Những vấn đề trên sẽ được trình bày tổng quan, cùng với các nhận định rút ra từ môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản trong nền kinh tế, nhất là nhấ
Trang 11
Tổng quan hiện trạng khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản và
chính sách nông nghiệp - sản xuất và tiêu thụ nông sản
Trần Tiến Khai
Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp & PTNT, Khoa Kinh Tế
1 Môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của khu vực kinh tế nông lâm nghiệp
và thủy sản
Khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc gia Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế vĩ mô có những biến động theo chiều hướng xấu, và sự tập trung quá mức trong hơn mười năm qua vào khu vực công nghiệp và dịch vụ để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã để lại những khó khăn rất lớn mà khu vực kinh tế truyền thống này phải gánh chịu Những vấn đề trên sẽ được trình bày tổng quan, cùng với các nhận định rút ra từ môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của khu vực nông lâm nghiệp
và thủy sản trong nền kinh tế, nhất là nhấn mạnh một số vấn đề tồn tại mà khu vực này đang phải đối mặt
1.1 Khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản trì trệ và không được quan tâm đúng mức
Trong giai đoạn 2005-2013, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn suy giảm tăng trưởng,
do nhiều nguyên nhân bên trong lẫn tác động tiêu cực của suy thoái thế giới Mặc dù giá trị tổng sản phẩm trong nước vẫn tăng liên tục từ 1.588 triệu tỷ đồng năm 2005 lên đến 2.412 triệu tỷ đồng năm 2012 và giá trị tổng sản phẩm các khu vực kinh tế như dịch vụ, công nghiệp
và xây dựng, và nông lâm nghiệp và thủy sản cũng tăng liên tục (biểu đồ 1), nhưng cơ cấu và tốc độ tăng trưởng có biểu hiện thay đổi quan trọng
Về cơ cấu, so sánh giữa hai năm 2005 và 2012, cơ cấu giá trị tổng sản phẩm nông lâm nghiệp
và thủy sản giảm từ 22% xuống còn 18% Trước đó, ở năm 2000, con số này là 24% Ngược lại, tỷ trọng của khu vực dịch vụ tăng từ 39% ở năm 2000 lên 40% và 43% ở hai năm 2005 và
2012 Tương tự như vậy, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng ở các mức 37%; 38% và 39% (biểu đồ 2) Điều này cho thấy vai trò của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản trong nền kinh tế ngày càng giảm đi, trong tương quan so sánh với dịch vụ, công nghiệp và xây dựng Sự thay đổi này phản ánh sự tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế Tuy nhiên, rõ ràng là tốc độ thay đổi cơ cấu tổng giá trị sản phẩm trong nước là rất chậm, cho thấy có sự trì trệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia Tốc độ tăng trưởng của hai khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng không đủ nhanh để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Về giá trị tuyệt đối, giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản từ năm 2010 đã vượt con số 400 ngàn
tỷ đồng, tương đương khoảng 20 tỷ USD/năm Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản cũng có những đóng góp hết sức quan trọng cho nền kinh tế quốc gia thông qua xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam liên tục tăng từ năm 1995 cho đến nay, và từ 2011 đã vượt cột mốc 20 tỷ USD (biểu đồ 3) Về tỷ trọng, nông lâm thủy sản cũng có đóng góp rất quan trọng khi luôn chiếm giữ trên 20% trị giá hàng hóa xuất khẩu
Trang 22
Bên cạnh những con số biểu thị sự tăng trưởng đó, rõ ràng có sự suy thoái kinh tế toàn diện từ năm 2007 đến nay ở cả ba khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, dịch vụ, công nghiệp và xây dựng và ở cả nền kinh tế nếu xem xét trên góc độ tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong khoảng 7,5% từ 2000 đến 2007 và bắt đầu tuột dốc từ 2007,
và giảm đến mức 5,25% ở năm 2012, tức là giảm gần 3% Trong ba khu vực kinh tế, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản luôn có tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhiều so với hai khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng Tốc độ tăng trưởng khu vực này thường không vượt quá 4,2% và có biểu hiện dao động mạnh, không ổn định Đến năm 2012, tốc độ tăng trưởng của khu vực này chỉ là 2,68%; chỉ cao hơn một chút so với mốc thấp lịch sử 1,91% ở năm 2009 (biểu đồ 4)
Biểu đồ 1 Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 2010 theo khu vực kinh tế (tỷ đồng)
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013
Biểu đồ 2 So sánh cấu trúc GDP Việt Nam hai năm 2005 và 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013
Trang 3và xây dựng, khả năng hấp thụ lực lượng dân số và lao động quốc gia từ nông thôn diễn ra kém, lao động nông thôn dư thừa không có cơ hội dịch chuyển đến hai khu vực dịch vụ và công nghiệp và xây dựng và bị “tắc” lại ở nông thôn Điều này thể hiện qua số liệu giai đoạn 2005-2012, cơ cấu dân số nông thôn so cả nước giảm chưa đầy 5% (từ 72,9% năm 2005 giảm còn 68,06% năm 2012); trong khi đó lực lượng lao động nông thôn lại tăng từ 53,4% lên 59,8% Con số này cho thấy sự tắc nghẽn nghiêm trọng của lao động ở khu vực nông thôn Số lao động nông thôn không những không giảm đi, mà ngược lại còn tăng thêm Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp hạn hẹp, áp lực dân số lao lao động trên đất nông nghiệp lại càng tăng thêm, và tác động không tốt đến năng suất lao động nông nghiệp
