3.3 Vai trò của tự học đối với sinh viên đại học, cao đẳng
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở Đại học nói riêng giảng viênluôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điềukhiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh Nhưng thực tế cho thấyrằng, dù giảng viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hayđến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, không có sự nỗ lực lao độngcủa cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có niềm say mê học tập,không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không có sự tự giác tích cựctrong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được
Trang 21Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn luôn giữ một vị trírất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết địnhchất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập Tự học huy động các chức năng tâm
lý Tự học khác với học có người hướng dẫn Ở đây tự học phải xuất phát từ bảnthân người học từ ý trí, động cơ, súc cảm thì hoạt động tự học mới đạt kết quả cao.Khi bàn về vai trò của tự học Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: "Tự học, tựđào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh
tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quý báu của ngườiViệt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khitạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành
tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào "toàn dân tự học"[Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày6/1/1998]
Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng sựhiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập không thểthiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng
Ở trung học phổ thông, học sinh chỉ cần vững kiến thức thầy cô dạy trên lớp
và làm bài tập được giao, giáo viên liên tục có những bài kiểm tra, đánh giá dànhcho học sinh Tuy nhiên khi học lên học ở bậc cao đẳng thì yêu cầu hoạt động họctập của sinh viên đã khác hẳn, trong đó tự học là phương pháp, cách thức cơ bản màsinh viên phải thực hiện thường xuyên Đối với sinh viên cao đẳng, học có phươngpháp là vô cùng quan trọng Giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn, cung cấptài liệu, hướng dẫn đề tài, sinh viên phải tự biết cách sắp xếp thời gian và trình tựnghiên cứu những kiến thức cơ bản và mở rộng tìm hiểu những vấn đề liên quan.Thêm vào đó, không còn sự giám sát gắt gao của giáo viên, sinh viên phải tự nỗ lực
để có thể đạt hiệu quả cao trong kì thi kết thúc môn học
Học ở Cao đẳng, Đại học đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một khối lượng kiếnthức lớn và khó cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tựnghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông quahoạt động tự học này đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập Tự học
Trang 22giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai.Chính trong quá trình tự học, sinh viên đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loàingười thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện chosinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức,biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới Tự học khôngnhững giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi cònngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú, thói quen và phươngpháp tự học thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện hơn vốn hiểu biết củamình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước những biến đổi không ngừng của khoahọc và công nghệ trong thời đại ngày nay Tự học thường xuyên, tích cực, tự giác,độc lập không chỉ giúp sinh viên mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viênhình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho
họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, ócphê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học Trong quá trìnhhọc tập ở trường Đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì
sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nên động lực nộisinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khảnăng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo
1.3.4 Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên
Vấn đề tự học được đặt ra có ý nghĩa rất lớn, rất thời sự khi chúng ta chủtrương tiến hành xây dựng một xã hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốtđời Thực chất tự học nói chung và tự học của sinh viên cao đẳng nói riêng là mộtquá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có giáo viên, đó là mộtquá trình “lao động khoa học” tiệm cận với phương pháp nghiên cứu Có thể nóiquá trình tự học của sinh viên là một quá trình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạtđược mục tiêu học tập Nếu thiếu sự nỗ lực thì sinh viên không thể đạt kết quả tốt,đây cũng chính là điều kiện để sinh viên nâng cao chất lượng học tập của bản thân
và các trường đại học nâng cao chất lượng giáo dục
Để làm tốt nhiệm vụ của người học, sinh viên cần phải quan tâm đến nhữngvấn đề sau: phương pháp (cách) nghe giảng, cách ghi chép, cách đọc giáo trình,
Trang 23sách, tài liệu tham khảo, tự xây dựng, quản lí thực hiện kế hoạch học tập cá nhân,phương pháp tư duy, kỹ năng phân tích, tổng hợp, kỹ năng giải quyết vấn đề,…Tựhọc ở trình độ cao đẳng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giáo dục và tựgiáo dục Nó thể hiện rõ nét ý thức tự giáo dục của sinh viên trong cuộc sống, đặcbiết là trong quá trình lập thân, lập nghiệp Nó giúp sinh viên tự lực nắm vững trithức, kỹ năng kỹ xảo về nghề nghiệp và tương lai Trong quá trình tự học mỗi sinhviên tự vận động, từng bước chuyển hóa vốn kinh nghiệm, tri thức của loài người đãtích lũy trong quá trình lịch sử thành vốn tri thức riêng của bản thân Trong quátrình đó, sinh viên đã thể hiện cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp vàthống nhất một cách hài hòa vai trò chủ thể nhận thức với vai trò đối tượng điềukhiển trong dạy học Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng caochất lượng và hiệu quả học tập khi còn ở trường mà trong tương lai, người sinh viên
