1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai Nhiệt hoc Vật li 10

16 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 405 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con đường để đạt được những yêu cầu của chương trình về nội dung, về các kĩ năng, về thái độ không thể là lối dạy theo kiểu “truyền thụ một chiều”, “dạy chay – học chay” mà đó phải là cá

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Dựa vào thực tiễn hiện nay nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đang được đặt lên hàng đầu Tôi luôn xác định nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục là rất quan trọng, cần phải làm gì để nâng cao chất lượng giảng dạy ở bộ môn mình, lớp mình phụ trách từ đó mới góp phần vào nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Vật lí là môn học đòi hỏi nhiều tư duy, lý thuyết đi đôi với thực nghiệm Con đường để đạt được những yêu cầu của chương trình về nội dung, về các kĩ năng,

về thái độ không thể là lối dạy theo kiểu “truyền thụ một chiều”, “dạy chay – học chay” mà đó phải là các phương pháp dạy học tích cực, sao cho học sinh được phát huy một cách tốt nhất tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của mình; bồi dưỡng được cho học sinh phương pháp tự học cũng như rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh

Môn vật lí trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện của học sinh Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết

về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành của vật lí Học vật lí

là để hiểu, để giải thích được các vấn đề của tự nhiên và cuộc sống thông qua việc tìm hiểu các thuyết, các định luật chi phối các quy luật của tự nhiên Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người Vật lí góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm tổn hại đến đời sống, tinh thần của con người

Để đạt được mục đích của học vật lí trong trường phổ thông thì giáo viên dạy vật lí là nhân tố tham gia quyết định chất lượng Do vậy, ngoài những hiểu biết về vật lí, người giáo viên dạy vật lí còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức vật lí của học sinh Vậy làm thế nào để giúp học sinh lớp mình giảng dạy vận dụng được kiến thức đã học để giải được một số bài tập định tính và định lượng đạt hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng học tập, giảm

tỉ lệ học sinh yếu kém Chính vì lí do đó tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy Phần hai : NHIỆT HỌC - Vật lí 10”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

- Giúp giáo viên hệ thống các câu hỏi định tính về hiện tượng vật lí thực tiễn

và bài tập định lượng có thể vận dụng vào bài giảng trong Phần hai : NHIỆT HỌC

- Vật lí 10

- Giúp học sinh vận dụng được kiến thức giải thích một số hiện tượng thường gặp trong đời sống đồng thời giải được một số bài tập liên quan

- Rèn luyện tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh

- Phát huy tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học sinh

3 Đối tượng và giới hạn của đề tài

- Đối tượng: Học sinh khối10 cụ thể là lớp 10A1, 10A8 năm học 2012 -2013

- Kế hoạch thực hiện : từ ngày 01/03/2013 đến ngày 28/04/2013

Trang 2

- Phạm vi nghiên cứu : Các bài dạy trong phần Nhiệt học, chương trình vật lí

10 - Cơ bản

4 Phương pháp nghiên cứu.

Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, các

kĩ thuật dạy học, kĩ năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của

bộ môn vật lí

B PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong học tập để đạt được kết quả cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm

cả của người thầy và của học sinh, người thầy biết phối hợp 2 yếu tố này trong giảng dạy thì mới có thể truyền thụ và lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả

Hệ thống hóa bài học bằng câu hỏi là cách để củng cố, ôn tập giúp học sinh nhớ lại kiến thức đã học Bên cạnh đó còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn giải thích các hiện tượng tự nhiên, các ứng dụng vật lí trong đời sống con người, nhờ đó học sinh dễ dàng nắm vững kiến thức hơn

Trước tình hình đổi mới như hiện nay đòi hỏi bộ môn vật lí phải đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn

Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại; tính thực tiễn và giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm

1 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp:

Khi dạy kiến thức vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: cơ học, nhiệt học, điện từ học hay quang học… đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau

Ví dụ: Ớ các vùng biển thường hay xảy ra hiện tượng thủy triều (môn địa lí) Dựa vào kiến thức vật lí hãy giải thích hiện tượng này ?

Trang 3

Trả lời : Hiện tượng thủy triều xảy ra là do : lực hấp dẫn của Trái đất và Mặt trăng gây nên, ngoài ra còn do sự tự quay của Trái đất sinh ra lực li tâm tác dụng lên nước biển

2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn.

Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hằng ngày

Ví dụ: Xe ô tô rẽ sang phải thì người trong xe ngã về hướng nào?Tại sao?

Trả lời: Người ngã sang trái Nguyên nhân là do quán tính.