Trang 44
Các số liệu thống kê cho thấy trong khi khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chỉ tạo ra được chưa đầy 20% tổng giá trị sản phẩm trong nước nhưng phải nuôi sống đến hơn 2/3 dân số và tạo ra việc làm cho gần 60% lao động cả nước1 Chính vì vậy, năng suất lao động (tính bằng giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp và thủy sản trên lao động) của khu vực này rất thấp, chỉ dao động trong khoảng 10-12 triệu đồng/lao động/năm tính theo giá cố định 2010, tương đương khoảng 500 USD/lao động/năm và tăng với tốc độ rất thấp 1,77%/năm trong suốt giai đoạn 2005-2012 Do năng suất lao động thấp nên thu nhập của khu vực nông thôn, mặc dù tính cả các nguồn phi nông nghiệp, vẫn rất thấp Theo kết quả điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam 2010, thu nhập bình quân đầu người theo tháng ở khu vực nông thôn chỉ là 1,074 triệu đồng, khoảng một nửa so với thu nhập của khu vực thành thị (Tổng cục Thống kê, 2011) Các con số này cho thấy nông nghiệp không những có vai trò kinh tế quan trọng mà còn là chỗ dựa cho dân số và lao động quốc gia khi dịch vụ và công nghiệp chậm phát triển, trong khi bản thân khu vực này cũng rơi vào tình trạng trì trệ Mặc dù khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản có vai trò kinh tế không cao so với hai khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, nhưng vai trò xã hội của nó hết sức to lớn, nhất là tạo ra công ăn việc làm và gánh đỡ cho nên kinh tế quốc gia khi khó khăn Ngoài ra, trong giai đoạn suy thoái kinh tế từ 2008 đến nay, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản lại phát huy vai trò đắc lực trong việc giảm chỉ số giá tiêu dùng, giảm áp lực lạm phát thông qua việc cung cấp nguồn hàng nông sản thực phẩm dồi dào và phong phú và duy trì được mức tăng giá thấp và ổn định Nhờ đó, người tiêu dùng đô thị giảm được gánh nặng chi tiêu cho lương thực và thực phẩm, cân đối tốt hơn nguồn thu nhập và chi tiêu cho đời sống gia đình Như vậy, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản góp phần ổn định kinh tế - xã hội không những cho khu vực nông thôn, mà còn cho khu vực đô thị
và cả nền kinh tế nói chung
Mặc dù vậy, nông nghiệp chưa thực sự được coi trọng, ít nhất dưới góc độ đầu tư toàn xã hội hay đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước So sánh với tổng mức đầu tư toàn xã hội và của khu vực kinh tế nhà nước, suất đầu tư vào khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản năm 2012 chỉ xấp
xỉ 5%, thậm chí còn thấp hơn mức đầu tư vào các ngành khai khoáng, xấp xỉ với ngành thông tin và truyền thông và giáo dục đào tạo Xu hướng cũng thể hiện tỷ trọng đầu tư vào khu vực kinh tế này ngày càng giảm dần trong khi tỷ trọng đầu tư vào các ngành khác đều có xu hướng tăng (bảng 1) Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), tỷ trọng dư nợ tín dụng nông lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 9,6% tổng dư nợ năm 2012; và 10,5% tổng
dư nợ 9 tháng năm 2013 Vốn đầu tư FDI vào khu vực nông nghiệp cũng hết sức khiêm tốn Tính đến cuối năm 2012, khu vực này chỉ nhận 3,4% số dự án được cấp giấy phép (493/14522
dự án) và 1,55% tổng số vốn đăng ký (3.263/210.521,6 triệu USD), theo số liệu của Tổng cục Thống kê
Có thể nhận định rằng đầu tư vào nông lâm thủy sản còn quá ít, và không tương xứng với vai trò kinh tế - xã hội và sự đóng góp của nó Với mức đầu tư thấp như vậy, sự trì trệ của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản liên tục trong nhiều năm qua là rõ ràng không thể tránh khỏi Năng suất lao động quá thấp, thu nhập lao động nông thôn thấp, không được cải thiện và chênh lệch thu nhập nông thôn-thành thị cao là kết quả phản ánh chân thực sự trì trệ này và đầu tư thiên lệch này Xu hướng đầu tư giảm dần vào khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản cũng phản ánh sự không nhất quán giữa định hướng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông
1
Giả định rằng số lao động nông thôn có thể đại diện cho số lao động ở khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
Trang 5Cơ cấu dân số nông thôn so cả nước (%) 72,90 70,26 69,50 68,25 68,06
Cơ cấu lao động nông thôn so cả nước (%) 53,40 58,00 58,80 59,20 59,80 Giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp và
thủy sản/lao động nông thôn
triệu đồng/năm
10,68 11,24 11,48 11,90 12,05 Vốn đầu tư toàn xã hội cho khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
