1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông

16 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả không chịu trách nhiệm Bài báo này dựa trên dữ liệu từ ‘Báo cáo Costanza’ – Đánh giá môi trường chiến lược về thuỷ điện trên dòng chính sông Mekong SEA, do Trung tâm quốc tế về

Trang 2

Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông

Apisom Intralawan, David Wood and Richard Frankel

Trung tâm Nghiên cứu, đào tạo quản lý Môi trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên,

Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai, Thái Lan

Tháng 11, 2015 Nội dung

1 Tóm tắt

2 Cơ sở của vấn đề

3 Mô hình kinh tế và tỉ lệ chiết khấu

4 Những giả thiết chính

5 Tính toán kinh kế

6 Những tác động đến môi trường và kinh tế

7 Đánh giá rủi ro

8 Kết luận và kiến nghị

9 Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1 Danh mục các dự án thủy điện hiện hữu và dự kiến

Phụ lục 2 Số liệu sản lượng thủy sản sông Mekong

Phụ lục 3 Tính toán kinh tế

Lời cảm ơn

Báo cáo này là bản được hiệu chỉnh và chắt lọc lại từ báo cáo “Phương hướng hoạch định việc phát triển nguồn tài nguyên nước nước ở hạ lưu sông Mekong” do Đại học bang

Portland và Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai (Robert Costanza, 2011) – sau đây sẽ gọi là

‘Báo cáo Costanza’ Chúng tôi xin gửi lời cám ơn tới tác giả đã đồng ý cho việc sử dụng báo cáo này

Chúng tôi cũng cám ơn Oxfam đã tài trợ cho bản báo cáo này

Tác giả không chịu trách nhiệm

Bài báo này dựa trên dữ liệu từ ‘Báo cáo Costanza’ – Đánh giá môi trường chiến lược về thuỷ

điện trên dòng chính sông Mekong (SEA), do Trung tâm quốc tế về quản lý môi trường, Úc

(ICEM) soạn thảo và được công bố vào tháng 10 năm 2010, và Ủy ban sông Mekong (MRC)

Đánh giá các kịch bản phát triển khu vực lưu vực sông Mekong – Chương trình Kế hoạch

Phát triển lưu vực giai đoạn 2 (BDP2) công bố vào tháng 10 năm 2011 Bất kỳ quan điểm nào thể hiện trong báo cáo này đều của các tác giả trên Vì thế, các quan điểm này không nhất thiết đại diện cho các nhà nghiên cứu Robert Costanza, Đại học Mae Fah Luang, ICEM, MRC hoặc Oxfam

Trang 3

1 TÓM TẮT

Các dự án thuỷ điện được đề xuất xây dựng trên sông Mekong và sông nhánh sẽ ngăn chặn lộ trình di cư của cá, thay đổi khu vực ngập lụt, thay đổi các dòng chảy mang phù sa/dinh dưỡng

và giảm sản lượng đánh bắt thuỷ sản từ ngư trường lớn nhất thế giới Báo cáo Costanza cho thấy rằng bằng việc thay đổi một số giả định chính trong Kế hoạch Phát triển Lưu vực sông Mekong BDP2 (tỉ lệ giảm giá đối với nguồn lợi tự nhiên, giá cá) thì tính khả thi về mặt kinh

tế của các dự án thuỷ điện được đề xuất thay đổi từ dương (BDP2) sang âm dựa theo giá trị hiện tại thuần (NPV) Bản báo cáo này được hiệu chỉnh và là phiên bản cô đọng của báo cáo

Costanza Bản báo cáo này tập trung vào Trường hợp chỉnh sửa (bộ giả định chính thức) và

việc tính toán NPV được tóm tắt dưới đây

Kịch bản BDP2

6 Đập

Kịch bản BDP2

11 Đập

NPV (triệu đô la) NPV (triệu đô la)

Trường hợp chỉnh

sửa

Tỷ lệ chiết khấu 3% Đánh bắt thuỷ sản -27.000 -54.900

Đói với tài nguyên thiên

Tử bảng bên trên cho thấy chi phí NPV âm đối với lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi (sử dụng tỉ

lệ chiết khấu 3% cho tài nguyên thiên nhiên) lớn hơn nhiều so với giá trị NPV dương do thuỷ