3 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua công thức đã học giải các bài tập

Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho học sinh nhàm chán Bên cạnh các câu hỏi mở, câu hỏi đặt vấn đề giáo viên lồng ghép các bài tập trắc nghiệm giúp tiết học sinh động hơn

Ví dụ : Một dây tải điện ở 27 0 C có độ dài 1800 m Xác định độ nở dài của dây tải điện này khi nhiệt độ tăng lên đến 40 0 C về mùa hè Biết hệ số nở dài của dây tải điện là 11,5.10 -6 K -1

A 13,45 cm B 82,8 cm C 26,91 cm D 55,89 cm.

Giải : l l0(tt0)  0 , 2691m 26 , 91cm

Trang 4

II CƠ SỞ THỰC TẾ

1 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm của BGH nhà trường đến bộ môn, sự giúp đỡ của quí thầy cô trong tổ đã góp ý cho việc sưu tầm, biên soạn tài liệu ôn tập

- Học sinh đa số có ý thức học tập cao và luôn năng nỗ trong giờ học

- Sách tham khảo dùng cho giảng dạy vật lí phong phú

2.Khó khăn:

- Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu

không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận

- Môn vật lí lượng kiến thức nhiều khó có thể bao quát kiến thức cho học sinh Chuẩn bị tiết dạy thường không có sự khái quát, kết luận cụ thể từng phần nên học sinh khó nắm bắt được phương pháp giải các bài tập định tính và định lượng liên quan

- Một bộ phận nhỏ học sinh ý thức học tập chưa cao, thiếu tinh thần tự giác, còn thụ động, ỷ lại trong học tập

- Chất lượng đầu vào của lớp 10 không cao, phân chia lớp theo điểm thi từ cao xuống thấp nên chuẩn bị và tổ chức một tiết học cho các lớp không giống nhau

- Khả năng sử dụng máy tính cầm tay và vận dụng kiến thức Toán vào giải bài tập Vật lí của học sinh còn hạn chế

III CÁC GIẢI PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Các giải pháp thực hiện:

Vận dụng đề tài bằng cách:

a Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới

thiệu bài giảng mới

b Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các

bài tập tính toán

c Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày, lồng ghép với bảo

vệ môi trường thường sau khi đã kết thúc bài học Áp dụng những công thức đã học giải một số bài tập nhỏ

Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán vật lí đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào? Bên cạnh đó thêm phần kiến thức toán học liên quan đến bài tập vật lí

d Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với

nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Làm cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày

2 Các hình thức tổ chức thực hiện:

a Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh

hay không là nhờ vào người hướng dẫn Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng,

Trang 5

nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích

b Lồng ghép tích hợp trong bài dạy: trong bài dạy ta có thể liên hệ kiến thức

các môn học khác hay vấn đề môi trường, tình trạng xã hội vừa giáo dục ý thức cho học sinh vừa tạo ra tâm lí thỏa mái khi học

c Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học sinh thấy

được ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu

3 Hệ thống câu hỏi thực tế và bài tập thực tiễn trong phần hai : Nhiệt học – vật lí 10 Cơ bản

Bài 28 Cấu tạo chất Thuyết động học phân tử chất khí

Câu 1 Tại sao bơm hơi vào quả bóng sẽ làm cho bóng căng phồng lên ?

Trả lời : Khi bơm hơi vào bóng, mật độ phân tử khí tăng lên, do chuyển động

nhiệt mà các phân tử khí va chạm vào nhau và va chạm với thành quả bóng gây nên áp suất tác dụng lên bóng Chính vì sự tăng dần của áp suất đã làm cho quả bóng căng phồng lên

Áp dụng: để dạy phần thuyết động học phân tử chất khí

Câu 2 Khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong nước rồi

mới bỏ đá lạnh vào Vì sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi đường bỏ sau?

Trả lời : Nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh nên dễ hòa

tan hơn Nếu bỏ đá vào trước, nhiệt độ của nước hạ thấp làm quá trình hòa tan của đường diễn ra chậm hơn

Áp dụng: để dạy phần cấu tạo chất

Câu 3 Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách hai tấm

kính chồng lên nhau Tại sao vậy?

Trả lời : Hai tấm kính đặt úp lên nhau có lực liên kết giữa các phân tử mạnh

hơn do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử ở hai tấm kính ở rất gần nhau đến mức

nó có thể hút nhau Điều này không xảy ra với hai tấm gỗ

Áp dụng: để dạy phần lực tương tác phân tử.