độ khoa học công nghệ nông nghiệp là một vấn đề cốt yếu đối với việc tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản dưới góc độ nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng; đồng thời giảm giá thành sản phẩm và bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhìn chung còn thấp vì trình độ khoa học công nghệ sản xuất thấp Ở Việt Nam, đã xác định một số mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh khá trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu, chè, thủy sản và đồ gỗ Ngược lại, một số mặt hàng có khả năng cạnh tranh thấp như thịt, trứng, rau quả, ngô Nhiều mặt hàng nông sản không có khả năng cạnh tranh như sữa, đậu nành, lạc, mía đường, bông vải
Nhìn từ góc độ năng suất, năng suất của các nhiều loại cây trồng không được cải thiện rõ ràng trong nhiều năm qua (biểu đồ 5) Đối với cây hàng năm, tốc độ tăng năng suất thường dưới 5%/năm và có xu hướng giảm dần từ năm 2000 cho đến 2012 Mặc dù cây công nghiệp lâu năm có sự biến động năng suất lớn vì chịu nhiều tác động của bất ổn khí hậu và thời tiết,
Trang 66
nhưng xu hướng chung vẫn là sự giảm dần về tăng trưởng năng suất Ngoại trừ lúa, cà phê và cao su có lợi thế năng suất tương đối cao so với các các nước trên thế giới, nhiều loại cây trồng khác có năng suất khá thấp và chưa thấy triển vọng được cải thiện
Về kỹ thuật canh tác, ngoại trừ canh tác lúa đã được cơ giới hóa khá cao và đồng bộ ở các công đoạn làm đất, gieo trồng, và thu hoạch thì trong phần lớn ngành trồng trọt, các công đoạn gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch vẫn còn sử dụng lao động chân tay là chính Công tác cải tiến giống được áp dụng phổ biến vẫn trên cây lúa và ngô, trong khi chưa có sự tiến bộ rõ nét ở những cây trồng hàng năm và cây lâu năm khác Diện tích trồng rau, hoa áp dụng công nghệ cao như trồng trong nhà kính, nhà lưới, có tưới nhỏ giọt, có kiểm soát vi khí hậu và cho năng suất cao còn khá khiêm tốn và chủ yếu chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh
Chính vì trình độ khoa học công nghệ còn thấp nên năng suất nông nghiệp Việt Nam chưa được cải thiện, kết hợp với quy mô canh tác của lao động nông nghiệp quá ít nên dẫn đến hệ quả là năng suất lao động nông nghiệp thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á
Biểu đồ 5 Xu hướng thay đổi tốc độ tăng trưởng năng suất một số cây hàng năm và lâu năm
Nguồn: Tính từ số liệu Tổng cục Thống kê (2013)
1.2.2 Nông nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới về nguyên liệu đầu vào và nông sản xuất khẩu
Trong sản xuất nông nghiệp, tự chủ nguyên liệu đầu vào là yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định, tránh được những rủi ro biến động về nguồn cung gây ra bất ổn về lượng và giá cả những mặt hàng trọng yếu này Tuy nhiên, sản xuất nông sản Việt Nam còn phụ thuộc khá nhiều về nguyên liệu, vật tư đầu vào nhập khẩu từ thế giới, nhất là ngành thức ăn chăn nuôi
Ngành trồng trọt hàng năm nhập khẩu khoảng 4 triệu tấn phân bón các loại, chủ yếu là phân DAP và phân Kali do chưa sản xuất được trong nước Phân SA được nhập khẩu chủ yếu để
Trang 77
phối trộn sản xuất phân NPK nội địa Nhờ vào nguồn sản xuất nội địa được cải thiện, lượng phân urea nhập khẩu giảm rất nhanh, từ hơn 2 triệu tấn/năm xuống còn khoảng 500 ngàn tấn cuối năm 2012 (biểu đồ 6) Nhu cầu phân đạm urea cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta chỉ ở mức 1,9 - 2 triệu tấn/năm, trong khi tổng năng lực sản xuất urea của 4 nhà máy trong nước2
dự kiến năm 2013 đạt khoảng 2,34 triệu tấn Như vậy urea không chỉ đáp ứng được 100% nhu cầu trong nước mà còn bắt đầu cho phép xuất khẩu Mặc dù vậy, hàng năm, Việt Nam vẫn phải còn tiêu tốn khoảng 1,5 tỷ USD cho phân bón nhập khẩu Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhu cầu phân bón các loại của cả nước trong năm 2012 sẽ khoảng 9,8 triệu tấn Trong đó, phân NPK 3,5 triệu tấn, phân urê 2 triệu tấn, phân lân các loại 1,8 triệu tấn, DAP 950 nghìn tấn, kali 920 nghìn tấn, đạm SA 710 nghìn tấn
Trong các loại phân bón chủ lực trên, thì đến năm 2012, Việt Nam đã hoàn toàn tự túc được NPK, lân và urê Còn đối với phân DAP, dù hiện đã có Nhà máy DAP Đình Vũ (Hải Phòng) với công suất 330 nghìn tấn/năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được 35% nhu cầu cả nước Còn lại 65% nhu cầu DAP vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu Tập đoàn hóa chất đang tích cực xúc tiến việc xây dựng nhà máy DAP ở Lào Cai, có công suất tương đương với Nhà máy Đình Vũ Như vậy, chỉ sau vài năm nữa, lượng DAP nhập khẩu sẽ giảm đáng kể Còn 2 loại phân quan trọng khác là SA và kali vẫn phải nhập 100% từ nước ngoài, bởi trong nước hiện nay chưa có nhà máy nào sản xuất 2 loại phân bón này (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương, 2013)
Trong khi việc tự chủ sản xuất phân bón hóa học trong nước đang tăng và làm giảm nhu cầu nhập khẩu, thì dường như ngành chăn nuôi ngày càng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi nhập khẩu Ngành chăn nuôi chủ yếu nhập nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc, bình quân 8 triệu tấn/năm (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương, 2013) Trong đó, các loại nguyên liệu giàu đạm như khô dầu đậu nành, bột xương thịt, bột cá lượng nhập chiếm đến 90% Các khoáng chất, vitamin, phụ gia khác phải nhập khẩu 100% Hai loại nguyên liệu chiếm tỷ lệ nhập khẩu cao là hạt bắp và đậu nành Lượng nhập bắp hạt dao động trong khoảng 1,2 – 1,5 triệu tấn/năm, với giá trị nhập khẩu trên dưới