điện tạo ra Phân tích độ nhạy (lượng thủy sản mất đi, giá trị và tỉ lệ chiết khấu) cũng được

thực hiện Có thể kết luận rằng các dự án thuỷ điện đề xuất xây dựng trên dòng sông chính sẽ không mang lại lợi ích kinh tế từ cả 2 kịch bản 6 đập và 11 đập Hơn nữa, chúng tôi cũng đặt vấn đề về một số điểm không nhất quán của kịch bản BDP2 (NPV thủy điện) và phản bác một giả định quan trọng của BDP2 cho rằng lợi nhuận từ thuỷ điện có thể tích luỹ cho quốc gia nơi nó được hình thành – điều này dẫn đến Lào là quốc gia hưởng lợi chính Chúng tôi giả định rằng lợi nhuận được chia 30% cho nước chủ nhà và 70% cho nước đầu tư dự án và nhập khẩu điện trong suốt khoảng thời gian tô giới (thường là 25 năm) Điều này dẫn đến Thái Lan và Lào trờ thành nước hưởng lợi trong khi Việt Nam và Campuchia phải trả giá cho việc phát triển thuỷ điện Như vậy rõ ràng là các nhà phát triển dự án và nhập khẩu điện được hưởng lợi nhưng cộng động ngư dân, nông dân, nông thôn nghèo sẽ phải hứng chịu hậu quả

Cũng nhận thấy rằng có những điểm thiếu chắc chắn về các chi phí tác động và một số yếu tố (chi phí văn hóa/xã hội, lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi, dòng chảy mang dinh dưỡng và phù

sa giảm…) có thể được tính quá thấp và lợi ích từ thuỷ điện lại được tính quá cao so với thực

tế Những nghiên cứu tiếp theo để đảm bảo tính xác thực của các giá trị NPV được đề xuất và

hy vọng tác động tiêu cực về kinh tế của các dự án thuỷ điện sẽ tăng

Những kết luận trên hoàn toàn ủng hộ báo cáo Costanza và các khuyến nghị từ báo cáo SEA

về việc hoãn các dự án đập thủy điện trên dòng chính để tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chi tiết về tác động xã hội và độ rủi ro của dự án

Trang 4

2 CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ

Sông Mekong là dòng sông có sản lượng thuỷ sản nước ngọt lớn thất thế giới (sản lượng thủy sản đánh bắt từ 2,1 tới 2,5 triệu tấn/năm) và đứng thứ 3 thế giới về đa dạng sinh học (hơn 800 loài cá) sau sông Amazon và Congo Sản lượng cá đánh bắt ước tính không bao gồm 0,5 – 0,7 triệu tấn/năm sản lượng cá vùng duyên hải (như báo cáo của SEA) được cho là phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng, phù sa của sông Mekong; 0.5 triệu tấn/năm của các loài thuỷ sản khác như tôm, cua, nhuyễn thể, ếch… Biến động hàng năm (mực nước và dòng chảy) chính là yếu

tố chính quyết định sản lượng thuỷ sản cao từ sông và các vùng ngập nước gần đó Tuy nhiên, nó có thể bị thay đổi đáng kể, nếu tất cả dự án thủy điện được tiến hành dẫn đến dòng

di cư của cá bị ngăn chặn Việc thiết kế thang leo phù hợp cho cá để đảm bào sự đa dạng và quy mô đánh bắt vẫn còn ít được biết đến (Dugan et Al 2010) Các dự án thủy điện dự kiến

đã được mô tả trong BDP2 và SEA Nhiều nghiên cứu về các tác động tiềm ẩn đến xã hội và

môi trường từ các dự án đập thủy điện đã được tiến hành Bài báo này tập trung về hậu quả kinh tế tiềm ẩn dựa trên báo cáo Costanza mà được sử dụng các số liệu, giả định và dự báo

được báo cáo từ BDP2 và SEA Sự khác biệt chính giữa báo cáo Constanza và BDP2 là giá

cá ước tính, giá trị các dịch vụ hệ sinh thái và tỉ lệ giảm giá đối với nguồn vốn tự nhiên như thuỷ sản đánh bắt và vùng đất ngập nước