Câu 4 Nhỏ vài giọt nước hoa lên quần áo, tại sao ta đứng cách xa vài mét vẫn

ngửi thấy ?

Trả lời : Do sự khuếch tán của các phân tử nước hoa.

Trang 6

Áp dụng: đặt vấn đề vào bài mới.

Bài 29 Quá trình đẳng nhiệt Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

Câu 1 Một bọt khí nổi dần từ đáy thùng lên mặt nước hỏi thể tích của bọt khí thay

đổi như thế nào ?

Trả lời : Khi bọt khí nổi dần từ đáy thùng lên mặt nước coi nhiệt độ là

không đổi nhưng áp suất chất lỏng tác dụng lên bọt khí giảm dần làm áp suất khí trong bọt cũng giảm dần, nên thể tích bọt khí tăng dần

Câu 2 Dùng ống bơm bơm một quả bóng đang bị xẹp, mỗi lần bơm đẩy được

50cm 3 không khí ở áp suất 1 atm vào quả bóng Sau 60 lần bơm quả bóng có dung tích 2 lít, coi quá trình bơm nhiệt độ không đổi, áp suất khí trong quả bóng sau khi bơm là:

Giải : Sau 60 lần bơm đã đưa được lượng khí vào quả bóng có áp suất 1 atm

và thể tích V1 = 60.50 = 3000 cm3 = 3 lít

Áp suất khí trong quả bóng sau khi bơm :

atm V

V p p V p

V

2

1 1 2 2 2

1

Bài 30 Quá trình đẳng tích Định luật Sác-lơ

Câu 1 Tại sao lốp ôtô (xe máy, xe đạp) thường nổ khi xe đang chạy, mà ít nổ khi

xe đang nằm trong gara ?

Trả lời : Khi xe đang chạy trên đường, do ma sát với đường và thời tiết

nóng, nhiệt độ ở các lốp xe tăng, kéo theo áp suất khí trong ruột xe cũng tăng theo Nếu áp suất này tăng đến mức nào đó và có thể gây nổ lốp xe Khi xe để trong gara, nhiệt độ bình thường, lốp xe khó bị nổ hơn

Áp dụng: đặt vấn đề vào bài mới.

Câu 2 Khi chế tạo bóng điện tròn người ta phải nạp

khí trơ ở nhiệt độ và áp suất thấp vào bóng ?

Vì sao phải làm như vậy ?

Trả lời : Để khi bật đèn, nhiệt độ của bóng đèn

tăng làm áp suất khí cũng tăng dần nhưng không vượt

quá áp suất khí quyển Khi đèn sáng ổn định, nhiệt độ

không tăng và áp suất khí ổn định

Câu 3 Không khí bên trong một ruột xe có áp suất 1,5 atm khi đang ở nhiệt độ 25

0 C Nếu để xe ngoài nắng có nhiệt độ lên đến 50 0 C thì áp suất khối khí bên trong ruột xe tăng thêm (coi thể tích không đổi)

A 1,63 atm B 0,13 atm C 3 atm D 1,5 atm.

Giải :

2

2

T

p

T

T p p T

p

63 1

1

2 1 2 1

1   

Áp suất tăng thêm : p = p2 – p1= 0,63 atm

Trang 7

Bài 31 Phương trình trạng thái của khí lí tưởng.

2500 cm 3 Tính thể tích của quả bóng này vào buổi trưa có nhiệt độ 35 0 C Coi áp suất khí quyển trong ngày không đổi.

A. 2430 cm3 B 2628 cm3 C 2474 cm3 D 2650 cm3

Giải :  

2

2 1

1

T

V T

V

V2 =

1

2 1

T

T V

= 2628 cm3

Áp dụng: Cho quá trình đẳng áp.

Câu 2 Một phòng có kích thước 8 m x 5 m x 4 m Ban đầu không khí trong phòng

ở điều kiện tiêu chuẩn, sau đó nhiệt độ của không khí tăng lên tới 10 0 C, trong khi

áp suất là 78 cmHg Tính thể tích của lượng khí đã ra khỏi phòng (không khí ở điều kiện tiêu chuẩn có áp suất 760 mmHg, nhiệt độ 0 0 C)

A. 161,6 m3 B 160 m3 C 1,58 m3 D 1,6 m3

Giải : Phương trình trạng thái:

0

0

0

T

V

p

=

1

1 1

T

V p

 V1 =

0 1

1 0 0

T p

T V p

= 161,6 m3 Thể tích không khí thoát ra khỏi phòng: V = V1 – V0 = 1,6 m3

Áp dụng: Cho phương trình trạng thái.

