1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN đề 2 một số CUỘC cải CÁCH TIÊU BIỂU ở VIỆT NAM từ THẾ kỉ XV đến nửa đầu THẾ kỉ XIXI

17 499 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 542 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung cải cách Về chính trị : Nếu như nói thời nhà Hồ chủ trương gạt bỏ tất cả các tôn thất nhà Trần ra khỏi bộ máy chính quyền trung ương và thay vào đó là những Nho sĩ tri thức có t

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 2: MỘT SỐ CUỘC CẢI CÁCH TIÊU BIỂU Ở VIỆT

NAM TỪ THẾ KỈ XV ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

(4 TIẾT)

A NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

I Khái niệm

Cải cách hiểu theo một nghĩa đơn giản, nó là những chính sách, những biện pháp thường được đề ra với mục đích tích cực nhằm làm thay đổi, xóa bỏ cái cũ, cái xấu, cái lỗi thời, lạc hậu và tạo ra những giá trị mới tốt đẹp hơn

II Một số cuộc cải cách tiêu biểu

1 Cải cách của Hồ Quý Ly (1400-1407)

1.1 Hoàn cảnh lịch sử: Nửa sau thế kỉ XIV, xã hội Đại Việt lâm vào tình trạng

khủng hoảng, mục nát và suy thoái nghiêm trọng :

- Chính trị: Vua quan không quan tâm đến triều chính và việc kéo bè, kéo cánh, tranh giành quyền lực xảy ra liên miên

+ Tình hình nội bộ rối loạn khiến các nước nhỏ ở phía nam không còn thần phục như trước

- Kinh tế: mất mùa, đói kém xảy ra thường xuyên, nhiều người phải bán vợ, bán con; nạn chiếm ruộng đất xảy ra khắp nơi

- Xã hội: Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy khắp nơi, lôi cuốn nông dân nghèo và hàng loạt nông nô, nô tì ở các điền trang của vương hầu quý tộc tham gia

- Đối ngoại: quân Cham pa liên tục tiến đánh, nguy cơ về một cuộc xâm lược ngày càng đến gần của quân Minh

=> Đây chính là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

1.2 Nội dung cải cách của Hồ Quý Ly

Tháng 2 năm 1400, sau khi bức vua Trần nhường ngôi và tự lập làm vua, thành lập triều đại nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp cải cách trên các mặt của đời sống xã hội

a Cải cách chính trị, quân sự và luật pháp

- Về chính trị:

+ Năm 1375, Hồ Quý Ly đã đề nghị xóa bỏ chế độ lấy người tôn thất làm các chức chỉ huy quân sự cao cấp, định lại số quân, đưa lực lượng trẻ vào Năm 1379, Hồ Quý Ly đặt quy chế về hệ thống quan lại địa phương, thống nhất việc quản lý từ trung ương đến địa phương

+ Hồ Quý Ly ra sức tuyển chọn, đề bạt và tổ chức thi cử để nhanh chóng đào tạo một đội ngũ quan liêu mới cho nhà nước, chế độ quân chủ quý tộc chuyển dần sang chế độ quân chủ quan liêu từ cuối thế kỷ XIV sang đầu thế kỷ XV

- Về quân sự:

Trang 2

+ Hồ Quý Ly định lại binh chế, chỉnh đốn quân đội, tổ chức lại quân Túc vệ, đặt thêm các hiệu quân, tăng cường kỷ luật quân đội, thải các tướng sĩ bất tài, sức yếu thay vào những người khỏe, am tường võ nghệ

+ Hồ Quý Ly chủ trương cải tiến vũ khí và trang bị, thực hiện nhiều biện pháp như mở xưởng rèn đúc vũ khí, tuyển lựa các thợ giỏi vào các quân xưởng Nhờ vậy, dưới thời Hồ Quý Ly đã chế tạo ra được những vũ khí lợi hại như súng thần cơ là một loại đại bác đầu tiên ở nước ta

+ Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng một hệ thống cứ điểm phòng thủ để chống xâm lược Những nơi xung yếu tại các cửa biển và sông đều có đóng cọc gỗ Hệ thống phòng thủ kéo dài từ núi Tản Viên men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình dài gần 100km Nhiều đồn quân chốt giữ các nơi xung yếu

- Về luật pháp:

+ Nhà Hồ đã có tới 30 lần ban hành các luật lệ

+ Hoạt động lập pháp được chú ý tăng cường Nhà nước chủ trương tăng cường pháp trị nhằm khôi phục lại kỷ cương xã hội bị rối loạn vào cuối thời nhà Trần Các luật lệ của nhà Hồ còn tập trung vào mục đích xây dựng và củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế vừa mới được thiết lập còn thiếu cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc, trấn áp tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần chống đối, chống lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân

b Cải cách kinh tế - tài chính:

- Năm 1396, Hồ Quý Ly ban hành chính sách phát hành tiền giấy, gọi là tiền

“Thông bảo hội sao”

- Năm 1397, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn điền Các đại vương và

trưởng công chúa thì ruộng đất không bị hạn chế về số lượng (ruộng đất tư hữu), còn thứ dân không được có quá 10 mẫu

- Năm 1401, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn nô, chiếu theo phẩm tước,

cấp bậc mà được sử dụng một số lượng gia nô theo quy định của nhà nước

- Năm 1402, nhà Hồ ban hành chính sách thuế mới, định lại biểu thuế đinh và

thuế ruộng

c Cải cách văn hóa, giáo dục

- Hồ Quý Ly đã cho sửa đổi nội dung, cách thức trong các kỳ thi Năm 1396, xuống chiếu định cách thức thi Cử nhân (thi Hương ở các lộ) Bãi bỏ phép thi viết ám

tả cổ văn, dùng thể văn 4 kỳ

- Năm 1397, Hồ Quý Ly chủ trương mở trường học ở các châu, phủ, cử các quan Giáo thụ trông coi, đôn đốc việc học tập Nhà nước quy định số lượng ruộng đất cấp để sử dụng việc học ở các địa phương, gọi là học điền

- Hồ Quý Ly đề cao chữ Nôm Hồ Quý Ly viết sách “Minh Đạo” (con đường sáng), bày tỏ quan điểm của mình về Nho giáo, hạ thấp vai trò của Khổng Tử, phê phán Nho gia là những người “học rộng nhưng tài kém, không quan thiết đến sự tình (phục vụ thực tiễn cuộc sống), chỉ chuyên việc lấy cắp văn chương của người xưa”

- Đối với Phật giáo, năm 1396, Hồ Quý Ly bắt tất cả các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục để lao động Còn lại phải sát hạch, ai thông hiểu đạo Phật mới được làm sư

Trang 3

1.3 Kết quả, ý nghĩa cải cách của Hồ Quý Ly

- Kết quả: Những việc làm của Hổ Quý Ly, xét về mặt lợi ích quốc gia, đã

không thành công Thất bại của cuộc kháng chiến chống Minh đương thời có phần trách nhiệm của ông và có lẽ ông cũng nhận thức được phần nào điều đó khi ông thưởng cho Hồ Nguyên Trừng hộp trầu bằng vàng, sau câu nói khá độc đáo “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”

- Ý nghĩa:

+ Qua cuộc cải cách trên cho ta thấy rằng Hồ Quý Ly là một con người có tài năng, hành động có tầm nhìn, có năng lực và sự quyết đoán Hồ Qúy Ly đã thực hiện những cuộc cải cách ấy, với một quyết tâm cao, một tài năng xuất chúng và một bản lĩnh phi thường Ông cũng đồng thời là người mở đầu cho một giai đoạn cải cách quan trọng trong lịch sử Việt Nam, thời kì văn minh Đại Việt

+ Những chính sách cải cách đó dù mang ý nghĩa tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội và những đòi hỏi cấp thiết của dân tộc

2 Cải cách của Lê Thánh Tông (1460-1497)

2.1 Hoàn cảnh lịch sử

- Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua, sáng lập ra triều Lê, lấy quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long