Ngoài báo cáo BDP2, MRC cũng đã phát hành các báo cáo mở rộng về nhiều lĩnh vực liên quan đến phát triển nguồn nước ở hạ lưu sông Mekong và họ cũng xây dựng và đánh giá kịch bản phát triển lưu vực sông trong phạm vi toàn lưu vực Báo cáo Costanza cũng là một bài báo cáo toàn diện (83 trang với 3 trang tóm lược), tập trung vào Tương lai Xác định, các kịch bản 6 đập trên dòng chính và 11 đập trên dòng chính Báo cáo Costanza làm nổi bật các rủi ro

về môi trường/xã hội và tính không chắc chắn về kinh tế của các đập trên dòng chính (đồng thời đề xuất các nghiên cứu tiếp theo để lượng hóa các tác động ngược) nhưng lại không nhấn mạnh những tốn thất tiềm tàng về kinh tế cực lớn nếu tất cả dự án đập thuỷ điện trên dòng chính được xây dựng Báo cáo Costanza củng cố thêm tầm quan trọng của chính phủ các nước hạ lưu sông Mekong trong việc cân bằng giữa phát triển thuỷ điện với sinh kế nông thôn bền vững

Kể từ khi báo cáo Constanza được công bố, đã có nhiều tiến triển (về việc hoạch định các dự

án thủy điện trên sông Mekong) được thảo luận tại hội thảo Stimson MFU tổ chức ở Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai, Thái Lan năm 2014:

- Tác động xấu đến thuỷ sản đánh bắt được dự đoán ở Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam – nơi hơn 30 triệu người bị ảnh hưởng nghiêm trọng Điều này không thống nhất với báo cáo Contanza dự báo mất mát lớn nhất về sản lượng thuỷ sản đánh bắt trong trường hợp 11 đập ở Thái Lan

- Ước tính hiện tại của thuỷ sản đánh bắt ở Lưu vực sông Mekong là 2,1-2,5 triệu tấn/năm và

được dư báo giảm nếu tất cả các đập được xây, cao hơn những ước tính trước đó

- Quyết định của Lào tiếp tục dự án đập Xayaburi mặc dù dự án đánh giá tác động môi trường giữa các quốc gia chưa được thực hiện Điều này tạo nên tiền đề cho các dự án thuỷ điện khác trên dòng chính sông Mekong

- Các tác động đến văn hóa/xã hội của các dự án thủy điện hiện hữu chưa được đánh giá đúng mức và chi phí giảm thiểu để bù lại tác động chưa được kể đến trong các chi phí phát triển

3 MÔ HÌNH KINH TẾ VÀ TỈ LỆ CHIẾT KHẤU

Nghiên cứu này tập trung các dự án thuỷ điện trên dòng chính sông Mekong và 2 trong số 3 kịch bản BDP2 được đánh giá trong báo cáo Costanza

Trang 5

(i) Kịch bản Kế hoạch 20 năm của Hạ lưu sông Mekong với 6 đập trên dòng chính

thuộc phía bắc Lào Kịch bản này cũng bao gồm 30 đập dự kiến trên sông nhánh

và được xếp vào nhóm ‘Kịch bản 6 đập’

(ii) Kịch bản Kế hoạch 20 năm của Hạ lưu sông Mekong với Biến đổi khí hậu Kịch

bản này bao gồm 11 đập dự kiến trên dòng chính và 30 đập dự kiến trên sông nhánh và được xem là ‘Kịch bản 11 đập’

Chi phí và lợi nhuận của các dự án thủy điện dự kiến được đánh giá trong BDP2 về Giá trị hiện tại thuần (NPV) cho thời gian đánh giá trên 50 năm (xem Khung bên dưới) Việc tính toán NPV được tính dựa trên hiệu số giảm 10% mà thường được sử dụng để đánh giá các dự

án cơ sở hạ tầng quan trọng Tuy nhiên, báo cáo Costanza đặt vấn đề rằng phương pháp tính toán NPV này không phù hợp để áp dụng đối với nguồn lợi tự nhiên (như sản lượng thuỷ sản

đánh bắt, lượng thủy sản từ các hồ chứa và các vùng ngập nước) và áp dụng tỉ lệ chiết khấu

thấp hơn (1% và 3%) và Khung Thời gian vô hạn đối với tài nguyên thiên nhiên Đối với các mục khác trong đánh giá, báo cáo Costanza cũng sử dụng NPV (10) với thời kỳ đánh giá 50 năm

Bài báo cáo này dựa theo phương pháp nghiên cứu trong báo cáo Costanza tuy nhiên chỉ áp dụng hiệu số chiết khấu 3% dành cho nguồn lợi tự nhiên do hiệu số 1% giảm giá có thể không làm thay đổi bất kỳ kết luận nào nhưng chỉ có thể dẫn đến những tác động âm về kinh

tế cao hơn nhiều đối với thiệt hại trong đánh bắt thuỷ sản Tính toán độ nhạy được thực hiện