500 triệu USD Lượng đậu nành nhập khẩu năm 2012 là 1,29 triệu tấn, giá trị đạt mức kỷ lục
777 triệu USD, tăng 41% so với năm 2011 do sức ép giá đậu tương tăng mạnh trên thị trường quốc tế (bảng 2) Chỉ riêng hai loại nguyên liệu thô này, Việt Nam đã tốn khoảng 1,2 – 1,5 tỷ USD hàng năm, chưa kể các nguyên liệu khác như bột cá, premix, v.v Sự phụ thuộc nhiều của ngành thức ăn chăn nuôi vào nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến rủi ro cho ngành chăn nuôi khi có biến động về giá hoặc nguồn cung trên thế giới Hiện nay đang có tranh luận về việc giảm cung lúa gạo để sản xuất bắp và đậu nành cho chăn nuôi, hoặc dùng gạo giá rẻ làm thức
ăn chăn nuôi để tiết kiệm chi phí nhập khẩu nguyên liệu
Nông nghiệp Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào thị trường thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới Mặc dù Việt Nam có hàng chục doanh nghiệp sản xuất và phân phối các loại thuốc bảo
vệ thực vật nhưng nguyên liệu chủ yếu được nhập khẩu Sự gia tăng thâm canh nông nghiệp cũng làm cho nhu cầu nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật gia tăng Đến năm 2012, giá trị nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu đã lên đến gần 700 triệu USD (biểu đồ 7)
2
nhà máy đạm Hà Bắc, nhà máy phân bón Ninh Bình, đạm Phú Mỹ và đạm Cà Mau,
Trang 8Giá trị (triệu USD)
Lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Lượng (nghìn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Trang 99
hạn chế Từ đó, mặc dù khối lượng hàng hóa xuất khẩu nhiều, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại chưa được cải thiện
1.2.3 Chuỗi giá trị nông sản thiếu tính liên kết
Hệ thống kinh doanh nông sản Việt Nam chỉ đang bắt đầu phát triển trong thời kỳ đổi mới kinh tế và tập trung vào một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như lúa gạo, cao su,
cà phê, hồ tiêu, điều và thủy sản Vấn đề liên kết sản xuất hợp tác dưới dạng hình thành các liên kết ngang như hợp tác xã, nhóm, tổ cùng sở thích để tham gia trực tiếp vào liên kết dọc trong ngành kinh doanh nông sản còn rất yếu ớt Chuỗi giá trị nông sản nhìn chung còn rời rạc, phân mảnh, và tính liên kết dọc rất yếu ớt Phần lớn nông sản Việt Nam được sản xuất và tiêu thụ thông qua thị trường thời điểm, không hình thành liên kết dọc chặt chẽ Chỉ xuất hiện một số điển hình liên kết ngang và liên kết dọc như mô hình cánh đồng mẫu lớn trong canh tác lúa do Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang phát triển; các liên kết dọc dưới dạng sản xuất theo hợp đồng giữa các nhà bán lẻ như Metro Cash Carry, Saigon Co-opMart với các công ty, hợp tác xã và nhóm nông dân trồng rau an toàn; giữa Vinamilk và Dutch Lady với nông dân nuôi bò sữa ở khu vực TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
Đối với ngành thủy sản, mặc dù tiềm lực sản xuất và chế biến là rất lớn, nhưng tính thiếu liên kết và sản xuất phân mảnh vẫn tồn tại khá trầm trọng Hầu hết các công ty xuất khẩu/chế biến thủy sản đều không có liên kết với các người nuôi nguyên liệu, thậm chí cố gắng phát triển vùng nguyên liệu riêng của doanh nghiệp
1.2.4 Khả năng cạnh tranh kém
Khi chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro trong thương mại nông sản Đối với các mặt hàng có khả năng cạnh tranh, Việt Nam có thể gia tăng sản lượng xuất khẩu, nhưng vướng phải nhiều rào cản, chủ yếu là rào cản kỹ thuật, chất lượng và
vệ sinh an toàn thực phẩm mà nhìn chung trình độ và công nghệ sản xuất hiện nay chưa đáp ứng tốt được Việc áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn VietGAP trong công đoạn sản xuất chưa phổ biến nên chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của nông sản chưa được bảo đảm, mặc dù hệ thống nhà máy chế biến nông sản đạt được trình độ công nghệ khá cao, và áp dụng nhiều tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý chất lượng Tư duy chạy theo số lượng, sản lượng sản xuất và xuất khẩu vẫn thay vì sản xuất và xuất khẩu với nông sản chất lượng cao vẫn còn phổ biến trong chiến lược phát triển nông nghiệp, quy hoạch nông nghiệp của nhà nước và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Điều này có thể quan sát được ở tất cả ngành nông sản Việt Nam
Ngoài ra, công ăn việc làm của nông dân ở các ngành kém năng lực cạnh tranh sẽ gặp nhiều khó khăn khi nông sản nước ngoài có giá rẻ hơn được nhập khẩu với số lượng lớn vào Việt Nam Điển hình là ngành mía đường – đường, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm ngày càng đối mặt với nhiều khó khăn thách thức khi hội nhập vì công nghệ lạc hậu hơn, năng suất thấp hơn
và chi phí sản xuất cao hơn Nếu thiếu vắng chính sách bảo hộ nông nghiệp, ví dụ như với ngành mía đường, thì các ngành này có nguy cơ tan vỡ khi Việt Nam phải dỡ bỏ rào cản thuế quan đối với nông sản nhập khẩu theo các cam kết quốc tế Ngược lại, do thiếu vắng các hàng rào phi thuế quan đối với nông sản nhập khẩu như tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, các loại nông sản kém chất lượng giá rẻ nhập khẩu càng làm cho ngành nông nghiệp trong nước khó phát triển