Nền hành chính dưới các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông

về cơ bản vẫn phỏng theo tổ chức chính quyền của các triều đại Lý - Trần Trải qua các đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Nghi Dân bộ máy chính quyền đều có những thay đổi, củng cố thêm theo xu hướng tập quyền Năm 1460, Lê Thánh Tông lên cầm quyền thực hiện cải cách đã đưa chế độ phong kiến đạt tới thời kỳ phát triển thịnh đạt của chế độ phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam

2.2 Nội dung cải cách

Về chính trị : Nếu như nói thời nhà Hồ chủ trương gạt bỏ tất cả các tôn thất nhà Trần ra khỏi bộ máy chính quyền trung ương và thay vào đó là những Nho sĩ tri thức có tư tưởng cải cách, nhà Hồ đã tiến hành tuyển chọn, đề bạc và tổ chức thi cử

để đào tạo tầng lớp quan lại mới ta Thì đến thời của vua Lê Thánh Tông việc cải tổ

bộ máy nhà nước cả về cấu trúc và chấn chỉnh quy tắc làm việc , hoàn thiện đội ngũ quan liêu từ Trung ương xuống địa phương, tổ chức thi cử chặt chẽ Bỏ qua các chức

vụ cao nhất trong bộ máy quan lại như tể tướng, đại tổng quản nhà vua trực tiếp điều hành quân đội, và cũng là tổng chỉ huy quân đội

Như trên đã trình bày công cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông có sự tiếp biến những tư tưởng cải cách của nhà Hồ, tuy nhiên ở đây chúng ta thấy được sự phát triển vượt bậc trong cuộc cải cách của nhà Lê đó là đưa ra được bộ luật tiến bộ nhất trong thời phong kiến ở nước ta, mang đậm nét sáng tạo và tinh thần thực tiễn của giai cấp phong kiến dân tộc trong giai đoạn đi lên, điều đó đã đem đến kết quả là xây dựng được một chế độ quân chủ quan liêu hoàn chỉnh, tăng cường chế độ quân chủ tập quyền

Về kinh tế: Nếu như nói Hồ Quý Ly chủ trương thực hiện chính sách hạn nô,

và hạn điền trong cuộc cải cách của mình thì đến thời vua Lê Thánh Tông đã chủ trương thực hiện chính sách lộc điền (ban cấp ruộng đất cho quý tộc quan lại cao cấp), và chế độ quân điền ( chia ruộng đất ở các làng xã cho nhân dân cày cấy, nộp tô

Trang 4

thuế cho nhà nước, kể cả các cô nhi quả phụ cũng được chia nhưng tỉ lệ khác nhau ở mỗi tầng lớp giai cấp) điều này đã tác dụng củng cố bộ máy quân chủ quan liêu, phát triển giai cấp địa chủ là cơ sở mới để phát triển xã hội, ngăn cấm được sự thành lập

và phát triển chế độ điền trang và sự bóc lột nông nô, nô tì, củng cố và mở rộng quan

hệ sản xuất địa chủ tá điền, đây là nền tảng của chế độ quan chủ quan liêu, tạo điều kiện cho nhà nước tập quyền nắm chắc hơn các cơ sở xã thôn, bảo vệ quyền sở hữu tối cao về ruộng đất

Qua đó cho ta thấy rằng công cuộc cải cách của Lê Thánh Tông đã có bước phát triển dài, và đã khắc phục được những hạn chế Hồ Quy Ly trước đó Trước hết nhà Lê đã buộc chặc được nhân vào ruộng đất, đảm bảo cho việc bóc lột tô thuế, binh dịch và lao dịch Mặt khác điều quan trọng hơn đó là tạo điều kiện chó việc phát triển chế độ tư hữu về ruộng đất mốt cách phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử Thứ hai là vùa tạo được điều kiện cho cơ sở của kinh tế địa chủ phát triển vừa kích thích

sự phát triển của các nghành kinh tế khác

Về quân sự: Vua Lê Thánh Tông đã ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội Ông thường đích thân đi tuần phòng ở các biên ải xa xôi cùng với các binh lính