Câu 3 Khi ấn pittông từ từ xuống để nén khí trong xilanh, thì thông số nào của

khí trong xi lanh thay đổi?

A Nhiệt độ khí giảm B Áp suất khí tăng.

C Áp suất khí giảm D Khối lượng khí tăng.

Trả lời : Đáp án B

Bài 32 Nội năng và sự biến thiên nội năng

Câu 1: Lấy một đồng xu cọ xát lên mặt bàn ta thấy đồng xu nóng lên Nếu bỏ đồng

xu vào một cốc nước nóng ta cũng thấy đồng xu nóng lên Hãy giải thích vì sao ? Trong trường hợp nào đồng xu đã nhận một nhiệt lượng ?

Trả lời: Vì nội năng của đồng xu tăng nên do đó đồng xu nóng lên

Đồng xu nhận nhiệt lượng trong trường hợp nó được thả vào cốc nước nóng, nước nóng đã truyền nhiệt cho nó

Áp dụng: đặt vấn đề vào bài mới.

Câu 2: Tại sao các vật nóng khi bỏ vào nước sẽ nguội nhanh hơn khi bỏ ngoài

không khí?

Trả lời : Do nhiệt dung riêng của nước lớn hơn của không khí, nên trong

cùng một khoảng thời gian nước thu nhiệt nhiều hơn

Áp dụng: cho phần truyền nhiệt.

Câu 3 Để xác định nhiệt độ của một lò nung, người ta đưa vào lò một miếng sắt

có khối lượng 22,3 g Khi miếng sắt có nhiệt độ bằng nhiệt độ của lò, người ta lấy

ra và thả ngay vào một nhiệt lượng kế có khối lượng 200 g có chứa 450 g nước ở nhiệt độ 15 0 C thì nhiệt độ của nước trong nhiệt lượng kế tăng lên đến 22,5 0 C.

Trang 8

Xác định nhiệt độ của lò Cho nhiệt dung riêng của sắt là 478 J/kg.K; của chất làm nhiệt lượng kế là 418 J/kg.K; của nước là 4,18.10 3 J/kg.K.

A. 15100 C B 14050 C C 25300 C D 9380 C

Giải :

Phương trình cân bằng nhiệt : Qtỏa = Qthu

(mnlkcnlk + mncn)(t – t1) = mscs(t2 – t)

c m

t t c m c m

t

s s

n n nlk

2 (  )(  )  1405

Bài 33 Các nguyên lí của nhiệt động lực học

Câu 1 Tại sao khi dùng bơm tay để bơm xe đạp, thân chiếc bơm lại bị nóng lên và

nó nóng lên càng nhanh khi lốp xe đã gần căng hơi?

Trả lời : Công đã biến thành nội năng làm nóng thân bơm Khi lốp xe đã

căng, phần lớn công biến thành nội năng nên thân bơm sẽ nóng lên nhanh chóng

Áp dụng: cho phần nguyên lí I NĐLH

Câu 2 Khi tay ta cầm cục đá lạnh thì tay ta lại thấy lạnh có phải là do nhiệt từ đá

truyền sang hay không ?

Trả lời : Không Vì khi tay ta nắm vào đá đã truyền nhiệt sang đá làm đá

tan thành nước đồng thời nhiệt độ tay ta giảm nhanh nên ta cảm thấy lạnh

Áp dụng: cho phần nguyên lí II NĐLH

Câu 3 Một khối khí được truyền một nhiệt lượng 2000 J thì khối khí dãn nở và

thực hiện được một công 1500 J Tính độ biến thiên nội năng của khối khí.

A 500 J B 3500 J C – 3500 J D – 500 J.

Giải : UAQ  1500  2000  500J

Bài 34 Chất rắn kết tinh Chất rắn vô định hình

Câu 1 Than chì và kim cương đều được cấu tạo từ nguyên tử các bon Hãy giải

thích tại sao :

a. Trong tự nhiên thường gặp các bon dưới dạng than chì mà ít gặp dưới dạng kim cương ?

b Kim cương và than chì có tính chất vật lí khác nhau ?

Trang 9

Trả lời : a Để tạo thành kim cương cần có nhiệt độ và áp suất cao, trong khi

đó than chì có thể tạo thành ở nhiệt độ không quá cao

b là do sự khác nhau về cấu trúc tinh thể cấu tạo nên chất

Câu 2 Chất rắn nào sau đây thuộc dạng chất rắn vô định hình?

A Muối ăn B Kim loại C Hợp kim D Nhựa đường.