Trang 1010
1.2.5 Phát triển nông nghiệp thiếu tính ổn định và bền vững
Trong các năm gần đây, rủi ro vì thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra và chưa khắc phục được
Ví dụ dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa; dịch lở mồm long móng, bệnh cúm gia cầm, bệnh tai xanh v.v Hậu quả là tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bị ảnh hưởng, thu nhập của nông dân giảm sút Kết hợp với tác động của biến đổi khí hậu vốn làm cho các thiên tai diễn ra bất thường và cực đoan hơn, các nhân tai khác như vấn đề khai thác rừng quá mức, phát triển thủy điện trên vùng rừng đầu nguồn và đầu tư kém cỏi cho hệ thống thủy lợi, đê điều càng làm cho sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro hơn
Môi trường nông nghiệp đang suy thoái, có nơi cạn kiệt vì khai thác quá mức hoặc sử dụng sai cách Một ví dụ điển hình là các vùng ven biển chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ đang bắt đầu gánh chịu các hệ quả về suy thoái môi trường Các vùng trồng cà phê thường xuyên thiếu nước tưới trong mùa khô; vấn đề phá rừng
để phát triển cao su vượt khuôn khổ quy hoạch là những minh chứng cụ thể cho việc phát triển nông nghiệp thiếu bền vững, chạy theo sản lượng trong nhiều năm vừa qua
2 Các chính sách nông nghiệp, sản xuất và thương mại nông sản trong giai đoạn 2012-2013
Phần 2 tổng quan một số chính sách quy hoạch sản xuất nông nghiệp và thương mại nông sản trong hai năm 2012 -2013 Các chính sách này cũng được phân tích để thấy tác động của các chính sách này đến sự phát triển nông nghiệp cũng như một số ngành hàng nông sản quan trọng trong thời gian qua
2.1 Các chính sách quy hoạch nông nghiệp
Trong giai đoạn 2012-2013, Chính phủ đã có nhiều quyết định liên quan đến quy hoạch sản xuất nông nghiệp Nổi bật là các quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể sản xuất ngành nông nghiệp, quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Ngày 02 tháng 02 năm 2012 Chính phủ
đã công bố QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 Có thể điểm qua một số thông tin quan trọng trong quyết định này như sau:
Về quan điểm quy hoạch, Chính phủ khẳng định quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phải 1) theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp; 2) dựa trên tiếp cận thị trường, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái; 3) gắn kết với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ, tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng hàng hóa nông sản tập trung; 4) gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu sử dụng trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao; và 5) có hệ thống chính sách huy động các nguồn lực xã hội và sự hỗ trợ của nhà nước cho sản xuất
Có thể thấy quan điểm này thể hiện sự tiếp cận hệ thống của chính phủ về quy hoạch nông nghiệp nhưng đòi hỏi phải có nhiều chính sách đồng bộ để khuyến khích sự tham gia của hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân cũng như sự gia tăng đầu tư của nhà nước cho khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, cũng như các chính sách phù hợp, nhất là chính sách đất đai Nếu không có các chính sách đất đai phù hợp, khuyến khích sự phát triển của thị trường đất đai và chuyển dịch cơ cấu lao động trên bình diện quốc gia thì khó mà thúc đẩy tích tụ ruộng
Trang 11Về định hướng quy hoạch sử dụng đất, Chính phủ dự kiến khai hoang mở thêm đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản từ năm 2001 đến năm 2020 khoảng 1,1 triệu ha Điều này rất mâu thuẫn với quan điểm quy hoạch hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái Trên thực tế, Việt Nam hầu như không còn đất hoang và quỹ rừng đã bị khai thác quá nhiều cho sản xuất nông nghiệp và thủy điện Nếu mở thêm diện tích đất nông nghiệp thì buộc phải phá rừng, và càng làm tăng nguy cơ hạn hán, lũ lụt, suy thoái đất đai và bất ổn môi trường và tác động bất lợi đến khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
Quy hoạch diện tích các loại hình sản xuất nông nghiệp quan trọng Theo quy hoạch, diện tích đến năm 2020 của một số loại cây trồng quan trọng là 450 ngàn ha sắn; 300 ngàn ha mía;
40 ngàn ha bông vải; 500 ngàn ha cà phê; 800 ngàn ha cao su; 400 ngàn ha điều; 910 ngàn ha cây ăn quả Tuy nhiên, trên thực tế đến năm 2012, cả nước đã có 550,6 ngàn ha sắn; 622 ngàn
ha cà phê; việc phát triển cao su bùng phát mạnh mẽ đến mức đến 2013 đã có hơn 900 ngàn
ha cao su (trong khi số liệu Tổng cục Thống kê năm 2012 chỉ là 505,8 ngàn ha), trong đó có đến hơn 100 ngàn ha trồng mới trong khoảng 5 năm gần đây, chủ yếu đựa trên đất rừng chuyển đổi Ngược lại, diện tích mía năm 2012 là 297,9 ngàn ha; bông vải giảm đến chỉ còn 6,4 ngàn ha; điều trên đà suy giảm còn xấp xỉ 300 ngàn ha Tương tự, diện tích quy hoạch trồng cây ăn quả cũng quá tham vọng (nhãn 140 ngàn, vải 140 ngàn ha, xoài 110 ngàn ha, cam quýt 115 ngàn ha) so với thực tế hiện có (nhãn 78 ngàn, vải 91 ngàn ha, xoài 73,7 ngàn