đó là tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị

Nếu như nói rằng nhà Hồ đã chế tạo ra được khẩu “súng thần cơ” ( do Hồ Nguyên Trừng chế tạo) và “thuyền chiến cổ lâu” đi biển Thì đến thời vua Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bật với việc chế tạo ra “khẩu súng hỏa công cá nhân”

do tiếp thu kỹ thuật chế tác từ phương Tây, cùng với một số vũ khi thu được trong cuộc chiến với nhà Minh Bên cạnh đó nhà Lê còn chủ trương kế thừa những vù khí chiến đấu thời nhà Hồ cho nê đã tạo thành những bộ vũ khí đa dạng và hùng mạnh

Về giáo dục: Vua Lê Thánh Tông khởi xướng cho thành lập bia tiến sĩ lần đầu tiên ở Văn Miếu Quốc Tử Giám vào năm 1484 Cùng với việc thiết lập thiết chế mới

Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, tổ chức nhiều cuộc thi và rất nhiều tiến sĩ trạng nguyên đã đổ đạt Đặc biệt là nhà Vua rất tích cực trong cải tổ giáo dục, có những chính sách mới về thi cử và tranh gia lận trong thi cử

2.3 Kết quả, ý nghĩa

- Kết quả: công cuộc cải cách của Lê Thánh Tông đã có nhiều thuận lợi hơn

so với công cuộc cải cải cách của nhà Hồ, chính vì vậy đã đem lại nhiều tiến bộ trong việc củng cố và phát triển đất nước

- Ý nghĩa: thông qua cải cách, Lê Thánh Tông đã tạo được hệ thống hành

chính thống nhất trong phạm vi cả nước Hệ thống khá gọn gàng với chức trách phân minh, bảo đảm sự chỉ đạo và tập trung quyền lực của trung ương Đây là mô hình tiên tiến nhất của chế độ quân chủ phong kiến đương thời, trong đó, trung ương và địa phương gắn liền nhau, quyền lực được bảo đảm từ trên xuống dưới Lê Thánh Tông là một vị hoàng đế lớn của một vương triều mạnh, có nhiều đóng góp trong lịch

sử dân tộc

3 Cải cách của Quang Trung

3.1 Hoàn cảnh lịch sử

Cũng giống như hoàn cảnh hai cuộc cải cách trước, xã hội Việt Nam vào nữa cuối thế XVIII, giai cấp phong kiến thống trị trong cả nước từ vua chúa đến quan lại đua nhau ăn chơi, xa đọa cùng cực không chăm lo đến đời sống nhân dân Để thỏa

Trang 5

mãn cho nhu cầu hưởng lạc chính quyền phong kiến Lê –Trịnh ở đàng Ngoài củng như chúa Nguyễn ở đàng trong ra sức bóc lột nhân dân một cách thậm tệ qua chính sách sưu cao , thuế nặng, cùng với hang trăm thứ thuế khác đã bần cùng hóa nhân dân, họ phải bỏ làng mạc sống lưu tán khắp nơi

Qua đó cho ta thấy được nền kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, sức sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng, tình hình xã hội mất ổn định, rối loạn, mâu thuẫn xã hội ngày gắt Bộ máy quan liêu phong kiến kìm hãm sự phát triển xã hội, và điều khác biệt cơ bản đối với hai thời kỳ trước đó là đất nước ta chia ra làm Nam Triều và Bắc Triều tuy nhiên cả hai đều xa đọa như nhau

Sau khi lãnh đạo nhân dân cả nước vùng dậy lật đổ các chính quyền thối nát trê, đồng thời cũánh bại quân xâm lược Xiêm(1785), quân Thanh(1789), nhà nước phong kiến mới được thành lập dưới sự lãnh đạo của Quang Trung đứng trước một yêu cầu đổi mới để đưa đất nước thoát khỏi sự khủng hoảng trầm trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