sẽ trở thành người cán bộ có năng lực, hứng thú, thói quen và phương pháp tự học,
tự nghiên cứu thường xuyên cập nhật tri thức giải quyết được các yêu cầu bức xúccủa cuộc sống đặt ra, tránh được sự lạc hậu trước sự phát triển ngày càng gia tăngcủa xã hội trong thời đại ngày nay Tự học – một hoạt động của sinh viên giúp chochính người học vươn lên trong cuộc sống, tự khẳng định mình bằng các đức tínhkiên trì, chịu khó, xây dựng ý chí phấn đấu vì khoa học, vì cuộc sống, sớm xác địnhđược định hướng, niềm tin và lòng say mê nghiên cứu khoa học Tự học ở bậc đạihọc có nội dung đa dạng, phong phú, vì vậy đòi hỏi sinh viên phải rất chủ độngtrọng việc xây dựng kế hoạch một cách khoa học, cụ thể với ý thức trách nhiệm cao.Nội dung tự học bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có thể dotập thể sinh viên tiến hành ngoài giờ học chính khóa Có thể nói khối lượng côngviệc tự học của sinh viên là rất lớn, tính chất hoạt động đa dạng Thời gian sinh viêndành cho tự học tương đối nhiều, tỷ lệ thường là 1-1 so với thời gian học trên lớptương ứng khoảng 28- 30 tiết một tuần Vì vậy, trong thời gian biểu của sinh viênthường nảy sinh nhiều khó khăn khi giải quyết mâu thuẫn giữa các vấn đề sau:
Thời gian học và thời gian tự học;
Thời gian tự học và thời gian thực hiện các hoạt động khác (vui chơi thểthao, sinh hoạt văn hóa – xã hội);
Trang 24Khối lượng công việc và chất lượng công việc;
Khối lượng công việc và sức khỏe;
Khối lượng, chất lượng công việc và điều kiện vật chất
Chính vì vậy, hoạt động tự học cần phải có kế hoạch khoa học, thời gian biểuhợp lý thì mới đem lại hiệu quả, chất lượng, đồng thời góp phần thúc đẩy chấtlượng tự học, tự nghiên cứu như mong muốn
Ngoài ra còn phải kể đến các trở ngại của sinh viên trong quá trình tự họcnhư: Tính thụ động của sinh viên, lười đọc sách, ôn bài ở nhà, chỉ đợi đến giờ lênlớp là vào học, không đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáotrình, bài giảng sẵn có trong tay Sinh viên chỉ học những gì giáo viên nêu ở lớp,nếu giáo viên tóm tắt vấn đề thì sinh viên mới nắm được, đây là kiểu học ở bậc phổthông, mang tính từ chương Sinh viên chưa nắm được phương pháp tự học và cáchhọc ở bậc đại học, nhất là bước chuẩn bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp.Một trở ngại lớn nữa là vấn đề mưu sinh, sinh viên gặp phải điều kiện kinh tế khókhăn, phải đi làm thêm, đôi khi không dự lớp và không có thời gian tự học, vì thếchất lượng học tập kém và không theo nổi việc học Vấn đề ngoại ngữ là một trởngại lớn đối với việc sinh viên tự học Khi đã bước sang năm thứ 2 và 3, tất yếu làsinh viên cần phải đọc thêm nhiều tài liệu chuyên môn, đa phần là sách nước ngoài,tài liệu tiếng Việt không nhiều, vì thế sinh viên không thể tích lũy kiến thức chuyênngành theo kiểu tự học qua sách, tài liệu chuyên môn ngoại ngữ Sinh viên khó khăntrong việc học nhóm do thời khóa biểu khác nhau Thiếu kỹ năng trong làm việcnhóm, đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, chưa phát huy hết tính tự giác trong học tập.Nhà trường không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là học nhóm
1.3.5 Một số yêu cầu đối với hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng
Trên cơ sở quỹ thời gian nói chung và quỹ thời gian tự học nói riêng, sinhviên cần phải xây dựng được kế hoạch tự học, nội dung tự học và phương pháp tựhọc, trong đó xây dựng được kế hoạch chi tiết thời gian tự học và phải đảm bảo một
số yêu cầu như sinh viên đảm bảo thời gian tự học cho từng môn tương xứng vớikiến thức của môn học đó Không ức chế, đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp
lý các dạng tự học, các môn có tính chất khác nhau Chống mỏi mệt và tái sản xuất
Trang 25sức khỏe, đảm bảo xen kẽ, luân phiên giữa tự học và nghỉ ngơi một cách hợp lý.Sinh viên có kế hoạch và thời gian biểu tự học một cách mềm dẻo linh hoạt Nộidung tự học lợp lý, có nội dung chương trình rõ ràng, biết khai thác các thông tinqua tài liệu, sách vở, qua thầy cô, bạn bè Nội dung tự học phải phù hợp.
Sinh viên cao đẳng phải được trang bị kiến thức về tự học bằng nhiềuphương pháp khác nhau như học nhóm, học trên thư viện, học ngoài xã hội
Hoạt động tự học đòi hỏi sinh viên phải nắm được cách thức làm việc độ lậptrong các hoạt động như đọc sách, tự lực hoàn thành các loại bài tập… Tất nhiên,cách thức làm việc độc lập không phải có sẵn, tự nó đến với con người mà phải tậpmới có, nhất là đối với hoạt động trí óc, hoạt động phức tạp, đòi hỏi phải đầu tư rènluyện Nó sẽ được hình thành dần dần trong quá trình tập luyện kiên trì và có hệthống, trên cơ sở tự giác học tập
Tập trung tư tưởng cũng là khâu quan trọng Tập trung tư tưởng để làm việc
là một vấn đề khó, thập chí là nan giải đối với nhiều người Hiện nay trong xã hộicông nghiệp, lao động trí óc lại càng yêu cầu sự tập trung tư tưởng Đây là thói quentốt phải rèn luyện rất nhiều thì mời nâng cao hiệu suất làm việc, chất lượng tự họcnhư mong muốn Để tập trung tư tưởng cần phải có sự say mê, hứng thú, tạo đượccảm giác thoải mái khi học tập Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý cácmôn học, đảm bảo tính mềm dẻo mang lại hiệu quả cao nhất
Tập trung tư tưởng tốt thì sẽ tiết kiệm thời gian Để tiết kiệm thời gian, cầnphải: làm việc một cách tự giác, tránh học tập lơ là, hời hợt Sinh viên phải biết cách
tổ chức ngăn nắp nơi tự học, tạo điều kiện dễ dàng nhanh chóng tìm kiếm đượcnhững thứ cần dùng (sách, vở, giầy, các phương tiện kỹ thuật …) tránh bừa bãi, lộnxộn
1.4 Quản lí hoạt động tự học của sinh viên
1.4.1 Khái niệm quản lí
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từnhững phạm vi cá nhân, tập đoàn đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia Trong tất cảcác lĩnh vực của đối tượng xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải
Trang 26dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ởtầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu sự quản lý nào đó.