đối với tỉ lệ chiết khấu 4% được xem như là giá trị cao nhât của tỉ lệ chiết khấu sử dụng cho

nguồn tài nguyên thiên nhiên (Stiglitz, 1994) Để tương thích với báo cáo BDP2 và Costanza, NPV được tính trong trường hợp không có lạm phát

Bảng 1 Các phương pháp tính và tỷ lệ chiết khấu

Thủy sản hồ chứa NPV - Khung thời gian vô hạn 3%

Thủy sản đánh bắt NPV - Khung thời gian vô hạn 3%

Phù sa/Dinh dưỡng NPV - Khung thời gian vô hạn 3%

Ghi chú: Giá trị NPV sử dụng trong báo cáo này dành cho Khác (Sản lượng nông nghiệp tưới tiêu, Sự giảm về đa dạng sinh học, Giảm diện tích rừng, Suy giảm lúa, Giảm thiểu tác động của lũ lụt, Giảm thiểu diện tích nhiễm mặn, Mất do xói lở bờ và Giao thông thủy) thì giống với các giá trị trong báo cáo Costanza và BDP2 dựa trên tỉ lệ giảm giá 10% và chu kì đánh giá 50 năm

Giá trị hiện tại thuần (NPV) của một dự án là tổng tất cả các dòng tiền mặt chiết khấu của dự án trong tương lai (chi phí đầu tư, doanh thu, chi phí, khoản vay) trong suốt thời kỳ đánh giá dự án Dòng tiền mặt tương lai được quy đổi theo thời điểm hiện tại (thường là hôm ngày) bằng các hiệu số chiết khấu liên quan đến đến tỉ lệ lãi suất Tỉ lệ chiết khấu 10% thường được dùng cho việc đánh giá dự án Nếu NPV(10) của dự án là dương, dự án được xem là khá thi; nếu NPV(10) của dự án là âm, dự án được xem là không khả thi

Trang 6

4 CÁC GIẢ ĐỊNH CHÍNH

4.1 Công suất điện từ đập thủy điện

Dựa theo BDP2 và SEA, công suất tạo ra từ các đập thủy điện dự kiến có thể là 25.000 MW

đối với kịch bản 11 đập, và 18.000 MW từ kịch bản 6 đập Số tiền đầu tư cần thiết cho kịch

bản 11 đập là 52 tỉ đô la và tạo ra NPV khoảng 33 tỉ đô la Chín đập trên dòng chính có thể

được xây ở Lào và 2 ở Campuchia, nhưng 90% lượng điện có thể sẽ được mua bởi Thái Lan

và Việt Nam Công suất từ 11 đập thuỷ điện này có thể cung cấp 6-8% nhu cầu điện dự báo của khu vực hạ lưu sông Mekong cho năm 2025

Việc đánh giá về mặt kinh tế của thuỷ điện trong BDP2 giả định rằng nước chủ nhà sẽ là chủ

dự án lợi nhuận từ thuỷ điện có thể tích lũy cho nước chủ nhà, tuy nhiên điều này đối với Lào dường như không phải như thế khi đòi hỏi phải có nguồn kinh phí đầu tư cực lớn Bản đánh giá của BDP2 còn giả định rằng giá điện xuất khẩu khoảng bằng 85% giá trị thay thế ở nước nhập khẩu Giá trị này dường như là cao và tạo ra lợi nhuận cao từ kinh doanh điện (NPV khoảng 10 tỉ đô la) cho Lào theo báo cáo BDP2 Hơn nữa, số liệu về vốn đầu tư trong Bản Ghi chú Kỹ thuật của BDP2 hình như là thấp điều này làm thổi phồng số liệu NPV lợi nhuận

từ thủy điện Tuy nhiên, phạm vi của nghiên cứu này không cho phép phân tích chi tiết về thủy điện mà sẽ được thực hiện trong báo cáo tiếp theo

Vì lẽ đó, Báo cáo Chỉnh sửa vẫn giữ nguyên số tổng NPV (25 tỉ đô la cho kịch bản 6 đập và

32,8 tỉ đô la cho kịch bản 11 đập) đối với công suất thủy điện như trong báo cáo BDP2 và Costanza Việc phân phối lại chi phí và lợi nhuận của thuỷ điện được đánh giá lại trong bản

Báo cáo Chỉnh sửa và việc chia thành 30% cho nước chủ nhà (quốc gia mà đập thuỷ điện