3.2 Nội dung cải cách của Quang Trung

- Về kinh tế: Nếu như nói trong công cuộc cải cách của nhà Hồ chủ trương thực hiện chính sách “hạn điền”, còn đối với vua Lê Thánh Tông thì thực hiện chính sách “lộc điền” và “quân điền” nhằm buộc chặt nhân dân vào ruộng đất nông nghiệp,

và quan trọng hơn là đảm bảo và duy trì nhà nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền Thì ở đây Quang Trung đã căn cứ vào tình hình đất nước lúc giờ đã ban ra

“chiếu khuyến nông” lệnh cho dân phiêu tán phải trở về quê khôi phục ruộng đồng

bỏ hoang, làng xóm hoang vắng Những ai không theo chiếu chỉ đều bị trừng trị nghiêm Sau một thời gian nhất định mà làng xã nào còn đất công bỏ hoang thì phải nộp thuế gấp đôi Chính vì thế chỉ sau ba năm nền kinh tế nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng

Không những phát triển về nông nghiệp, mà công thương nghiệp cũng được khuyến khích phát triển “khoan thư sức dân”, bên cạnh đó Quang Trung còn thực hiện một số cải cách tiến bộ như bãi bỏ thuế điền cho nhân dân, động viên các tần lớp phấn khởi tham gia sản xuất Đồng thời Quang Trung cũng rất chú trọng ngoại thương, ông chủ trương mở rộng buôn bán với các nước phương Tây, với chính sách

“mở cửa ải, thông thương buôn bán, khiến cho các hàng hóa không ngưng đọng để làm lợi cho dân chúng”

Về tài chính: Nếu như trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã chủ trương cho phát hành tiền giấy (thông bảo hội sao) mặc dù đã có những chính sách cụ thể nhưng kết quả lại không cao, bởi những nguyên nhân đã nêu Thì đến thời Quang Trung để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hang hóa, ông cho đúc tiền đồng (Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo)

Về chính trị, quân sự: sau khi quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược(1789) Quang Trung ra sức xây dựng một chính quyền phong kiến mới tập trung mạnh tiến

bộ với ý thức quản lý đất nước trên một phạm vi rộng lớn Ông đặt biệt chú trọng vào việc “cầu hiền tài” tư tưởng này cũng going như hai cuộc cải cách trước của hai triều đại Hồ và Lê Bên cạnh đó ông còn chú trọng đến chính sách đối ngoại đối ngoại

Quân đội có các binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh, pháo binh Vũ khí cũng có nhiều loại khá phong phú có “hỏa hổ”, sung trường, đại bác thuyền chiến

Trang 6

chở được cả vua, trang bị được từ 50 đến 60 khẩu đại bác, chở được 500 đến 700 lính

Về văn hóa, giáo dục: Quang Trung cho lập Sùng Chính Viện chuyên dịch sách Hán ra chữ Nôm làm tài liệu học tập giúp vua về mặt văn hóa, mục đích là ông muốn đưa chữ Nôm là quốc ngữ chính thay thế cho chữ Hán, và đưa vào khoa cử Trong các kỳ thi, quan trường phải ra đề bằng chữ Nôm và đê tam trường, sĩ tử phải làm thơ phú bằng chữ Nôm

2.3 Kết quả, ý nghĩa

- Qua cuộc cải cách trên của quan Trung cho ta thấy được rằng ông là người yêu nước, có hoài bão rất lớn Trên thực tế đã đem lại những tiến bộ vượt bậc đối với tình hình khủng hoảng của đất nước ta lúc bấy giờ.Những thành tựu to lớn đó mà qua cuộc cải cách của Quang Trung cho ta thấy được rằng đã có sự tiếp biến và ngày càng phát triển hơn rất nhiều so với thế hệ trước đó