Có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau:Theo K Omarov (Liên xô)- 1983: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý cácnguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tốiưu
Theo H.Koontz (Người Mỹ): Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảmbảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổchức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thểđạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân
ít nhất [12, Tr33]
Theo GS - TS Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kếhoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (Nói chung là kháchthể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [30, Tr31]
Theo GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quátrình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được nhữngmục tiêu nhất định [25, Tr17]
Quan niệm truyền thống: Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủthể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy,tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định
Như vậy quản lý có các thành phần: Chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mụctiêu quản lý Ba thành phần này gắn bó chặt chẽ tạo nên hoạt động của bộ máy
Người ta cũng có thể xem xét quản lý theo 2 góc độ khác:
a Góc độ chính trị xã hội: Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động
Sự phát triển của xã hội từ thời kỳ mông muội đến nay bao giờ cũng bao gồm 3 yếutố: Tri thức, sức lao động và quản lý
Để vận hành sự kết hợp này, cần có một cơ chế quản lý phù hợp Quản lýđược xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng để phát huykhả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trang 27b Theo góc độ hành động: Quản lý là quá trình điều khiển - Chủ thể quản lýđiều khiển hoạt động của người dưới quyền và các đối tượng khác để đạt tới đíchđặt ra.
Điều khiển người dưới quyền nghĩa là tổ chức họ lại, đưa họ vào guồng máybằng các quy định, quy ước tạo động lực và hướng họ vào mục tiêu theo một lộtrình nhất định
Các đối tượng khác có thể là các vật hữu sinh, có thể là các vật thể vô tri vôgiác Các đối tượng này đều được khai thác phục vụ cho hoạt động của con người
* Quan niệm hiện nay: Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu
Theo quan niệm chung nhất: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định
hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Thực chất quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Đó là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý nhằm đạt được mục tiêu chung Bản chất của quản lý là một loại lao động để điềukhiển lao động; vì thế, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạtđộng quản lý càng có vai trò quan trọng
Nội hàm khái niệm quản lý phản ánh đó là: Hoạt động phối hợp nhiều người,nhiều yếu tố; chủ thể quản lý định hướng các hoạt động đó theo một mục tiêu nhấtđịnh; kiểm soát được tiến trình của hoạt động trong quá trình tiến tới mục tiêu
1.4.2 Khái niệm quản lý hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng
Quản lí hoạt động tự học của sinh viên là một trong những nội dung quantrọng của hoạt động quản lí học tập ở các trường cao đẳng, đại học
Trên cơ sở các khái niệm đã được xác định về “Tự học”, “Hoạt động tự học”,
“Quản lí”, “Quản lí giáo dục” đã được trình bày ở trên, có thể hiểu quản lý hoạt động tự học của sinh viên là những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật khách quan của các chủ thể quản lý đến tất cả các khâu trong quá trình tự học
Trang 28của sinh viên các trường cao đẳng nhằm giúp sinh viên đạt được mục tiêu học tập,
từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường.
* Mục tiêu quản lí:
Mục tiêu của việc quản lý hoạt động tự học là làm cho quá trình thực hiệncác nhiệm vụ học tập của sinh viên đạt tới kết quả mong muốn Chủ thể quản lýphải nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong nhận thức của sinh viên
để có biện pháp thúc đẩy, khuyến khích sinh viên phát huy các yếu tố tích cực, hạnchế các yếu tố tiêu cực phấn đấu ngày càng đạt kết quả cao trong học tập và rènluyện Việc học tập là do mỗi sinh viên thực hiện một cách có ý thức và chủ động:
“Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện vàbiến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biếnđổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình
* Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ tác động qua lại vớinhau, đó là quá trình trao đổi thông tin và có mối liên hệ ngược, nhằm đạt các mụctiêu quản lý đề ra Đây là hai thành tố cơ bản của quá trình quản lý, hoạt động quảnlý
Đối tượng quản lý trong giáo dục nói chung là những cá nhân, tổ chức thực
hiện hoặc nhận được sự giáo dục – đào tạo, chịu sự tác động của chủ thể quản lý.Đối tượng trong các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên là quá trình
tự học của sinh viên đang trong thời gian học tập, rèn luyện tại trường
Chủ thể quản lí trong giáo dục nói chung là người, tổ chức xác định mục tiêu
quản lý, biện pháp quản lý, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, đánh giá kết quả và tác độngđến đối tượng quản lý Chủ thể quản lý trong quản lý hoạt động tự học của sinh viêncao đẳng là những cá nhân, bộ phận chịu trách nhiệm tác động vào quá trình tự họccủa sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của nhà trường
Như vậy, theo cấu tạo và chức năng của các cá nhân, bộ phận trong nhàtrường cao đẳng, có thể kể đến các bộ phận chức năng tham gia vào quản lý hoạtđộng tự học của sinh viên gồm: Các khoa, bộ môn; giảng viên; giáo viên chủ nhiệm
Trang 29lớp; tập thể lớp; phòng Công tác học sinh – sinh viên; phòng Đào tạo; Đoàn thanhviên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội sinh viên.