được xây) và 70% cho quốc gia đầu tư dự án và nhập khẩu điện được giả định Điều này dựa

trên các dự án thủy điện quy mô lớn hiện hữu với chủ đầu tư là 80% Thái Lan/20% Lào và 90% điện sẽ được xuất khẩu sang Thái Lan Giả định này dẫn đến sự phân chia 25 tỉ đô la NPV cho kịch bản 6 đập thành 28% cho Lào, 56% cho Thái Lan, 4% cho Campuchia và 12% cho Việt Nam; 32,8 tỉ đô la NPV đối với kịch bản 11 đập được chia thành 22% cho Lào, 46% cho Thái Lan, 11% cho Campuchia và 21% cho Việt Nam

4.2 Lượng thủy sản từ hồ chứa

Công suất và diện tích chứa của các hồ chứa thủy điện dọc sông Mekong có thể tăng lên đáng

kể nếu có thêm nhiều đập và điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nước và tăng sản lượng cá hồ chứa Ở khu vực mà chất hữu cơ ngập trong nước sẽ hình thành điều kiện yếm khí dẫn đến sự mất đi của thủy sinh vật Các vùng nước tù đọng cũng góp phần tạo ra sự thiếu hụt oxy Bài báo cáo này sử dụng nguyên dữ liệu về gia tăng sản lượng đối với thủy sản hồ chứa như BDP2 (64.000 tấn/1 năm cho 11 đập) nhưng giả định giá cá ở mức 2,5 đô la/kg như

đã thảo luận ở Phần 4.4 Bài báo này cũng chỉnh sửa lại lỗi số liệu đầu vào trong báo cáo

Costanza cho kịch bản 11 đập

4.3 Nuôi trồng Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản đã gia tăng đáng kể trong lưu vực sông Mekong và sản lượng hiện tại là 2,4 triệu tấn/năm chủ yếu từ Thái Lan và Việt Nam (Hortle 2015) Sự gia tăng đó đã làm giảm bớt tình trạng đánh bắt thuỷ sản, nhưng Việt Nam là nước có sản lượng tăng nhiều nhất

được xuất khẩu phần lớn tới các nước bên ngoài khu vực hạ lưu sông Mekong SEA báo cáo

rằng việc thay thế sản lượng đánh bắt tự nhiên bằng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản là không thực tiễn vì 2 nguyên nhân Thứ nhất, phần lớn sản lượng nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc vào lượng đánh bắt để làm thức ăn Thứ hai, chi phí nuôi trồng thuỷ sản cao hơn đánh bắt thuỷ sản

Trang 7

Báo cáo chỉnh sửa áp dụng giá cá ở mức 2,5 đô la/kg và cùng giả định như báo cáo Costanza

về mức gia tăng trong sản lượng nuôi thuỷ sản (tăng tương đương 10% sản lượng đánh bắt bị

giảm) Tuy nhiên, Báo cáo chinh sửa tính mức lợi nhuận từ nuôi thủy sản sử dụng NPV (10)

với chu kì 50 năm vì nuôi trồng thuỷ sản đòi hỏi nguồn vốn đầu tư, chi phí vận hành và bảo trì không giống như nguồn lợi tự nhiên

4.4 Thuỷ sản đánh bắt

Rất khó để ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt hàng năm từ 4 quốc gia ở hạ lưu sông Mekong

do số liệu thủy sản đánh bắt của chính phủ không bao gồm các hộ đánh bắt nhỏ lẻ và các hộ

đánh bắt qui mô lớn có xu hướng báo cáo thấp hơn thực tế Và càng khó hơn để tính lượng

thủy sản mất đi nếu các đập thủy điện được xây trên sông Mekong do nhiều loài cá khác nhau

có các tập tính di cư khác nhau Một khoảng biến động lớn về lượng cá ước tính được trình bày ở Phụ lục 2 Tác động về kinh tế (giá trị NPV) được tính ở BDP2 dường như dựa trên mức thấp nhất của các khoảng này Báo cáo Costanza đã giả định mức sản lượng đánh bắt thuỷ sản là 2,3 triệu tấn/năm và một mức giảm 58% ở mỗi quốc gia nếu toàn bộ 11 đập được xây Kết quả này mang đến tổn hại kinh tế lớn cho Thái Lan trong khi BDP2 và SEA dự đoán lượng cá mất đi chủ yếu nằm ở Campuchia và Việt Nam