Bên cạnh những thành tựu to lớn mà cuộc cải cách đã đạt được thì còn những hạn chế nhất định như: về xây dựng chính quyền trung ương nhìn chung Quang Trung vẫn giữ cơ chế quan lieu như triều đại trước đó nên chưa đem lại hiệu quả cao, hay trong việc cải cách giáo dục khi đưa chữ Nôm vào làm quốc ngữ đã gặp sự phán đối của một số sĩ phu Tây Sơn Đặc biệt là cải cách đó đã gặp nhiều chướng ngại, thời gian thực hiện quá ngắn ngủi Nếu như nói công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly bị đứt đoạn là do giặc Minh xâm lược nươc ta, thì với cuộc cải cách của Quang Trung lại một lần nữa đi vào suy thoái khi người anh hùng dân tộc này đột ngột qua đời (29.07.1792), giữa lúc mọi việc cách mới thực hiện chưa bao lâu Triều đại Quang Toản tiếp sau đó bất lực, không còn tiếp tục thực hiện những cải cách của vua cha và

bị Nguyễn Ánh lật đổ vào đầu 1802

4 Cải cách của Minh Mạng:

4.1 Hoàn cảnh lịch sử:

Nhà nước trung ương chỉ trực tiếp quản lý được 7 trấn, dinh ở miền Trung Phần còn lại của đất nước rất rộng lớn, nhà nước trung ương quản lý gián tiếp qua viên Tổng trấn - một cấp trung gian rất lớn giữa nhà nước trung ương với các trấn, lộ, dinh

Với cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống hành chính như vậy đã cản trở rất lớn đến ý đồ của Minh Mệnh trong việc xây dựng một bộ máy quân chủ quan liêu chuyên chế, tập trung quyền lực về trung ương, đứng đầu là Minh Mệnh

Ruộng đất công làng xã là cơ sở để nhà nước thu tô thuế, nguồn tài chính duy nhất của nhà nước bị thu hẹp nghiêm trọng, nông dân không có ruộng đất cày cấy dẫn đến lưu vong phân tán, nổi dậy khởi nghĩa ngày một nhiều

Thực trạng nhức nhối đó uy hiếp đến sự tồn tại của nhà nước chuyên chế Nguyễn, buộc Minh Mệnh phải tìm cách cứu vãn bằng cách tiến hành cảI cách để thâu tóm quyền lực về tay mình, đồng thời cũng là để chống lại những thế lực mâu thuẫn với mình

Muốn giải quyết được khủng hoảng xã hội bấy giờ thì thống nhất đất nước về mặt hành chính phải được đặt lên hàng đầu Hy vọng là nó sẽ tạo nên được một sức mạnh áp đảo được các lực lượng chống đối, chia cắt trong nội bộ, kiềm chế được ngoại xâm từ phía bắc và quy thuận được các lực lượng “phiên thần” phía Tây và

Trang 7

Nam Đó là động cơ thúc đẩy Minh Mệnh, tích cực tiến hành cuộc cải cách hành chính sâu rộng và toàn diện:

4.2 Nội dung

Trong 20 năm trị vì, Minh Mệnh đã thi hành nhiều chính sách và biện pháp, trong nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhưng những biện pháp có ý nghĩa cải cách chủ yếu và tập trung là cải cách hành chính, bộ máy quản lý nhà nước

và hệ thống quan lại

- Bộ máy nhà nước đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành Giúp việc và tham mưu cho vua có các cơ quan như:

+ Nội các được thành lập năm 1829, là cơ quan phụ trách công việc giúp vua soạn thảo chiếu chỉ; về sau tăng thêm quyền hành với nhiệm vụ lưu giữ các châu bản của triều đình

+ Viện cơ mật là cơ quan trọng yếu, chuyên bàn bạc giúp vua những công việc trọng đại của đất nước

+ Đô sát viện: Được thành lập vào năm 1832, là cơ quan giám sát và tư pháp (cùng với Bộ Hình và Đại lý tự) toàn bộ cơ quan hành chính trong nước Đây là một

cơ quan độc lập, không chịu sự kiểm soát của bất kỳ một cơ quan nào ở triều đình, ngoài vua