Như vậy, quản lý hoạt động tự học của sinh viên đòi hỏi cần có sự phối hợpđồng bộ của nhiều bộ phận, đơn vị, cá nhân trong các nhà trường cao đẳng
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đi nghiên cứuvai trò của chủ thể quản lý hoạt động tự học của sinh viên là Hiệu trưởng thông quađội ngũ giảng viên (giảng viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm)
1.4.3 Quyền hạn, vai trò và trách nhiệm của hiệu trưởng trường cao đẳng
Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu tráchnhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quyđịnh của pháp luật, Điều lệ trường cao đẳng, các quy chế, quy định đã được cơ quanquản lý nhà nước phê duyệt
Quyền hạn và trách nhiệm của Hiệu trưởng được quy định tại Điều 40 Điều
lệ trường Cao đẳng Trong đó có các nội dung liên quan đến hiệu trưởng các trườngcao đẳng công lập như sau:
Hiệu trưởng tổ chức xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lấy
ý kiến thông qua của Hội đồng Trường gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét,công nhận
Hiệu trưởng tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm củatrường cao đẳng; các quyết nghị, kết luận của Hội đồng Trường (đối với trườngcông lập)
Hiệu trưởng trường cao đẳng công lập có trách nhiệm lập kế hoạch dài hạn
và kế hoạch hoạt động hàng năm; thông qua Hội đồng Trường trình cơ quan quản lýnhà nước phê duyệt dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm; tổ chức thực hiện
kế hoạch tài chính đã được cơ quan quản lý nhà nước phê duyệt; quản lý tài chính,tài sản và các hoạt động của trường; quyết định sử dụng nguồn vốn vào công tácđào tạo và nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, xây dựng và phát triển trườngtheo kế hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt
Hiệu trưởng quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên và sinh viên; quyết định
bổ nhiệm các chức vụ từ Trưởng khoa, Trưởng phòng hoặc tương đương trở xuống;
Trang 30thực hiện những công việc thuộc thẩm quyền trong tuyển dụng giảng viên, cán bộ,nhân viên và ký kết các hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật
Hiệu trưởng khai thác, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằmthực hiện mục tiêu đào tạo, phát triển trường và đảm bảo chất lượng, hiệu quả đàotạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh
Hiệu trưởng là chủ tài khoản của trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật
về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của đơn vị
Hiệu trưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc quản lý tài chính, tài sản vàcác quy định của Nhà nước về lao động - tiền lương, tiền công, học bổng, học phí,trợ cấp xã hội, các chế độ chính sách đối với giảng viên, cán bộ, nhân viên và ngườihọc của trường
Hiệu trưởng quyết định mức chi phí quản lý, chi nghiệp vụ trong phạm vinguồn tài chính được sử dụng, tuỳ theo nội dung và hiệu quả công việc
Hiệu trưởng tổ chức các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất và cungứng dịch vụ, nhận tài trợ và tiếp nhận viện trợ của nước ngoài theo quy định củapháp luật để bổ sung kinh phí hoạt động và đầu tư phát triển nhà trường
Hiệu trưởng bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong nhà trường Xâydựng mối quan hệ chặt chẽ với các đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động củatrường
Hiệu trưởng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trong nhàtrường và là người thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Như vậy, quản lý hoạt động tự học của sinh viên cũng là một trong nhữngnội dung quan trọng nằm trong công tác quản lý người học và quản lý hoạt độngđào tạo
1.4.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học ở sinh viên của hiệu trưởng các trường cao đẳng.
Hiệu trưởng không trực tiếp quản lý hoạt động tự học của sinh viên mà thôngqua các phòng, khoa, tổ bộ môn và đặc biệt là đội ngũ giảng viên Đội ngũ giảngviên có vai trò quan trọng trong việc giảng dạy, quản lý sinh viên, biết được quá
Trang 31trình học tập của sinh viên thông qua việc trực tiếp đứng lớp, các bài kiểm tra và hồ
sơ lưu trữ học tập của từng sinh viên Vì vậy yêu cầu đối với nhiệm vụ của giảngviên phải được Hiệu trưởng quan tâm và phải có những nhiệm vụ cụ thể được BộGiáo dục và Đào tạo quy định
Giảng viên phải là người nghiên cứu và nắm vững mục tiêu giáo dục, nộidung, chương trình, phương pháp giáo dục đại học, quy chế thi, kiểm tra, đánh giá,
vị trí và yêu cầu của môn học, ngành học được phân công đảm nhiệm; nắm bắt khảnăng, kiến thức của người học
Giảng viên phải biết xây dựng kế hoạch dạy học, đề cương môn học, bàigiảng và thiết kế học liệu cần thiết phục vụ cho giảng dạy; giảng bài, phụ đạo vàhướng dẫn người học kỹ năng học tập, nghiên cứu, làm thí nghiệm, thực hành, thảoluận khoa học, thực tập nghề nghiệp, tham gia các hoạt động thực tế phục vụ sảnxuất và đời sống
Giảng viên có trách nhiệm đánh giá kết quả học tập của người học
Giảng viên là người tham gia giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho sinhviên, giúp sinh viên phát huy vai trò chủ động trong học tập và rèn luyện; hướngdẫn sinh viên thực hiện mục tiêu đào tạo, nhiệm vụ chính trị của cơ sở giáo dục đạihọc