ha, cam quýt 55 ngàn ha Các loại cây trồng có khả năng xuất khẩu tốt và mang lại thu nhập cao cho người trồng đã có diện tích xấp xỉ hoặc vượt quy hoạch; trong khi các loại cây trồng
có lợi thế so sánh kém thì có sự suy giảm diện tích rất nhanh và không thể nào có triển vọng đạt diện tích quy hoạch.Các con số này cho thấy có sự sai biệt rất lớn giữa diện tích trồng trên thực tế hoặc theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, và diện tích quy hoạch Nói cách khác, quy hoạch còn rời xa thực tế và không được thực thi và kiểm soát trên thực tế
Về ngành thủy sản, Chính phủ có Quyết định 1445/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 Theo quyết định này, đáng chú ý là sản lượng thủy sản quy hoạch đến 2020 là 7 triệu tấn, trong đó sản phẩm nuôi trồng chiếm 65% Diện tích nuôi trồng được quy hoạch là 1,2 triệu ha, phần lớn tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (805.460 ha), trong đó tôm sú 80 ngàn ha, tôm thẻ chân trắng 60.000 ha, cá tra 10.000 ha Với quy mô tăng trưởng này, ngành thủy sản cần có sự đầu tư hết sức mạnh mẽ của cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân để có thể cải thiện được cơ sở
Trang 1212
hạ tầng kỹ thuật cho nuôi trồng, khai thác và chế biến; đồng thời phải tăng cường bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và đa dạng hóa sản phẩm để có thể mở rộng thị trường tiêu thụ
2.2 Một số chính sách thương mại
Các chính sách thương mại nông sản được ban hành trong giai đoạn 2012-2013 cũng có những tác động đáng chú ý đến sản xuất và thương mại nông nghiệp trong nước Có hai văn bản quan trọng là Thông tư 08/2013/TT-BCT Quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, và Thông tư số 28/TT-BCT quy định chi tiết việc đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam
Trong vài năm nay, khu vực nông nghiệp hầu như không thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài để cải thiện công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong khi đó, lại tồn tại tình trạng thương nhân nước ngoài, mà chủ yếu là thương nhân Trung Quốc không có hiện diện tại Việt Nam thu gom nông sản ở nhiều tỉnh thành, mà chủ yếu là dừa trái, thủy sản nguyên liệu
và nhiều loại khác, gây ra tình trạng tranh mua nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến trong nước, đẩy giá một số nông sản lên cao bất thường gây ra rủi ro thua lỗ cho ngành chế biến nông sản nội địa
Nếu thiếu vắng cơ chế kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển chuỗi giá trị nông sản, xây dựng vùng nguyên liệu, tham gia vào chế biến và xuất khẩu nông sản thì khó đạt được các mục tiêu quy hoạch đề ra Trong khi đó, Thông tư 08/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương có hiệu lực từ 7/6/2013, Quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Thông tư này quy định doanh nghiệp FDI không được tổ chức mạng lưới mua gom hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu nhằm hướng đến việc ngăn chặn doanh nghiệp FDI lách luật, tranh mua tranh bán và thao túng thị trường và bảo vệ các doanh nghiệp trong nước Điều này sẽ tạo ra lợi thế cho các nhà đầu tư trong nước và là các cản ngại pháp lý cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào khu vực nông nghiệp hoặc tham gia các dự án phát triển công tư (PPP) Một số doanh nghiệp nước ngoài đã tham gia các dự án xây dựng hạ tầng sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương; đầu tư giống, vốn, đào tạo kỹ thuật canh tác cho nông dân trồng nhiều loại cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản, hỗ trợ nông dân tiếp cận các chứng nhận chất lượng sản phẩm, như UTZ, 4C của cà phê, ca cao; RA của chè sạch; ASC và BRC với thủy sản, v.v Hơn nữa, nếu cấm các doanh nghiệp FDI thiết lập hệ thống thu mua nông sản trực tiếp sẽ khiến các doanh nghiệp này không còn muốn đầu
tư cho nông dân và vùng nguyên liệu nữa Mặt khác, Thông tư này đi ngược lại nguyên tắc thị trường, tạo ra sự độc quyền mua nguyên liệu nông sản cho doanh nghiệp trong nước, nông dân có thể không bán được sản phẩm theo giá thị trường3 (Thời báo Kinh tế Việt Nam, 2013) Ngược lại, sự chậm chạp trong ban hành văn bản dưới luật đã không hạn chế được tình trạng thu gom nguyên liệu nông sản cho chế biến trong thời gian qua Từ năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định về hoạt động mua
3
VnEconomy san.htm
Trang 13http://vneconomy.vn/20130522090132159P0C19/cam-doanh-nghiep-fdi-truc-tiep-mua-nong-13
bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, và Nghị định 90/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2007 quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam Mãi cho đến ngày 27 tháng 9 năm 2012, Bộ Công Thương mới ban hành Thông tư 28/2012/TT-BCT quy định chi tiết việc đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thýõng nhân nýớc ngoài không có hiện diện tại Việt Nam Sau khi có Thông tý này, tình hình tổ chức thu mua nông sản trái phép của các thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam đã được cải thiện phần nào