Nghiên cứu này tổng quan lại dữ liệu về lượng cá di cư trình bày ở Phụ lục 2 và giả định rằng tất cả các loài cá di cư sẽ không tồn tại ở kịch bản 11 đập dựa trên đánh giá của SEA và BDP2 rằng 11 đập có thể là rào cản đường di cư của cá dọc theo dòng chính sông Mekong

Dữ liệu về sản lượng cá mất đi trong bảng được dựa trên ước tính của BDP2 soạn thảo bởi Hortle (2009)

Bảng 2 Ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi theo các dự án thuỷ diện

Sản lượng hiện tại

(tấn/năm)

Sản lượng mất đi dự báo

(tấn/năm)

Sản lượng mất đi dự báo

(tấn/năm)

Sản lượng ước tính bên trên không bao gồm 0,5 – 0,7 triệu tấn/năm sản lượng cá ven biển (như được báo cáo bởi SEA) mà phụ thuộc vào lượng dựa trên phù sa/dinh dưỡng đến từ dòng chảy của sông Mekong và khoảng 0,5 triệu tấn/năm của các loài động vật thủy sinh khác (OAA)

Bài báo cáo này giả định 1kg cá trị giá 2,5 đô la đối với cá nuôi/từ hồ chứa và 3,5 đô la/1kg

đối với thuỷ sản đánh bắt mà được cho là khá là ước lượng so với giá thị trường hiện tại Hơn

nữa, giá cá này không bao gồm các chi phí khác liên quan như lưới bắt cá, chế biến và dịch

vụ bán cá Giá cá này có được từ các cuộc khảo sát giá cả thị trường thực hiện bởi Bộ Thủy sản Thái Lan năm 2014 với sự chuẩn nhận từ một số dữ liệu của Việt Nam Ở Việt Nam và Thái Lan, giá thị trường của nhóm cá đen (cá lóc, cá tra, cá trê, cá rô) và nhóm cá trắng nuôi (chép, mè vinh, rô phi) ở tầm khoảng 2-3 đô/kg trong khi cá trắng tự nhiên (mè vinh, cá he,

cá bông lau…) có giá khoảng 5-10 đô la/kg (Thông tin cá nhân, 2015).

4.5 Vùng đất ngập nước

Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 25% vùng đất thuộc hạ lưu sông Mekong được xếp vào nhóm đất ngập nước (McCartney, 2015) Nó bao gồm rừng, đầm lầy và thảm cỏ – những chỗ

Trang 8

ngập nước trong suốt mùa mưa Theo báo cáo Đánh giá về Các Kịch bản Phát triển lưu vực sông Mekong (MRC, 2011) thì tất cả loại hình đất ngập nước sẽ giảm đối với kịch bản 6 đập

do 6 đập trên dòng chính nằm ở vùng cao hơn phía Lào và các hồ chứa nước của các đập này

sẽ trữ lại nước mà lẽ ra sẽ đổ về phía vùng có độ cao thấp hơn (hạ nguồn) Tuy nhiên, đối với kịch bản 11 đập, các đập trên dòng chính nằm trên vùng thấp ở Lào và Campuchia và như thế

sẽ dẫn đến gia tăng đáng kể diện tích đất ngập nước

Báo cáo Constanza giả định các giá trị khác nhau cho từng loại đất ngập nước dựa trên giá trị

đất ngập nước từ Nghiên cứu Đồng bằng Mississippi (Batker ctv., 2008) Giá trung bình là

khoảng 3000 đô la/ha/năm Trong báo cáo này, giá đất ngập nước được lấy từ cuộc khảo sát

780 hộ ở Bung Khong Long – hồ nước ngọt lớn nhất ở phía Bắc Thái Lan (Chaikumbung 2013) Giá trị trung bình ở khoảng 1.300 đô la/ha/năm, và con số này đại diện cho giá địa phương và khả năng chi trả Con số này được xem là tối thiểu vì các hộ gia đình này có thu

nhập thấp và hạn chế về khả năng chi tra các dịch vụ này Nghiên cứu của Báo cáo chỉnh sửa

sử dụng giá tị 1.500 đô la/ha/năm đối với rừng ngập nước, 1.200 đô la/năm cho đầm lầy, và 1.000 đô la/ha/năm cho vùng thảm cỏ ngập nước Những con số này là khá ước lượng khi so sánh với số liệu của các vùng khác trên thế giới Theo báo cáo của De Groot (2012), tổng giá trị kinh tế của các dịch vụ sinh thái từ vùng đất ngập nước trong khoảng từ 3.300 đến 25.680