Giảng viên là người hướng dẫn người học tham gia đánh giá hoạt động dạyhọc, thường xuyên cập nhật thông tin từ người học để xử lý, bổ sung, hoàn chỉnhphương pháp, nội dung, kế hoạch giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quảđào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội Giảng viên phải có trách nhiệm dự giờ vàtham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên khác Nhiệm vụ của giảngviên là tham gia xây dựng và phát triển ngành học, chương trình đào tạo, cải tiến nộidung, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu và thực hành môn học Giảng viên biếtcách biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo và tài liệu tham khảo phục vụ công tácđào tạo, bồi dưỡng
Trang 32* Đặc điểm quản lý tự học của sinh viên
Quản lý hoạt động tự học bao gồm chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.Đây là đặc điểm cơ bản của quản lý nói chung Bởi vì, không có chủ thể quản lý thìviệc quản lý đặt ra vô nghĩa Song, nếu chủ thể quản lý chỉ tồn tại trên danh nghĩathì khái niệm quản lý cũng chỉ là hình thức Chủ thể quản lý trong hoạt động tự họccủa sinh viên là những bộ phận chịu trách nhiệm tác động vào quá trình tự học củasinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo và của nhà trường Đối tượng
bị quản lý trong giáo dục là những người thực hiện hay nhận được sự giáo dục - đàotạo Do đối tượng bị quản lý trong hoạt động tự học cũng là con người (người học)nên nó đòi hỏi chủ thể quản lý phải có những phẩm chất, năng lực tương xứng vớicông việc Chủ thể quản lý hoạt động tự học ở đề tài nghiên cứu là Hiệu trưởngTrường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội và đối tượng bị quản lý là những sinh viênđang theo học tại trường
Quản lý hoạt động tự học có liên quan đến việc trao đổi thông tin và có mốiliên hệ ngược Quá trình quản lý diễn ra là nhờ các tín hiệu thông tin Trong quản lýhoạt động tự học, thông tin là tín hiệu mới được thu nhận, được đánh giá là có íchcho việc tự học Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng thì phải đưa ra cácthông tin Ở đây Hiệu trưởng là người phải tiếp nhận các thông tin về hoạt động tựhọc của sinh viên thông qua các yêu cầu, chính sách đối với đội ngũ giảng viên, cácphòng, khoa, tổ, bộ môn Các thông tin trong quản lý hoạt động tự học chủ yếu làcác nội quy, quy định của nhà trường về học tập (nói riêng là tự học) Người họcmuốn định hướng cho hoạt động tự học thì phải tiếp nhận các thông tin điều khiểncủa chủ thể quản lý để tính toán và điều khiển mình Chủ thể quản lý hoạt động tựhọc ở đây là Hiệu trưởng, sau khi đã đưa ra các quyết định quản lý cùng với việcbảo đảm vật chất khác cho hoạt động tự học phải thường xuyên theo dõi, kiểm trakết quả thực hiện
Quản lý hoạt động tự học cũng phải luôn biến đổi Khi người học khác nhau
về bậc học, về trình độ, về ngành nghề đào tạo thì chủ thể quản lý hoạt động tự họccũng phải đổi mới các biện pháp quản lý cho phù hợp Khi đó, đối tượng quản lý
Trang 33cũng phải dần thích nghi với những mệnh lệnh của người quản lý cho phù hợp vớiđiều kiện hoàn cảnh của bản thân mình.
* Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Quản lý hoạt động tự học trong nhà trường cao đẳng là những tác động trựctiếp vào người học giúp họ làm giàu thêm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, của loàingười đã tích lũy được, đồng thời tự rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho cuộcsống và nghề nghiệp tương lai
Để hoạt động tự học của sinh viên có hiệu quả tốt trong công tác quản lý cầnthực hiện các nội dung sau:
- Quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy – học và nghiên cứu của sinh viên.
Đây là công việc thường xuyên của Hiệu trưởng, thực hiện công việc này sẽgiúp Hiệu trưởng nắm bắt được tiến độ giảng dạy, việc thực hiện nội dung chươngtrình, phương pháp dạy của giảng viên – sinh viên và phương pháp tự học của sinhviên trong trường Từ đó, Hiệu trưởng đề ra những biện pháp chỉ đạo, tạo điều kiện
để giảng viên, sinh viên hoàn thành được nhiện vụ dạy - học và phát huy được nănglực tự học Trong quá trình tổ chức thực hiện đòi hỏi Hiệu trưởng phải sâu sát hoạtđộng dạy của giảng viên, hoạt động học của sinh viên để kịp thời phát huy nhữngmặt mạnh, điều chỉnh những mặt còn yếu kém của họ Trước hết Hiệu trưởng nhàtrường phải có một đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm chuyên môn trong giảng dạy.Đội ngũ giảng viên giỏi, giàu kinh nghiệm sẽ tác động tích cực đến việc học củasinh viên Ví dụ: Giảng viên hướng dẫn sinh viên học ngay trên lớp, biết khai tháctài liệu và tự lập kế hoạch học tập cho bản thân Đội ngũ giảng viên phải có tráchnhiệm đánh giá kết quả học tập của sinh viên thông qua các đợt kiểm tra, có tráchnhiệm báo cáo kết quả cho Hiệu trưởng khi Hiệu trưởng yêu cầu
- Quản lý kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học là bảng mô tả một cách chi tiết về hoạt động tự học dự địnhtiến hành trong thời gian tới với đầy đủ các yếu tố: thời gian, không gian, nội dung,phương tiện, điều kiện để thực hiện việc học tập Trong đó, nội dung học được phânchia một cách hợp lý dựa theo nhu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân vàcác điều kiện khả thi nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học Việc xây