+ Từ Minh Mệnh về sau vẫn có đủ 6 Bộ và 6 Khoa

- Về cơ cấu tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương từ thời Minh Mệnh có nhiều thay đổi, chặt chẽ hơn, có tác dụng củng cố chế độ quân chủ chuyên chế và quốc gia thống nhất Các đơn vị hành chính cấp thành trung gian trong

cả nước là liên tỉnh và tỉnh, bãi bỏ cả tên gọi doanh ở miền Trung

Như vậy là xung quanh Minh Mệnh có một mạng lưới quan lại các cấp, cả văn

và võ làm tham mưu và giúp việc đắc lực, đó là 6 Bộ, Nội các, Viện cơ mật, Đô sát viện, 5 quân Đô thống phủ

Để giúp việc 6 Bộ, điều hành công việc trong cả nước còn có các cơ quan khác như Quốc tử giám, Hàn lâm viện, Ty thông chính sứ, Bưu chính ty, Khâm thiên giám, Thái y viện, Hà đê sứ Bên võ có Ngũ quân Đô thống sứ (cơ quan chỉ huy quân sự)

Điều đáng chú ý là từ năm 1827, các quan chức trọng yếu của thời Gia Long như Tam thái, Tam thiếu, Tham chính, Tham nghị đều bị Minh Mệnh bãi bỏ Hàng nhất phẩm chỉ có bốn hàm “Điện đại học sĩ”, song các hàm này không được đặt đầy đủ

- Cải cách việc phân chia địa giới hành chính và các cấp bậc hành chính, xóa

bỏ cấp thành, trấn, doanh, thống nhất trong cả nước đặt ra cấp liền dưới bộ máy trung ương là cấp tỉnh

Tổng cộng, cả nước Việt Nam thống nhất có 30 tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc thành thành 18 tỉnh là: Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn từ Thừa Thiên trở vào

- trừ Thừa Thiên vẫn để là Thừa Thiên phủ - ra thành 12 tỉnh là: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Biên Hòa, Gia Định (vẫn để

Trang 8

nguyên danh hiệu là Phiên An, đến tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) mới đổi thành Gia Định), Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên

Đứng đầu mỗi tỉnh là quan Tuần phủ, giúp việc có quan Bố chánh phụ trách

Ty phiên, coi về thuế má, dinh điền; quan án sát phụ trách Ty Niết, coi về hình án Lãnh Binh trông coi về quân đội Phụ trách liên tỉnh là một Tổng đốc Tổng đốc được

cơ cấu như ủy viên Hội đồng chính phủ phụ trách ở một địa phương và đóng ở tỉnh quan trọng hơn

Sau cải cách, Minh mệnh cho sắp xếp lại các đơn vị trực thuộc cấp phủ, phủ có nhiều huyện và ít huyện, chia làm 3 cấp: tối yếu khuyết, yếu khuyết và giản khuyết

Do đó, ở phủ ngoài đồng tri phủ, còn có đặt thêm chức huyện thừa, huyện kiêm quản

Các phủ có nhiều biến động đặt thêm các chức quản phủ Đối với các huyện ở vùng biên viễn, triều đình đặt thêm chức án phủ sứ hàm Viên ngoại lang Bộ binh sung giữ Năm 1828, Minh Mệnh chủ trương đặt lưu quan (quan được triều đình bổ

nhiệm nơi này chuyển đổi đi các nơi khác)

Về cấp tổng, cơ bản vẫn không thay đổi Đứng đầu là Cai tổng, ngang với lại mục của huyện, trật Tòng cửu phẩm Tổng lớn có Phó tổng giúp việc, không nằm trong ngạch quan của Nhà nước

4.3 Kết quả, ý nghĩa:

- Kết quả: Cải cách hành chính có qui mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất

Bộ máy chính trị có thể bảo đảm được nguyên tắc tập trung quyền tối thượng vào tay nhà vua, phân quyền kiềm chế kiểm soát lẫn nhau giữa quan lại các ngành, các cấp vừa bảo đảm được tính tập trung vừa tăng cường được tính thống nhất của mỗi quốc gia với một lãnh thổ rộng lớn từ trước tới nay chưa từng có