đô la/ha/năm

5 TÍNH TOÁN KINH TẾ

Việc tính toán NPV đã chỉnh sửa cho bản Báo cáo chỉnh sửa được tóm tắt ở Bảng 3-6 bên

dưới và chi tiết ở Phụ lục 3 Những thay đổi từ báo cáo Costanza được liệt kê dưới đây: (i) Sản lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi được trình bày ở Bảng 4.4, trong khi báo cáo

Costanza giả định lượng thuỷ sản đánh bắt ở mức 2,3 triệu tấn/năm và 58% lượng

cá mất đi ở các quốc gia vùng hạ lưu sông Mekong

(ii) Giá trị đất ngập nước được dựa trên các nghiên cứu gần đây ở các quốc gia vùng

hạ lưu sông Mekong

(iii) Sai số dữ liệu đầu vào cho thủy sản hồ chứa đã được chỉnh sửa

(iv) Tác động kinh tế của những thay đổi về sản lượng thủy sản đánh bắt, thuỷ sản hồ

chứa, nuôi trồng thuỷ sản và vùng đất ngập nước được tính theo thời gian trên 15 năm từ ngày bắt đầu xây đập

(v) Giá trị của nuôi trồng thuỷ sản được tính toán sử dụng NPV (10) theo chu kỳ 50

năm

(vi) Các số NPV của công suất điện thủy điện được chia 30% cho nước chủ nhà và

70% cho quốc gia đầu tư dự án và nhập khẩu lượng lớn điện năng

(vii) Các giá trị NPV ước tính được cộng vào tác động kinh tế/xã hội và dòng chày

mang phù sa/dinh dưỡng

Bảng 3 Tóm lược cách tính toán NPV cho kịch bản 6 đập

BDP2

NPV (triệu đô la)

Báo cáo Costanza

NPV (triệu đô la)

Bản chỉnh sửa

NPV (triệu đô la)

* NPV cho thuỷ điện được lấy từ BDP2 nhưng có thể cao quá mức so với thực tế – xem mục 4.1

Trang 9

Bảng 4 Chi phí /lợi nhuận quốc gia được chia theo kịch bản 6 đập

BDP2

NPV (triệu đô la)

Báo cáo Costanza

NPV (triệu đô la)

Bản chỉnh sửa

NPV (triệu đô la)

Bảng 5 Tóm lược cách tính toán NPV cho kịch bản 11 đập

BDP2

NPV (triệu đô la)

Báo cáo Costanza

NPV (triệu đô la)

Bản chỉnh sửa

NPV (triệu đô la)

* NPV cho thuỷ điện được lấy từ BDP2 nhưng có thể cao quá mức so với thực tế – xem mục 4.1

Bảng 6 Chi phí /lợi nhuận quốc gia được chia theo kịch bản 11 đập

BDP2

NPV (triệu đô la)

Báo cáo Costanza

NPV (triệu đô la)

Bản chỉnh sửa

NPV (triệu đô la)

Bảng 3 và 5 rõ ràng cho thấy tác động kinh tế của việc mất đi sản lượng thuỷ sản đánh bắt (dựa trên các loài cá di cư) là lớn hơn nhiều so với lợi nhuận có được từ thủy điện cho cả kịch bản 6 và 11 đập Bảng 4 và 6 cho thấy Thái Lan và Lào là 2 quốc gia được hưởng lợi từ các

dự án thuỷ điện dự kiến xây trong khi Việt Nam và Campuchia sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực Kết quả này khác biệt đáng kể so với báo cáo BDP2 và Costanza cho rằng Lào có thể là quốc gia hưởng lợi chính đối với tất cả kịch bản và Thái Lan có thể chịu tác động tiêu cực lớn

đối với kịch bản 11 đập

5.1 Tính toán độ nhạy

Trang 10

Bản tóm lược tổng tác động kinh tế của phép tính độ nhạy (so sánh với các bảng bên trên)

được trình bày dưới đây:

BDP2 Kịch bản 6 đập

BDP2 Kịch bản 11 đập

NPV (triệu đô la) NPV (triệu đô la)

Lượng cá mất đi gia tăng đối với trường

hợp xấu nhất của BDP2

Rõ ràng là việc gia tăng lượng cá mất đi hoặc giá cá sẽ làm gia tăng đáng kể các con số âm NPV Cũng lưu ý rằng các giá trị NPV cho nguồn lợi tự nhiên rất nhạy với tỉ lệ giảm giá lựa chọn nhưng ngay cả với tỉ lệ giảm giá 4% (được cho là cao đối với nguồn lợi tự nhiên) tác