Trang 34dựng kế hoạch tự học giúp sinh viên biết mình phải làm gì để đạt mục tiêu; giúp choquá trình tự học diễn ra đúng dự kiến Do đó, nó giúp cho sinh viên thực hiện cóhiệu quả các nhiệm vụ tự học và tự kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học mộtcách thuận lợi tiết kiệm được thời gian Kế hoạch học tập của sinh viên cần được cụthể hoá thời gian biểu trong từng buổi, từng tuần, từng tháng Bởi lẽ, kế hoạch tựhọc của sinh viên càng rõ ràng thì càng thuận lợi cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả
tự học và mức độ đạt được của mục tiêu tự học, tự đào tạo của sinh viên
Vì vậy, quản lý việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học sẽ gópphần nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên Ở đây Hiệu trưởng quản lý kế hoạch
tự học của sinh viên bằng cách giao cho giảng viên đến từng lớp, yêu cầu từng họcsinh phải lập kế hoạch tự học cho từng giai đoạn Ví dụ như lập kế hoạch tự học chohọc kỳ I năm học 2012 – 2013 Hiệu trưởng phối hợp với Ban ký túc xá trườngquản lý giờ giấc và việc thực hiện nội quy của Ban ký túc Hiệu trưởng phải có kếhoạch và kiểm tra hoạt động tự học của sinh viên thông qua việc nghiên cứu, khaithác tài liệu tại thư viện trường Đến và dự giờ một số lớp bất chợt để nắm bắt đượchoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên từ đó Hiệu trưởng cóthể thay đổi chương trình, cách thức giảng dạy phù cho phù hợp với từng lớp, từngchuyên ngành bằng việc đưa ra những quyết định, những chính sách mới
- Quản lý nội dung tự học.
Nội dung tự học, tự đào tạo trong nhà trường được xác định một cách rõ ràngtheo mục tiêu đào tạo, bao gồm khối kiến thức về khoa học cơ bản và khối kiến thứcchuyên môn của ngành sinh viên học Ngoài nội dung học tập bắt buộc trongtrường, sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu trong lĩnh vực tri thức và nghềnghiệp theo sở thích, theo năng khiếu bản thân Ngoài việc chiếm lĩnh tri thức khoahọc bằng tự học, tự đào tạo, sinh viên còn có điều kiện nâng cao khả năng vàphương pháp tự học, rèn luyện nhân cách, ý chí của chính bản thân Nội dung tựhọc cơ bản gồm: Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc, sinh viênphải hoàn thành; Định hướng nghiên cứu, mở rộng và đào sâu tri thức từ những vấn
đề trong nội dung học tập
Trang 35Quản lý nội dung tự học nhằm hướng dẫn nội dung tự học của sinh viên phùhợp với mục tiêu, chương trình đào tạo, ngoài ra Hiệu trưởng và giảng viên cầnthường xuyên tư vấn nội dung tự học cho sinh viên Hiệu trưởng phải thường xuyêncập nhật những thông tin, chính sách mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mở các lớptập huấn bồi dưỡng chyên môn, mới chuyên gia, nhà khoa học đến tư vấn, giảngdạy cho giảng viên để đội ngũ giảng viên được nhận thức và nâng cao năng lực bảnthân Có thể đội ngũ giảng viên trong trường tự học tập trao đổi kinh nghiệm lẫnnhau thông qua các buổi tọa đàm, các buổi sinh hoạt tổ, bộ môn Hiệu trưởng nhàtrường thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu, các hoạt động bổ ích gắn với nhữngchủ đề như “Ngày hội đọc sách, phát động thi đua nhân ngày 26/3, hội thi thể dụcthể thao” cho sinh viên, giúp sinh viên có được sức khỏe tốt, hoàn thiện bản thân,nâng cao tinh thần học tập
- Quản lý phương pháp tự học.
Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung tự học Các phương pháp tựhọc có những điểm chung mà người học cần tập trung nghiên cứu, thực hiện Đó làcác phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, quynạp, diễn dịch, sơ đồ, bản vẽ, ký hiệu Tuy nhiên, bên cạnh các phương pháp họcchung còn có các phương pháp học chung còn có các phương pháp học đặc thù tuỳtheo từng môn học Chẳng hạn: phương pháp học dựa theo quan điểm giao tiếp tíchcực trong thực hành tiếng khi học ngoại ngữ, phương pháp thực hành thí nghiệmtrong học tập Hoá - sinh
Từ các phương pháp học tập, tự học nêu trên, người học cần lựa chọn và xácđịnh cho bản thân phương pháp học tập phù hợp Người học phải tự vượt khó, phảiquyết tâm thực hiện đúng kế hoạch tự học từng ngày, từng tháng, từng năm; phảitranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên, bạn bè cùng các phương tiện hỗ trợ học tập để
tự học đạt kết quả
Quản lý phương pháp tự học nhằm hướng cho sinh viên có phương pháp tựhọc hài hoà, phù hợp với nội dung học tập, với điều kiện và năng lực học tập củamỗi sinh viên Quản lý phương pháp tự học người Hiệu trưởng phải xác định đượcmục tiêu giáo dục của nhà trường Ở đây nhà trường đang giảng dạy theo hệ thống
Trang 36tín chỉ nên phương pháp tự học giành cho sinh viên cũng rất khác đối với học theoniên chế Hiệu trưởng nên khuyến khích sinh viên học theo nhóm, học trên thư việntrường… Hiệu trưởng nên có kế hoạch cho việc đầu tư trang thiếu bị, cơ sở vật chấtphục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên Hiệu trưởng thường xuyên kiểm traphương pháp tự học bằng cách giao cho đội ngũ giảng viên kiểm tra bài bất chợt,kiểm tra lượng kiến thức và giao hẳn cho sinh viên tự nghiên cứu, chủ động tìmthông tin khi đưa ra một vấn đề cần bàn luận.