Trả lời : Đáp án D

Câu 3 Đặc tính nào dưới đây là của chất rắn vô định hình?

A Đẳng hướng và nóng chảy ở nhiệt độ không xác định.

B Dị hướng và nóng chảy ở nhiệt độ xác định.

C Dị hướng và nóng chảy ở nhiệt độ không xác định.

D Đẳng hướng và nóng chảy ở nhiệt độ xác định.

Trả lời : Đáp án A

Bài 36 Sự nở vì nhiệt của vật rắn

Câu 1 Tại sao khi làm đường ray xe lửa, làm cầu, người ta thường để giữa hai

thanh ray hoặc hai nhịp cầu một khoảng cách nhỏ ?

Trả lời : Khoảng cách ấy làm cho hai thanh ray hay hai nhịp cầu không đội

lên nhau khi giãn nở vì nhiệt

Áp dụng: để đặt vấn đề vào bài mới.

Câu 2: Tại sao cốc thủy tinh dày thường dễ nứt vỡ hơn so với cốc thủy tinh có

thành mỏng nếu đổ nước sôi vào cốc ?

Trả lời: Khi đổ nước sôi vào cốc, do tính dẫn nhiệt kém của thủy tinh, lớp

bên trong giãn nở nhiều hơn lớp bên ngoài, lớp ngoài trở thành “vật cản trở”của lớp trong, kết quả là tạo ra một lực lớn, chính lực này làm nứt cốc

Câu 3 Không nên ăn thức ăn đang quá nóng hoặc quá lạnh Lời khuyên này xuất

phát từ cơ sở vật lí nào?

Trả lời: Men răng giãn nở không đều khi nóng hoặc lạnh đột ngột, khi đó

men răng sẽ bị rạn nứt

Câu 4 Một dây tải điện ở 27 0 C có độ dài 1800 m Xác định độ nở dài của dây tải điện này khi nhiệt độ tăng lên đến 40 0 C về mùa hè Biết hệ số nở dài của dây tải điện là 11,5.10 -6 K -1

A 13,45 cm B 82,8 cm C 26,91 cm D 55,89 cm.

Giải : l l0 (tt0 )  0 , 2691m 26 , 91cm

Trang 10

Bài 37 Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng

Câu 1: Người ta thường dùng một loại dầu bóng đặc biệt đánh bóng sườn xe máy,

xe ôtô Ngoài việc làm cho nước sơn của sườn xe bóng đẹp, nó còn có tác dụng nào khác không ?

Trả lời: Làm nước mưa không dính ướt sườn xe lâu bị gỉ sét.

Áp dụng: hiện tượng dính ướt và không dính ướt.

Câu 2: Vào những đêm nhiều sương, buổi sáng sớm khi quan sát các lá cây ( như

lá sen), thấy có những giọt sương đọng lại có dạng hình cầu, còn có lá không có hiện tượng này mà trên có một lớp nước mỏng Hãy giải thích?

Trả lời: Vì lá sen không bị nước làm dính ướt, còn một số loại lá khác bị

nước dính ướt

Áp dụng: sự dính ướt và không dính ướt.

Câu 3: Vì sao người thợ nề chỉ quét nước vôi lên tường khi tường đã rất khô ?

Trả lời: Tường khô để lại nhiều ống mao dẫn dễ hút nước vôi vào.

Áp dụng: về ứng dụng của hiện tượng mao dẫn.

Câu 4 Các loại giấy thấm mực, giấy vệ sinh được chế tạo dựa trên cơ sở vật lí

nào?

Trả lời: Hiện tượng mao dẫn.

Áp dụng: về ứng dụng của hiện tượng mao dẫn.

Câu 5 Quan sát những ván dầu trong những bát canh ta thấy chúng có dạng hình

cầu hơi bẹt Hãy giải thích vì sao lại như vậy ?

Trả lời: Do dầu và nước không dính ướt lẫn nhau, dầu nhẹ hơn nước và do

lực căng bề mặt mà những giọt dầu có dạng hình cầu nổi lên trên mặt nước Vì bị lực hút của trái đất nên chúng hơi bị bẹt

Áp dụng: Cho hiện tượng cằng bề mặt và sự dính ướt, không dính ướt Câu 6 Dân gian có câu “nước đổ đầu vịt” dùng cho những người không biết

nghe lời dạy bảo của cha mẹ, thầy cô Câu này có liên quan đến kiến thức vật lí nào không ? Nếu có đó là kiến thức nào ?

Trả lời: Có Liên quan đến sự dính ướt.

Ngày đăng: 06/03/2016, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w