động kinh tế thì tiêu cực đối với kịch bản 11 đập

6 TÁC ĐỘNG LÊN MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

6.1 Hệ sinh thái

Các dịch vụ hệ sinh thái sông Mekong bao gồm các dịch vụ cung ứng (thủy sản, thủy sinh vật, nước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu), điều tiết (kiểm soát xói lở, ổn định hai bên bờ sông), hỗ trợ (hình thành đất, chu trình dinh dưỡng, cung cấp môi trường sống) và các dịch

vụ văn hoá (hoạt động tâm linh, tạo thu nhập cho các sự kiện văn hoá…) Các dịch vụ hệ sinh thái cần được đánh giá và tạo ra minh bạch để đạt được sự cân bằng tối ưu về mặt xã hội và phân phối hiệu quả các sản phẩm công cộng Vùng đất ngập nước cũng cung cấp nhiều dịch

vụ và sản phẩm hệ sinh thái (nguồn thực phẩm, nước sạch, chất xơ và nhiên liệu)

6.2 Dòng chảy mang phù sa và chất dinh dưỡng

Lượng phù sa ở sông Mekong trước dây ước tính khoảng 160-165 triệu tấn/năm, cung cấp tương đương 26.000 tấn Phosphate/năm cho đất ở vùng đồng bằng sông Mekong Tuy nhiên, lượng phù sa và giá trị dinh dưỡng của nó đã bị giảm gần 50% xuống còn 80-82,5 triệu tấn/năm bởi các dự án khu vực thượng lưu sông Mekong ở Trung Quốc Các nghiên cứu gần

đây kết luận rằng, với việc xây dựng tất cả các đập dự kiến trên dòng chính thì tổng lượng

phù sa tích tụ sẽ giảm khoảng 56-84% (Kummu et.al 2010), 75% trong báo cáo SEA (ICEM 2010), và lên đến 96% (Kondolf 2014), dẫn đến sự thay đổi rất lớn về sinh thái cốt lõi của

đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung

cấp phù sa để duy trì địa hình vùng ven biển và giữ cân bằng độ sụt lún Theo Anthony và ctv (2015), xói lở đang ảnh hưởng vùng bãi bùn ven biển phía Đông dài 180km, trong đó gần 90% đang trong tình trạng thối lui Sự xói lở ven biển làm trầm trọng hơn sự tổn thương của

đồng bằng vì nó thể hiện những mối đe dọa đến sự an toàn và đời sống của nông dân và ngư

dân

Theo ước tính thì lượng phù sa bị mất đi trị giá khoảng 100 triệu đô tới 1 tỉ đô/năm và chúng tôi giả định một cách ước lượng 100 triệu đô/năm đối với kịch bản 6 đập và 200 triệu đô/năm

đối với kịch bản 11 đập Việc phân chia quốc gia về tác động kinh tế của lượng phù sa mất đi

càng khó để ước tính vì tất cả 4 quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi sự sụt lún và xạt lở dọc bờ sông, nhưng bị tác động lớn nhất sẽ là đồng bằng của Việt Nam Trong phạm vi bài báo cáo

Ngày đăng: 06/03/2016, 07:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các phương pháp tính và tỷ lệ chiết khấu - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 1. Các phương pháp tính và tỷ lệ chiết khấu (Trang 5)
Bảng 2. Ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi theo các dự án thuỷ diện - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 2. Ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi theo các dự án thuỷ diện (Trang 7)
Bảng 3.  Tóm lược cách tính toán NPV cho kịch bản 6 đập - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 3. Tóm lược cách tính toán NPV cho kịch bản 6 đập (Trang 8)
Bảng 6. Chi phí /lợi nhuận quốc gia được chia theo kịch bản 11 đập - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 6. Chi phí /lợi nhuận quốc gia được chia theo kịch bản 11 đập (Trang 9)
Bảng 1.  Sản lượng cá ước lượng trên sông Mekong - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 1. Sản lượng cá ước lượng trên sông Mekong (Trang 15)
Bảng 3.1. Bảng tóm lược chi tiết tính toán giá trị NPV đối với kịch bản 6 đập - Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Bảng 3.1. Bảng tóm lược chi tiết tính toán giá trị NPV đối với kịch bản 6 đập (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w