Tuy nhiên cải cách cũng có những mặt hạn chế cơ bản, đó là củng cố thêm hệ

tư tưởng Tống Nho trì trệ, khước từ mọi đổi mới, canh tân, nặng về củng cố vương quyền mà không chú trọng cải thiện dân sinh Điều này đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, tước đi cơ hội thoát khỏi ngoại thuộc của dân tộc trong một thời kỳ dài

- Ý nghĩa: hai vị vua đầu triều Nguyễn là Gia Long và Minh Mệnh - người có công lớn trong việc kế thừa và hoàn thiện một cách hợp lý cơ cấu tổ chức, nguyên tắc vận hành chế độ quan lại có tính thống nhất trong quy mô cả nước Sự phân công, phân nhiệm giữa các cấp, giữa các bộ phận được quy định chặt chẽ gắn liền với các chức danh, trách nhiệm, quyền hạn, phẩm trật đi đôi với lương bổng, đãi ngộ Chế độ

“thỉnh an”, chế độ “giám sát”, chế độ “lưu quan” đã tạo nên một bộ máy nhà nước có sức tập trung và liên kết, tương tác mạnh mẽ

Từ thực tế trên chúng ta có thể nhận định rằng tổ chức bộ máy nhà nước địa phương dưới triều Nguyễn đã đạt đến trình độ hoàn chỉnh nhất trong chế độ quân chủ

ở nước ta

B TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ

I MỤC TIÊU

Sau khi học xong chuyên đề, học sinh cần:

1 Kiến thức

- Trình bày được hoàn cảnh lịch sử, nội dung, kết quả và ý nghĩa của các cuộc cải cách từ thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XIX

Trang 9

- So sánh được sự khác nhau về bối cảnh lịch sử, nội dung của các cuộc cải cách

- Phân tích được kết quả, tác động của các cuộc cải cách từ thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XIX đối với sự phát triển của đất nước

2 Kĩ năng

- Rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá về vấn đề lịch sử

- Rèn luyện kĩ năng khai thác tư liệu lịch sử

3 Thái độ

- Giáo dục cho học sinh có thái độ trân trọng những đóng góp của các nhân vật lịch sử đối với sự phát triển của đất nước

- Giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

4 Định hướng các năng lực hình thành

Thông qua chuyên đề hướng tới hình thành các năng lực:

- Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, năng lực tự học, năng lực hợp tác,

- Năng lực chuyên biệt:

+ So sánh, phân tích sự giống và khác nhau giữa các cuộc cải cách về: hoàn cảnh lịch sử, nội dung, kết quả

+ Xác định và giải quyết được mối liên hệ giữa hoàn cảnh lịch sử với nội dung và kết quả của từng cuộc cải cách

+ Nhận xét và đưa ra ý kiến của bản thân về các cuộc cải cách

II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1 Giáo viên

- Kế hoạch dạy học

- Máy tính kết nối máy chiếu

- Phiếu học tập/ phiếu giao nhiệm vụ

- Các tư liệu tham khảo

2 Học sinh

- Nghiên cứu chuyên đề

- Sưu tầm tư liệu

III THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ

1 Giới thiệu

- Giáo viên chiếu chân dung của 4 nhân vật lịch sử: Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Quang Trung, Minh Mạng

Trang 10

- Học sinh quan sát và trả lời câu hỏi:

+ Bốn nhân vật lịch sử trên có đóng góp gì cho sự phát triển của đất nước?

2 Xây dựng các hoạt động học tập

I Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Hoạt động 1 Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử tiến hành cải cách

- Đọc đoạn tư liệu sau:

Ngày đăng: 07/03/2016, 08:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Bảng mô tả các mức độ nhận thức - CHUYÊN đề 2 một số CUỘC cải CÁCH TIÊU BIỂU ở VIỆT NAM từ THẾ kỉ XV đến nửa đầu THẾ kỉ XIXI
1. Bảng mô tả các mức độ nhận thức (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w