Tình hình trên cho thấy môi trường thương mại nông sản Việt Nam đã phát triển nhanh và đa dạng, thu hút sự quan tâm hoạt động thu mua nông sản nguyên liệu của các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và cả thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam Tuy nhiên, các phản ứng trái chiều về chính sách cho thấy dường như chưa có sự nhất quán trong định hướng thương mại nông sản nội địa nhằm thúc đẩy thương mại nông sản một cách công bằng giữa doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thương nhân nước ngoài Chính sách thương mại có lẽ vừa cần thiết để kiểm soát và ổn định hóa việc thu mua nông sản nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, tránh những hoạt động có thể gây ra cạnh tranh không bình đẳng và gây tổn hại đến nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư sâu vào việc tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư cơ sở hạ tầng chế biến và chuyển giao công nghệ cho cả khu vực sản xuất lẫn chế biến, xây dựng chuỗi giá trị dựa trên liên kết với người sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam
3 Hiện trạng sản xuất – tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chủ lực giai đoạn 2012-2013
Phần 3 này chủ yếu trình bày tình hình sản xuất, tiêu thụ một số nông sản chủ lực của Việt Nam và những thảo luận liên quan đến chính sách sản xuất và thương mại nông sản Các loại nông sản được phân tích bao gồm 1) lúa gạo; 2) cà phê; và 3) cao su
3.1 Lúa gạo
3.1.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu
Lúa gạo là ngành kinh tế nông nghiệp truyền thống, nền tảng và quan trọng đối với khu vực nông thôn nói riêng, và cả nền kinh tế nói chung Sự phát triển liên tục về năng suất và sản lượng lúa gạo trong hai thập kỷ qua đã cho phép Việt Nam tự bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh lương thực thế giới, và khẳng định vị trí quan trọng trong thương mại lúa gạo thế giới
Hiện nay, sản xuất lúa gạo ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chủ yếu nhằm mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ, trong khi Đồng Bằng Sông Cửu Long có vai trò chủ yếu trong việc sản xuất lúa gạo hàng hóa để bảo đảm an ninh lương thực
cả nước, duy trì giá lương thực phù hợp cho người tiêu dùng ở các khu vực đô thị, và tham gia xuất khẩu Vì vậy sản xuất lúa gạo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long được thị trường hóa cao độ
và diễn biến giá lúa nội địa vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gắn chặt với giá gạo xuất khẩu
và giá gạo trên thị trường thế giới
Các yếu tố góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng ổn định trên chính là khả năng duy trì ổn định diện tích gieo trồng, và thâm canh tăng năng suất kết hợp với áp dụng các tiến bộ khoa
Trang 1414
học công nghệ về giống, phân bón, bảo vệ thực vật và duy trì được năng lực tưới tiêu Trong khi diện tích gieo trồng không thay đổi nhiều, chỉ tăng 28,3% trong giai đoạn 1990-2012; nhưng năng suất đã tăng đến 2,27 lần; năng suất tăng 1,77 lần từ 3,18 tấn/ha/vụ lên 5,63 tấn/ha/vụ (biểu đồ 8)
Nhờ vào sự gia tăng bền bỉ về cả diện tích, năng suất và sản lượng; kết hợp với sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng lương thực và khẩu vị của người tiêu dùng, nhất là ở vùng đô thị, lượng gạo dư thừa cho phép xuất khẩu ngày càng tăng (biểu đồ 8)
Có ba cột mốc đáng ghi nhận về kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam Năm 2005 lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 1 tỷ USD Năm 2008 vượt mốc 2 tỷ USD, và từ năm 2011, vượt mốc 3 tỷ USD Năm 2013, tính đến hết tháng 11, Việt Nam đã xuất khẩu 6,221 triệu tấn gạo các loại, với kim ngạch 2,745 tỷ USD (số liệu Tổng cục Hải quan, 2013) Với giá trị kim ngạch xuất khẩu như trên, ngành lúa gạo đã đóng góp rất lớn vào nền kinh tế quốc gia với các vai trò khai thác nguồn lợi đất đai và lợi thế so sánh, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; tạo ra sự ổn định sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân trồng lúa ở vùng nông thôn; cung cấp lương thực với giá rẻ và ổn định cho khu vực thành thị; và mang lại ngoại tệ, vốn cho phát triển (biểu đồ 9)
Mặc dù có những đóng góp hết sức quan trọng cho nền kinh tế, nhưng ngành lúa gạo vẫn có những vấn đề khó khăn đã bộc lộ, và cần có những chính sách khắc phục trong thời gian sắp tới
Biểu đồ 8 Sự phát triển diện tích gieo trồng, sản lượng lúa gạo và lượng gạo xuất khẩu giai đoạn
1990-2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013)
Trang 1515
Biểu đồ 9 Sự phát triển khối lượng gạo xuất khẩu và kim ngạch giai đoạn 1990-2012
Nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam – VFA, 2013
3.1.2 Những vấn đề tồn tại của ngành lúa gạo
(1) Dư cung