- Quản lý việc tổ chức tự học.
Tổ chức việc tự học cho sinh viên bao gồm sự tổ chức điều khiển của giảngviên và sự tổ chức, tự điều khiển của sinh viên Cả hai hoạt động đều phải thốngnhất với nhau nhằm mục đích cuối cùng là giúp sinh viên tiến hành tự học đạt kếtquả
Tổ chức việc tự học trước hết, người học phải biết tự sắp xếp công việc theođúng kế hoạch, trình tự Mặt khác, tự học có nhiều khâu tiến hành thông qua hoạtđộng học tập Do vậy, giảng viên phải làm cho người học “học đúng cách, làm chongười học biết cách học và cách đó là khả thi ” [24, Tr213]; phải làm cho họ biết bốtrí các công việc đã tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các phương tiệncần thiết để hoàn thành từng công việc, biết đánh giá kết quả tự học của bản thân.Quản lý tổ chức hoạt động tự học là thực hiện hoạt động tự học theo đúng kếhoạch đề ra Công việc này đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ giữa hoạt động dạy củagiảng viên, hoạt động học của sinh viên và các lực lượng tham gia quản lý của nhàtrường Chúng được phản ánh tập trung ở kết quả nắm bắt tri thức, kỹ năng củangười học Ở đây Hiệu trưởng quản lý việc tổ chức tự học của sinh viên bằng cáchyêu cầu giảng viên phải hướng dẫn sinh viên có kế hoạch học tập cụ thể, linh hoạt,không gò bó Kế hoạch học tập có thể thay đổi cho phù hợp với chương trình học,thời gian học và trình độ học của sinh viên Hiệu trưởng yêu cầu giảng viên cungcấp các thông tin về tình hình học tập của sinh viên bằng cách xem kết quả học tập,quá trình, hồ sơ lưu trữ của sinh viên, đề từ đó đánh giá được trình độ học tập,nghiên cứu của sinh viên học tập tại trường
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học.
Trang 37Kiểm tra, đánh giá kết quả tự học sẽ giúp cho sinh viên xác định những việc đãthực hiện và chưa thực hiện, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình đối với việc
tự học Đó là kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên, kiểm tra việcthực hiện kế hoạch tự học của sinh viên, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự họctheo mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học; phát hiện những sai lệch giúp sinh viênđiều chỉnh việc tự học
Việc tự kiểm tra, đánh giá trong tổ chức việc tự học của sinh viên là một yếu tốquyết định thắng lợi của hoạt động học nói chung và tự học nói riêng Những độngtác từ bên ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên là không thể thiếuđược Nó là một khâu quan trọng của Hiệu trưởng để đo lường kết quả thực hiện kếhoạch và điều chỉnh sai lệch nếu có để đạt kết quả mong muốn Tuy nhiên, côngviệc này là khó khăn đòi hỏi người Hiệu trưởng phải kết hợp nhiều yếu tố, có hìnhthức linh hoạt thì mới đánh giá đúng kết quả tự học của người học Hiệu trưởngphải phối hợp với phòng công tác học sinh – sinh viên, phòng đào tạo để có kếhoạch giảng dạy phù hợp với nội dung, mục tiêu đào tạo của nhà trường, kiểm soátđược hoạt động của sinh viên để từ đó có những đánh giá đúng kết quả học tập củasinh viên Hiệu trưởng yêu cầu đội ngũ giảng viên trực tiếp đứng lớp kiểm tra độtsuất ngay trên lớp, tránh tình trạng sinh viên học tủ, học vẹt, học để đối phó
- Quản lý các điều kiện bảo đảm cho việc tự học
Nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, người Hiệu trưởng phải thực hiệnquản lý các điều kiện bảo đảm cho việc tự học của sinh viên ở các mặt sau:
Quản lý cơ sở vật chất bảo đảm cho việc ăn, ở học tập trên lớp, tự học, sinhhoạt tập thể của sinh viên
Quản lý trang thiết bị hỗ trợ dạy – học Áp dụng khoa học kỹ thuật vào tronggiảng dạy Hiệu trưởng phải có nguồn kinh phí dự trù từ đầu năm cho việc mua sắmtrang thiết bị dạy học Theo dõi đôn đốc phòng Quản trị kinh doanh thường xuyênkiểm tra các máy tính và đường dây mạng của các lớp, tránh tình trạng sinh viêntruy cập vào các trang web đen, có nội dung không phù hợp
Trang 38Quản lý giáo trình, tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạyhọc Hiệu trưởng luôn cập nhận những thông tin, những bài giảng giáo trình mớiphục vụ cho việc học tập, nghiên cứu tài liệu của sinh viên Có chính sách khuyếnkhích giảng viên tham gia viết giáo trình, tài liệu giảng dạy, mời chuyên gia cóchuyên môn về thẩm định và đưa vào giảng dạy cho sinh viên, tiết kiệm được mộtphần nguồn kinh phí mua giáo trình và tài liệu.