Về thị trường, cần nhắc lại là thị trường gạo thế giới có đặc trưng có khối lượng gạo giao dịch rất ít so với tổng sản lượng gạo thế giới (chỉ ở mức trên dưới 5%); dễ bị tác động do yếu tố thời tiết khí hậu; giá cả thay đổi nhanh chóng vì khả năng thay đổi cung rất nhanh do chu kỳ sản xuất lúa rất ngắn; và một số nước nhập khẩu chính như Indonesia và Philippines đóng vai trò định giá Các nước nhập khẩu gạo luôn có xu hướng thúc đẩy sản xuất nội địa, trợ giá đầu vào và áp dụng thuế xuất hoặc hạn ngạch để giảm nhập khẩu Ngoài ra, vì tính chất giao dịch theo mùa, các nước nhập khẩu có xu hướng tập trung nhập khẩu vào thời điểm thu hoạch rộ của các nước xuất khẩu để mua với giá thấp Thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các nước Châu Á và Châu Phi
Kể từ cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm 2008, thị trường lúa gạo thế giới đã có những thay đổi quan trọng từ cả phía cung lẫn cầu
Về phía cung, các quốc gia xuất khẩu ròng như Thái Lan, Việt Nam gia tăng lượng gạo xuất khẩu, dựa theo tín hiệu giá cao trên thị trường từ năm 2008 Đặc biệt là Thái Lan, vốn là quốc gia xuất khẩu gạo chất lượng cao và thường nắm giữ vị trí số một thế giới về xuất khẩu gạo,
đã có chính sách trợ giá đầu ra trực tiếp cho nông dân Theo báo cáo mới được công bố của
Ủy ban Kiểm toán Thái Lan, chính phủ nước ngày đã lỗ khoảng 390 tỷ baht (khoảng 13 tỷ USD) qua bốn vụ trợ giá gạo từ cuối năm 2011 tới tháng 10/2013 vừa qua Với gói vốn kích thích sản xuất khổng lồ này, nông dân trồng lúa Thái Lan là người hưởng lợi khi chính phủ Thái Lan thường được thu mua ở mức 15.000 baht/tấn và gạo hương lài được mua với giá 20.000 baht/tấn; và hệ quả là nông dân Thái Lan sản xuất lúa gạo nhiều hơn, và lượng tồn kho ngày càng lớn khi giá thu mua bị đẩy lên cao hơn 40-50% giá thị trường, khiến gạo Thái Lan khó bán ra thị trường thế giới Theo số liệu tính toán sơ bộ từ các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, mỗi kg gạo được thu mua với giá 32,32 baht, trong khi chỉ bán được với giá trung bình 10,20 baht/kg (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, 2013) Chính vì vậy, lượng gạo tồn kho của Thái Lan ngày càng tăng, có lúc hơn 10 triệu tấn, mặc dù đã xuất khẩu được hơn
10 triệu tấn theo các hợp đồng liên chính phủ Từ năm 2011 đến nay, Ấn Độ lại nổi lên như một cường quốc xuất khẩu gạo ngoài nhóm basmati Năm 2010 Ấn Độ chỉ xuất khẩu được hơn 2 triệu tấn ở năm 2010, nhưng qua năm 2011 Ấn Độ xuất khẩu 4,437 triệu tấn; tăng lên
kỷ lục 10 triệu tấn năm 2012 và dự kiến suýt soát 10 triệu tấn năm 2013 và chiếm vị trí dẫn
Trang 1616
đầu trong các quốc gia xuất khẩu gạo (AgroMonitor, 2013) Ngoài ra, Pakistan, Cambodia cũng tăng cường lượng cung gạo Myanmar với lợi thế là một quốc gia có tiềm lực đất đai và nguồn nước phong phú, với chính sách đổi mới như hiện nay sẽ thu hút đầu tư, và ngành gạo Mymanmar có thể sẽ phát triển rất mạnh trong vài năm tới (biểu đồ 10) Trong khi đó, Việt Nam cũng tăng cung gạo xuất khẩu trong giai đoạn 2008-2012 (số liệu đã dẫn) Nguồn cung phong phú, tính cạnh tranh tăng cao và áp lực tăng cung, nhất là từ phía Thái Lan làm do giá gạo trên thị trường thế giới năm 2012 giảm mạnh, và tăng lợi thế cho phía người mua trong đàm phán giá
Ngược lại về phía cầu, Indonesia và Philippines là hai nước nhập khẩu ròng trong nhiều năm nay, và chủ yếu dựa vào nguồn cung gạo của Thái Lan và Việt Nam Tuy nhiên, từ cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008, hai nước này đã thay đổi chính sách lương thực theo hướng tái đầu tư mạnh mẽ cho sản xuất lúa gạo trong nước, hạn chế sự phụ thuộc vào thị trường lúa gạo thế giới Cho đến nay, Indonesia gần như hoàn thành được mục tiêu tự túc lương thực, riêng Philippines do ảnh hưởng nghiêm trọng của cơn bão Hải Yến, dự kiến sẽ phải nhập gạo bổ sung lượng thiếu hụt (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, 2013) Các số liệu thống kê cho thấy cả diện tích và sản lượng lúa hai nước này tăng nhanh trong thập niên 2000 cho đến nay (biểu đồ 10)
Biểu đồ 10 Sự phát triển diện tích và sản lượng lúa của Cambodia, Myanmar, Indonesia và
Philippines giai đoạn 2000-2012
Nguồn: FAO STAT, 2013
Các thông tin thực tế phản ảnh rõ tình trạng dư cung trên thị trường lúa gạo thế giới hiện nay
Vì thế, vấn đề đáng ngại chính của ngành lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam là tình trạng dư cung trầm trọng Nông dân ĐBSCL, dưới sự khuyến khích của Chính phủ và chính quyền địa phương sản xuất lúa vụ 3 (Thu Đông) ngày càng nhiều trong mùa lũ, tạo nguồn cung lớn và gây áp lực nặng nề cho vụ Đông Xuân kế tiếp Trong khi đó, các nước nhập khẩu quan trọng như Philippines và Indonesia có xu thế tăng cường sản xuất nội địa cho an ninh lương thực Vì vậy, giải pháp căn bản là giảm cung Việt Nam cần cân nhắc duy trì xuất khẩu ổn định một lượng gạo nhất định, và kiểm soát cung (bằng cách hạn chế diện tích canh tác vụ Thu Đông,
và quay vòng canh tác vụ Thu Đông trong giới hạn) để giảm áp lực, và giảm cung có có nghĩa tạo cơ hội tăng giá trên thị trường Bằng chứng là hai năm 2011 và 2012, mặc dù lượng gạo