1.5 Khái niệm giảng viên cao đẳng và nhiệm vụ của giảng viên cao đẳng
1.5.1 Khái niệm giảng viên cao đẳng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Namthì: “Giảng viên là người giảng dạy ở đại học hay lớp huấn luyện cán bộ” TheoLuật Giáo dục năm 2009, giảng viên bao gồm các nhà sư phạm được tuyển dụng và
bổ nhiệm vào các ngạch giảng viên, giảng viên chính thức, phó giáo sư, giảng viêncao cấp và giáo sư trong biên chế sự nghiệp của cơ sở đào tạo đại học, cao đẳngcông lập hoặc trong danh sách làm việc toàn thời gian của cơ sở giáo dục đại học,cao dẳng ngoài công lập
Giảng viên cơ hữu: là giảng viên thuộc biên chế chính thức của nhà trường Giảng viên thỉnh giảng: giảng viên thỉnh giảng gồm có giảng viên ở các
trường đại học, học viện thỉnh giảng tại trường và giảng viên kiêm chức là cán bộlãnh đạo các Cục, Vụ, Viện khoa học thanh tra
Theo quy định tại Điều 74 của Luật Giáo dục và Điều 31 của Nghị định số75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Giáo dục “thỉnh giảng là việc một cơ sở giáo dục mời nhà giáo hoặc người có đủ tiêu chuẩn của nhà giáo ở nơi khác đến giảng dạy Khuyến khích các cơ sở giáo dục mời nhà giáo, nhà khoa học trong nước, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đến giảng dạy ở các trường Việt Nam theo chế độ thỉnh giảng”
Người được mời thỉnh giảng phải thực hiện các nhiệm vụ như quy định đốivới giảng viên cơ hữu Người được mời thỉnh giảng là cán bộ, công chức phải đảmbảo hoàn thành nhiệm vụ ở nơi mình công tác
1.5.2 Nhiệm vụ của giảng viên
Trang 39Ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của LuậtGiáo dục, giảng viên có những nhiệm vụ sau:
Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục đại học gồm các trình độ: Caođẳng, Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý, cán bộ khoa học kỹ thuật;
Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
Tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý khoa học và công nghệ tại cơ sởgiáo dục đại học;
Thường xuyên học tập , bồi dưỡng để nâng cao trình độ mọi mặt theo tiêuchuẩn nghiệp vụ của giảng viên;
Tham gia các hoạt động xã hội theo trách nhiệm, nghĩa vụ công dân
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng
1.6.1 Yếu tố khách quan
- Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáodục; các chính sách của ngành Giáo dục trong từng giai đoạn cụ thể
- Vấn đề về nội dung, chương trình đào tạo: Do sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng lớn và tăng lênmột cách nhanh chóng Trong khi đó, thời gian và không gian học tập trên lớp có xuhướng giảm đi, các kênh thông tin đến với người học cũng ngày càng phong phú, đadạng, do đó người học phải tăng cường tự học Có như vậy, sinh viên Việt Nam mới
có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế
- Phương thức đào tạo mà sinh viên tham gia: Trong những năm gần đây,
đào tạo theo chế độ tín chỉ đang dần được thiết kế phù hợp để thay thế phương thứcđào tạo theo niên chế Nếu theo đúng bản chất của phương thức đào tạo theo họcchế tín chỉ thì sinh viên hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn cách học, môn học,người dạy và sắp xếp thời gian cho việc học, tự học, tự nghiên cứu Lúc này, tự học
sẽ quyết định năng lực, trình độ của mỗi sinh viên
- Phương pháp giảng dạy của giảng viên:
Trang 40Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quátrình dạy học Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học củagiảng viên và cách thức tổ chức hoạt động học tập của sinh viên Mối quan hệ giữahoạt động dạy và hoạt động học là mối quan hệ tương tác, phương pháp dạy quyếtđịnh, điều khiển phương pháp học, phương pháp học tập của sinh viên là cơ sở đểlựa chọn phương pháp dạy.
Như vậy, người dạy là người thiết kế, tổ chức quá trình tự học của người học
Vì vậy việc thay đổi cách dạy của người thầy đòi hỏi người học phải thay đổi cáchhọc, người học phải tự học dưới sự hướng dẫn của người dạy Do vậy, muốn hìnhthành và phát huy khả năng tự học cho sinh viên thì giảng viên phải thay đổi cáchdạy nhằm phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên trong quá trình đàotạo
Hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sưphạm của giảng viên Việc nắm vững nội dung dạy học và quy luật, đặc điểm nhậnthức của sinh viên là tiền đề quan trọng cho việc sử dụng phương thức dạy học nào
đó Cùng một nội dung, chương trình đào tạo, sinh viên học có hứng thú, có tích cựchay không, phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy
- Phương pháp đánh giá kết quả học tập:
Đánh giá kết quả học tập là đánh giá mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo của sinh viên so với yêu cầu của chương trình đề ra Kết quả của việc đánhgiá được thể hiện bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định và việc đánh giácòn thể hiện bằng lời nhận xét của giảng viên
Các phương pháp kiểm tra và cách kiểm tra rất phong phú, cần phải lựa chọncác phương pháp kiểm tra cho phù hợp với mục tiêu đánh giá Kiểm tra và đánh giá
là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau Kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựatrên cơ sở của kiểm tra Việc đánh giá chính xác chân thực với nội dung, hình thứcphù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo sẽ tác động trực tiếp đối với người học Từ
đó, người học tìm ra nguyên nhân, đề ra những giải pháp để việc học có hiệu quả.Việc đánh giá tốt sẽ giúp người học tự đánh giá tốt việc kiểm tra, đánh giá hoạt